## TRANG 472

**Điềm báo dồn dập và nỗi ưu tư thầm lặng**

**Dhamma-cariya U Htay Hlaing**

“Này các bậc hữu học và quý Sư, trong khi đang có được thời cơ tốt đẹp và vận may lớn này, hãy nỗ lực học tập Pháp học (Pariyatti). Hãy tham dự đều đặn các buổi giảng Luật tạng (Vinaya) đang được truyền dạy hiện nay. Thật không dễ để có được một khóa học khác đâu; thân tâm phù du này chẳng thể kéo dài quá một năm nữa đâu. Hãy không ngừng nỗ lực hành trì Pháp hành (Patipatti). Đừng để đến khi chúng ta không còn nữa mới phải hối tiếc.”

Từ đầu năm 1294 (Miến lịch), Ngài thường xuyên nhắc nhở như vậy mỗi khi giảng dạy. Nghe những lời ấy, không ít đệ tử đã nỗ lực hành trì tinh tấn hơn, giống như vị “Tỳ-kheo trẻ Dhamma-dhara” – người đã cảm nhận lòng rung động tâm linh (Saṃvega) sâu sắc như có tiếng sét đánh ngang tai khi nghe lời huyền ký của Đức Thế Tôn ba tháng trước khi Ngài nhập Niết-bàn. Không lâu sau những lời nhắc nhở đó, hầu hết các đệ tử đều nghe Ngài bảo rằng: “Ta thấy một tòa lâu đài bằng ngọc báu rực rỡ, lộng lẫy và kỳ ảo đang theo sát ngay sau lưng.” Phải chăng đó là sự cúng dường sau cùng của chư Thiên và Phạm thiên, hay là lời thỉnh cầu rằng “đã đến lúc buông bỏ thọ hành”?

Dù thế nào, Ngài vẫn tiếp tục giảng dạy các lớp Pháp học như thường lệ. Ngài vẫn chu toàn các Phật sự và việc bổn phận của tăng đoàn. Vào tháng Nayon năm 1295, Ngài Sunlun Sayadaw ở Myingyan cũng đến đảnh lễ vì một việc tang lễ và đã gặp gỡ Ngài một cách thân tình, an bình như mọi khi. Ngài Sunlun Sayadaw chỉ nói với các vị đại đệ tử của Ngài rằng:

“Bậc đạo sư thật sự đã hoàn thành xong phận sự của một vị Sa-môn rồi.” Sau đó Ngài ra về.

Dù Ngài không định đi dự lễ kiết giới Sīmā cho Tỳ-kheo U Kusala ở Shwemyo, nhưng vì đại diện đã nài nỉ thỉnh mời quá mức nên Ngài đã nhận lời. Trên đường đi, do hít phải mùi khói cháy rừng và gặp những cơn mưa đầu mùa, Ngài đã ngã bệnh và không thể hồi phục hoàn toàn. (Các bậc thánh thiện thường hết sức cẩn trọng, từng bước đi của mình đều bằng tuệ giác để không làm tăng thêm gánh nặng trách nhiệm cho bản thân).

Các vị đại đệ tử có tri thức và tầm nhìn bắt đầu cảm thấy lo âu vì nhận thấy thời khắc cuối cùng đã đến gần. Cột đồng hồ mặt trời dựng gần trai đường vốn rất vững chãi bỗng nhiên tự đổ sập. Xung quanh chùa, các loại hoa trái mùa đồng loạt nở rộ. Một con chim lớn có bộ lông vằn to bằng con gà trống thường xuyên bay đến từ hướng Tây Nam, lượn quanh phía trên ngôi chùa và phát ra những tiếng kêu than thê lương, kỳ quái. Trong nhiều ngày, khắp khuôn viên chùa vang lên những âm thanh rên rỉ, thổn thức không rõ rệt. Khi người xe thưa thớt, không gian càng trở nên tĩnh mịch, hãi hùng và đầy nỗi ưu tư.

## TRANG 473

Những ai thấu hiểu thời thế và biết ơn đức đều đã bắt đầu rơi lệ,

**Samma-vedana Sampadetha**

*(Hãy thành tựu sự cảm xúc đúng đắn)*

Ngài Sayadaw có vẻ không biểu hiện đau đớn trầm trọng. Sắc diện Ngài vẫn tươi sáng và vẫn tiếp tục ban lời giáo huấn như thường lệ. Đến ngày mồng 3 sau trăng tròn tháng Nayon, Ngài có vẻ yếu hẳn đi. Từ nơi nghỉ ở tầng dưới ngôi chùa lớn do bà Daw Saw Tin cúng dường, Ngài được các đệ tử giúp di chuyển sang chiếc ghế bành nơi Ngài thường giảng dạy. Ngài bảo thỉnh tất cả tăng chúng trong tu viện đến và giáo giới:

“Này các vị Tỳ-kheo, hãy nỗ lực không ngừng nghỉ trong công việc Pháp học và Pháp hành. Hãy giữ gìn các học giới (Sikkhāpada) trong Luật tạng từ những điều nhỏ nhất và noi theo tấm gương thực tế của bậc thầy tổ. Tất cả những gì Đức Thế Tôn ngăn cấm hay truyền dạy đều chỉ vì sự an lạc của chúng sinh. Các pháp hữu vi (Sankhāra) này thật chẳng có cốt lõi bền vững nào để nương tựa cả.”

Sau đó, Ngài đã đảnh lễ hai vị trưởng lão U Ācara và U Zo ở Leeway – vốn là những huynh đệ đồng môn lớn tuổi và hạ lạp hơn Ngài. Không lâu sau, vào lúc 11 giờ đêm, trong khi đang ngồi xếp chân trên ghế bành, Ngài đã hoàn toàn an trú vào yếu tính tịch tịnh “**Anupādisesa Asaṅkhata**” (Vô dư hữu vi tịch diệt) và nhập Niết-bàn.

Vào ngày mồng 3 tháng Waso, hơn một vạn người dân và khoảng bốn trăm vị Tăng đã tụ họp lại mà không cần sự thúc giục hay kêu gọi nào. Mọi việc đều được chuẩn bị chu toàn, đầy đủ để cử hành lễ trà tỳ (Sādhukīḷanā). Nhiều hiện tượng hy hữu đã xảy ra như củi thơm tự động chất cao để cúng dường (dù không ai thực hiện), hay những cơn mưa lớn trút xuống. Xá-lợi xương của Ngài sau đó đã được tôn trí trong một pho tượng Phật để thờ phụng.

Trong dòng lịch sử Phật giáo thực hành tại Miến Điện, Ngài đã minh chứng rằng nếu kiên trì nỗ lực với niềm tin bất thối và hệ thống học tập lấy Luật tạng làm nòng cốt, thì Giáo pháp của Đức Thế Tôn chính là nơi nương tựa đích thực của chúng sinh.

(Để biết thêm chi tiết, quý vị có thể tìm đọc trong cuốn “Tiểu sử tóm tắt và Pháp hành tại Nyung-lun Tawya” do các vị đại đệ tử cư sĩ biên soạn chung vào năm 1316 và được ấn hành vào năm 1327. Về sau, chúng ta cũng sẽ được chiêm bái tiểu sử của Ngài Shwe U Daung Taung Sayadaw và các vị Sayadaw ở Myaungmya Weluwady – những người đã thực hành theo sự hướng dẫn của Ngài và đạt được thành tựu viên mãn.)

## TRANG 474

**Sayadaw Thaton Jetawun**

**( 1230 - 1316 )**

Trong các vở kịch Zat hay múa rối, khi diễn các câu chuyện dài, lúc đầu người ta có thể diễn giải một cách thong thả. Nhưng khi gần đến hồi kết vào lúc rạng sáng, để kịp thời gian, họ phải diễn thật nhanh. Những chi tiết không quan trọng phải được lược bớt, những đoạn rườm rà phải được cắt bỏ, hoặc chỉ trình diễn những phần cốt yếu; sự khóc lóc hay sầu cảm cũng chỉ ở mức vừa đủ để gấp rút kết thúc vở diễn.

Do đó, người xem thường thấy sự chuyển cảnh diễn ra quá nhanh và thay đổi đột ngột, khiến họ không kịp cảm nhận hay dự đoán, đến nỗi khi vở kịch chưa kết thúc, họ cũng chẳng biết nên khóc hay nên cười.

“Vị đạo diễn” của những nghiệp quả quá khứ (Aparāpariya Kamma) cũng khiến hành giả phải trải qua những “vở kịch” luân hồi dài đằng đẵng, sử dụng những “vai ác” như Ma vương khi cần thiết. Đến lúc gần kết thúc, khi ánh sáng tuệ giác sắp rạng, những nghiệp quả lẽ ra phải chịu trong mười kiếp có thể được gom lại trong một kiếp, được lược bớt hoặc cắt bỏ để kịp thời gian. Vì vậy, chỉ trong vòng vài ngày hay vài tháng, mọi thứ có thể thay đổi nhanh chóng, các mắt xích và sự sắp đặt có vẻ rời rạc, không nhất quán.

Bởi vậy, dù rạng đông đã ló rạng và gà rừng đã gáy, nhưng câu chuyện vẫn chưa kết thúc một cách bình thường. Lúc này thấy vị ẩn sĩ xuất hiện, lúc sau đã thấy hoàng tử bước ra; nhìn vở múa rối diễn ra một cách vội vã như vậy, người ta dễ rơi vào trạng thái bàng hoàng trước khi câu chuyện kết thúc, giống như những vần thơ của ông U Ponnya: “Gà đã gáy vang rồi, chẳng biết đây là đoạn kinh nào, cảnh trí muôn hình vạn trạng, nhiều không kể xiết”.

Vào thời Đức Thế Tôn, tôn giả **Nāgasamāla** đã chứng đắc A-la-hán ngay khi đang xem một vở diễn, có lẽ vì Ngài đã quán chiếu được thực tính này. Chính vì thế, nhiều người đã không thể tin nổi khi thấy kẻ sát nhân Tambadāṭhika đắc được pháp thượng nhân, hay vị đại thần Santati đang trong cơn say sưa bỗng chốc trở thành bậc Thánh giả, dù trước mắt họ mọi thứ dường như chẳng hề nhất quán.

Trong vòng luân hồi, nghiệp mệnh thật là huyền ảo thay.

**Bậc trí giả hoàn tục U Tha Byaw**

Tại làng Kyaukpa-nan, cách làng Kangyi-kone khoảng mười dặm về phía bắc thành phố Sagaing...