## TRANG 478

Nghe tin cháu mình đang ở nhà người bác (anh của thân phụ) tại làng Kaung-mhu, thị trấn Kun-gyan-gon, quận Han-thar-wa-dy. Trong thời gian ở đó, có một ngày tâm trạng không vui, Ngài giữ im lặng, nằm trên giường suốt hai ngày liền, không ăn không uống.

Người cô mới nói với người bác rằng: "Thật là lạ, không ăn không uống thì đành rồi, nhưng đến cả việc bài tiết cũng không thấy, quả là điều hy hữu."

Thực ra, Maung Thar Byaw đang đứng giữa những cơn phong ba của cuộc đời, một bên là tình cảm với các chị em gái, một bên là tâm đạo đã bén rễ sâu vào xương tủy, Ngài đang nhiều lần cân nhắc chọn lựa hướng đi cho tương lai. Cuối cùng, Ngài đưa ra quyết định và trở về quê hương Miền Thượng (Anyar).

### Ngài U Nārada đi theo tiếng gọi của tâm thức

Năm 1249 (Miến lịch), khi về đến Miền Thượng, trong lúc cùng các chị em làm rẫy, Ngài dần dần thuyết phục và xin phép họ để được xuất gia tỳ-khưu. Tất cả đều đồng ý tán thành. Lúc này Ngài cũng vừa tròn 20 tuổi. Do đó, Ngài đã xuất gia với Ngài Trưởng lão U Lakkhaṇa (một người anh họ) tại chùa rừng Man-kyi-su, phía đông nam làng Kan-gyi-kone. Bà Daw Am Sar và ông U Paw Sa (em họ của bà Daw Paing) đã nhận làm thí chủ hộ độ.

Đời sống nơi tự viện cùng với tâm nguyện của một bậc xuất gia đã giúp Ngài quên đi quá khứ; những giáo pháp kinh điển đã từng học hỏi trước đây nay trở thành nguồn an lạc vỗ về tâm hồn Ngài U Nārada.

Sau khi tiếp tục học hỏi thêm về Pāḷi và Tạng Kinh, cảm thấy vẫn chưa thỏa mãn, Ngài đã chuyển đến học với Ngài Trưởng lão **U Rājinda**, vị Thống chủ của ba hệ phái (Thon-gaing-choke), tại chùa Taung-pā-gyi trên dãy núi Minh-kun. Vị Thống chủ đã tận tình chỉ dạy phương pháp nghiên cứu Tạng Kinh một cách thấu đáo, giúp Ngài tiến bộ vượt bậc chỉ trong vài tháng, vài năm. Cảm mến phong cách sống và ý chí của Ngài, vị Thống chủ đã giao cho Ngài U Nārada trọng trách giảng sư (Sā-cha), rồi sau đó giao luôn cả việc quản lý tự viện.

Tuy nhiên, Ngài U Nārada không đảm nhận trọng trách đó lâu dài mà đã lên Mandalay, tìm đến chùa Moe-kaung — nơi nổi tiếng về Vi Diệu Pháp — để tu học. Từ đó, Ngài lần lượt chuyển qua các đại tự viện như Dakkhiṇavan, Myat-taung, và San-kyaung; Ngài đã học hỏi với nhiều vị thầy khác nhau để trang bị đầy đủ kiến thức, đồng thời cũng đảm nhận việc giảng dạy cho các chú Sa-di và Tỳ-khưu trẻ.

Sau đó, do duyên sự, Ngài chuyển đến lưu trú với Ngài Thầy nổi tiếng tại chùa Veḷuvan, thị trấn Shwe-taung, quận Pyay. Với trí tuệ sắc bén, tinh tấn dũng mãnh trong giáo pháp,

## TRANG 479

cùng với phong cách sống đáng ngưỡng mộ, Ngài lại một lần nữa được Ngài Thầy tin tưởng giao cho quyền điều hành đại tự viện Veḷuvan. Thế nhưng, Ngài U Nārada cảm thấy không phù hợp với cuộc sống ở Miền Hạ, nên đã quay trở về Minh-kun. Tại đây, Ngài vừa làm tròn bổn phận đối với thầy tổ và tăng chúng, vừa giảng dạy giáo pháp, đồng thời dành thời gian nghiên cứu sâu rộng vào các bản Pāḷi, Chú giải (Aṭṭhakathā) và Phụ chú giải (Ṭīkā).

Tiếng tăm của vị giảng sư U Nārada bắt đầu lan rộng khắp vùng Sagaing và Minh-kun. Thời điểm đó, bản '**Mahā-ṭīkā**' của Ngài Ledi Sayadaw đang tạo nên một làn sóng lớn; Ngài U Nārada đã nảy sinh ý định: "Nếu là mình, mình sẽ viết Chú giải", và đã dự định soạn thảo bản '**Chú giải**' mở rộng cho '**Peṭakopadesa Pāḷi-taw**'.

Một đêm nọ, Ngài U Nārada nằm mơ thấy hai chiếc răng cửa hàm dưới bị gãy. Theo quan niệm "răng dưới gãy thì người dưới quyền mình có thể gặp nạn", Ngài đã vội vàng đi bộ hơn hai dặm đến làng Kyauk-pa-nan nơi các em gái đang ở để hỏi thăm sức khỏe. Các em của Ngài lúc bấy giờ vẫn chưa lập gia đình.

Trong khi đang chuẩn bị cho việc soạn thảo Chú giải, Ngài đã gọi các chị và các em đến chùa và nói ngay khi họ vừa đến: "Sư sắp hoàn tục đây, hãy mang quần áo đến cho Sư, Sư không yên tâm về các con." Nghe vậy, các chị em đều khóc lóc thảm thiết. Dù họ đã hết lời cầu xin nhưng vô ích, cuối cùng, với tính cách kiên định và có phần cứng nhắc, Ngài đã xuất hiện trong trang phục cư sĩ với khăn đóng đỏ, xà-rông lụa đỏ, ngồi trước bàn viết và trở thành một thư ký (Sā-yay-gyi) tại một rạp lễ bố thí. Tất cả các bậc thầy và bạn đồng tu khi nghe tin hoặc nhìn thấy cảnh tượng đó đều không khỏi bàng hoàng và tiếc nuối.

Để khuyên bảo Ngài U Nārada (nay là Ko Thar Byaw), người ta đã dẫn lời đức Thế Tôn dạy trong (**Tương Ưng Bộ - Chương Một Pháp - Phẩm Không Điều Phục**):

"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-khưu, lại đem đến bất lợi lớn và đau khổ như một tâm không được điều phục, không được hộ trì."

Và cũng trong (**Chương Một Pháp - Phẩm Thứ Ba**):

"Người tinh tấn trong một giáo pháp không chân chính sẽ chuốc lấy khổ đau, còn người ít tinh tấn lại được an lạc; vì đó không phải là con đường thoát khổ. Ngược lại, trong một giáo pháp chân chính, người tinh tấn sẽ được an lạc, còn người ít tinh tấn phải chịu khổ đau." Qua đó, Ngài so sánh cách vận dụng sự tinh tấn trong và ngoài giáo pháp. Nhìn lại những lời dạy này để thấy rằng không phải cứ có ý chí, nghị lực là đều mang lại lợi ích.

## TRANG 480

Khi thực hiện những việc không mang lại lợi ích hoặc làm việc sai phương pháp, thì tinh tấn bao nhiêu sẽ càng chuốc lấy khổ đau bấy nhiêu, thậm chí là nỗi nhục nhã và tổn thất.

Vì vậy, trước khi định làm việc gì, cần phải phân xét kỹ lưỡng xem việc đó có đưa đến đoạn giảm tham, sân, si hay không; đúng hay sai; có được các bậc thiện trí thức như đức Phật tán dương hay không. Dù là việc đúng đắn, cũng phải cân nhắc xem sức mình có thực sự làm nổi hay không, thời gian, hoàn cảnh và địa điểm có phù hợp hay không.

Ngay cả đối với những việc thiện lành, nếu tâm thiếu sự chánh niệm, trí tuệ soi sáng, mà lại nỗ lực một cách mù quáng, cố chấp thì cũng không thể mang lại kết quả tốt đẹp.

Đối với các hành giả đang dùng công đức Vipassanā để thanh toán những món nợ nghiệp cũ, rút ngắn dần vòng luân hồi, thì tâm càng hăng hái, ý chí càng cao thì càng phải biết cân nhắc sao cho đúng với '**Trung Đạo**' (Majjhima Paṭipadā). Nếu không, dù đang đi đúng hướng nhưng vẫn có thể bị lệch lạc.

Sau khi trải qua bao thăng trầm của cuộc đời, trong lúc cuộc sống cư sĩ sau khi hoàn tục vẫn chưa ổn định, Ko Thar Byaw đã được Ngài Trưởng lão **U Mañjūsāra** tại chùa Minh-kun Alae-taw-ya khuyên bảo và dẫn dắt trở lại với đời sống xuất gia. Ngài U Nārada xuất gia lần thứ hai. Chẳng bao lâu sau, Ngài được Ngài Trưởng lão **U Gandhamā** từ thị trấn Let-pan-tan thỉnh mời về giảng dạy giáo pháp. Ngài chỉ ở Let-pan-tan một mùa hạ rồi lại quay về Minh-kun.

### Ngài U Nārada phải bật khóc

Sau khi trở về Minh-kun, trong khi đang tiếp tục công việc quản lý tự viện và giảng dạy tại chùa Taung-pā-gyi, Ngài lại nhận được lời thỉnh mời làm trụ trì và giảng sư tại một ngôi làng lớn ở thị trấn Mat-ta-ya. Theo lệnh của Ngài Thầy, Ngài lại phải lên đường. (Đây chính là cách mà giáo pháp và đồ chúng đã "giữ chân" Ngài, không để Ngài có cơ hội tiến sang phương diện Pháp hành - Paṭipatti).

Việc làm quản chúng hay giảng sư thì dễ khước từ, nhưng một khi đã mang danh trụ trì thì không dễ gì rời đi ngay được. Ngôi chùa ở làng quê đó có hàng ngũ thí chủ hùng hậu, tăng chúng Sa-di lại đông đúc, nên khi thỉnh được một bậc đa văn túc học như Ngài U Nārada, cả vùng đều vô cùng hoan hỷ.

Ngài U Nārada cũng được tự do điều hành theo ý nguyện của mình,