## TRANG 484


Nhưng đó chỉ là chuyện của quá khứ. (Trước đó, Ma Vương đã ra tay trước khiến chư thiên chỉ còn biết khoanh tay đứng nhìn.) Sự sắp đặt của các nghiệp quả thật kỳ diệu và nằm ngoài tầm hiểu biết của trí tuệ thông thường. Nếu chúng ta có thể quán chiếu được rằng "nhân này dẫn đến quả kia, quả này phát sinh từ nhân nọ" (như những bậc tiền bối cao thượng đã dùng cả cuộc đời để chứng minh), chúng ta sẽ thấy rõ bản chất của những "tạp chất" luôn tìm cách trì hoãn, làm chệch hướng hoặc can thiệp vào tiến trình nhân quả ấy. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể "nhìn thấy hiểm nguy từ xa" trước khi nó ập đến.

### Tuệ giác tự thân không lay chuyển

Ngài **U Nārada** đã nỗ lực không ngừng nghỉ, hy sinh cả mạng sống để thực hành giáo pháp **Appamāda** (Không phóng dật). Nhận thấy lợi ích to lớn của pháp Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna), ngài không khỏi trăn trở cho vận mệnh giáo pháp: "Trong Tạng kinh (Pāḷi) đã dạy rất rõ ràng, trong các bộ Chú giải (Atthakathā) và Phụ chú giải (Ṭīkā) cũng đã giải thích rành mạch, vậy mà sao lại chẳng có ai thực sự bắt tay vào thực hành?" Kể từ đó, ngài càng quyết tâm dấn thân tu tập tinh tấn hơn nữa.

Tứ Niệm Xứ chính là việc quan sát và hay biết liên tục không sót mọi cử động của sắc thân cũng như mọi sự suy nghĩ, biến chuyển của tâm (danh pháp). Phương pháp này vốn dĩ rất rõ ràng và đơn giản. Đầu tiên, hành giả phải quan sát và ghi nhận các cử động đi đứng, co duỗi (về phần sắc). Sau đó, ghi nhận sự suy nghĩ, tác ý (về phần danh). Khi ghi nhận rằng tâm muốn đi phát sinh trước rồi hành động đi (sắc) mới theo sau, hành giả sẽ dần nhận diện được những mầm mống sơ khởi của tâm. Càng thực hành, chánh niệm càng trở nên khăng khít, đề mục ghi nhận cũng ngày một nhiều và tinh tế hơn.

Khi ấy, những quan niệm sai lầm về "cái tôi xinh đẹp, hạnh phúc và trường tồn" sẽ hoàn toàn đảo ngược trước cái nhìn tuệ giác. Những lớp vỏ bọc chế định như trang phục, oai nghi hay sự liên tục của các uẩn (santati-ghana) đều hoàn toàn rơi rụng.

Ví dụ, muốn phân biệt một người là thiện hay ác, ta phải luôn theo sát và quan sát kỹ lưỡng mọi hành động, mối quan hệ của người đó như một thám tử. Chỉ khi ấy, sự thật giữa những gì ta nghe, ta tưởng với những gì mắt thấy tai nghe mới hiển lộ, giúp ta đưa ra được sự phán đoán và kết luận chuẩn xác cho chính mình.

Vì "tiếng ồn là kẻ thù của **Thiền định** (Samādhi)", Ngài **U Nārada** cảm thấy mệt mỏi với ngôi chùa cũ nằm gần khu dân cư náo nhiệt nên đã chuyển đến trú ngụ tại hang Thammone Chat. Sau ba năm độc cư, vào năm 40 tuổi, ngài đã đạt được thành tựu:

## TRANG 485


Giống như mở tung cánh cửa đang che lấp sự thật, hay như thắp lên ngọn đèn trong căn phòng tối tăm, lần đầu tiên ngài đã chứng ngộ được cốt tủy của cuộc đời. Như một cột trụ vững chãi được chôn sâu dưới đất không hề lay chuyển trước những cơn gió thổi đến từ bốn phương, ngài đã thấu hiểu ý nghĩa của danh sắc và cuộc đời một cách kiên định, không một tà thuyết hay quan điểm sai lệch nào của nhân, thiên hay phạm thiên có thể làm rúng động được nữa.

**Bhūtaṃ bhūtato passati** = Ngài đã nhìn thấy sự vật như chúng đang là.

### Dẫu giảng đến khô cổ cũng chỉ nhận lại sự mệt mỏi

Sau khi tự mình thực chứng pháp hành Tứ Niệm Xứ (**Appamāda**) và khởi tâm tôn kính, tin tưởng tuyệt đối (bằng đức tin do chứng ngộ - adhigama-saddhā) vào các ân đức "Thiết thực hiện tiền" (Sandhiṭṭhika) và "Không có thời gian" (Akālika), Thiền sư **U Nārada** tại chùa Mingun Alae Tawya bắt đầu xiển dương ân đức "Đến để mà thấy" (Ehipassika). Trong suốt ba năm đó, dù một số người coi ngài là một vị sư kỳ lạ, nhưng khi họ dần tìm đến nghe pháp, ai nấy đều ngỡ ngàng trước những lời dạy khác lạ của ngài: "Đi – ghi nhận là đang đi; dừng – ghi nhận là đang dừng; ngồi – ghi nhận là đang ngồi; nằm – ghi nhận là đang nằm."

Sau ba năm, không chỉ tiếp những người đến hỏi đạo, ngài còn chủ động tìm cơ hội để thuyết giảng. Gặp bất kỳ ai, ngài cũng đều giảng dạy pháp hành ấy, khiến người nghe không khỏi kinh ngạc.

"Đây chính là pháp Tứ Niệm Xứ mà cha mẹ, ông bà các con vẫn thường đọc tụng khi lễ Phật. Đây không phải là kinh để đọc suông, mà là pháp để thực hành. Đức Phật đã dũng mãnh khẳng định rằng nếu thực hành trong bảy ngày, các con có thể đắc chứng Niết-bàn. Hãy cố gắng lắng nghe, thực hành và đừng nghi ngờ." Tuy nhiên, vì đây là những lời dạy quá mới mẻ chưa từng được nghe qua, người nghe kẻ thì cười cợt, người thì mỉa mai.

Họ phản bác và nhạo báng rằng: "Đi mà biết đi thì ai chẳng biết, ngay cả chó lợn cũng biết vậy thôi", hoặc "Đó chỉ là thiền định (samatha) thôi, là pháp chế định (paññatti) thôi". Dù bị phản đối và hạ thấp như thế, Ngài **U Nārada** vẫn không hề bỏ cuộc.

"Họ có mê muội thì cứ để họ mê muội, ta vẫn phải thuyết giảng cho đến khi họ quen tai thì thôi", ngài kiên trì tự nhủ. Tuy nhiên, dù ngài có giảng đến khô cổ thì cũng chỉ nhận lại sự mệt mỏi. Suốt một năm trôi qua, vẫn chẳng có lấy một người nào chịu bắt tay vào thực hành thiền tập.

Có lẽ vì quan niệm "yêu quý người mới mến mộ đạo", khi thấy không có ai ở Mingun chịu nghe và thực hành theo, Ngài **U Nārada** quyết định trở về quê hương để

## TRANG 486


dùng giáo pháp để báo đáp thâm ân. Điều này cũng giống như "khi được ăn ngon thì nhớ đến người thân thiết", đồng thời cũng là để thực hành **Ñātattha-cariyā** (Pháp hành vì lợi ích cho thân quyến). Khi về đến làng, ngài dựng một trú xứ thiền giữa rừng Kyaukpyok Kone, phía đông làng Kangyikone để cư ngụ.

Trước đó, vị sư trụ trì chùa Moatgyisu Tawya là Ngài **U Lakkhaṇa** đã nói với những người thân cận rằng ông đã nằm mơ thấy một con bạch tượng đến quỳ phủ phục tại đây.

Kể từ ngày đến nơi, Ngài **U Nārada** không bỏ lỡ một ai, dù là một người hay mười người tìm đến, ngài đều ban bố thời pháp. Thế nhưng, tình hình ở quê nhà thậm chí còn tệ hơn ở Mingun. Người dân bắt đầu chế giễu ngài: "Đi – biết đi, ăn – biết ăn, nhai – biết nhai, nuốt – biết nuốt, nghẹn – biết nghẹn, chạm – biết chạm, nhéo – biết nhéo". Vì đây là nơi ngài sinh trưởng nên sự phê bình từ những người quen biết lại càng trở nên thiếu nể nang và cay nghiệt hơn theo kiểu "bạn bè lâu ngày gặp lại". Nhưng Ngài **U Nārada** không hề nản lòng, ngài vẫn tiếp tục thuyết giảng. Dần dà, lượng người ra vào chùa cũng thưa thớt hẳn.

Một người thị giả thân tín, vốn đã nghe quá nhiều lời bàn tán trong làng, vì lo lắng cho ngài nên một ngày nọ đã thưa rằng:

"Bạch Ngài, mọi người đang bàn tán rằng: Vị sư này đang bày đặt ra những thứ kỳ lạ, thuyết những pháp mà người khác không thuyết, chỉ những pháp mà người khác không chỉ, ban những pháp mà người khác không ban, và thực hành những pháp mà người khác không thực hành."

Ngài **U Nārada** nghe xong chỉ mỉm cười và ôn tồn đáp lại:

"Có thuyết những pháp mà người khác chưa thuyết, thì người ta mới được nghe những điều chưa từng nghe. Có ban những pháp mà người khác chưa ban, thì người ta mới nhận được những gì chưa từng có. Có thực hành những gì người khác chưa thực hành, thì mới có thể chứng ngộ được những pháp đặc biệt mà người khác chưa thấy, từ đó mới hưởng được những lợi ích thù thắng, con ạ."

Tuy đã khẳng định như vậy, nhưng sau một mùa an cư mà kết quả vẫn không như mong đợi, ngài đành phải quay trở lại Mingun.

Trong công cuộc độ hóa thân quyến này, Ngài **U Nārada** đã không thi thố các thần thông biến hóa như phun nước, phun lửa để khiến họ tin phục. Trong mắt họ, ngài vẫn chỉ là "U Thar Byaw" (tên tục của ngài) ngày nào, nên việc không ai muốn lắng nghe hay thực hành theo cũng không phải là điều gì quá lạ lẫm. Nghiệp lực của chúng sinh quả thật thường khiến họ lỡ mất những cơ hội quý báu.

### Chỉ khi kiên định mới mong thành tựu

Dù trong suốt hai năm qua Ngài **U Nārada** không tìm được ai muốn thực hành, thậm chí số người muốn nghe pháp cũng thưa dần, nhưng ngài vẫn không hề nản chí. Với tâm nguyện mãnh liệt và kiên định, ngài vẫn tận dụng mọi cơ hội để thuyết giảng. Một ngày nọ, tại vùng phụ cận Mingun...