## TRANG 490

“Dù ông có đánh trống nhanh đến mức nào đi nữa, vì ông đánh từng tiếng một nên âm thanh phát ra cũng tách biệt, tôi nghe rõ mồn một tiếng của từng mặt trống nhỏ thưa Ngài. Không chỉ vậy, từ lúc âm thanh vừa khởi lên cho đến khi dứt hẳn, tôi đều nhận biết được sự tiếp nối của tiến trình sinh diệt của âm thanh đó. Trước đây, tôi không chỉ lầm tưởng về tính liên tục (paññatti) của âm thanh mà còn tưởng rằng chúng vang lên cùng một lúc thành một khối.”

Khi Ngài chuyển lời thuật lại này đến tác giả, Ngài đã bảo:

“Ta vốn định đến để an ủi vì thấy bà ấy tội nghiệp, nhưng hóa ra bà ấy lại là người đang cảm thương cho sự thiếu sót của ta. Ta thật không ngờ bà ấy lại đạt đến mức độ hiểu biết như vậy.”

### Phương pháp tự thôi miên của Đức Phật

Thông qua sự hiểu biết cá nhân, bà Daw Uttara đã mô tả một cách rõ nét sự tinh nhạy của nhãn thanh triệt (sotapasāda - khả năng nghe nhạy bén). Tương tự như vậy, năm căn thanh triệt còn lại cũng trở nên trong trẻo, sắc bén và tinh nhạy như một mặt gương không vướng chút bụi trần. Không chỉ riêng hành giả, ngay cả trong thế giới thế tục cũng có bộ môn gọi là “thuật ngủ tâm lý hay thuật thôi miên”.

Trong bộ môn đó, người bị thôi miên có thể kể lại những trải nghiệm từ quá khứ xa xôi, hoặc có thể đọc được những ngôn ngữ xa lạ mà họ chưa từng được học qua. Qua nhiều phương thức thử nghiệm và nghiên cứu, người ta nhận thấy rằng cả sáu nội xứ thanh triệt (các giác quan) đều có những khả năng đặc biệt và nhạy bén đến mức khó tin. Tuy nhiên, đó chỉ là những kết quả không trọn vẹn, mang tính cục bộ mà các đạo sư thế gian có thể chạm tới qua những thử nghiệm thô sơ bên ngoài mà thôi.

Những hành giả thực hành pháp hành thiền (kammaṭṭhāna) thực chất cũng giống như những người đang tự thôi miên chính mình. Do đó, việc họ đạt được những khả năng nghe và thấy đặc biệt, vượt trội hơn người thường cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Nếu duy trì được chánh niệm, hành giả đều có thể đạt được những tuệ giác dù nhỏ hay lớn. “Tuệ giác lớn” ở đây chính là sáu loại thắng trí (*abhiññā*), bao gồm cả Thiên nhãn thông (*dibbacakkhu*).

Trong giáo lý nhà Phật cũng có rất nhiều phương pháp để thu hút và nhiếp hóa người khác đi theo con đường chân chánh một cách dễ dàng vì lợi ích của chính họ. Tôi lấy ví dụ so sánh với các bộ môn thế gian chỉ để quý vị dễ hình dung hơn, xin chớ vì thế mà nghĩ rằng điều này làm giảm đi giá trị cao quý của giáo pháp.

Tóm lại, những phẩm hạnh như Thế Gian Giải (*Lokavidū*) của Đức Thế Tôn đều là kết quả nảy nở từ việc thực hành hơi thở (ānāpāna). Nếu thấu hiểu được điều này, quý vị sẽ càng thêm phần cảm phục và khởi tâm trong sạch nơi giáo pháp.

## TRANG 491

### Chuyến hoằng pháp đầy duyên khởi

Sau hai năm trú tại Myolha, theo lời thỉnh mời của các hành giả tại Mawlamyine, Đại đức cùng với cận sự nam U San Dun lên tàu hỏa khởi hành. Đó là năm 1275 (Miến lịch). Khi đó, tỳ-kheo U Kelāsa trú tại chùa dưới Meghavan thuộc thành phố Thaton cũng ra ga tiễn một vị thầy khác. Tình cờ gặp Đại đức, vị này mới hỏi rằng:

“Bạch Ngài, Ngài từ đâu đến ạ?”

Đại đức đáp: “Ta từ Myolha đến.” Nghe vậy, vốn đã từng nghe danh tiếng từ trước, vị này hỏi tiếp: “Vậy... Ngài có biết vị thiền sư Mingun không ạ?”

Đại đức dừng lại một chút rồi đáp: “Chính là ta đây.”

Khi đó, Đại đức U Kelāsa vốn đang tìm kiếm một vị thiền sư dạy thiền nên khi được diện kiến Ngài, vị ấy vô cùng vui mừng và hân hoan.

Vị ấy hỏi tiếp: “Bạch Ngài, hiện giờ Ngài dự định đi đâu ạ?” Ngài đáp: “Ta định đi Mawlamyine.” Với lòng nhiệt thành muốn biết thêm, vị ấy lại hỏi: “Bạch Ngài, Ngài đi có việc gì ạ?”

Ngài chậm rãi đáp một cách không chắc chắn: “Vì các đệ tử thỉnh mời nên ta đi, nếu thời tiết và điều kiện thích hợp (sappāya) thì có lẽ ta sẽ tạm trú lại đó một thời gian.”

Nghe vậy, Đại đức U Kelāsa chợt nảy ra ý định và thưa rằng: “Bạch Ngài, nếu Ngài muốn hoằng pháp ở vùng hạ lưu này thì không nơi nào tốt hơn Thaton. Trong vùng này không có nơi nào mà con chưa từng ở qua.” Nói xong, vị ấy dùng những lời lẽ chân thành để thuyết phục và thưa tiếp:

“Con là tỳ-kheo Kelāsa ở chùa Meghavan. Từ khi nghe danh tiếng của Ngài, con luôn đặt trọn niềm tin và sự kính trọng. Nếu Ngài không chê trách, xin thỉnh Ngài về chùa của chúng con để hoằng pháp trong một mùa hạ này. Nếu Ngài có thể tạm trú lâu dài, con xin nguyện lo liệu mọi việc hộ độ (veyyāvaccasamāpana) để Ngài được thân tâm an lạc mà hoằng dương giáo pháp, đồng thời cũng là để con được vun bồi ba-la-mật.” Vị ấy khẩn khoản nài ép Ngài nhận lời.

Đại đức trầm ngâm suy nghĩ một hồi. Ngài sực nhớ về truyền thống cổ xưa của vùng đất Suvaṇṇabhūmi, nơi giáo pháp bắt đầu khởi nguồn tại Thaton, và nảy ra ý định: “Nếu giáo pháp Tứ Niệm Xứ có thể bắt đầu lan tỏa từ nơi này thì thật tốt.” Vì vậy, Ngài quyết định không đi tiếp đến Mawlamyine nữa mà xuống tàu và ở lại Thaton.

Để quý vị có thể cảm nhận được vẻ đẹp kỳ diệu của những nhân duyên vô hình, tôi xin ghi lại lời thuật của Đại trưởng lão U Kelāsa. Vì tính cách của Ngài U Kelāsa vốn thẳng thắng và dứt khoát nên Ngài đã thỉnh mời một cách quyết liệt. Còn Đại đức, dù chưa hề quen biết từ trước, cũng đã chấp thuận và đi theo sự thỉnh mời của Ngài U Kelāsa ngay lập tức. Các vị trưởng lão bạn hữu khi ấy còn có lời trách khéo Ngài U Kelāsa vì sự đường đột này.

## TRANG 492

### Bài pháp đầu tiên chào đón vùng đất Thaton

Mặc cho ai nói gì, Đại trưởng lão U Kelāsa vẫn vô cùng hân hoan và không hề thấy mệt mỏi. Vị ấy thỉnh Ngài trú tại một ngôi trường lớn dài 60 hắc tay, và ngay trong đêm đó đã thỉnh cầu Ngài ban cho thời pháp đầu tiên. Ngay khi được sự chấp thuận, vị ấy đã đi khắp nơi loan báo cho mọi người cùng đến lắng nghe trong niềm hân hoan. Đại đức cũng gạt đi nỗi mệt nhọc sau chuyến hành trình để nhiệt tâm thuyết giảng thời pháp đầu tiên. Bài pháp mà Ngài thuyết là kinh Đại Lục Xứ (*Mahāsaḷāyatanika Sutta*) thuộc phần *Uparipaṇṇāsa Pāḷi*.

Ngài trích dẫn các đoạn Pāḷi bắt đầu bằng: **“Cakkhuṃ bhikkhave ajānaṃ apassaṃ yathābhūtaṃ...”** rồi giải thích sang tiếng Việt.

Ngài thuyết giảng một cách sâu sắc và đúng theo lời Phật dạy, không thêm thắt điều gì về việc: “Vì không thấu rõ bản chất thật sự của nhãn căn (mắt) nên chúng sinh mới khởi tâm tham ái, đưa đến sự chấp thủ vào thân và chịu đủ mọi loại khổ đau trong vòng luân hồi. Nếu hằng ngày hằng giờ biết tỉnh giác ghi nhận thì các pháp thuộc Bồ-đề phần (*bodhipakkhiyadhamma*) như Tứ Niệm Xứ sẽ được bồi trưởng. Khi đó, thiền định (*samatha*) và thiền tuệ (*vipassanā*) sẽ cùng song hành như một đôi bò cùng kéo một chiếc xe; hành giả sẽ nắm vững bốn nhiệm vụ: hiểu rõ khổ, đoạn tận nguồn gốc của khổ (tập), chứng đắc sự diệt khổ (diệt) và tu tập con đường thoát khổ (đạo).” Những lời thuyết giảng đầy uy lực ấy đã chạm sâu vào tâm khảm của Ngài U Kelāsa, gặp đúng lúc duyên lành ba-la-mật chín muồi nên vị ấy đã thấu triệt hoàn toàn.

Kể từ thời điểm đó, phong trào học tập và thực hành pháp thiền Tứ Niệm Xứ tại thành phố Thaton bắt đầu lan rộng nhanh chóng.

Nhờ sự vận động và sắp xếp của Ngài U Kelāsa, số lượng hành giả ngày càng đông đến mức họ phải rời từ tu viện Meghavan sang một tu viện cổ lớn hơn tên là Sāsanapajjotika để mở trung tâm thiền. Dù đã nỗ lực sắp xếp nơi ăn chốn ở, nhưng cơ sở này vẫn không thể đáp ứng đủ số lượng người tìm đến.

Do đó, vào năm 1276, dưới sự dẫn dắt của Ngài U Kelāsa cùng các hành giả kỳ cựu từ nhiều nơi, với sự hỗ trợ của ông U Bo Sa (một vị quan chức bộ phận xét xử), họ đã xin cấp phép và tiến hành khai hoang một khu rừng rộng 5 mẫu Anh (nay vẫn còn hiện hữu). Nơi này vốn là địa điểm của hoàng cung cũ trong lịch sử Suvaṇṇabhūmi. Nằm ở góc đông bắc, giữa lớp tường thành thứ nhất và thứ hai, rừng rậm bao quanh phía đông và nam bắc, nên nơi đây vô cùng yên tĩnh và tách biệt với sự ồn ào của dân cư. Tại khu đất phước báu này, họ đã xây dựng giếng nước, nhà nghỉ chân và các ngôi chùa nhỏ, rồi đặt tên cho nơi này là “Jetavan” (Kỳ Viên). Trên mảnh đất linh thiêng của thành Thaton cũ, nơi có ba lớp hào bao quanh, “lá cờ chiến thắng của Tứ Niệm Xứ” đã chính thức được giương cao.