## TRANG 508

Ngài Sayadaw đã có thể bắt đầu bước vào địa hạt siêu thế ngay từ lúc 40 tuổi. Nếu vào lúc trẻ trung, sức khỏe còn sung mãn và trí tuệ còn sắc bén mà Ngài nỗ lực dốc toàn tâm toàn ý tu tập liên tục thì hẳn sẽ đạt được sự an lạc dễ dàng và thuận lợi hơn. Khi làm công tác hoằng pháp, nếu đã có đầy đủ đạo lực Vô Vi (Asaṅkhata) thì công việc sẽ tiến triển xa hơn và những chướng ngại cũng sẽ ít đi. Thay vì phải dựa nhiều vào Pháp học (Pariyatti) và sự tinh tấn nỗ lực để hoằng dương giáo pháp, nếu Ngài thiết lập và đạt được trọn vẹn đạo lực Vô Vi — hay còn gọi là Pháp tánh (Dhammadhātu) — thì Ngài sẽ vừa nhẹ nhàng hơn, vừa đạt được nhiều thành tựu hơn. Ngay khi vừa tìm thấy sự an lạc của Pháp, vì quá nôn nóng muốn cứu độ chúng sinh mà thời gian Ngài dành cho việc thuyết pháp và viết lách đã tiêu tốn hết những năm tháng tuổi trẻ sung mãn với trí tuệ tinh anh.

### Nghỉ chân một nhát, mệt thêm bội phần

Đức Ānanda đã sống ở quả vị Tu-đà-hoàn (Sotāpanna) trong một thời gian khá dài. Thay vì dốc sức nỗ lực tiến bước, Ngài đã tiêu tốn thời gian vào việc thuyết pháp không ngừng. Khi kỳ kết tập kinh điển đã cận kề, vì nếu không có Ngài thì không thể hoàn thành nên các bậc Đại Trưởng lão đã phải lên tiếng nhắc nhở, và trách nhiệm của Ngài càng tăng thêm. Thế nhưng Ngài vẫn cứ mải mê thuyết giảng. Trong lúc các vị Trưởng lão đang bận rộn với công việc hệ trọng của kỳ kết tập, thì Đức Ānanda lại đang thuyết pháp cho đông đảo quần chúng, vì thế vị Đại Trưởng lão Vajjiputta có thần thông đã nhắc nhở Ngài rằng:

“Này Ānanda, người thuộc dòng họ Gotama! Hãy đem Niết-bàn tịnh lạc đặt vào trong tâm khảm, hãy tìm đến một gốc cây mà tu tập Quán sát (Vipassanā). Chớ có phóng dật. (**Ki te biḷibiḷikā karissati**) = Việc ông cứ thuyết giảng ríu rít như thế thì có đem lại lợi ích gì cho ông chăng?” Sau khi được cảnh báo và dạy bảo như vậy, vị Trưởng lão Ānanda vốn thuyết pháp rất hay đã sớm đắc quả A-la-hán. (**Chú giải trưởng lão tăng kệ Vajjiputta.**)

Ý nguyện thuần khiết của Đức Thế Tôn cũng giống như mũi tên đã bắn đi, Ngài muốn người tu tập phải tinh tấn liên tục, không ngừng nghỉ, ngồi một mạch cho đến khi chứng đắc quả vị A-la-hán mới thôi. (**Kinh Đại Gosinga.**) Ngài không hề mong muốn bất kỳ sự dừng nghỉ nào vì bất cứ lý do gì. (**Trong kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây — Trung Bộ Kinh**) có dạy rằng: Lợi lộc (như cành lá), Giới (như vỏ ngoài), Định (như vỏ trong), Thần thông (như giác gỗ), Pháp siêu thế (như lõi cây). Giáo pháp của Đức Phật dạy rằng không được hài lòng khi chỉ mới có được cành lá, vỏ ngoài, vỏ trong hay giác gỗ (thậm chí không được hài lòng khi chỉ mới đạt được phần lõi sát với giác gỗ), mà phải nỗ lực để đạt được lõi cây thực thụ là quả vị A-la-hán ngay trong kiếp sống này. Có như vậy thì việc hoằng pháp mới rộng lớn và sâu sắc, đó chính là điều mà Đức Thế Tôn đã nhìn thấy.

## TRANG 509

Nếu chỉ dừng lại ở quả vị Tu-đà-hoàn hay Tư-đà-hàm mà qua đời, thì nỗi khổ phải nghỉ chân ghé lại cõi người, cõi trời thêm nhiều lần nữa, hay dù có đắc quả A-na-hàm đi nữa thì nỗi khổ phải tiếp tục mang vác gánh nặng của uẩn ở cõi Phạm thiên với tuổi thọ cực dài cũng là điều đáng buồn chán và nhàm chán. Thấy rõ điều đó nên Đức Thế Tôn đã tha thiết khuyến tấn. Trong vòng luân hồi 31 cõi, hễ dừng chân nghỉ lại một nhát là mệt thêm bội phần.

### Rắn và quạ đến cúng dường

Vào năm 1316 (Miến lịch), khi Ngài Sayadaw 86 tuổi, từ đầu tháng Tà-bông (Taboung), Ngài phải nằm trên giường suốt khoảng mười ngày, không thể trở mình hay ngồi dậy được. Nhiệt độ cơ thể không lúc nào xuống dưới 100-102 độ F. Đến giữa trưa ngày thứ Sáu sau mười ngày đó, do đờm tắc nghẽn và kiệt sức, sắc nghiệp tái sinh (cuti-kammaja-rūpa) của Ngài đã chấm dứt.

Các thí chủ đứng vây quanh đều òa lên khóc lóc. Vị thầy ban truyền giáo pháp không còn nữa. Đàn quạ quanh vùng cũng tụ tập lại than khóc thảm thiết, chúng bay từng đàn phía trên ngôi chùa nơi đặt kim thân Ngài, kêu gào như để cúng dường. Vị chủ nhân thường cho chúng ăn cũng không còn nữa.

Vào lúc 1 giờ 25 phút ngày 13 tháng Tagu, giữa lúc đông đảo mọi người đang vây quanh chiêm bái, một con rắn lớn dài khoảng năm feet bò vào, trườn tới bên chân Ngài, đầu gật gật như đang tỏ lòng tôn kính. Mọi người đều vô cùng kinh ngạc. Sự việc kéo dài khoảng hai giờ năm mười phút. (Lúc bấy giờ các báo đều có đăng ảnh sự kiện này).

Khi đó, giữa những lời bàn tán xôn xao của mọi người, một vị nữ tu (Sīla-răng) cao hạ thầm phát nguyện trong tâm: “Nếu đây không phải một con rắn bình thường thì xin hãy biểu hiện cho thấy rõ ràng”, rồi bà ngồi xuống bên chân kim thân Ngài. Sau khi bà phát nguyện xong, con rắn đang ở phía trên đài hoa sen liền bò xuống, quấn quanh vị nữ tu một vòng như để chào hỏi rồi tỏ lòng cung kính. Khoảng hai mươi vị nữ tu ngồi gần đó đã phải hoảng sợ bỏ chạy.

Lại còn một sự việc khác gây xúc động lòng người hơn nữa.

Đó là việc một số vị Đại Trưởng lão ở thị trấn Thaton đã bí mật đến đảnh lễ kim thân Ngài vào lúc đêm khuya vắng người. Không biết trước kia họ đã từng nói những điều gì quá lời hay xúc phạm đến Ngài, nhưng dù thế nào đi nữa, việc đến đảnh lễ để sám hối như vậy chính là truyền thống tốt đẹp của những bậc thiện tri thức, những bậc con của Đức Phật.

## TRANG 510

### Lời kể của vị Đại Thần cây (Rukkhaso)

Kim thân Ngài để suốt 21 ngày mà không hề hư thối hay có mùi, da dẻ vẫn săn chắc và vàng óng. Mọi người không nỡ hỏa thiêu. Lại thêm nạn phiến quân chưa yên và có nhiều tranh luận, nên mãi đến ngày mùng 8 tháng Kasone năm 1317 (Miến lịch) mới tổ chức lễ hỏa thiêu. Trong những ngày tang lễ, dù có các viên chức chính phủ ra vào, và tình hình phiến quân có thể gây ra sự cố, nhưng nhờ oai đức của Ngài Sayadaw mà những người có ý định phá hoại cũng đều mặc thường phục trà trộn vào để cùng làm việc và cúng dường như bao người khác. Xá-lợi xương của Ngài được tôn thờ trong một bảo tháp ngay tại khuôn viên chùa.

Liên quan đến Ngài Sayadaw, có một câu chuyện mới nổi lên và rất nổi tiếng ở Thaton.

Có một vị sư am tường về các pháp thế gian ở phía Theim-seik, Kyaik-kaw, vì muốn biết mức độ chứng đắc giáo pháp của Ngài Sayadaw nên đã triệu thỉnh và hỏi một vị Đại Thần cây (Rukkhaso) — vốn là một bậc Tu-đà-hoàn đang canh giữ tại chùa Jetavana ở Ấn Độ (Majjhima Desa), nơi Đức Phật từng ngự. Vị Thần cây thưa rằng...

“Tôi chỉ biết rằng Ngài ấy cao thượng hơn tôi, còn cao thượng đến mức nào thì tôi không thể thưa được. Tuy nhiên, Ngài ấy vẫn chưa phải là bậc A-la-hán. Hiện nay tôi đang thấy lâu đài (vimāna) của Ngài ở cõi Trời Đâu-suất (Tusitā).”

Lược thuật lời này vốn đã có từ ba bốn mươi năm trước khi Ngài viên tịch, nên không thể lấy đó làm điều xác tín hoàn toàn. Bởi lẽ, các lâu đài ở cõi trời có thể xuất hiện trước và cũng có thể thay đổi, đây chỉ đưa ra như một kiến thức tham khảo. Ngài Sayadaw vốn là bậc đại nhân đã tu tập quán chiếu trong nhiều năm, nên Ngài hoàn toàn có đủ thời gian và cơ hội để hoàn tất đạo nghiệp của một vị Sa-môn.

Dù sao đi nữa, đông đảo tăng ni và phật tử trong và ngoài nước đều nhất mực tôn kính gọi Ngài là “Bậc A-la-hán tôn quý”. Hiện nay, chúng ta có thể chiêm bái xá-lợi của Ngài tại nơi các vị đại đệ tử của Ngài đang trụ trì.

Gia sản giáo pháp Tứ Niệm Xứ mà Ngài đã khai phá bắt đầu được Ngài Sayadaw U Visuddha (**1266-1320**) tiên phong truyền bá tại Insein, Yangon, gọi là 'Mingun Yeiktha'. Ngày nay, bậc ân sư Mahāsi Sayadaw đang vững vàng hoằng dương, gióng lên hồi trống pháp Tứ Niệm Xứ cho đông đảo chúng sinh ở cả trong và ngoài nước.

(Tôi xin tập hợp và ghi chép lại những gì đã được đọc và nghe thấy, không thêm thắt, để cúng dường trong khả năng của mình. Mong các bậc hữu duyên hãy ghi nhớ, suy xét đúng sai mà tinh tấn tu tập. Nếu muốn biết chi tiết...)
