## TRANG 511

### Cách nhận biết một bậc A-la-hán

Muốn biết một vị có phải là bậc Thánh A-la-hán hay không, cần hội đủ bốn yếu tố sau:

1. Phải cùng chung sống, gần gũi mới có thể biết được giới đức (**Saṃvāsena sīlaṃ veditabbaṃ.**).

2. Phải qua đàm đạo, đối thoại mới có thể biết được sự thanh tịnh (**Saṃvohārena soceyyaṃ veditabbaṃ.**).

3. Phải khi gặp hoạn nạn, nghịch cảnh mới biết được sức mạnh của trí tuệ và sự kiên trì (**Āpadāsu thāmo veditabbo.**).

4. Phải qua sự thảo luận, vấn đáp mới có thể biết được trình độ tuệ giác (**Sākacchāya paññā veditabbā.**).

Những điều này chỉ có thể nhận biết được sau một thời gian dài quan sát, với sự chú tâm hướng nội và bởi người có trí tuệ. Nếu thời gian quá ngắn, không có sự chú tâm hoặc thiếu trí tuệ thì không thể nào nhận biết được. (Đức Phật đã thuyết dạy điều này cho vua Kosala khi đức vua lầm tưởng các vị ngoại đạo là bậc A-la-hán. Trích *Kinh Bảy vị Kết tóc* - *Sattajaṭila Sutta*, chương *Sagāthāvagga*).

[Để tìm hiểu chi tiết về phương pháp thẩm tra một vị có phải là bậc Thánh hay không, xin mời xem thêm trong phần Chánh văn và Chú giải kinh *Chabbisodhana Sutta* thuộc *Uparipaṇṇāsa*; và các tài liệu như: *Vi-ṭṭh* (Chú giải Luật), tập 2, trang 11, phần *Pārājika* thứ tư; *Abhi-ṭṭh* (Chú giải A-tỳ-đàm), tập 2, trang 470; *Visuddhi-ṭṭh* (Chú giải Thanh Tịnh Đạo), tập 2, trang 270; *Sāratthaṭīkā*, tập 2, trang 282, cùng các tài liệu liên quan. Tuy nhiên, việc tự xét mình có phải là bậc Thánh hay không mới là điều quan trọng và cấp thiết hơn cả.]

## TRANG 512

# Ngài Đại trưởng lão Shwetaung Sayadaw U Tikkhindriya (1232 – 1303 Miến lịch)

Ngài Shwetaung Sayadaw **U Tikkhindriya**, trụ trì tu viện Ammārāma tại thành phố Shwetaung, là một trong những bậc danh tăng lỗi lạc đáng được ghi danh vào lịch sử hành trì giáo pháp (*Paṭipatti*) tại Myanmar. Ngài đã soạn thảo nhiều bộ luận thư và không ngừng nỗ lực hoằng dương pháp hành thiền Minh sát (*Vipassanā*) trên khắp cả nước; tiếng vang từ những lời dạy của Ngài vẫn còn âm ỉ truyền thừa cho đến tận ngày nay. Một tổ chức mang tên "Hội thiền Minh sát Trưởng lão U Tikkhindriya" đã được thành lập để tiếp nối và gìn giữ di sản tu tập mà Ngài để lại.

Dù danh tiếng của Ngài vô cùng hiển hách, nhưng do tư liệu nghiên cứu chuyên sâu về tiểu sử của Ngài vẫn chưa được thu thập đầy đủ (phần vì e ngại có những chi tiết quan trọng bị bỏ sót), nên chúng tôi xin phép chỉ trích dẫn lại nguyên văn bản tóm tắt tiểu sử được tìm thấy trong phần lời tựa của bộ luận thư *Samuppāda Nirodhagaṃ*, tập 1 do chính Ngài biên soạn, để quý vị cùng chiêm bái và hoan hỷ.

Vào thứ Bảy, ngày 12 tháng Chạp (trăng khuyết) tháng Wazo năm 1232 Miến lịch (mùa Hè), lúc hơn 4 giờ sáng, tại khu phố Bauktisu, thành phố Sittwe, bà Myat Pan Oo – phu nhân của vị thư ký trưởng U Ye Baw – đã hạ sinh một người con trai quý báu. Cậu bé ấy sau này chính là bậc thăng hoa, người đã có công lao to lớn trong việc làm hưng thịnh và lan tỏa giáo pháp Minh sát Tuệ (*Adhipaññā Vipassanā*). Tên thuở nhỏ của cậu là Maung Thar Mar Oo.

Bậc tiền thân của Ngài Sayadaw **U Tikkhindriya**, cậu bé Maung Thar Mar Oo, có một người em trai ruột. Maung Thar Mar Oo là anh cả, còn người em trai là Maung Paw Tun (về sau trở thành Bộ trưởng Bộ Nội vụ Myanmar, tức Sir Paw Tun). Ngoài ra, các anh em họ của Ngài gồm có:

1. Ông U Zan Thar Oo, quan tòa nhận huân chương dải lụa vàng (*Shwe-salwe*) tại Phapyone.

2. Ông U Saw Phyu, quan huyện tại Toungoo.

3. Ông U Maung Tun Aung, thẩm phán đặc biệt tại Pathein.

4. Ông U Shwe Thar, thanh tra cảnh sát tại Phapyone.

Khi đến tuổi trưởng thành, Maung Thar Mar Oo được cha mẹ cho theo học tại trường chính quy. Cậu đã xuất sắc đỗ thủ khoa hạng nhất toàn quốc trong kỳ thi lớp 7 thời bấy giờ.

Để con trai có thể thọ nhận gia tài pháp bảo, theo truyền thống của người Phật tử, cha mẹ đã đưa cậu đến tu viện Azi Sayadaw tại West Pauktaw Chaung (nay là tu viện Phaya Lay Zu) ở Sittwe để làm lễ xuất gia Sa-di.

## TRANG 513

Cậu Sa-di Thar Mar Oo được vị thầy tế độ Azi Sayadaw ban cho pháp danh là "Sadi Tissa". Vì lòng yêu mến và an lạc trong đời sống xuất gia, Sadi Tissa đã gắn bó với thiền môn. Đến khi tròn 20 tuổi, Ngài được vị thầy tế độ Azi Sayadaw truyền giới trở thành Tỳ-khưu.

Sau khi thọ đại giới, Tỳ-khưu **U Tissa** đã lên Yangon để theo học các bậc thầy đạo cao đức trọng, đặc biệt là dưới sự chỉ dạy của Ngài Shwegyin Sayadaw tại Kyaugtawya. Ngài lưu trú và tu học tam tạng kinh điển tại tu viện Kyaugtawya Shwegyin. Sau đó, Ngài đã sang Ấn Độ và tu hành tại đó trong suốt 3 năm.

Từ Ấn Độ, Ngài tiếp tục hành trình sang Tích Lan (Sri Lanka) và lưu trú tại đây trong 5 năm. Trong thời gian ở Tích Lan, khi đang chiêm bái cây Bồ-đề Dakkhinasakha, lòng tôn kính đức Phật trong Ngài dâng trào mãnh liệt đến mức Ngài đã tự cắt ngón tay trỏ bàn tay trái, dùng vải tẩm dầu quấn lại rồi đốt làm đèn cúng dường lên cội Bồ-đề thiêng liêng.

Sau khi trở về từ Tích Lan, Ngài lưu trú tại một tu viện rừng ở huyện Sittwe. Tại đây, Ngài gặp phải một cơn trọng bệnh khiến Ngài phải hoàn tục (để giữ sự thanh tịnh). Tuy nhiên, ngay sau đó, do nhận thức sâu sắc về sự vô thường (thâm tín sự yếm ly), Ngài đã phát nguyện làm một vị đạo sĩ ẩn dật (*Rishi*) để tu tập tại vùng rừng Mahamyaing. Sau đó, Ngài đi đến Sagaing và lưu trú tại tu viện Sambuṇṇārāma.

Rời Sagaing, Ngài đến tu viện Kan Kalay tại thị trấn Kyan Khin. Theo lời thỉnh cầu của bà thí chủ Daw Phawt, Ngài đã đến tu viện rừng Shwe Hintha ở Nyaungdon để tái xuất gia Tỳ-khưu với Ngài Đại trưởng lão Kyaugtawya Shwegyin làm thầy tế độ (lúc bấy giờ Ngài Shwegyin Sayadaw đang lưu trú tại tu viện Shwe Hintha, Nyaungdon). Lần này, Ngài được ban pháp danh là "**U Tikkhindriya**".

Bậc thiện thệ **U Tikkhindriya** từng lưu trú tại Kyee Chaung và Lay Myethna. Khi Ngài đang tu tập tại Monywa, sau khi trải qua một giấc mơ vô cùng kỳ lạ, Ngài đã chứng ngộ sâu sắc con đường thiền Minh sát. Ngài đã nỗ lực hành trì tinh tấn đến mức các hàng đệ tử, cả xuất gia lẫn tại gia, đều hết lòng tin tưởng và cung kính tôn xưng Ngài là "Bậc Thánh giả Mẫu mực" (Ariya).

Trong thời gian du phương hoằng pháp tại các tỉnh thành, khi Ngài đang dừng chân tại tu viện Kan Kalay, thị trấn Kyan Khin, theo lời thỉnh mời của ông lý trưởng U Thukha vùng Puretan, Ngài đã đến Puretan và Padaung để thuyết pháp. Trước lòng thành kính của thiện nam tín nữ thị trấn Padaung, Ngài đã lưu trú tại một tu viện gần tượng Phật đồng lớn ở Padaung.

Tiếp đó, theo lời thỉnh cầu của vị hộ pháp U Shwe Htaik, Ngài đã lên đường đến thành phố Shwetaung.