## TRANG 538

Khi thân thể khỏe mạnh, Ngài không dùng các loại nước giải khát pha đường hay đường thốt nốt. Ngài không đi dép, không che lù, không đi xe bò hay xe ngựa khi vào trong làng. Đôi khi dù phải đi xe lửa hay tàu thủy, Ngài cũng không bao giờ nằm ngủ nghỉ trên đó vào ban đêm. Ngài luôn đầy nhiệt huyết và tinh tấn, cực kỳ ghét sự lười biếng.

### Vừa tu học Pháp học vừa hành trì Pháp hành tại vùng Mandalay

Vị tỳ-kheo trẻ **U Sumana**, sau khi đã học đi học lại nhiều lần năm bộ Luật tạng kinh điển cùng với các bộ Chú giải, vào ngày Rằm tháng Táp-pô-tuê năm 1259 (âm lịch Myanmar), khi mới được 5 hạ lạp, Ngài đã cùng với người anh cả là U Bo Ba đóng vai trò hộ pháp (kappiya), rời ga Da-pein để lên Mandalay học đạo. Khi đó, tuyến đường sắt nối liền Nam - Bắc Myanmar mới chỉ khánh thành được 8 năm.

Ngài theo học với Sayadaw **U Yan Kon** (pháp danh **U Sujāta**) tại chùa Phaya Gyi, phía nam Mandalay (đây cũng là nơi vị thầy thời Sa-di của Ngài và bạn học của Ngài là To Kyaung Ka-lay từng tu học). Hành trang mang theo chỉ gồm một chồng bản chép tay trên lá bối, một chiếc bình bát và ba tấm y cà-sa. Ngài tuyệt đối không bao giờ cầm giữ tiền bạc. Trong thời gian đó, Ngài cũng đã đến cầu học với các bậc danh sư lỗi lạc thời bấy giờ tại Mandalay, những vị sáng chói như mặt trăng mặt trời gồm các Sayadaw: Kyi-wun, Moe-dar, Min-din, Maing-khaing, Maha Visuddhārāma và Shwe-ye-saung. Trong suốt cuộc đời sinh viên tăng, Ngài luôn giữ thái độ khiêm nhường (nivāta) trong giao tiếp. Ngài không chỉ phục vụ các bậc thầy mà còn luôn tận tụy làm mọi việc cho bạn đồng tu như múc nước tắm, nước dùng, quét dọn hay vệ sinh nhà vệ sinh. Chính vì vậy, Ngài luôn được mọi người yêu mến và kính trọng. Bất cứ khi nào đi khất thực được gì, Ngài cũng đều dâng cúng lên thầy giáo thọ trước rồi mới dùng phần còn lại.

Trong quãng đời học tăng, bên cạnh việc tự mình tu học, Ngài còn dành thời gian dạy các lớp Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) vào ban đêm cho các vị tăng trẻ. Ngài giảng dạy đồng thời các bộ **Mātika** (Mẫu đề), **Dhātukathā** (Chất ngữ), **Yamaka** (Song đối) và **Paṭṭhāna** (Vị trí - 4 bộ đầu) và cho từng vị tụng đọc. Ngài đã sáng tạo ra các phương pháp giảng dạy giúp người học nắm bắt dễ dàng và rõ ràng chỉ trong vòng một năm, điều này khiến các học tăng thời đó vô cùng yêu thích. (Bộ sách lớn giải thích tóm tắt về hệ thống dạy ban đêm của chùa Mohnyin dài hơn 300 trang đã được ấn hành vào năm 1324 theo đúng nguyên bản cũ).

Quãng đời học tăng của Sayadaw Mohnyin thật là một tấm gương sáng cho các bậc Sa-di và Tỳ-kheo trẻ hậu thế noi theo. Năng lực về Pháp học (Pariyatti) của Ngài là điều không cần phải bàn cãi, các tác phẩm của Ngài chính là minh chứng sống động nhất.

Mặc dù **U Sumana** đang bận rộn với việc học và dạy Pháp học để đạt đến sự thông thạo, nhưng trong tâm khảm Ngài mỗi ngày một thôi thúc ý định rời bỏ thế sự để vào rừng tu tập. Trong khi chưa đưa ra được quyết định cuối cùng, vào mỗi ngày trai giới (Uposatha), Ngài thường đi đến nghĩa trang Yahi ở phía tây Mandalay để thực hành hạnh đầu đà trú ngụ dưới gốc cây (rukkhamūla dhutaṅga).

## TRANG 539

Trong khi tu tập các đề mục thiền định gồm **Buddhanussati** (Niệm Phật), **Mettā** (Niệm Tâm Từ), **Asubha** (Niệm Thể Xác Bất Tịnh) và **Maraṇassati** (Niệm Sự Chết) — còn gọi là **Caturārakkha** (Bốn Pháp Bảo Vệ) — Ngài luôn chờ đợi một ngày có thể hoàn toàn giải thoát khỏi mọi ràng buộc để ẩn tu.

Giữa lúc đang tích lũy nội lực như vậy, Ngài nhận được một lá thư từ vị thầy ở quê nhà yêu cầu Ngài về tiếp quản ngôi chùa. Sau khi suy xét kỹ lưỡng, Ngài đã quyết định không quay về. Ít lâu sau, Ngài lại nhận được điện báo báo tin mẫu thân và phụ thân lần lượt qua đời. Ngài đã làm lễ dâng cúng vật thực và y áo để hồi hướng công đức cho cha mẹ quá cố nhưng vẫn kiên định không quay về. Tuy nhiên, sau đó đã nảy sinh một lý do khiến Ngài không thể không trở về quê nhà.

Lý do đó không phải điều gì khác ngoài việc: khi chuẩn bị buông bỏ tất cả để vào rừng tu tập, Ngài đã nhiều lần quán chiếu lại bản thân xem từ khi biết nhận thức cho đến nay mình có phạm phải sai lầm nào không. Ngài kiểm tra đi kiểm tra lại và chỉ tìm thấy duy nhất một lỗi nhỏ. Đó là thời còn làm chú tiểu, trên con đường nhiều người qua lại, Ngài đã từng nhặt một viên gạch ném một con chó đang sủa mình. Đối với người bình thường, đó là việc không đáng kể, nhưng với Ngài **U Sumana**, Ngài cảm thấy vô cùng hối hận và kinh hãi trước ác nghiệp đó. Ngay khi nhớ ra, Ngài quyết định trở về quê để sửa lại con đường đó.

Ngài thực hành theo quan điểm của các bậc thánh nhân: **“Aṇumattesu vajjesu bhayadassāvi” — Thấy sự nguy hiểm ngay cả trong những lỗi nhỏ nhặt nhất (như thấy núi Meru)**. Đây là một điểm đáng lưu tâm rằng chỉ khi rèn luyện từ những việc nhỏ thì mới có thể chiến thắng được những việc lớn. Không nên coi thường những lỗi dù là nhỏ nhất.

Khi Ngài về đến quê nhà, họ hàng thân quyên vây quanh trách móc và khóc lóc, bảo rằng: “Cha mẹ chết cũng không thấy mặt, thầy gọi cũng không về, sao mà đoạn tuyệt tình cảm đến thế”, Ngài đã dùng giáo pháp để an ủi họ. Ngài dành hai ngày để sửa xong con đường và ở lại thêm năm ngày rồi quay trở lại Mandalay. May mắn thay, vị sư phụ của Ngài lúc đó đang đi vắng nên không có ai ngăn cản quyết liệt, giúp Ngài có thể rời đi một cách thuận lợi.

### Ngôi chùa rừng nhỏ “Bốn Cột”

Ngài U Sumana đã dành đến 17 hạ lạp để thực hiện các bổn phận nghiên cứu và giảng dạy giáo pháp, ưu tiên hàng đầu cho trách nhiệm về Pháp học (Pariyatti). Trong khi đang sống như vậy—

Một luồng sáng lớn của tuệ giác ập đến với Ngài: “Ta không nên để ngày tháng trôi qua một cách vô ích tại ngôi chùa này, làng này, với vị thầy này, những đệ tử này hay những bạn đồng tu này nữa. Giống như một con voi đầu đàn rời khỏi bầy, như một mũi tên đã bắn ra không còn vướng bận, ta phải dấn thân vào rừng một mạch để đạt được sự giải thoát hoàn toàn”. Nghĩ vậy, Ngài đã đến gặp các vị thầy giáo thọ cùng các bạn đồng tu và thưa rằng:

## TRANG 540

“Con xin được chuyển sang thực hành Pháp hành (Paṭipatti). Trong rừng sâu hiểm nguy rất nhiều, lại chẳng biết cái chết đến lúc nào. Có lẽ đây là lần cuối chúng ta gặp nhau. Vì vậy, nếu từ vô lượng kiếp cho đến kiếp sống này, con có điều gì đắc tội, kính mong các Ngài từ bi hỉ xả và tha lỗi cho con”. Ngài cũng đem tất cả đồ đạc dư thừa ra bốc thăm để tặng lại cho mọi người.

Chỉ với một chiếc bình bát, ba tấm y và ba cuốn sách: **Visuddhimagga** (Thanh Tịnh Đạo), **Chú giải Uparipaṇṇāsa** (Hậu Trung Bộ Kinh) và **Chú giải Sutta Nipāta** (Kinh Tập) có chứa kinh **Khaggavisāṇa Sutta** (Kinh Sừng Tê Giác), Ngài đã cắt đứt mọi sự ràng buộc (palibodha) và lên đường đến làng Aim-bya-mak-kha-ya. Ngôi làng này nằm gần Myit-nge trên tuyến đường Mandalay - Kyaukse. Phía đông có dòng sông Dote-hta-waddy, phía tây có bảo tháp Shwe-zigon vĩ đại. Giữa bụi rậm um tùm phía sau bảo tháp đó, Ngài đã chọn trú ngụ tại một ngôi chùa rừng nhỏ bỏ hoang có tên là “Bốn Cột”.

Không tích trữ vật thực cho ngày hôm sau, cũng chẳng có gì để quyến luyến. Giống như loài chim chỉ mang theo sức nặng của đôi cánh, như làn gió chẳng vướng bận điều chi, Ngài không có ai để nương tựa và cũng chẳng phải lo lắng cho ai. Lần đầu tiên, Ngài nếm trải được hạnh phúc thực sự của đời sống độc cư (ekacārī) an lạc tuyệt đối.

Hàng ngày Ngài lễ Phật, rải tâm từ, hồi hướng công đức, tụng các bài nguyện mời gọi chư thiên và giảng kinh **Mahāsamaya Sutta** (Kinh Đại Hội), **Rāhulovāda Sutta** (Kinh Giáo Giới La-hầu-la), **Samacitta Sutta** (Kinh Tâm Bình Đẳng). Mỗi sáng khi thức dậy, Ngài dùng một gáo dừa múc đầy nước và uống hết. Chính dòng nước đó lại trở thành vị thuốc thanh lọc cơ thể và hỗ trợ tiêu hóa.

Trong bốn đề mục thiền định đã nêu, dường như thiền Tâm Từ (Mettā) sớm trở nên vượt trội. Mỗi khi chiều tà, Ngài rời chùa đi bộ đến bảo tháp cổ Shwe-zigon để thực hiện bổn phận quét dọn sân chùa (cetiyaṅgana vatta). Sau đó, Ngài hướng tâm về Đức Phật. Lúc bấy giờ, các loài chim chóc và thú rừng thường đến vây quanh Ngài. Sau khi hành lễ xong, Ngài dùng tay chạm vào một vài con chim và nói: “Nào, các quyến thuộc của ta, hãy trở về nơi ở của mình trong sự bình an đi”. Ngay lập tức, chúng như hiểu được tiếng người và đồng loạt bay đi hết.

Hàng ngày Ngài đi khất thực nhưng tuyệt đối không nói lời nào. Vào ngày trai giới, dù có một ít Phật tử đến thọ trì giới pháp, nhưng sau khi truyền giới xong Ngài chỉ nói: “Ở đây không có chỗ nghỉ, mọi người hãy về đi” rồi mời họ rời khỏi. Ít lâu sau, người dân tự ý xây dựng các am sau khất thực và nhà trai giới, khiến hàng chục người đến thọ giới và ở lại đến tận tối mịt, gây ra sự phiền toái. Tuy nhiên, Ngài tuyệt đối không nhận thêm bất cứ vật dụng dư thừa nào. Khi tiếng tăm ngày một vang xa, vào một buổi bình minh nọ, Ngài đã âm thầm rời khỏi ngôi chùa rừng nhỏ Aim-bya-mak-kha-ya đó.

---SOURCE_END---