
## TRANG 547

Ngài phán rằng: “Ta đã thuyết **Abhidhamma** (Vi Diệu Pháp) ở cõi người rồi, giờ đã đến lúc phải đến thuyết ở cõi trời một chuyến; ta nghe như có tiếng Đức Thế Tôn đang ngự ở phía trên đầu mình phán truyền như vậy.” Vào lúc 2 giờ 30 phút chiều ngày rằm tháng Tư (Waso) năm đó, **Đại trưởng lão Ledi Sayadaw** đã diệt tận sắc nghiệp tái sinh (cuti kammaja rūpa). Ngài (Mohnyin Sayadaw) xin phép các vị đại đệ tử rồi trở về tu viện Mohnyin.

Sau khi **Đại trưởng lão Ledi Sayadaw** viên tịch, vì lòng cảm hoạt **Dhammasaṁvega** (sự xúc động trước giáo pháp), Ngài quyết tâm nỗ lực đặc biệt trong việc thuyết giảng **Vipassanā** (Thiền Quán). Khi chưa đầy 60 tuổi, Ngài đã tổ chức các buổi thuyết pháp ngay trong rừng thiền Mohnyin. Chẳng bao lâu sau, vào năm 1301 (Âm lịch Miến Điện), ông U Hmyin - bà Daw Sein ở thị trấn Mawlamyinegyun và ông U Sit Kyu ở thị trấn Laymyethna đã cúng dường một ngôi đại giảng đường (Dhammāyon) mang tên “Paṭṭhāna Adhipati” dài 150 feet, rộng 62 feet. Ngôi giảng đường này rất tráng lệ, đáng chiêm ngưỡng với những bức tượng điêu khắc các vị Đại Thượng thủ Thinh văn (Atīti Sāvaka) và chín đoàn truyền giáo đến chín phương (Ko Taing Ko Hta Na). Đặc biệt, trên trần của đại giảng đường có điêu khắc hình ảnh **500 con dơi** đang nghe **Abhidhamma**. Trong khi đang điêu khắc, **Đại trưởng lão Mohnyin Sayadaw** đã hỏi người thợ vẽ:

“Này con, con có biết vẽ hình con dơi cho giống không? Nếu không biết thì hãy lấy giấy bút lại đây, ta sẽ vẽ cho xem.” Trong lúc Ngài đang phán như vậy, một con dơi bỗng nhiên rơi xuống ngay trước mặt Ngài và người thợ vẽ.

Ngài phán: “Được rồi, hãy lấy tờ giấy đắp lên con dơi rồi dùng bút chì tô theo hình nó đi con.” Sau đó, con dơi cúi đầu ba lần rồi bay đi.

### Bắt Đầu Đi Thuyết Pháp

Vào năm 1294 (Âm lịch Miến Điện), khi đã tròn 60 tuổi, vào tháng Tư (Tagu) năm đó, lần đầu tiên Ngài lên Maymyo để thuyết pháp trong năm ngày. Vào ngày 14 tháng Chạp (Tabaung) nhuận năm 1295, Ngài ngự trên một toa xe lửa màu trắng đặc biệt để đi thuyết pháp tại Mawlamyine. Trước khi đi, lúc sắp lên tàu, Ngài đã hướng về phía đại tu viện Ledi cúi đầu đảnh lễ rồi mới đăng trình.

Người sắp xếp mọi công việc cho những buổi đại thuyết pháp đó chính là vị sư trẻ U Kovida (Sau này là Sa-ya-daw-ga-lay). Tại Mawlamyine, Ngài ở lại 18 ngày; khi thuyết pháp tại quảng trường Maida, thính chúng lên đến hơn hai mươi ngàn người. Lượng thính chúng đông đảo như thế này là điều chưa từng có trước đây. Tại Miến Điện, đây là lần đầu tiên loa phóng thanh (máy khuếch đại âm thanh) được sử dụng. Có 5.000 người đã ký tên cam kết nỗ lực giữ giới và hành thiền (trở thành thành viên hội **Gativisuddhi**) và 500 vị nữ tu sĩ (Yathe-ma) đã đăng ký ghi danh hoằng pháp. Đi đến đâu Ngài cũng được cung đón và cúng dường nồng nhiệt như bầy ong vây quanh mật. (Sau này) viên cảnh sát trưởng còn cho bắn một trăm phát đại bác để chào đón Ngài.

Từ ngày mùng 2 tháng Ba (Kasun) nhuận năm 1296, tại khuôn viên trường Myoma ở Yangon,

## TRANG 548

Ngài thuyết pháp bằng loa phóng thanh, thính chúng đông đúc đến nức lòng. Khi đó ở Miến Điện chỉ mới có duy nhất một bộ máy này. Ngài vừa thuyết giảng các giáo lý tối hậu (paramattha) vừa liên tục hỏi: “Này các con, có nghe rõ không?”. Đó là những bài pháp hướng dẫn thực hành **Vipassanā** trong 15 ngày. Các tờ báo lớn như Thuriya và Myanmar Alinn cũng đăng tải nội dung các bài pháp kèm theo hình ảnh, nhờ đó cả nước đều rúng động; số lượng báo phát hành cũng phải tăng thêm hơn năm ngàn bản mỗi số. Điều kỳ lạ là trong những ngày thuyết pháp, dù đang là mùa mưa nhưng trời lại không hề mưa.

Nhân lúc Mohnyin Sayadaw đến Yangon, Ngài đã mang lễ vật đến đảnh lễ vị thầy thuở nhỏ (Ngài U Ācara ở làng Aye, Thongwa) sau 37 năm xa cách. Vị đại trưởng lão ấy xúc động đến mức không thể đọc hết lời chúc phúc sau khi nhận lễ, mà chỉ biết khóc vì vừa buồn vừa vui. Thuở Ngài **Mohnyin Sayadaw tương lai** còn là một trẻ chăn trâu, Ngài từng bị trâu húc khiến sừng trâu mắc vào xà-rông, chính trưởng lão U Ācara đã nhìn thấy và cứu mạng. Sau này khi còn là chú tiểu, trên đường đi bát từ làng Tagon ở phía Nam về, lúc băng qua suối Ngài suýt bị nước cuốn trôi, và cũng chính vị thầy ấy đã cứu Ngài một lần nữa. Đó là vị ân nhân đã hai lần cứu mạng Ngài khỏi cửa tử.

Thính chúng chứng kiến cũng đều rơi lệ. Vì mọi người khẩn thiết yêu cầu Ngài thuyết pháp nên Ngài đã hủy kế hoạch ở Yangon để ở lại thuyết pháp trong ba ngày (ngày 13, 14, 15 tháng Tám - Tazaungmon năm 1297). Cả trong buổi pháp lẫn lúc Ngài lên đường trở về, mọi người lại vây quanh khóc lóc. Ngài quán niệm về sự đánh lừa của các pháp hữu vi (**Saṅkhāra**) và phát khởi tâm nhàm chán (**Saṁvega**): “Ôi... khổ thay, khổ thay! Chính vì vậy mà các bậc hiền trí thánh nhân mới ghê sợ và nhàm chán thế gian này”.

Kể từ đó, hằng năm Ngài đều đến Yangon. Mỗi buổi thuyết pháp, thính chúng đông đến mức khiến người ta phải nổi da gà. Số người phát nguyện hành thiền và gia nhập hội **Visuddhi** lên đến từ mười ngàn đến năm mươi ngàn người. Cứ như thế, Ngài ban bố giáo pháp đến mọi thành phố khi có duyên sự thuận lợi. Ngài cũng đã thành lập các hội **Maṅgalā Gativisuddhi**.

### Những Vị Đại Diện Của Ma Vương

Đặc biệt tại Yangon, do Ngài thuyết giảng và yêu cầu đốt bỏ các tiểu thuyết, tạp chí vì chúng kích thích **Taṇhā-rāga** (ái dục), điều này đã gây ra một làn sóng phản đối dữ dội trong giới nhà văn, họ đã dùng ngòi bút để công kích lại Ngài. Trong các cuốn tiểu thuyết, họ bắt đầu viết về các nữ tu sĩ (Yathe-ma) bằng những tình tiết bất chính. Tại Mawlamyine, trong các buổi pháp vào dịp Tết Songkran (Thingyan), Ngài đã có lời yêu cầu mọi người đừng tạt nước, tờ báo Myanmar Alinn đã đăng tranh biếm họa

## TRANG 549

châm chọc rằng: “Đừng có thuyết pháp về chuyện không tạt nước nữa”...

Ngài phán: “Phải rồi... vì ta nói những điều họ không thích mà. Phải chấp nhận thôi. Đời (Loka-dhamma) là như vậy.”

Cùng với sự nổi tiếng của Mohnyin Sayadaw, trong khi ở khắp các vùng miền có nhiều người đắc chứng pháp bảo (**Dhammābhisamaya**), thì những người tạo trọng tội (xuống địa ngục) cũng không phải là ít. Đặc biệt, người ta tìm sơ hở để chỉ trích việc Ngài cho phép xuất gia theo hình thức tu sĩ Yathe. Ngài Sayadaw U Paññāvaṁsa đã viết các tác phẩm như “Sāsanataṅkhwan”, “Sāsanama-lavisodhanī” để phê phán và hạ nhục nặng nề. Họ cho rằng: Ngài dụ dỗ những người không hiểu biết để đưa họ xuống địa ngục; rằng tôn giáo giả hiệu sẽ bị đất nuốt, v.v. Sayadaw chùa Yay-oo-wa-so cũng viết cuốn “Isipahāyakavinicchaya” (2 tập) để phản đối. Họ thậm chí còn kích động để thực hiện các thủ tục kỷ luật (Vinaya-kamma) nhằm trục xuất Mohnyin Sayadaw. Thư kích động được rải đến các vị trưởng lão trên khắp cả nước. Thậm chí, có những vị Tăng không còn muốn thọ dụng đồ cúng dường của Mohnyin Sayadaw nữa.

Vào tháng Tư (Waso) năm 1298, Ngài đã đến gặp vị Sayadaw U Pakhan nổi tiếng tinh thông kinh điển ở thành phố Pakokku để trình bày và thảo luận về vấn đề tu sĩ Yathe. Sau đó, các tờ báo lớn đã đăng tải đầy đủ sự thật về Mohnyin Sayadaw. Tám mươi ngàn cuốn sách mang tên “Lời giải trình của Yesagyo” cũng đã được xuất bản. Kể từ đó, mọi tranh cãi dịu xuống như lửa được dội nước.

Ma vương thường nhập vào những kẻ thiếu trí tuệ để gây khó khăn cho các bậc thiện trí chân tu. Khi chết, những kẻ đó sẽ đọa địa ngục. Nếu không phá hoại được bằng cách đó, Ma vương sẽ khiến thính chúng cúng dường nhiều phẩm vật, danh tiếng và lợi lộc. Khi những người (cúng dường) đó chết, họ sẽ lên cõi trời. Việc Ma vương dùng những kẻ không hiểu biết làm bàn đạp để quấy phá đã được nêu rõ trong bài kinh “**Māratajjaniya Sutta, Mūlapaṇṇāsa**”.

“Nếu bị tấn công bằng danh lợi và sự tôn kính (Lābha), phải dùng pháp **Vô thường** (Anicca) để đối kháng. Nếu bị hành hạ bởi các loại bệnh tật, đói khát và tai ương, phải dùng Tâm Từ (Mettā) để bảo vệ.” Các đệ tử của Đức Phật đều đã thấu hiểu điều này.

Vào năm 1296, khi tổ chức buổi pháp tại thành phố Bago, lại có một vấn đề nảy sinh. Vấn đề là vào đêm thuyết pháp, lịch diễn ra trùng với một buổi pháp của một vị đại trưởng lão khác. Trong quy định của hệ phái Mohnyin có một điều khoản: “Không được thuyết pháp tại cùng một thành phố khi có một buổi pháp khác đang diễn ra, nếu vi phạm sẽ phải chịu phạt”. Dựa vào quy định này, Ngài phán rằng mình sẽ không thuyết pháp. Điều này khiến ông U Sein Win và các vị lãnh đạo ban quản trị chùa Shwemawdaw gặp khó khăn vì mọi thứ đã chuẩn bị xong. Họ thậm chí còn thỉnh mời các vị trưởng lão trong thành phố đến để thỉnh cầu Ngài. Khi đó, sau khi nhận được lời cam kết rằng mọi người sẽ cùng nhau trùng tu ngôi bảo tháp Shwemawdaw đang bị hư hại, Ngài đã phán rằng nếu có được một thiện sự to lớn như vậy, Ngài sẽ chấp nhận chịu phạt để thuyết pháp.