
Ngài phán rằng việc gánh chịu tai tiếng nước nôi (do đi lại vất vả trong mùa mưa) để thuyết Pháp là chuyện thường tình. Bởi lẽ, những bậc thiện trí luôn giữ trọn lời hứa và sẵn lòng thực hiện những việc mang lại lợi ích cho chúng sinh.

### Bước chân vào pháp trường

Ngài Cố đạo sư không chỉ thuyết minh về pháp hành Thiền Quán (Vipassanā) cho những người có ba-la-mật (pāramī) chín muồi, mà Ngài còn thuyết giảng về các pháp Minh Hạnh (Maṅgala) – những nền tảng đạo đức căn bản cho con người – để cầu nguyện cho đất nước được thái bình, an lạc. Tại các nhà tù ở nhiều thành phố khác nhau, nơi có từ 700 đến 1000 tù nhân, Ngài thường tận dụng cơ hội để thuyết Pháp cho họ. Khi bước đến khu vực giá treo cổ (máy chém) tại nhà tù Insein, Ngài phán:

"Này, cái máy chém này nó không 'bắt' ta đâu các con ạ. Này, điều thực sự đáng sợ không phải là cái máy chém, mà chính là những ác nghiệp (akusala) đã dẫn dắt người ta đến chỗ máy chém này."

Ngài thuyết giảng tường tận về lợi ích và hậu quả của việc giữ hay vi phạm Ngũ giới (Pañcasīla), khuyên họ nên thọ trì giới luật. Ngài cũng dạy phương pháp niệm Phật (Buddhānussati) và tu tập tâm Từ (Mettā), đồng thời tặng mỗi người một xâu chuỗi hạt.

Lúc bấy giờ, dân chúng đang mong chờ sự xuất hiện của một vị Chuyển Luân Thánh Vương (Cakkavatti). Các mặt báo cũng ví von hành trình của Ngài Monyin Sayadaw là "Monyin Cakkavatti" (Chuyển Luân Vương vùng Monyin). Do đó, có người còn bàn tán rằng: "Chính phủ Anh rước Ngài Monyin Sayadaw vào tù để làm lễ giải hạn (yatra), ngăn không cho vị Chuyển Luân Vương xuất hiện."

### Sức mạnh tâm Từ xua tan khói lửa

Điểm đặc biệt nhất ở Ngài Monyin Sayadaw chính là đường lối tu tập tâm Từ (Mettā). Ngài thường đi khất thực qua các khu phố ở Yangon. Mục đích chính là để thực chứng việc lan tỏa tâm Từ giữa đời thực. Ngài thường xuyên nhắc nhở đệ tử mỗi ngày phải tu tập tâm Từ với tâm nguyện thiết tha, mong cho hết thảy chúng sinh trên toàn thế giới đều được an vui, khỏe mạnh: "Cầu cho tất cả được vạn sự cát tường, thân tâm thường lạc."

Vào ngày mùng 3 tháng Natdaw năm 1301 (Âm lịch Myanmar), Ngài Thái Hư (Tai Xu) – vị cao tăng đứng đầu Phật giáo toàn Trung Hoa từ Bắc Kinh – đã gửi lễ vật và thư thỉnh Ngài. Trong thư, Ngài Thái Hư cầu thỉnh Ngài Monyin Sayadaw thuyết Pháp để công cuộc hoằng Pháp được thành tựu và cầu nguyện cho nhân dân Trung Hoa thoát khỏi các nạn tai, khổ ách.

"Trước khi muốn đi đến nơi nào hay thực hiện công việc gì,

## TRANG 551

trước tiên phải tu tập tâm Từ," Ngài đã viết thư phản hồi như vậy. Ngài còn căn dặn nếu cần sự gia trì trọn vẹn của năng lượng tâm Từ, hãy gửi một bức ảnh chân dung toàn thân của người đó đến cho Ngài. (Ngài Thái Hư ở chùa Amuoy [Hạ Môn] từng sang Anh, Pháp hoằng Pháp vào năm 1928, điều này có ghi trong cuốn Lịch sử Đức Phật của Ngài Meghawadi U Narada).

Vào ngày rằm tháng Tazaungmon cùng năm đó, ông Paramananda – Thư ký hiệp hội Ấn giáo 'Grettinichabha' tại Yangon – (sau khi dẫn giải về sự tương đồng giữa Phật giáo và Ấn giáo qua các tư liệu lịch sử) đã cầu thỉnh một lời giáo huấn để thắt chặt sự đoàn kết giữa tín đồ hai tôn giáo. Ngài cũng phúc đáp bằng thư, khuyên họ nên thực hành tâm Từ với sự chân thành từ thân, khẩu, ý ít nhất 10 đến 15 lần mỗi ngày. Có thể người ta nghĩ đó chỉ là những lời khuyên sáo rỗng thường tình, nhưng thực tế không phải vậy. Ngài khuyên bởi Ngài đã thực sự nhìn thấy sức mạnh và lợi ích vượt trội của nó. (Lời thỉnh cầu của ông Paramananda có ghi chép đầy đủ trong cuốn Monyin Therapadān).

Một minh chứng rõ rệt hơn là vào thời điểm Ý và Abyssinia (nay là Ethiopia) đang xảy ra chiến tranh. Một buổi tối sớm nọ, Ngài trải một bản đồ lớn ra trước mặt, rồi bảo vị thị giả là U Kovida rằng:

"Này Pho Kaw (tên gọi thân mật của U Kovida), hãy nhìn xem, Ý và Abyssinia đang đánh nhau, chúng sinh chết chóc tan tác thật đáng thương thay. Cần phải gửi tâm Từ để họ thoát khỏi nạn này. Nếu cuộc chiến ấy được dập tắt bằng cách nào đó, thì phải hiểu rằng đó là nhờ sự thành tựu của tâm Từ."

Sau đó, Ngài liên tục tu tập tâm Từ ngày đêm. Chỉ năm ngày sau, có tin điện báo rằng hai nước đã ký kết hòa bình.

Điều này có thể khó tin đối với người bình thường, nhưng không nên nảy sinh lòng hoài nghi. Điểm cốt yếu chính là năng lực của Giới (Sīla), Định (Samādhi) và Trí tuệ (Paññā) cùng lòng tin (Saddhā). Đức Thế Tôn đã từng hàng phục voi dữ **Nālāgiri** bằng tâm Từ; Ngài cũng dùng tâm Từ để thu phục vị hoàng tử ngoại đạo Roja Malla; và trong các bài kinh như **Kinh Lợi ích Tâm Từ (Mettānisaṃsa Sutta)**, **Kinh Karajakāya**, **Kinh Ví dụ Cây Giáo (Satti Sutta)** thuộc Tương Ưng Bộ (Opamma Saṃyutta), Đức Phật đã khẳng định rõ rệt về sức mạnh của tâm Từ. Hễ ai có lòng tin kiên cố thì người đó nhất định sẽ thành tựu. Nếu một người có Giới hạnh và Định lực cao thâm, biết huân tập các ân đức của Phật, rồi nhất tâm hướng đến những cuộc chiến khốc liệt nhất với lòng từ ái chân thành và sự định tĩnh, thì họ sẽ thấy kết quả linh ứng đến mức chính mình cũng khó tin. Hỡi các bậc thiện trí, hãy tinh tấn thực hành!

Nhờ vào tâm Từ và những phẩm hạnh cao quý ấy, các buổi thuyết Pháp của Ngài Monyin Sayadaw được tổ chức vô cùng long trọng trên khắp đất nước Myanmar. Đi đến bất cứ thành phố nào, Ngài cũng đều đến đảnh lễ các bảo tháp, các bậc cao tăng và cúng dường y bát đến chư Tăng. Tại thiền viện Monyin Forest rộng 37 mẫu Anh, Ngài đã cho xây dựng tường bao che chắn và đại bảo tháp **Sambuddhe** cùng nhiều liêu phòng, chùa chiền, giúp cho phần hình thức (vật chất) của Giáo Pháp cũng được hưng thịnh.

## TRANG 552

### Trúng bom trong Thế chiến

Vào năm 1302 (Tháng 1 năm 1941), Ngài được triều đình dâng tặng danh hiệu cao quý Aggamahāpaṇḍita (Bậc Đại Trí Tuệ). Ngày 23 tháng 12 năm đó (ngày mùng 7 tháng Pyatho năm 1303), Yangon hứng chịu đợt tấn công đầu tiên của Thế chiến thứ hai. Tại thiền viện Monyin Forest lúc đó có khoảng 2000 hành giả đang lánh nạn. Ngài ban huấn từ:

"Không cần đào hầm trú ẩn, hãy nỗ lực nhiếp tâm vào Pháp. Có như vậy mới xứng đáng là bậc Thánh đệ tử (Ariyasāvaka) của Phật."

Nói rồi, Ngài vẫn tiếp tục thuyết Pháp như thường lệ và việc xây dựng bảo tháp **Sambuddhe** vẫn được tiến hành. Có ba quả bom rơi trúng khu vực thiền viện nhưng dường như chẳng mấy ai hay biết, vì chúng rơi vào đống cát khổng lồ và không phát nổ. (Mối nhân duyên giữa tâm Từ của Ngài và một sĩ quan cao cấp Nhật Bản có thể xem thêm trong cuốn sách Sức mạnh Tâm Từ).

Đến ngày Chủ nhật, mùng 10 tháng Wagaung năm 1307 (2/9/1945), Thế chiến thứ hai kết thúc. Trong thời gian chiến tranh, đôi mắt của Ngài dần bị đục thủy tinh thể và không còn nhìn thấy rõ. Ngài đã an ủi các đệ tử rằng: "Ta đã có Pháp nhãn (mắt Pháp) rồi. Các con đừng lo lắng cho ta. Hãy tự mình nỗ lực thực hành Pháp của chính mình."

Vào thời điểm quân đội Anh quay trở lại, họ đã nã pháo vào thành phố Monywa từ đằng xa. Một quả pháo đã rơi trúng ngay chỗ Ngài đang đi kinh hành. Ngài bị áp lực quả pháo hất ngã xuống trong tư thế ngồi. Tất cả đồ vật xung quanh đều bị nghiền nát tan tành. Những người xung quanh hoảng hốt vây lại vì nghĩ rằng Ngài đã viên tịch, nhưng kỳ lạ thay, Ngài không hề bị thương tích gì. Dân chúng vô cùng vui mừng truyền tai nhau rằng Ngài "miễn nhiễm với bom đạn". Quả thật, Pháp luôn bảo hộ cho người thực hành Pháp.

### Già và Bệnh

Vào tháng Pyatho năm 1309 (19/12/1947), Ngài được bác sĩ Chan Tate điều trị bệnh mắt tại Bệnh viện Đa khoa Yangon. Ngài lại dùng lời dạy tâm đắc để an ủi những đệ tử đang lo lắng: "Làm thì thành mới, mà có thì là cũ" (mọi thứ sinh ra rồi cũng sẽ suy tàn theo quy luật tự nhiên). Thời gian Ngài nằm viện trùng với ngày lễ trọng đại công bố Độc lập của đất nước (4/1/1948). Ngài đã yêu cầu đặt một pho tượng Phật lên bàn, thức dậy từ 3 giờ sáng để hành lễ.