## TRANG 553

### Bậc A-la-hán và các bậc Vĩ nhân

**499**

Ngài dâng nước cúng dường, thắp đèn dầu hổ trợ. Ngài đọc các bài kệ Jayamaṅgalā Gāthā (Kệ Thắng Cát Tường), thỉnh chư Thiên chứng giám và phát nguyện bằng lời: “Cầu mong nền độc lập vĩ đại này trường tồn mãi vĩnh viễn hàng vạn năm”, rồi Ngài gửi lời chúc phúc và lòng từ ái vô biên. Một mắt của Ngài thị lực đã hồi phục tốt, nên Ngài tiếp tục thuyết giảng pháp bảo truyền dạy cho đại chúng như trước đây.

Năm 1310 (17/12/1948), Ngài bị bệnh phổi và phải điều trị tại bệnh viện trong năm tháng. Sau đó, vào năm 1315 (03/06/1953), Ngài lại phải nhập viện một lần nữa vì các vết tổn thương ở phổi. Lúc này Ngài đã 81 tuổi, nhưng nghị lực và sự tinh tấn vẫn không hề giảm sút.

Năm 1326, khi Ngài 93 tuổi, từ khoảng tháng Tawthalin trở đi, thân ngũ uẩn vốn “như bờ cát lở, già đi từng chút một, bị thiêu rốt như lửa đốt” này bắt đầu bị sự già yếu (già) và bệnh tật (bệnh) dày vò mỗi ngày một nặng nề hơn. Ngài không thể dùng được thức ăn gì, chỉ có thể ngậm nước súc miệng. Ngay cả khi đó, Ngài vẫn tự mình đi vệ sinh cách đó năm bộ.

Ngài nói: “Ta đã phát nguyện rằng khi nào không còn tự mình dọn dẹp uế tạp được nữa thì xin cho ta được xả bỏ gánh nặng thân xác này”, rồi Ngài tiếp tục quán chiếu thọ uẩn.

### Những sự kiện kỳ diệu khi Ngài viên tịch

Vào ngày mùng 8 tháng Tawthalin khuyết, các vị đại đệ tử và các bác sĩ chỉ còn biết túc trực bên cạnh và tụng đọc kinh Paṭṭhāna (Kinh Vị Trí). Ngài dạy rằng: “Gánh nặng thân này đã quá nặng nề rồi. Các con hãy sống chớ có dâng đầy sự phóng dật (chớ có dể duôi)”. Đúng 6 giờ 4 phút chiều ngày hôm đó, tâm tử (cuti) và nghiệp sắc thân (kammaja-rūpa) đã chấm dứt. Ngay lập tức, một trận động đất xảy ra. Một luồng hào quang rực rỡ (cầu vồng) xuất hiện phía trên ngôi chùa nơi Ngài an nghỉ. Chim chóc đồng loạt cất tiếng hót vang như đang đồng thanh xướng lên những lời kinh cảm niệm về sự vô thường (saṃvega-gīti). Điều kỳ lạ hơn cả là từ trên không trung vang lên những tiếng tù và, tiếng chiêng đồng, tiếng nhạc lễ rộn ràng. (Bác sĩ Thein Aung, người chăm sóc sức khỏe cho Ngài, kể lại rằng: “Ngài biết trước khi nào mình sẽ đến, khi nào không, và Ngài biết rõ mọi phương pháp điều trị của bác sĩ trước khi chúng được thực hiện”.)

Kim thân của Ngài được đưa vào bảo tháp chứa di cốt Mahā Bodhi vào lúc 4 giờ chiều ngày 12 tháng Tawthalin khuyết. Vào ngày Ngài viên tịch, các loài hoa trong chùa nở rộ trái mùa, tất cả đều hướng về phía ngôi chùa nơi Ngài tịnh cư như đang cúi đầu đảnh lễ. Điều gây kinh ngạc hơn cả là cây Bồ-đề lớn 45 tuổi, vốn được xem như cùng tuổi với Ngài, đã rụng hết lá và khô héo ngay trong ngày hôm đó.

## TRANG 554

Đại trưởng lão Mohnyin Sayadaw đã để lại di sản gồm 36 bộ kinh sách lớn nhỏ, mang lại lợi ích to lớn cho chúng sinh. Ngài đã chứng minh cho đức tính Sandiṭṭhika (Thiết thực hiện tiền) của Giáo pháp, cho thấy rằng việc thực hành thiền tuệ (Paṭipatti) không phải là vì lợi ích cá nhân, mà là món vũ khí lợi hại nhất để cứu độ chúng sinh.

(Để biết chi tiết về tiểu sử của Ngài, xin xem cuốn “Mohnyin Therāpadān” do Ngài U Kovida soạn.)

Đại trưởng lão Mohnyin Sayadaw là bậc vĩ nhân thành tựu và nổi tiếng không ai sánh kịp trong thời đại của mình. Nhưng đối với những bậc vĩ nhân như vậy, đi cùng với sự thành công và danh tiếng luôn là những sự phản kháng và trở ngại. Những kẻ thiếu phước báu sẽ phải chịu quả báo nặng nề.

Danh sách các vị đại đệ tử của Ngài được khắc tại bảo tháp di cốt Mahā Bodhi. Ngài Aggamahāpaṇḍita U Indriya đã thay mặt Đại trưởng lão duy trì sự nghiệp hoằng pháp tại tu viện Mohnyin, Yangon cho đến khi Ngài ngoài 90 tuổi.

### Niết-bàn có thể đạt được ngay bây giờ

“Ngày nay, bằng cách thường xuyên quán chiếu theo sự hướng dẫn trong kinh Satipaṭṭhāna (Kinh Niệm Xứ), những ai nỗ lực thực hành trong vòng một hoặc hai tháng có thể chứng ngộ được Đạo, Quả và Niết-bàn, số người như vậy hiện nay rất nhiều.”

— **Mahāsi Sayadaw**

## TRANG 555


### Sayadaw dạy thiền Niệm Xứ tại Moulmein

Ngài Shweminwun U Kosalla Sayadaw, bậc pháp sư nổi tiếng của dòng thiền Mohnyin từ vùng núi Shweminwun, đã cùng với Ngài Mahāsi Sayadaw đến Yangon vào năm 1311 để hoằng truyền pháp môn Niệm Xứ. Không lâu sau đó, Ngài đã thành lập riêng một thiền viện mang tên Shweminwun Sāsana Yeikthā tại Yangon.

Trong danh sách các vị đại đệ tử còn có tên “Ngài trụ trì làng Hteinkan U Paṇḍava”, một vị thiền sư có tiểu sử vô cùng đặc biệt trong lịch sử thực hành pháp môn thiền định. Ngài U Paṇḍava sinh vào chiều thứ Năm, lúc 3 giờ, ngày 14 tháng Tagu năm 1259, là con của ông U Pho Khaung và bà Daw Nu, tại làng Hteinkan, phía bắc thị trấn Myinmu. Tên thuở nhỏ của Ngài là Maung Moe. Ngài là vị thiền sư đã dành cả đời mình cho sự nghiệp hoằng truyền pháp môn thực hành (Paṭipatti) cho đến khi ngoài 90 tuổi.

Khi còn trẻ, Ngài học giáo lý tại làng Hteinkan và tại tu viện Shwegyin Mahāvisuddhārāma ở Mandalay, sau đó Ngài đã đến nương tựa và thực hành thiền dưới sự chỉ dạy của Đại trưởng lão Mohnyin Sayadaw trong khoảng một năm. Tiếp đó, Ngài lưu trú tại tu viện Shwegyin ở Taungwainggyi, Moulmein và đã cùng với các nam nữ cư sĩ đệ tử của mình thực hành thiền Niệm Xứ dưới sự chỉ dẫn của một vị thiền sư là cư sĩ. Vị thiền sư cư sĩ đó là ông U Min Din người Mae Sot, vốn là đệ tử của Ngài Thaton Jetawun Sayadaw vĩ đại.

Việc một vị trụ trì thông kinh điển, có uy tín lớn mà lại có thể hạ mình đi học thiền từ một cư sĩ—người thuộc về một dòng phái khác với phái của mình—là một sự hy sinh và lòng đức tin không hề tầm thường. Ngài quan niệm rằng, dù sắc lệnh của vua được một người lính đánh trống đọc lên, thì sắc lệnh đó vẫn là lệnh của đức vua. Chánh pháp của bậc thiện trí (Saddhamma), hay bản thân bậc thiện trí, vốn không có màu sắc hay ranh giới dòng phái. Tuy nhiên, một số vị cùng dòng phái có cái nhìn hạn hẹp, luôn tự đóng khung Chánh pháp và đời sống của bậc thiện trí, đã không thể hài lòng với hành động này của Ngài.

Dù vậy, Sayadaw U Paṇḍava sau khi đã học tập và thực hành thuần thục dưới sự hướng dẫn của vị thầy cư sĩ đó, Ngài đã mở trung tâm thiền và đích thân hướng dẫn thiền. Sau này, Ngài còn tiếp tục thực hành thêm dưới sự chỉ dạy của Ngài Jetawun Sayadaw vĩ đại. Vào thời điểm đó, Ngài U Sobhana—người sau này trở nên lừng lẫy với danh hiệu Mahāsi Sayadaw—cũng đã thực hành thiền với Ngài Jetawun Sayadaw và đang giảng dạy giáo lý tại vùng Taungwaing Galay. Hai vị Sayadaw thường xuyên gặp gỡ và thảo luận giáo pháp mà không hề có sự phân biệt giữa các dòng phái Sudhamma hay Shwegyin.
