## TRANG 556



Ngài Sayadaw U Paṇḍava đã hết lòng ủng hộ mọi mặt, không thiếu sót điều gì, từ các kỳ thi Luật tạng (Vinaya) toàn vùng Mawlamyine trở đi. Ngài cũng rất rộng rãi trong việc bố thí. Tại kỳ thi Luật tạng, chính Ngài là vị Sayadaw đã đề xuất và hỗ trợ, khuyến khích việc tụng đọc phần ý nghĩa của đại kinh Satipaṭṭhāna Pāḷi.

Một lần nọ, khi Đại trưởng lão Sayadaw Mohnyin đến Mawlamyine để thuyết pháp, Ngài U Paṇḍava đã đến đảnh lễ. Đại trưởng lão Mohnyin vốn đã biết trước rằng Ngài U Paṇḍava đang làm đệ tử của Đại trưởng lão Sayadaw Jetavan (Thaton), đang thực hành và truyền dạy pháp hành theo phương pháp Satipaṭṭhāna, nên Ngài quay sang các đệ tử khác và phán rằng:

“Phải rồi... họ đã biết thì cứ để họ biết, ta có diệt thì cứ để ta diệt, chẳng phải vậy sao?”

Ngài không những không trách móc mà trái lại, mỗi khi có thời gian, Ngài còn lân mẫn đến tận tu viện Taungwaingyi để khích lệ.

Có một lần, Đại trưởng lão Sayadaw Mohnyin cùng với các đệ tử đến Taungwaingyi, đúng vào ngày làm lễ Uposatha (Bố-tát), nên Ngài đã cùng thực hiện lễ Bố-tát với chúng Tăng trong viện do Ngài U Paṇḍava dẫn đầu. Chẳng bao lâu sau, Ngài U Paṇḍava gặp phải rắc rối. Theo luật của tông phái (Nikāya), không được phép cùng thực hiện các Tăng sự (Kamma) lớn nhỏ với chư Tăng thuộc tông phái khác. Nếu vi phạm sẽ phải chịu hình phạt (daṇḍa).

Ngài U Paṇḍava đã phải chịu hình phạt "múc nước" (rạng-đan - ye-daṇḍa) tại kỳ thi Luật tạng trước sự chứng kiến của đông đảo chư Tăng trong tông phái. Sau khi thọ phạt, Ngài còn phải trình bày rõ trước đại chúng về lỗi lầm khiến mình bị phạt. Khi Ngài U Paṇḍava thọ phạt xong và trình thưa với chư Tăng, trong hàng ngũ tăng chúng bắt đầu có những tiếng xầm xì không hài lòng. Tuy nhiên, không ai có thể bắt bẻ hay tranh luận gì được, bởi cách hành văn trong lời trình thưa của Ngài U Paṇḍava như sau:

“Con đã thọ xong hình phạt nước mà chư Tăng trong tông phái đã ban cho. Chỉ vì con được kết giao với bậc thiện tri thức (bậc chân nhân) nên mới phải chịu hình phạt như thế này.”

Khi Sayadaw U Paṇḍava dạy đạo Satipaṭṭhāna tại Taungwaingyi, có hai vị là Ngài U Soma và Ngài U Kheminda thuộc tông phái Vajirārāma từ Tích Lan (Sri Lanka) đã đến và thực hành tại chỗ của Ngài trong khoảng hai tháng. Vị sư người Đức, Ngài Ñāṇapoṇika, cũng từng đến đảnh lễ và thọ giáo phương pháp thực hành vào thời điểm diễn ra kỳ Kết tập Kinh điển (Saṅgāyanā). Khi Ngài Sayadaw sang Tích Lan, tất cả đều đã cung đón và phục vụ Ngài rất chu đáo.

Sau khi độc lập, mặc dù Pháp học (Pariyatti) ở Mawlamyine rất hưng thịnh, nhưng lại thiếu vắng những người dẫn dắt và ủng hộ về phương diện Pháp hành (Paṭipatti). Do đó, Ngài Sayadaw đã dời đến khu vực Pauk-taw thuộc thành phố Mawlamyine, và vào ngày mồng 8 tháng Waso năm 1311 (tại thiền viện Mahāsi Yangon là tháng Nadaw), Ngài bắt đầu truyền dạy pháp hành Satipaṭṭhāna một cách vô cùng rộng rãi.

“Ngài Sayadaw Satipaṭṭhāna luôn luôn an trú trong chánh niệm,” chính Ngài Mahāsi

## TRANG 557


Sayadaw đã ngợi khen và tôn kính như vậy. Sau khi Ngài Mahāsi Sayadaw viên tịch, Ngài U Paṇḍava đã đảm nhiệm vai trò thành viên Ban Cố vấn (Ovadācariya) của Thiền viện Mahāsi Yangon để tiếp tục công cuộc hoằng dương giáo pháp hành trì.

Trong chú giải kinh Đại Bát Niết-bàn (Mahāparinibbāna Sutta), sự lan tỏa và hưng thịnh liên tục của các bậc Thánh tri thức được ví như "**Naḷavanaṃ, Saravanaṃ** - rừng lau, rừng sậy". Khi một cây lau hay một cây sậy mọc lên, nơi đó sẽ phát triển thành một rừng lau, rừng sậy rộng lớn không dứt dòng giống; cũng vậy, khi một bậc Thánh nhân xuất hiện, sự việc cũng diễn ra tương tự như thế.

Với mục đích nêu bật sự hưng thịnh của các thế hệ đệ tử nối tiếp bắt nguồn từ các Ngài Mohnyin Sayadaw, Jetavan Sayadaw, cũng như để giúp mọi người có thể vượt qua những chấp thủ tầm thường trong việc thực hành giáo pháp của bậc chân nhân, tôi xin lược trích đôi nét về tiểu sử của Ngài Sayadaw Satipaṭṭhāna U Paṇḍava. (Để biết chi tiết hơn, xin mời xem trong cuốn sách "Đời sống và các đức tính Minh sát của Sayadaw Satipaṭṭhāna chùa Pauk-taw, Mawlamyine" của Ngài Ashin Paññissara "Hla Tway").

---

**Một đời và một vòng sinh tử**

“Nếu vì chịu khổ chỉ trong một ngày mà có được an lạc trong nhiều ngày, thì không nên sợ hãi cái khổ trong một ngày ấy. Nếu vì chịu khổ trong một tháng, một năm, hay chỉ một kiếp sống mà có được an lạc trong nhiều tháng, nhiều năm, và nhiều kiếp sống, thì không nên sợ hãi cái khổ trong một tháng, một năm, hay một kiếp sống ấy. Đừng nên nuông chiều theo ham muốn của tham ái, bỏn xẻn và dục vọng trong một ngày, một tháng, một năm hay một kiếp sống.

Hỡi người, hãy nhìn xa trông rộng, nên dấn thân tinh tấn trong giáo pháp của bậc chân nhân, sẵn lòng xả ly cả mạng sống để tìm cầu niềm hỷ lạc chân thật.”

— **Ngài Sayadaw Catugīri Taung-lay-lone (Bốn Ngọn Núi)**.

## TRANG 558


**Ngài Sayadaw Toà-ya Inn-ma-gyi, chùa Thein-taung**

(1237 - 1283)

**Dhammācariya U Htay Hlaing**

Ngài U Jotika của tu viện Inn-ma-gyi, chùa Thein-taung, cũng là một vị Sayadaw nổi tiếng từ khi còn trẻ, cùng thời kỳ với Ngài Ledi Sayadaw. Hiện nay, tu viện Thein-taung tại thị trấn Thae-daw là một cơ sở hoằng pháp lớn mạnh, tiếp nhận cả chư Tăng lẫn các Tu nữ, tu tập song hành cả Pháp học lẫn Pháp hành. Đây chính là di sản giáo pháp của hai vị Sayadaw là Ngài Inn-ma-gyi và Ngài Sayadaw Se-gyi (thứ hai), những bậc toàn tài về cả Pháp học lẫn Pháp hành. Các chi nhánh của tông phái Thein-taung cũng đang phát triển hưng thịnh tại các thành phố như Taunggyi, Kalaw...

Vị Sayadaw tôn kính U Jotika, người đã khai sáng tông phái Thein-taung toàn diện này, sinh vào thứ Ba, ngày trăng tròn tháng Tagu năm 1237, tại làng Zay-ywa-gyi gần thành phố Nyaung-yan. Ngài thọ giới Tỳ-khưu năm 1257 và theo học Pháp học (Pariyatti) tại tu viện Mo-ta và tu viện Shwe-yay-saung ở Mandalay. Từ khoảng hạ lạp thứ sáu, Ngài bắt đầu vào rừng hành đạo tại vùng núi Sagaing, sau đó là núi Pyet-kha-yway ở phía đông thị trấn Thae-daw.

Ngài Sayadaw thường từ núi Pyet-kha-yway đi xuống khất thực tại chín ngôi làng cụm Phaya-su. Cụm chín làng này nằm cách tu viện Thein-taung hiện nay khoảng 4 dặm về phía bắc, với tổng cộng khoảng một ngàn hộ gia đình. Khi Ngài vào làng Kan-thit khất thực, một vị thầy thuốc chữa mắt tên là Saya Shein đã quan sát và nhận định:

“Chà... vị sư này trông thật đáng cung kính, nhưng dường như một bên mắt không được tốt lắm.”

Vừa quan sát, ông vừa đi theo sau, sau đó đã trình thưa rõ ngọn ngành và chữa trị cho một bên mắt bị màng đục của Ngài.

Trong thời gian chữa mắt, Ngài trú ngụ tại ngôi chùa rừng vốn là ngôi giới đàn (Sīmā) của các bậc A-la-hán (từ thời vua Anawrahta) gần cụm chín làng Phaya-su. Sau khi chữa khỏi mắt, ông U Shein không muốn Ngài quay lại núi Pyet-kha-yway mà đã thỉnh cầu Ngài hãy trú ngụ tại một nơi nào đó gần đây thích hợp để ẩn tu. Ngài đã đi khảo sát một khu rừng lớn ở phía tây bắc cụm chín làng Phaya-su.

Nơi đó có nhiều đầm nước (inn), rừng rậm rạp và vắng bóng người, nên Ngài đã chọn chính nơi ấy để lập am thất ẩn tu. Thấy vậy, Saya Shein thưa rằng:

“Bạch Ngài, nơi này ngay cả giữa ban ngày, nếu có lạc mất bò thì những người chăn bò cũng không dám đi vào. Thú dữ rất nhiều, lại có nhiều chuyện ma quái kinh sợ. Xin Ngài hãy xem xét một nơi khác.”

Nhưng Ngài không chấp thuận và phán rằng: “Ta lại chính là thích nơi này.”
