## TRANG 580

Khi đang ghi nhận sự Chạm-Biết (thở ra - thở vào) hoặc các đối tượng Chạm-Biết khác mà có một cảm thọ (Vedanā) nào đó khởi lên, hành giả phải hướng tâm sang ghi nhận cảm thọ đó. Phải quán sát cho đến khi "thoát khỏi cảm thọ" (tức là ghi nhận liên tục cho đến khi cảm thọ ấy biến mất). Vì mỗi thiền sinh có một cá tính (carita) khác nhau, nên cần phải thực hành theo con đường Trung Đạo (Majjhima Paṭipadā), điều chỉnh sao cho phù hợp với loại cảm thọ, tính chất và mức độ của cảm thọ đó.

Dựa trên tinh thần Nhẫn nại (Adhivāsana Khantī), hành giả nên cố gắng chịu đựng hết mức có thể; chỉ khi không thể chịu đựng thêm được nữa mới dùng tâm xả đối với cảm thọ đó rồi chuyển sang ghi nhận đối tượng khác. Đây là cách làm đúng đắn nhất.

### Ngày quyết định đối với ông Kyaw Din

Ông Kyaw Din đã thực hành ghi nhận liên tục ngày đêm không gián đoạn như vậy, cho đến khi những cảm thọ đau nhức, tê buốt dữ dội bỗng chốc mờ dần rồi tan biến hẳn. Các ảo ảnh (nimitta) cũng dần tách rời, lìa xa và bị buông xả; ông chỉ còn thấy rõ sự sinh - diệt liên tục của các danh pháp và sắc pháp trong thân tâm. Do chỉ tập trung ghi nhận sự sinh diệt nên việc hành thiền của ông trở nên rất chuẩn xác và thuần thục. Trong tâm ông trào dâng niềm hân hoan, hỷ lạc và vô cùng mãn nguyện. Giữa lúc niềm hỷ lạc ấy đang cực kỳ mãnh liệt, một luồng ánh sáng chói lòa bỗng hiện ra trước mắt ông.

Dù tưởng rằng cảm thọ đã chấm dứt do được bao phủ bởi niềm hỷ (Pīti), nhưng thực tế những dư chấn của nó vẫn còn âm ỉ bên trong. Chỉ đến khi ánh sáng lớn hiện ra, các cảm thọ mới thực sự tịch diệt hoàn toàn và mọi thứ trở nên mát lạnh, êm dịu. Thế nhưng, ông lại nảy sinh tâm luyến ái đối với luồng ánh sáng ấy, dẫn đến việc đánh mất sự tỉnh giác về sinh diệt.

Ông Kyaw Din suy xét một lát rồi tự nhủ: "Ồ, cái này không đúng rồi", ngay lập tức ông dùng trí tuệ tỉnh sát và đưa tâm trở lại ghi nhận trên thân. (Đây chính là việc tự kéo mình lên khi bị sa vào Hào quang - Obhāsa và chìm đắm trong Sự tịnh chỉ - Passaddhi). Khi đó, những cảm thọ lúc trước lại trỗi dậy. Ông cảm thấy như mình đang ôm một súc gỗ bơi giữa dòng nước xoáy dữ dội. Đây chính là giai đoạn Đạo Phi Đạo Tri Kiến Thanh Tịnh (Maggāmagga Ñāṇadassana Visuddhi) – thời điểm cần có sự tỉnh giác, nỗ lực đúng đắn và sử dụng trí tuệ để phân biệt đâu là đường đúng, đâu là đường sai.

Khi quay lại ghi nhận các cảm thọ, đối tượng và sự ghi nhận ban đầu chưa thực sự ăn khớp, điều hòa. Việc cứ phải lặp đi lặp lại một kiểu ghi nhận khiến ông bắt đầu cảm thấy mệt mỏi. Sự ghi nhận và đối tượng khi thì vượt quá, khi thì tụt lại, khi thì bay xa phía trước hoặc bị bỏ lại phía sau.

Lúc này, ông Kyaw Din điều hòa hơi thở đều đặn, điều chỉnh theo con đường Trung Đạo cho đến khi ngũ căn (indriya) đạt được sự cân bằng. Ngay lúc đó, ông bắt gặp được trạng thái Diệt (Nirowdha dhātu) và—

## TRANG 581

giống như một khẩu súng đã nạp đạn bất ngờ được siết cò, sự ghi nhận bỗng chốc "bùng thoát" ra ngoài. Một người sắp chết đuối có sự tỉnh giác, nỗ lực và trí tuệ, khi thả mình trôi theo dòng nước rồi bất ngờ chạm đầu vào bến bờ, người đó sẽ bám chặt lấy bến bờ không buông để nghỉ ngơi sau cơn kiệt sức. Cảm giác của ông lúc này cũng tương tự như vậy.

Ông đã tận mắt chứng kiến và trải nghiệm một sự an tịnh mát mẻ mà suốt bao vòng luân hồi chưa từng cảm nhận được, nhờ đó cơn mệt mỏi được xua tan và tâm hồn được nhẹ nhõm.

"Ánh sáng tuệ giác đã sanh" (Āloka udapādi) – luồng ánh sáng Chánh pháp lần đầu tiên an trú trong tâm ông Kyaw Din. Giống như một người bị rắn cắn, dù sau này vết thương đã lành hẳn nhưng mỗi khi nhớ lại cảm giác ấy, họ vẫn không thể nào quên; ông Kyaw Din cũng sẽ mãi mãi không quên được trạng thái và ngày hôm đó. Ngày mà ông lần đầu tiên xóa bỏ được nợ nần trong bốn đường ác đạo (apāya) là... **"Ngày 13 sau trăng tròn tháng Waso, năm 1282 (Âm lịch Myanmar), thứ Năm, vào khoảng 10 giờ đêm."**

### Pháp Ānāpāna dành cho người có trí tuệ và phước báu

Ông Kyaw Din tiếp tục trì giữ hơi thở ra vào không quá mạnh cũng không quá nhẹ. Sự Tỉnh giác và Cái biết càng ngày càng trở nên khăng khít hơn trước, ông nhìn thấy các danh sắc rõ ràng và sắc bén hơn bao giờ hết. Ngay từ khi bắt đầu nỗ lực, ông dường như không hề gặp phải sự dao động hay rung lắc cơ thể nào đến mức làm hỏng các căn. Sự rung lắc, dao động chính là biểu hiện của định lực yếu. Chính vì sự tham luyến và thỏa mãn (Nikanti) trong những rung động đó mà cơ thể càng bị dao động mạnh hơn.

Vào thời Đức Phật, Ngài và các bạn đồng tu đã từng khen ngợi Ngài **Đại Thượng tọa Mahā Kappina**, người luôn giữ được thân tâm bất động, cực kỳ tĩnh lặng khi thực hành thiền Ānāpāna. (Kinh Mahā Kappina, Tương Ưng Ānāpāna).

Bất kỳ ai thực hành ghi nhận với sự đầy đủ và cân bằng của Giới - Định - Tuệ (hoặc Niệm - Định - Tấn - Tuệ) (Paripuṇṇa bhāvitā), và tuân theo trình tự bài học mà Đức Phật đã dạy mà không nhảy bước (Anupubba paricitā), thì đều có thể đạt được sự tĩnh lặng, an lạc và dễ dàng chứng đắc hạnh phúc Niết-bàn như **Ngài Thượng tọa Kappina** (dù đã là vị A-la-hán hay chưa).

[Về việc các hành giả đạt đến Niết-bàn như thế nào trong khi hành thiền, tôi sẽ trình bày đầy đủ ở chương về Ngài Thiền sư Mahasi].

## TRANG 582

Những đoạn Pāḷi dạy rằng: "Không thể đạt đến Niết-bàn bằng cách làm hời hợt, phải đánh đổi bằng cả thân mạng", v.v... không nên hiểu theo nghĩa đen đen tối hay thô thiển theo kiểu "đóng đinh, xẻ thịt". Điều quan trọng nhất là một tinh thần quyết đoán, chính xác, đầy nhiệt huyết và đi đôi với trí tuệ. (Ye suppayuttā manasā daḷhena). Nếu không, hành giả sẽ không thể vượt qua được những rào cản hay vướng mắc nào đó, mà có thể dẫn đến những hành động cực đoan như **Ngài Channa** hay **Ngài Godhika**, những vị đã tự sát vì sự quyết tâm sai lệch.

Do những nỗ lực cứng nhắc còn vướng chấp, con đường Trung Đạo vốn dĩ cực kỳ tĩnh lặng và an lạc đôi khi lại trở thành con đường đầy mồ hôi và máu. Đã có không ít người ngã gục giữa đường trong tình trạng thê thảm, hơi thở hổn hển.

Thực tế, đề mục thiền Ānāpāna mang lại lợi ích và uy lực lớn lao hơn các đề mục khác. Nhưng lợi ích càng lớn thì cái giá phải trả (sự đầu tư) cũng cao hơn các đề mục khác. Sự đầu tư đó không gì khác ngoài Chánh niệm và Trí tuệ. Mọi đề mục thiền đều cần đến Niệm - Tuệ, nhưng với Ānāpāna thì lại cần đặc biệt nhiều hơn. Đức Phật từng dạy: "Ta không dạy, không trao pháp hành này cho người thiếu Chánh niệm và Trí tuệ" (Tương Ưng Ānāpāna và Kinh Ānāpānasati - Trung Bộ). Pháp hành này dành cho chư Phật, chư Phật Độc Giác và những bậc Thinh văn có phước báu lớn lao. Đây không phải là việc của những người kém phước (người tầm thường). Ngay cả những bậc cao nhân ấy cũng không thể thực hành hời hợt (như lửa rơm) mà có kết quả. Phải thực hiện với sự kiên trì, tập trung sâu sắc và huy động rất nhiều Chánh niệm, Trí tuệ mới có thể thành tựu. (Thanh Tịnh Đạo, Q.1, tr.276).

Vì vậy, cưỡi một con ngựa giống (Sindhava) chạy nhanh mà không biết cách điều khiển thì khi ngã sẽ bị thương rất nặng. Ānāpāna là một đề mục mang tính then chốt và cốt lõi trong cơ thể học, giúp hành giả làm chủ thân tâm một cách vững vàng như thể nắm được tận tóc của một người.

Vì là người có phước báu lớn nên ông Kyaw Din đã nỗ lực ghi nhận không sót một ngày nào. Phương pháp ghi nhận của ông cũng không hề thay đổi, vẫn là: "Chạm - Biết - Niệm". (Ngay cả sau khi đã chứng đắc quả vị A-la-hán, ngài vẫn tiếp tục ghi nhận như vậy, và vẫn muốn tiếp tục ghi nhận như thế). Do đó, giáo pháp của Đức Phật rất dễ hiểu, không ai là không thể làm được. Ông Kyaw Din có thể thiền ngay cả khi đang làm việc nhà, lúc đảo bắp, lúc cho bò ăn, lúc cày ruộng hay đốn củi; không lúc nào lơ là. Thậm chí ông còn giảm bớt thời gian ngủ để nỗ lực nhiều hơn nữa.

"Trong cùng một khoảng thời gian mà có thể làm được hai việc, thì chỉ có pháp này thôi. Người thời nay..."