## TRANG 586

Khi việc hành thiền đi vào giai đoạn quan trọng, những chướng ngại cũng bắt đầu ập tới. Mara (Ma vương) dàn dựng những kịch bản vô cùng tinh vi và khéo léo để hành giả không có ý định đến thiền đường, hoặc nếu đã có ý định thì cũng không thể đi được, hoặc nếu đi được thì công việc cũng không tiến triển. Sự sắp xếp này tinh xảo đến khó tin. Vì thế, Đức Thế Tôn đã dạy rằng: “**Số người có thể băng qua bờ bên kia là rất ít, phần lớn vẫn còn kẹt lại ở bờ bên này; giống như số chim thoát khỏi lưới của người thợ săn thì ít, mà số chim phải chết trong lưới lại rất nhiều.**” Lúc ấy, hành giả không nên bám chấp vào việc cho rằng “mình đúng thế nào, mình đã nhẫn nại ra sao”, mà hãy tự nhủ lòng rằng: nếu hiện tại mình đúng thì đó cũng là nhờ đã từng sai lầm trong biết bao kiếp trước mà thôi. Ai làm nấy chịu, quả báo của chính mình.

Để chế ngự được sức mạnh khuấy động này, không có cách nào khác ngoài sự nhẫn nại, tha thứ, lòng bi mẫn và tâm từ. Không được nhìn vào hay xem xét trên phương diện chế định (paññatti) về cá nhân hay chúng sinh.

Dù đúng hay sai, dù xấu hay tốt, hãy chấp nhận thua cuộc và chỉ tập trung tiếp tục công việc của mình. Nếu không được, hãy nỗ lực rải tâm từ thật nhiều. Khi cái xấu đến, hãy quán xét về sự tương tác giữa tâm từ và bản chất tự nhiên để nhẫn nại với cơn giận (dosa). Khi cái tốt (lợi lộc, những điều vừa lòng) đến, hãy quán xét về tính vô thường (anicca) và sự bất tịnh (asubha) để nhẫn nại với lòng tham (lobha). Nếu những điều này xảy ra quyết liệt, hãy hiểu rằng mình sắp tiến bộ nhanh chóng. Đặc biệt, hãy làm việc đó với lòng biết ơn và niềm hoan hỷ lớn lao.

Cần lưu ý đến đoạn kết của 550 chuyện Tiền thân (Jātaka). Trong vòng luân hồi (saṃsāra), không còn gì để tiếp tục đi nữa. Ở kiếp này, chúng ta phải thanh lý xong sổ sách. Nếu có nợ nần gì thì phải trả. Những người mà chúng ta phải thanh toán nợ cũ nợ mới... không ở đâu xa (họ ở ngay sát bên cạnh hành giả). Đó chính là những người thọ ơn hoặc ban ơn, là cha mẹ, thầy tổ, con cái, học trò, bè bạn. Họ thường xuất hiện đối diện với bạn trong vai trò là đại diện của Mara. Còn chính Mara thì sẽ ẩn núp trong bóng tối, giống như việc bôi nhọ nồi lên những con gà nhà rồi bắt chúng đá nhau.

Vì vậy, đừng để những người thân cận bị yếu thế, hãy dùng tâm từ đưa họ vào con đường Chánh pháp. Hãy rải tâm từ thật nhiều đối với họ. Trong **Kinh Li-cha-vi Quan-cái (Licchavi Kumāraka Sutta)** thuộc **Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Nikāya)**, Đức Phật có dạy 5 pháp đem lại sự hưng thịnh cho người chủ gia đình:

1. Cha mẹ và ông bà,

2. Vợ con, người làm và quyến thuộc,

3. Hàng xóm láng giềng và cộng sự,

4. Chư thiên (như thiên thần hộ trì truyền thống),

5. Các bậc thiện tri thức.

Hãy sống sao để được những đối tượng này yêu mến bằng cách ủng hộ và dâng cúng bằng tài sản đúng pháp.

## TRANG 587

Việc nhận lại sự đáp trả bằng tâm từ từ những người thân cận là một yếu tố vô cùng quan trọng. Nói cách khác, không chỉ là Từ nghiệp về ý (manokamma), mà nếu có thể thực hiện cả Từ nghiệp về lời nói (vacīkamma - nói lời dịu dàng, hỗ trợ bằng lời) và Từ nghiệp về thân (kāyakamma - trực tiếp giúp đỡ, tặng quà, hỗ trợ bằng hành động) thì công việc sẽ càng tiến triển và thành công hơn. Hãy làm sao để cha mẹ, vợ con, quyến thuộc, người làm, cộng sự, chư thiên và các bậc thánh nhân đều yêu mến bạn.

Cụ Kyaw Din đã dùng tâm từ để nhẫn nại trước mọi sự quấy rối của bà Shwe Yi, đồng thời tận dụng mọi thời gian có thể để tu tập quán sát, nhờ đó trí tuệ càng tỏa sáng hơn trước. Vì đây là con đường cụ đã từng đi qua nên không còn gặp khó khăn nào nữa. Cụ từng giảng rằng: “**Điểm khác biệt duy nhất là các thọ uẩn (vedanā) bên trong phát khởi mạnh mẽ hơn mà thôi.**” (Tuy nhiên, không nên mặc định rằng hành giả nào cũng sẽ trải qua điều tương tự).

Một đêm nọ, trong khi đang ngủ với chánh niệm, cụ Kyaw Din nằm mơ thấy mình đến một nhà ga xe lửa. Khi đi mua vé, cụ chỉ định mua một vé nhưng người bán lại đưa cho cụ bốn vé. Sau đó cụ bỏ cả bốn vé vào túi rồi đi về phía đoàn tàu. Lúc đó tàu sắp khởi hành nên cụ phải nhanh chóng bước lên. Không lâu sau, cụ lại nằm mơ thấy mình đến một cánh đồng, thấy một con bò đang chạy tới liền đuổi theo nắm lấy, cụ túm được cái đuôi và cái đuôi đó tuột ra ngay từ gốc. (Chúng tôi đã chỉ ra rằng ở các hành giả, những giấc mơ thường có lợi ích theo cách này hay cách khác).

Cụ Kyaw Din đã giải mã những giấc mơ đó và tuyên bố rằng: “Phần sau của giáo pháp là sự dứt tuyệt hoàn toàn (aprok) đó thôi.” Cụ dùng chánh niệm để bắt lấy mọi đối tượng tưởng (saññā) khởi lên và dùng tuệ để cắt đứt chúng. Đúng một tháng sau lần đắc đạo thứ nhất—

“Vào khoảng 10 giờ đêm thứ Bảy, ngày 13 tháng 2 năm 1282 (Miến lịch), cụ đã chứng ngộ Niết-bàn lần thứ hai.”

### Nội tình của bậc Tư-đà-hàm (Sakadāgāmī)

Sau khi đạt đến tầng thánh thứ hai, tuệ nhãn của cụ Kyaw Din càng trở nên sáng tỏ. Lời nói của cụ cũng mang tầm vóc lớn lao hơn. Cụ có khả năng phân tích sâu sắc theo ý nghĩa chân đế (paramattha). Đối với các pháp ngoại cảnh (bahiddha), cụ cũng có cái nhìn tinh tường hơn. Khi ở trong làng,

## TRANG 588

nghe tin ai đó không khỏe, nếu cụ Kyaw Din nói “người này chắc chắn sẽ chết” thì người đó sẽ chết thật. Nếu cụ nói không chết là sẽ không chết. Vì những lời cụ nói đều ứng nghiệm nên mọi người không dám lại gần cụ. Nhờ vậy, cụ Kyaw Din càng có không gian yên tĩnh để chuyên tâm quán chiếu giáo pháp của mình.

Quá trình diệt trừ các nhiệt lực ô nhiễm (kilesa), các hạt giống ngủ ngầm (anusaya) đã bén rễ từ sâu thẳm trong vòng luân hồi theo từng cấp độ thật vô cùng thú vị. Nó giống như việc phải giặt đi giặt lại nhiều lần một tấm giẻ rách, hay việc phải nung lửa nhiều lần để làm sạch một thanh sắt bị rỉ sét đóng tầng tầng lớp lớp, hay việc gạn lọc bùn đất để đãi lấy vàng, hoặc như người tập tạ không thể một lúc mà nâng ngay được khối lượng lớn mà phải tăng dần dần. Các lớp bụi bặm thô, trung bình và vi tế sẽ được rũ bỏ dần dần theo từng bước.

1. Mặc dù nói rằng **Sơ đạo (Sotāpatti-magga)** diệt trừ **Thân kiến (Diṭṭhi)**, **Hoài nghi (Vicikicchā)** và **Giới cấm thủ (Sīlabbata-parāmāsa)** (những quan điểm sai lạc, sự do dự đối với Tam Bảo, giới hạnh và bậc Thầy, cũng như các tà hạnh), nhưng thực tế chúng đã được loại bỏ dần từ các giai đoạn chuẩn bị như giữ giới. Trước khi đạt đến giai đoạn đó, hành giả đã phải trải qua biết bao thăng trầm trong việc ăn, ở, mặc, chuyện đời, chuyện đạo, sự nguy hại từ các vị thầy khác nhau, những suy nghĩ sai lầm, quan điểm lệch lạc và sự do dự không ngừng. Hành giả đã phải lần mò giữa con đường đúng và sai. Chỉ sau khi đã được thanh lọc bằng **Bảy bước thanh tịnh (Visuddhi)** từ việc giữ giới trở đi, thì **Sơ đạo** mới có thể cắt đứt tận gốc rễ. Dù thanh kiếm Sơ đạo có sắc bén đến đâu, nếu không có cái thớt là nền tảng trì giới thì cũng không thể cắt đứt được.

Ngoài ra, các phiền não như Tham (Lobha), Sân (Dosa), **Si (Moha)**, **Ngã mạn (Māna)** cũng phải được "tỉa bớt" cành lá trước đó càng nhiều càng tốt để các tầng Thánh đạo cao hơn có thể nhổ tận gốc một cách thuận lợi. Dù thế nào chăng nữa, khi đã đạt đến quả vị Tu-đà-hoàn, hành giả đã hoàn toàn thoát khỏi các định kiến về giáo điều và có một cái nhìn cực kỳ minh bạch và thấu đáo. Điều này được gọi là "**Dassanaṭṭha**" (Tuệ thấy - Hãy xem thêm mục **Yathindakhīlo**).

2. Mặc dù **Nhị đạo (Sakadāgāmi-magga)** không có nhiệm vụ riêng biệt là nhổ tận gốc rễ một loại phiền não nào mới, nhưng nó phải huân tập để làm cho Tham, Sân... trở nên yếu ớt nhất có thể. Ở điểm này, đa số mọi người thường nghĩ rằng: "Bậc Tư-đà-hàm (vì không diệt trừ thêm loại phiền não nào đặc biệt) nên cũng không khác gì bậc Tu-đà-hoàn". Nhưng không phải vậy. Giống như lớp vỏ cây mỗi năm lại dày lên một vòng, lõi gỗ bên trong càng lúc càng trở nên rắn chắc và già dặn hơn; dù nhìn bề ngoài có vẻ không khác biệt mấy nhưng sự trưởng thành về cốt lõi của Pháp thì hoàn toàn không giống nhau.

Tham và Sân của bậc Tư-đà-hàm (dù chưa được nhổ tận gốc) nay chỉ còn khởi lên rất hiếm hoi và không còn đủ sức mạnh để dẫn đến các hành vi lỗi lầm nữa...