## TRANG 589

Trong **“Chú giải Bộ Phân Tích Đạo”** (*Paṭisambhidāmagga Aṭṭhakathā*, Tập 1, trang 257 - phần Giải thích về Đạo trí), có một sự lý giải rất đặc biệt. Ở bậc **Nhất Lai** (*Sakadāgāmī*), “chuyện ấy” (những thô thiển của tham dâm và sân hận) không còn nữa.

3. **Bất Lai Đạo** (*Anāgāmi-magga*) diệt trừ tận gốc sân hận và nén chặt tham ái cho đến khi chúng trở nên yếu ớt.

4. Chỉ khi đạt đến **A-la-hán Đạo** (*Arahatta-magga*), hành giả mới có thể tận diệt hoàn toàn tham và si. (Đây chỉ là cách trình bày khái quát). Ví như người phát rẫy làm nương, tùy theo sức của công cụ mà đào được những rễ nào thì đào; còn những cây đại thụ chưa thể đào gốc ngay được thì phải dùng cách đốt lửa, chặt cành, lột vỏ trước để chuẩn bị cho việc nhổ tận gốc về sau.

**Nhân vật tư tưởng gây khổ lụy**

Với những hành giả có kiến thức pháp học (*pariyatti*), những diễn biến trong các giai đoạn của **Bảy bước Thanh tịnh** (*Visuddhi*) hay các tầng Tuệ minh sát (*Ñāṇa*) thường rất thú vị. Tương tự như vậy, nếu có thể nhận diện được những trạng thái trỗi dậy, phản kháng liều lĩnh của các phiền não ngủ ngầm (**Anusaya**) cần phải bị đoạn tận khi tiến lên bốn tầng Thánh Đạo, thì sẽ thấy hương vị Pháp bảo thật là sâu sắc.

Bà Daw Shwe Yi đã khơi dậy cơn sân hận của ông U Kyaw Din một cách dữ dội ở giai đoạn thứ hai. Nhờ có khả năng nhẫn chịu trước sự khiêu khích đó mà ông đã chiến thắng được cơn sân thô thiển và tiến lên tầng thánh thứ hai. Xét phương diện này, bà Daw Shwe Yi quả là người đáng cảm ơn.

Mười kẻ thù phiền não đã ngủ ngầm và hành hạ chúng ta suốt vòng luân hồi, khi bị bốn vị tướng quân (bốn tầng Đạo) lần lượt kết liễu theo từng đợt, chúng không thể cứ ẩn nấp hay trốn tránh mãi được. Bằng cách này hay cách khác, chúng phải lộ diện; và trước khi bị xử trảm trước mặt vị tướng quân, cách chúng vùng vẫy khi bị trói buộc, cách chúng dốc hết tàn lực để chống trả, đấm đá, và cuối cùng khi không thể làm gì khác hơn là phải đưa cổ chịu khuất phục... tất cả đều là những hình ảnh vô cùng thú vị và làm hiển lộ sự vận hành của trí tuệ.

Gã hung đồ “Tà kiến luân hồi” khi sắp bị đưa lên đoạn đầu đài của **Sơ Đạo** (*Sotāpatti-magga*), mỗi khi được Tham ái đồng lõa, gã liền xoay trở đủ kiểu: lúc thì muốn làm thí chủ hộ độ giáo pháp, lúc thì muốn làm vị cứu tinh nguyện thành Phật, lúc lại muốn làm bậc thầy đắc đạo, hay muốn làm đại gia trí thức, thậm chí muốn bay liệng trên không trung... gã cuống cuồng biến hóa khôn lường. Đó chính là cách thức mà **Tà kiến** (*Diṭṭhi*) vùng vẫy trước khi bị diệt.

Nói tóm lại, hành giả có thể tự mình nhận biết điều này. Như việc nhận biết sự sanh diệt của danh sắc theo đúng thời điểm trong tiến trình Thiền định, tiến trình Thanh tịnh và tiến trình Tuệ giác; và trong sự sanh diệt đó,

## TRANG 590

người ta thường thấy sự xen lẫn của những ý niệm về chế định như người, trời, chúng sinh... Tương tự, trong bốn tầng Thánh Đạo, hình thái của sự kích động và phản kháng của các bản chất danh sắc sẽ hiển lộ vô cùng rõ rệt trước nhãn quan của trí tuệ.

Chúng ta nên nỗ lực để có thể giảng giải chi tiết như cách ngài Xá-lợi-phất (*Sāriputtra*) đã thuyết giảng về các tầng tuệ.

**Tiếng sét trước mặt ông U Kyaw Din**

Một tháng sau khi đạt đến tầng thứ hai—

“Vào khoảng 10 giờ đêm thứ Hai, ngày 13 tháng 8 âm lịch (tháng Tawthalin) năm 1282 Miến lịch, ông chứng ngộ Niết-bàn lần thứ ba (đắc quả Bất Lai). Ngay trước 10 giờ, các gân kheo trên toàn thân ông đột ngột co rút lại như thể sắp đứt lìa, ông phải cam chịu một nỗi đau đớn cực kỳ khốc liệt. Sau này ông từng kể lại rằng: ‘Lúc đó nếu chịu đựng được thì qua, không chịu được thì bật ngược lại; vượt qua được đoạn này tôi mới dám tùy hỉ (Sādhu)’.”

Ở giai đoạn này, thường có những cách diễn đạt mang tính vật lý về việc điều gì xảy ra trong cơ thể hành giả, nhưng chúng ta không nên quá bận tâm vào những lời đó. Vật chất không phải là yếu tố tiên quyết. Nếu cứ nhất quyết bám vào những biểu hiện vật chất không cốt lõi đó mà cho rằng “phải xảy ra như vậy mới là đắc quả Bất Lai” thì sẽ tạo ra một định luật áp đặt không cần thiết.

Ngày hôm sau, một tiếng sét cực mạnh giáng xuống ngay trước mặt ông U Kyaw Din. Nhưng ông không hề rúng động, không kinh hãi. Sự tức giận, run sợ hay hốt hoảng chính là tính chất của Sân. Ông U Kyaw Din nay đã diệt trừ tận gốc tâm Sân. Tiếng sét ấy giống như một sự xác nhận rằng ông đã đạt đến tầng thánh đó. Tiếng sét này quả thật giống như thiên lôi của Thiên chủ Sakka.

Đúng như câu nói “Giáo pháp là dòng nước ngược dòng” (hướng thượng), nếu giáo pháp đã thực sự an vị trong tâm khảm thì hành giả sẽ chỉ có tiến lên những tầng cao hơn, thanh khiết hơn. Không bao giờ có chuyện thối thất hay sụt giảm như những của cải thế gian.

**Đời sống và môi trường thế tục nóng bỏng như chết đi được**

Sau khi đạt tầng thứ ba, ông U Kyaw Din tiếp tục nỗ lực hành trì. Khi nhìn thấy những lời ăn tiếng nói, cách làm việc và lối sống sinh hoạt hằng ngày của người đời, ông càng thấy

## TRANG 591

kinh hãi và khiếp sợ hơn. (Sự khiếp sợ này không phải là tâm Sân, mà là **Kinh cụ trí** (*Bhayatupaṭṭhāna-ñāṇa*) - một loại trí tuệ nhận thức rằng: “Ồ, tất cả đều đáng sợ thay!”). Giống như người đi sâu vào một đường hầm dài dặc, càng vào sâu càng cảm thấy hơi lạnh và càng không thể chịu nổi sức nóng bên ngoài. Ông U Kyaw Din bắt đầu chán ghét đời sống cư sĩ và khao khát được xuất gia. Tuy nhiên, việc xuất gia lúc bấy giờ không hề dễ dàng.

Trong sách **Mi-lan-đà Vấn Đạo** (*Milindapañhā*) có chép: “Nếu một người cư sĩ đắc quả A-la-hán, người đó phải xuất gia ngay trong ngày hôm đó; nếu không xuất gia được thì phải nhập **Niết-bàn** (viên tịch) ngay ngày hôm ấy.” Qua đó có thể thấy các bậc Thánh thanh tịnh, mát mẻ đến nhường nào, và đời sống cùng môi trường của kẻ phàm phu thiêu đốt đến mức nào. Sức nóng đó thực sự có thể gây chết người.

Bàn thêm một chút về vấn đề này, sách **Mi-lan-đà Vấn Đạo** giải thích là do hình tướng cư sĩ quá yếu ớt (**Liṅgadubbala**), không đủ sức gánh đỡ phẩm hạnh và quả vị cao thượng đó, kèm theo nhiều ví dụ minh họa. Tuy nhiên, lời trong sách *Milindapañhā* có vẻ chưa chạm đến cái gốc của vấn đề. Theo quan điểm của chúng tôi, điểm mấu chốt nằm ở sự khác biệt quá lớn giữa năng lực của Pháp, giữa cái nóng phiền não và cái lạnh giải thoát. (Xem thêm *Sammohavinodanī Aṭṭhakathā*, trang 505...)

Đời sống (uẩn) của một bậc **A-la-hán** đã hoàn toàn sạch bóng hơi nóng phiền não, tràn đầy trạng thái tịch tĩnh của pháp **Vô vi** (*Asaṅkhata*). Một vị đã có được một phần tư năng lực Vô vi (**Bậc Dự Lưu**) đã cảm thấy chán ghét y phục, đời sống và môi trường cư sĩ hết một phần tư rồi. Bản chất giới tính (phần tử) đã không còn đồng nhất nữa.

Những người tâm tính thấp kém thường không thích đến chùa, nếu có đến cũng không muốn ở lại lâu. Các vị Chư Thiên, Phạm Thiên khi xuống thế gian, ngay cả trước mặt Đức Thế Tôn, họ cũng thường chỉ đứng mà thôi. Tương truyền rằng mùi của con người xông lên đến tận một do-tuần (yojana).

Bậc **Dự Lưu** dù không tự tuyên bố “Ta là bậc Dự Lưu”, nhưng tâm họ tuyệt nhiên không còn ý muốn giết hại dù chỉ là một con kiến, con mối. Giống như loài ruồi không dám đậu lên một khối sắt đang nung đỏ, họ tự nhiên tách biệt khỏi năm điều ác nghiệp (ngũ giới). Đó là bản chất tự nhiên của Pháp.

Bậc **Bất Lai** sau khi thân hoại mạng chung không còn tái sinh ở cõi người hay cõi trời dục giới, mà chỉ sinh về cõi Phạm Thiên. Ngay cả Đức Phật cũng không muốn luôn luôn ở cùng với các vị Tỳ-kheo.

Pháp **Vô vi Niết-bàn** (*Asaṅkhata Nibbāna*) có một năng lực đặc biệt là có thể dập tắt và đẩy lùi những hơi hướm và ảnh hưởng của bất thiện (**Nissaraṇapahāna**). Thủy ngân không thể ở gần lửa. Những nhân vật như Đề-bà-đạt-đa (*Devadatta*), nàng Ciñcāmāṇavikā hay Tỳ-kheo Kokālika không bị đất rút ngay trước mặt Đức Phật, cũng không bị phát tác ghẻ lở ngay lúc đó. Chỉ khi đi khuất mắt ngài, những quả báo đó mới xảy ra. Đây có thể gọi là tính chất “Viễn ly đoạn” (*Nissaraṇapahāna*) của pháp **Vô vi**. Tóm lại, đó là đặc tính phân định ranh giới của trạng thái tịch tĩnh Vô vi vậy.