## TRANG 607

### Bậc A-la-hán và những bậc phi thường

Tôi thưa: "Bạch Ngài, xin Ngài hãy thuyết giảng cho." Khi ấy, Ngài Thiền sư Sunlun Sayadaw dạy rằng: "Này cư sĩ Thein Aung, cái gọi là thần thông (Abhiññā) thực sự không tồn tại sẵn có; đó là việc sử dụng sức mạnh của định (samādhi) để tuệ (ñāṇa) tạo ra được kết quả đó. Còn Đạo hữu vi (Magga-dhamma) là chân lý thực hữu; nếu đi đúng đường thì tất nhiên sẽ gặp được Đạo, vì nó thực sự tồn tại. Giữa việc làm cho cái không có trở thành có, và việc đi tới cái thực có, thì việc làm cho cái không có trở thành có [thần thông] là khó khăn hơn nhiều."

Mọi người đều biết Ngài Sunlun Sayadaw không phải là người từng được đào tạo qua kinh điển (học thuật). Khi nghe lời dạy của Ngài, tôi khởi lên niềm tin sâu sắc. Sau đó, Ngài dạy tôi thực hành pháp **Ānāpāna** (Niệm hơi thở). U Arciṇṇa và tôi cùng hành thiền trong một am nhỏ. Cách Ngài dạy tôi lúc bấy giờ không giống như cách các đệ tử Sunlun học ngày nay.

Ngài chỉ bảo: "Khi hít thở, phải quán sát để biết rõ hơi thở chạm vào đầu mũi." [Cần lưu ý quan điểm: phải thở mạnh mới được]. Khi trở về, U Arciṇṇa bảo: "Này cư sĩ, nếu có gì muốn hỏi thì hãy hỏi đi, sau này sẽ không dễ gì gặp lại Ngài đâu." Tôi thưa: "Tôi không có điều gì hỏi nhiều. Tuy nhiên, tôi muốn biết về kinh nghiệm thực tế của việc nhập **Diệt Thọ Tưởng Định** (Nirodha-samāpatti) là như thế nào."

Lúc nói chuyện đó, chúng tôi chỉ trao đổi nhỏ nhẹ giữa hai người trong am thiền. Sáng hôm sau, trước khi lên tàu về Mandalay, tôi đến đảnh lễ Ngài Sunlun Sayadaw. Lúc ấy, Ngài đang dùng tiểu thực cùng chư Tăng. Khi tôi cúi đầu đảnh lễ, Ngài Sunlun Sayadaw liền phán: "Này cư sĩ Thein Aung, **Nirodha-samāpatti** là trạng thái mà tất cả các danh pháp (nāma-dhamma) thực hữu đều diệt tận, hành giả trú trong sự an tịnh thuần tuý suốt bảy ngày đêm." Cả U Arciṇṇa và tôi đều vô cùng kinh ngạc và ghi khắc lời dạy này.

Tôi vừa suy ngẫm về những lời pháp của Ngài vừa trở về Mandalay. Tôi vô cùng kinh ngạc vì Ngài đã trả lời ngay lập tức mà không cần hỏi, như thể Ngài đã biết rõ ý định và suy nghĩ trong tâm tôi.

## TRANG 608

Nói về việc "biết tâm người khác" (Tha tâm thông), không chỉ những bậc thánh nhân như Ngài Sunlun Sayadaw mà ngay cả những hành giả bình thường cũng có thể chứng nghiệm. Phương pháp thực hành để biết được điều này đã được ghi chép chính xác trong kinh điển Pāḷi.

**(Trong kinh Parihāna Sutta, Tăng Chi Bộ Kinh - Chương 10 Pháp):** Ngài Xá-lợi-phất (Sāriputtra) khi thuyết pháp cho chư Tăng đã dạy rằng: "Này các Tỳ-kheo, nếu một Tỳ-kheo không biết được tâm người khác, thì phải làm sao để biết được tâm của chính mình, phải rèn luyện điều đó."

Giống như khi soi gương, người ta có thể thấy rõ những vết sẹo hay khiếm khuyết trên khuôn mặt và cơ thể; cũng vậy, nếu một người có thể quan sát không bỏ sót từng ý nghĩ, biết rõ rằng: "Trong tâm mình đang có tâm tham, tâm sân, tâm hại, tâm si, tâm ghét, tâm thương, tâm dã dượi, tâm phóng dật, tâm buông lung hay tâm mê mờ? Tâm nào đang khởi lên?", thì người đó tất yếu sẽ biết được tâm của kẻ khác. Đây chính là **"Cittānupassanā"** (Niệm Tâm).

Dù chưa đạt được Minh sát tuệ (Vijjā-ñaṇa) hay Thần thông (Abhiññā), nhưng nếu sức mạnh định của pháp **Niệm Tâm** đủ tốt, hành giả vẫn có thể thấu thị được tâm ý người khác. Hãy nỗ lực thực hành và tu tập.

### Cách tự mình nghe pháp của Ngài

Ngài Sunlun Sayadaw nhận thấy các chúng sinh xung quanh thường khởi lên tâm tham, sân, mạn rất nhiều. Khi thấy những chúng sinh ấy đua nhau về tham, tranh nhau về sân, so kè về mạn, Ngài thường dạy các đệ tử cách nghe pháp từ chính những cảnh tượng đó qua câu chuyện về cách chính Ngài đã từng nghe pháp.

Ngài kể rằng:

"Khi còn là cư sĩ, bần tăng làm nghề nông nên phải chăn bò. Khi đàn bò tụ tập đông đúc, bò của mình lẫn với bò của người, trong đó có cả những con bò đực, chúng thường gầm gừ, hăm dọa nhau rồi chẳng mấy chốc đã húc nhau kịch liệt. Sau một hồi, con mạnh thắng, con yếu tháo chạy. Khi đó, hai con bò đứng đó với dòng máu chảy dài trên sừng, đầu cứ lắc qua lắc lại.

Lúc ấy, bần tăng suy nghĩ: 'À, hai con này chính là những kẻ đang thi thố sân hận với nhau. Cái gọi là Sân (Dosa) chỉ là một yếu tố ngoại lai (āgantuka) khởi lên nhất thời, giống như một kẻ tội phạm trốn nã đầy nguy hiểm. Dù chúng có húc nhau thế nào đi nữa, chúng cũng chẳng bao giờ chạm được vào cái Sân đó. Chỉ có cái thân xác chấp nhận kẻ trốn nã mang tên Sân này là phải gánh chịu đau đớn, đứng đó với cái đầu lắc lư tội nghiệp.' Vậy nên, này các đệ tử hành giả, hãy dùng mắt tuệ mà quán sát để thấy rằng: 'Ngươi đừng có chấp nhận kẻ trốn nã mang tên Sân như những con vật kia; nếu chấp nhận nó, chắc chắn ngươi sẽ phải chịu khổ cảnh như chúng'."

## TRANG 609

Một ngày nọ, Ngài Sunlun Sayadaw đi vào làng Sunlun để tụng kinh và thọ thực theo lời thỉnh mời. Trên đường về, Ngài bắt gặp hai cô bé đang cãi vã kịch liệt, mắng chửi nhau vang động cả xóm. Thấy vậy, Ngài bảo người hộ tông (kappiya) tên là Ko Pyaung rằng: "Này con, hai cô bé đằng kia đang thuyết pháp đấy. Chắc là mệt lắm rồi. Con hãy cầm nải chuối này, chia đôi ra rồi đem cho mỗi đứa một nửa. Bảo rằng đây là lễ vật cúng dường pháp (dhamma-pūjā), bảo các cô ăn cho đỡ mệt rồi nếu muốn cãi tiếp thì cãi."

Khi được nhận chuối, hai cô bé nhìn trước ngó sau rồi im bặt, cầm quả chuối đứng ngẩn người ra. Dân làng thấy vậy đều kinh ngạc bàn tán: "Chuyện gì thế này? Có phải Ngài U Kawi đã niệm chú vào quả chuối rồi đưa cho hai đứa nhỏ đang đánh nhau không?"

Trong môi trường xung quanh hành giả, mọi lời nói, hành động và sự việc diễn ra hàng ngày đều là Pháp (Dhamma). Hãy chú tâm ghi nhớ và lắng nghe.

### Những sự kiện kỳ lạ khi đi kiết giới Sīma tại núi Nemindra, Thaton

Sự kiện lễ kiết giới Sīma tại núi Nemindra, Thaton đã được trình bày chi tiết trong chương về Ngài Nyaung Lwin Sayadaw. (Về việc Ngài Webu Sayadaw đã sắp xếp mọi thứ trước khi Ngài Sunlun Sayadaw khởi hành đi Thaton, xin xem trong chương về Ngài Webu Sayadaw).

Cũng giống như Ngài Nyaung Lwin Sayadaw, sự hiện diện của Ngài Sunlun là không thể thiếu để sự kiện được viên mãn. Sau khi lễ kiết giới hoàn tất, ông U Kyaw Dun đã bế xốc Ngài lên và hô lớn trong niềm hỷ lạc: "Đây mới thật sự là bậc A-la-hán!" Trong thời gian lưu trú tại Thaton, Ngài cũng đã thuyết giảng nhiều thời pháp.

Một đêm nọ, tại nơi nghỉ, có một vị sư tìm đến và gọi: "U Kawi... U Kawi". Nghe thấy tiếng gọi, Ngài liền đi xuống...