## TRANG 610

“Hãy đi theo tôi tới chỗ này một chút”, người đó đến gọi một cách bất ngờ, không rõ nguyên do. Ngài suy xét: “À... người này ta không hề quen biết, nếu ta không đi theo thì họ sẽ khổ tâm, mà nếu đi theo thì chính ta sẽ gặp vất vả. Thôi được — ta thà chịu vất vả vậy”, rồi Ngài quyết định đi theo người dẫn đường vào sâu trong khu rừng tối mịt. Khi đến giữa rừng sâu:

“Thôi, bấy nhiêu đủ rồi bạch Ngài, xin Ngài hãy quay về, con sẽ hộ tống Ngài trở ra”, người đó nói. Ngài đáp: “Không sao đâu, ta sẽ tự tìm đường về”, nói rồi Ngài lần mò trong đêm tối để quay trở lại.

Đường về dường như không xa bằng lúc đi, Ngài dễ dàng trở lại trú xứ của mình. Không rõ đó là người hay là chư thiên. Có lẽ họ muốn thử thách xem Ngài có phải là bậc A-la-hán hay không, và liệu Ngài có còn tâm dao động hay sợ hãi hay không.

Trong thời gian ở Thaton, một ngày nọ, Ngài **U Tiloka** từ núi Thek-khya và Khayae Sayadaw — người bạn đồng tu — đã đến để tìm hiểu về Ngài. Khayae Sayadaw lớn tuổi hạ hơn Ngài U Kavi. Sayadaw Nyaung Lunt nói rằng: “Này U Kavi, hãy thử tìm hiểu về Khayae Sayadaw xem sao. Sư ấy tích lũy kiến thức thế gian khá nhiều, tự xem mình là bậc nhất và đang muốn dương danh đấy”. Sau khi tìm hiểu, Khayae Sayadaw đã bàn luận sôi nổi từ cách chuẩn bị và lấy tướng (nimitta) của vòng tròn Kasina cho đến những tầng cao hơn.

Ngài U Kavi liền bạch: “Bạch Ngài, xin hãy dừng lại một chút, vừa rồi Ngài có nhắc đến hộp trầu, vậy con xin hỏi trong hộp trầu này hiện có bao nhiêu lá trầu ạ?”. Vị kia đáp: “Đến mức này thì tâm ta không thể hướng tới được”. Ngài U Kavi liền nói chính xác số lượng lá trầu bên trong.

Sau đó, Ngài giải thích phương pháp hành thiền từ đầu đến cuối cho vị kia nghe. Vị ấy vẫn dùng giọng bề trên mà khuyến khích: “Ngài hãy còn trẻ lắm, hãy tiếp tục nỗ lực thêm nữa”. Rồi vị ấy nói tiếp: “Về phần ta, vì đang mắc chứng phong thấp (svajvapāda) nên tâm không thể định tĩnh đến mức ấy được. Hồi đó, ta cùng với **U Uttama** và Ngài **U Tiloka** ở núi Thek-khya đã cùng nhau phát nguyện rằng chỉ khi nào có thể thuyết pháp cho chúng sinh từ trên hư không mới trở về, rồi chúng ta ra đi tìm đạo. Nhưng sau đó vì gặp phải nhiều gian nan vất vả, công sự không thành nên đành phải thoái lui”. Trong lời nói của vị ấy đã tự lộ ra câu trả lời.

Trong ba vị kể trên, **Ngài U Uttama** đã rời khỏi núi Thek-khya để đến Sunlun cầu pháp và thực hành thiền. Trong thời gian Ngài U Uttama ở đó hành thiền, Ngài đã nhận thấy một thực tế là hàng cư sĩ đôi khi dễ đắc pháp hơn chư Tăng, và hàng nữ giới lại dễ đắc pháp hơn nam giới. Ngài đã ví von bằng một đoạn kệ rằng:

## TRANG 611

“Những con bò đực to khỏe với cặp sừng nghênh ngang, vậy mà trên bãi đất khô cằn, ngay cả chiếc xe không chúng cũng kéo không nổi. Trong khi những con bò cái nhỏ bé, sừng ngắn, chân nhỏ lại có thể gồng mình kéo cả xe đầy hàng hóa”.

### Nếu không biết hãy giữ yên lặng, hãy nỗ lực để biết, đừng để thân, khẩu, ý buông lung

Vào ngày đầu tiên sau rằm tháng Tì-xá-khê (Thadingyut) năm 1285 (Miến lịch), Ngài đã bàn giao các thiền sinh và chùa chiền tại khe núi Maung Yin Paw lại cho Ngài U Vijaya và dời đến ở dưới một gốc cây Keo (Shar) bên bờ suối Sunlun, chỉ với một chiếc chõng tre. Việc di dời này là do sự quấy nhiễu của **U Vijaya** (**U Shwe Lok**, người mà Ngài U Kavi từng cứu mạng khỏi chết đuối khi còn là cư sĩ). Sau này, khi có thí chủ phát tâm cúng dường thêm chùa và hang động, nơi này được gọi là “Chùa Hang Sunlun” (Sunlun Gu Kyaung), thiền sinh lại bắt đầu tụ hội đông đúc.

Y-khu-shí-thaw U San Pe i phe-khín-khi-ga yeik-tha-mye e-ka 20 hlu-dan-thi. Thiền sinh cũng ngày càng đông đúc theo từng ngày.

Vị tu sĩ người Ý — Ngài **U Lokanatha**, người đã dành cả đời sống tại Miến Điện, cũng đi khắp thế giới để thuyết giảng và viết lách về tin vui rằng các bậc A-la-hán đã xuất hiện tại Miến Điện. Ngài đã đến Myingyan để đảnh lễ Sayadaw Sunlun với các phẩm vật y áo, đồng thời đặc biệt hồi hướng công đức đến hai vị thân phụ mẫu đã quá cố của mình.

Mặc dù có những người quá thiên chấp vào Pháp học (Pariyatti) đã thực hiện ác nghiệp xem thường và gọi Ngài là “Lão già rừng rú không biết chữ”, nhưng cũng có những bậc đại trưởng lão Pháp học lừng danh, vốn có tâm **Như lý tác ý** (Yoniso Manasikara) và lòng trung thực, đã tôn kính đến cầu học phương pháp thực hành từ “Lão già rừng rú không biết chữ” này.

Vào ngày rằm tháng Tư (Waso) năm 1292, khi Sayadaw đang chuẩn bị cho lễ truyền giới tại thị trấn Taung Thar, Ngài đã gặp Sayadaw Taung Thar — Ngài **U Aggavamsa**, một bậc tu hành khổ hạnh. Hai bên đã có cuộc đàm đạo thân mật (**Alappa Sallappa**). Ngài Sayadaw Taung Thar đã thỉnh mời Ngài U Kavi trình bày phương pháp hành thiền từ đầu đến cuối như cách dạy cho những người bình dân, và vị ấy đã cung kính lắng nghe một mình. Sayadaw Taung Thar vốn là bậc thầy uyên thâm về Pháp học, nổi danh khắp cả nước và đã được triều đình ban tặng danh hiệu Aggamaha Pandita (Bậc Đại Trí giả).

“Con đường mà Ngài U Kavi đang thực hành là con đường ngắn nhất và tinh giản nhất. Con đường của chúng tôi quá rộng lớn nên rất khó để đạt đến đích”, Sayadaw Taung Thar đã thừa nhận và tán thán như vậy. Ngài cũng kể cho hàng đệ tử của mình nghe về câu chuyện của Ngài Trưởng lão **Tipitaka Mahā Nāga**, bậc thầy giỏi kinh điển nhưng đã phải cầu học pháp hành từ chính đệ tử của mình.

## TRANG 612

Trong buổi lễ truyền giới, vị ấy lại thỉnh Ngài **U Kavi** thuyết pháp lần nữa để được lắng nghe. Ngài cũng yêu cầu Ngài U Kavi viết lại phương pháp chuẩn bị và cách quán niệm hơi thở (**Anapana**) thành văn bản. Vào ngày mùng 4 sau rằm tháng Tư năm 1292, Ngài U Kavi đã hoàn tất bản thảo này.

“Nếu canh giữ và cắt đứt (phiền não) từ các cửa như mắt, v.v... thì cũng có thể đạt được, nhưng thông qua việc chú tâm vào sự xúc chạm và sự biết rõ (tiếp xúc) tại thân môn thì tuệ phân biệt **Danh Sắc** (Namarupa-nana) sẽ dễ dàng trở nên nhạy bén. Tại thân môn, nơi sự xúc chạm (**Phassa**) xảy ra, do xúc nên phát sinh thọ (**Vedana**). Để ngăn chặn Ái, Thủ, Hữu, v.v... không phát sinh từ Thọ, ta phải dùng Chánh niệm để cắt đứt. Khi cắt đứt được, ‘**Vọng thọ tưởng**’ (Vedana-sanna) sẽ không sinh khởi mà thay vào đó là ‘**Vọng thọ tuệ**’ (Vedana-panna)”, Ngài đã viết như vậy, mô tả từ bước chuẩn bị cho đến khi đạt được Đạo tâm và Quả tâm.

Như thế, không màng đến việc biết chữ hay không, những bậc đại trưởng lão Pháp học lừng danh vì lòng tôn kính đối với trí tuệ thực chứng đã không ngần ngại cầu pháp và thực hành theo. Chỉ có những kẻ Pháp học nửa vời, luôn giương cao ngọn cờ ngã mạn, không những đánh mất cơ hội quý báu mà còn phải gánh chịu ác nghiệp sa đọa.

Mặt khác, sở dĩ Ngài được các bậc “Trình độ Pháp học uyên thâm” kính trọng như vậy là bởi Ngài đã viên mãn trí tuệ A-la-hán quả, sở hữu các đặc tính siêu việt về nghe, thấy và thấu hiểu. Tuy nhiên, thay vì nỗ lực để đạt được sự viên mãn ấy, một số “vị Tăng hay cư sĩ thiền sinh từ rừng mới ra”, dù chỉ mới thực hành sơ sài, lại sinh tâm xem thường và phỉ báng những bậc mang vác gánh nặng Pháp học, dẫn đến việc phải chịu cảnh địa ngục.

Thực tế, nếu chỉ mới chứng đắc A-la-hán mà không có sự thấu đạt sâu rộng về các thắng trí hoặc không có thêm nền tảng Pháp học bổ trợ, thì cũng chưa nên vội vàng đi dạy đạo cho người khác. Bởi lẽ sẽ có rất nhiều điểm dễ gây nhầm lẫn và sai lệch.

Do đó, trong mọi việc, ta cần phải có **Như lý tác ý** (Yoniso Manasikara), **Chánh niệm tỉnh giác** (Sati-sampajanna) để thực hành đúng theo **Trung đạo** (Majjhima Patipada). Ngài Cố Sayadaw Sunlun từng giáo giới rằng:

“Nếu không biết thì hãy nỗ lực để biết. Nếu không biết mà tay chân táy máy (làm càn) thì sẽ gặp khổ. Nếu không biết mà miệng lưỡi nhanh nhảu (nói càn) thì sẽ gặp khổ. Nếu không biết mà tâm ý buông lung thì sẽ gặp khổ. Nếu không muốn khổ thì hãy giữ mình yên lặng và nỗ lực để đạt đến sự hiểu biết thật thụ”.
