## TRANG 637

Tại đây, Ngài đã chỉ dạy các đệ tử như **U Thon-wa-ra** (Sayadaw U Saṃvara), **U Nya-ni-ka** (Sayadaw U Ñāṇika), **U Re-wa-ta** (Sayadaw U Revata), **U Ka-win-da** (Sayadaw U Kavinda), v.v... dựng các đình lợp lá thốt nốt, tổ chức các buổi thuyết pháp và lễ cúng dường theo đúng Chánh pháp (không nhận tiền hỗ trợ trực tiếp cho chư Tăng). Bảo tháp chứa xá-lợi (di cốt) của Ngài đã được xây dựng để hàng hậu thế chiêm bái. Một bảo tháp xá-lợi khác cũng được tôn trí tại Parakkama-chaung, nằm ở khu vực giữa của dãy đồi Sagaing. Các tác phẩm do Ngài biên soạn bao gồm (từ mục 1 đến 4 đã được xuất bản):

1. **Yogi Pārāgū Kyan** (Du-gi Ba-ra-gu - Luận về sự đạt đến cứu cánh của hành giả), soạn năm 1285 (1923).

2. **Sacca Pārāgū Kyan** (Thit-sa Ba-ra-gu - Luận về sự đạt đến cứu cánh của sự thật), soạn năm 1293 (1931).

3. **Vivaṭa Pārāgū** và **Saraṇa Pārāgū** (Vi-voat Ba-ra-gu và Sa-ra-na Ba-ra-gu).

4. **Dhamma Vidū** (Dhamma Vi-du - Bậc thông tuệ Pháp).

5. **Sujana Pārāgū** (Thu-za-na Ba-ra-gu).

6. **Dassana Pārāgū** (Dat-tha-na Ba-ra-gu).

7. **Araddhovāda Sāttan** (A-rat-tho-va-da - Các bài huấn từ).

8. **Diṭṭhipahāyaka Sāttan** (Deit-hti-pa-ha-ya-ka - Chuyên khảo về việc đoạn trừ tà kiến).

9. **Kalyāṇuppāda Kyan** (Kal-lya-nu-pa-da).

Những thông tin để chúng ta chiêm bái trên đây được ghi chép dựa theo lời của Sayadaw **U Sobhita** (U Tho-bi-ta) thuộc tu viện Yun-set, làng Maung-htaung-gyi, huyện Budalin, quận Monywa, cùng với nội dung trong các tác phẩm như **Yogi Pārāgū**.

### Hành giả đã đạt được vị trí đúng đắn chưa?

"Đừng mải mê nói về việc người khác chưa đạt được vị trí đúng đắn (chưa tu đúng hướng), chỉ cần biết bản thân mình đã đúng hay chưa là đủ rồi. Khi biết rằng mình chưa đúng, đó chính là lúc bắt đầu đúng đắn. Còn nếu bản thân chưa đúng mà lại lầm tưởng mình đã đúng, thì hạng người ấy hoàn toàn không có hy vọng gì (trên con đường tu tập)."

— **Đại Trưởng lão Webu Sayadaw**.

## TRANG 638

### Sayadaw Thim-taung Se-gyi Tawya (1244 – 1321)

Sayadaw Thim-taung Se-gyi Tawya (Thiêm-taung Sê-di To-da) là vị trụ trì đời thứ hai của hệ phái Thim-taung. Ngài là đệ tử đầu tiên của Ngài In-ma-gyi Sayadaw và đồng thời là một cánh tay đắc lực trong công cuộc hoằng Pháp.

Sayadaw Se-gyi Tawya không chỉ tiếp nhận tinh túy pháp học và pháp hành từ Sayadaw In-ma-gyi mà còn thừa hưởng gia sản Pháp bảo từ các bậc danh đức như Sayadaw **Ledi**, Sayadaw **Thek-khya-taung**, và cư sĩ đại trưởng giả **Saya Thet** (tại Pyaw-bwe, Dala). Do đó, các tác phẩm của Ngài như: "**Ariya Vijjā Magga Alin-pya Kyan**" (Ấn hành lần 1 năm 1312, lần 2 năm 1316) và cuốn sách nhỏ được viết vào cuối đời mang tên "**Nibbāna Paung-choke Ah-si-htoke**" (do **U Tun Hla Aung** thuộc tổ chức Buddha Dhamma Loka ấn hành cúng dường tại lễ tang của Ngài) đã mang lại lợi ích vô cùng to lớn cho lĩnh vực Giáo pháp thực hành (Paṭipatti Sāsanā).

### Chỏm tóc dài và sự dùng dằng chưa dứt

Ngài sinh vào Thứ Ba, ngày mồng 5 sau trăng tròn tháng Wazo năm 1244 (1882) tại làng Shwe-twin-du Se-gyi (hệ phái Hti-hlaing), huyện Wundwin, quận Meiktila. Thân phụ là ông **U Kyawt**, thân mẫu là bà **Daw Kaung**.

Trong phần kết của các bộ luận, Ngài có chép rằng: gần ngôi làng có một con đập do vua Anawrahta xây dựng, và chính ngôi làng đó là do vua Kyansittha thành lập. Tu viện Se-gyi Tawya nơi Ngài ngụ tọa lạc tại vị trí cách chùa Shwe-bon-tha năm trăm sải tay về hướng Tây Nam; ngôi chùa này là do hoàng hậu **Khin Thant** (vốn sinh tại làng Hti-hlaing) của vua Kyansittha xây dựng. Tại tu viện đó còn có một đường kinh hành dài một trăm sải tay được trải cát trắng. Khi Ngài cao tuổi, một cột trụ lớn tại đường kinh hành này đã được dát vàng lá. Đây chính là nơi đầu tiên Ngài chứng đắc (Pathama Bodhithana).

Con đường xuất gia của Ngài không hề dễ dàng. Phải mất ba bốn năm trì hoãn Ngài mới chính thức trở thành tu sĩ. Cho đến năm ngoài hai mươi tuổi, Ngài vẫn phải phụ giúp cha mẹ làm ăn. Vì môi trường ở làng không yên tĩnh nên Ngài đã lên Mandalay để làm việc. Khi ấy, Ngài vẫn để tóc theo kiểu chỏm dài (Shyaung-gyi-bye).

Về sau, cảm mến đức tính thật thà trung hậu của Ngài, một vị phú ông tại Mogok đã

## TRANG 639

nhận Ngài làm con nuôi và đưa về Mogok chung sống. Vị phú ông ấy thường dỗ dành Ngài rằng: "Tất cả của cải này đều là của con", rồi đem cho Ngài xem vô số vàng bạc, đá quý và hồng ngọc để Ngài vui lòng ở lại. Thế nhưng, Ngài không hề có tâm ham muốn những báu vật đó và cũng không thấy an lạc khi ở Mogok. Đúng lúc ấy, thân phụ Ngài là ông **U Kyawt** nghe tin đã tìm đến đón Ngài về quê. Vị phú ông ở Mogok đành bùi ngùi nhìn Ngài ra đi.

Khi về đến làng, tâm trí Ngài vẫn không nguôi ý định xuất gia. Cuối cùng, Ngài đã tìm đến một tu viện nhỏ trong rừng tại In-ma-gyi và nhất quyết không trở về nhà nữa. Nơi Ngài cảm thấy an lạc chính là tu viện nhỏ bé trong rừng thưa, lợp mái tranh đơn sơ trên bốn cột gỗ. Dù cha mẹ có nài ép thế nào Ngài cũng từ chối quay về. Khi đó, Ngài vẫn để chỏm tóc dài và làm người hộ tăng (Kappiya) tại chỗ của Sayadaw In-ma-gyi.

Thời điểm đó là vào mùa hạ năm 1246 (1884). Thấy con trai có ý chí sắt đá, cha mẹ Ngài sau cùng cũng phải thuận lòng. Ngay trong mùa hạ năm đó, Ngài đã xuất gia thành vị Sa-di lớn tuổi mang pháp danh **Jawana** (Javana), tu tập tại tu viện bốn cột gỗ ấy. (Thông tin dựa theo lời kể của nữ tu **A-pwa-lay** – cháu họ của Ngài tại tu viện Hti-lin, phía nam Mandalay; cùng ông Luật sư **U Kar Nyein** và bác sĩ **Daw Ma Ma Lay** tại Kyaukse).

Trong sổ tay bản thảo của Ngài, người ta thấy có ghi chép như sau:

(Ngày mồng 8 tháng Waxing tháng Tawtalin năm 1268, tại giới đàn Khanda Sīmā tu viện Shwe-twin-du; các vị Thầy tụng Tuyên ngôn Tăng sự gồm Sayadaw **U Mala** - lãnh đạo hệ phái Mon-daw, Sayadaw **U Visuddha** - lãnh đạo hệ phái Hnaung-gon, Sayadaw **U Tejavanta** - lãnh đạo hệ phái Tama-gon Thayet-chan; cùng với vị Thầy tế độ (Upajjhāya) là Ngài Sayadaw lãnh đạo hệ phái Hti-hlaing. Lúc 1 giờ trưa. Năm 1290, được 22 hạ. Năm 1268, đang làm Sa-di trong mùa hạ. Năm 1294, được 27 hạ).

### Sức mạnh có thể bao trùm thế gian

Sau khi thọ giới Tỳ-kheo, Ngài nỗ lực tu tập song hành cả Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti). Ngài cũng đã được thọ nhận pháp môn từ Trưởng lão **Ledi Sayadaw** và Sayadaw **U Tiloka** của vùng Thek-khya-taung. Những ghi chép về cách kiểm chứng và giảng dạy Giáo pháp của **Ledi Sayadaw** trong tác phẩm "**Ariya Vijjā Magga Dīpanī**" do Ngài biên soạn thật sự mang lại lợi ích vô cùng quý báu.

1. Khi các vị sư và thí chủ từ Sun-lun đến để được Trưởng lão **Ledi Sayadaw** kiểm chứng việc tu tập, Ngài dạy rằng: không nên vội vàng tuyên bố "Tôi đã đắc quả Tu-đà-hoàn", v.v... Bậc thầy cũng không nên đưa ra phán quyết quá sớm, vì làm vậy có thể ví như việc "bẹ gãy mầm non của Đạo quả". Tính chất của phiền não ngủ ngầm (Anusaya Kilesa) vốn rất tinh vi; đôi khi nhờ sức mạnh của định (Samādhi) mà chúng tạm thời lắng xuống, khiến hành giả lầm tưởng mình đã trở thành bậc Thánh (Ariya), nhưng thực sự thì không phải vậy.