## TRANG 649

Thiền sư Tháp-pê-a-in Tọa rà **U Kitti** (1255–1331)

Từ năm 1288 cho đến khi viên tịch vào năm 1331, Ngài đã có hơn bốn mươi năm độc cư tu tập tại thiền viện Tháp-pê-a-in (Thapyay-aing Tawya). Thiền viện này tọa lạc tại huyện Paung, tỉnh Thaton (cách Thaton 28 dặm và cách Mottama 10 dặm), lấy làng Kyon-ka làm nơi trì bình khất thực (gocara-gāma).

**Chư thiên có biết vị ấy đắc quả A-la-hán chăng?**

Sự việc xảy ra vào ngày cuối tháng Kasone (tháng 2 âm lịch Myanmar), năm 1316. Khi ấy, các ông U Tun Kyaing, U Bo Kyawt ở làng Kadon và thầy giáo U Jar Aye ở làng Kyon-ka (người phụ giúp việc chùa cho Ngài, về sau cũng xuất gia) cùng đến đảnh lễ Ngài và thưa rằng:

“Bạch Ngài, vào kỳ lễ Thingyan vừa rồi, chúng con có đến giữ giới tại thiền viện rừng làng Dēparein Sayettaw. Vị sư trụ trì tại Sayettaw có phán bảo rằng: ‘Chư đại thiên có đến thưa với ta rằng Thiền sư Tháp-pê-a-in đã đắc quả A-la-hán rồi’. Vị sư ở Sayettaw cũng nhắn lời rằng ngài ấy muốn đến thăm thiền viện Tháp-pê-a-in này, bạch Ngài.”

Mọi người cùng im lặng, háo hức chờ đợi xem Ngài sẽ phản hồi thế nào. Sau một hồi lặng lẽ suy xét, Ngài chỉ ôn tồn bảo:

“Các cư sĩ khi trở về hãy thưa lại với ngài ấy rằng: Xin hãy khoan vội đến đây, rồi chúng ta sẽ gặp nhau sau thôi. Cứ thưa lại như thế là được.”

Sau khi nhóm cư sĩ thưa lại lời ấy, khoảng ba ngày sau, vị sư ở Sayettaw gửi tin nhắn cho các cư sĩ rằng: “Ta đã được chiêm bái Thiền sư Tháp-pê-a-in ngay tại chùa của mình rồi.”

Vào ngày mùng 9 tháng Kasone năm 1318, vị sư ở Sayettaw đã trực tiếp đến thiền viện Tháp-pê-a-in. Khi đó, Thiền sư Tháp-pê-a-in đích thân đón tiếp, đàm đạo và mỉm cười hỏi rằng:

“Sư Sayettaw, nghe nói Sư đã gửi tin báo rằng đã gặp được tôi rồi. Vậy vị sư mà Sư gặp đó có đúng thật là tôi hay không?”

## TRANG 650

Vị sư ấy liền đáp: “Bạch Ngài, đúng là Ngài chứ không sai vào đâu được, hình dáng y hệt như thế này, không hề khác biệt một chút nào cả.”

Tuy nhiên, Ngài không bình luận gì thêm về việc đó mà lại chuyển hướng câu hỏi:

“Khoan đã, chư thiên nói với Sư chuyện đó từ khi nào? Sư còn nhớ rõ ngày tháng không? Và lúc họ đến thưa thì Sư đang làm gì?”

Vị sư Sayettaw thưa: “Bạch Ngài, con nhớ rõ. Đó là vào khoảng 7 giờ tối ngày mùng 6 tháng Thadingyut năm 1315. Lúc bấy giờ con đang hành thiền.”

Thiền sư Tháp-pê-a-in điềm tĩnh lắng nghe lời trình bày đầy hoan hỷ của vị sư Sayettaw. Vị này lại tiếp tục thưa:

“Những vị đến thưa không phải hạng thiên nhân thấp kém đâu bạch Ngài, mà chính là các vị đại thiên vương. Các ngài ấy từ trên không trung hiện xuống và khích lệ rằng: ‘Xin Ngài hãy tinh tấn nỗ lực, chớ có thối chí. Thiền sư Tháp-pê-a-in quả thật đã đắc quả A-la-hán rồi, bạch Ngài’.”

Ở điểm này, người hành giả cần lưu ý rằng không phải hễ nghe nói đến chư thiên là đều tin ngay, và cũng không nên mặc định rằng vị chư thiên nào cũng có trí tuệ thấu suốt.

Sau khi thọ nhận những lời giáo huấn, vị sư Sayettaw đã xin cáo biệt để trở về chùa của mình.

Vào mùa Thadingyut năm 1317, có bảy vị sư hành giả đang tu tập độc cư tại các vùng núi rừng quanh làng Kyon-ka đã cùng nhau vân tập về thiền viện Tháp-pê-a-in. Đây là dịp sau ngày mãn hạ (Pavāraṇā), các vị đến để đảnh lễ và thọ giáo từ Ngài.

Nhân đó, Ngài đã thuyết giảng giáo pháp để chỉ dạy các vị sư khách tăng. Khi giảng về **mười loại phiền não (kilesa)** vẫn luôn ngấm ngầm ngủ ngầm (anusaya) trong dòng tâm thức chúng sinh suốt vòng luân hồi, Ngài hỏi:

“Này chư Hiền giả, khi phiền não ở dạng **triền cái (pariyuṭṭhāna)** trỗi dậy trong tâm hành giả, các vị nghĩ xem chư thiên có thể biết được hay không?”

Các vị sư thưa: “Bạch Ngài, chắc chắn là có thể biết được ạ.”

“Vậy nếu trong tâm hành giả mới chỉ khởi lên ý niệm phiền não thôi, họ có biết được chăng?”

## TRANG 651

“Bạch Ngài, điều đó họ cũng biết được ạ.”

Ngài khựng lại suy nghĩ một chút, kín đáo quan sát nét mặt của các vị khách tăng rồi mới phán rằng:

“À, chẳng hay có phải vì lý do đó hay không mà từ năm 1312 cho đến năm 1321, tôi chưa từng thấy phiền não trỗi dậy (pariyuṭṭhāna) trong tâm mình dù chỉ một lần, cũng không hề có dù chỉ một ý niệm phiền não nào khởi lên.”

Ngài dừng lại một lúc lâu rồi tiếp tục:

“Có lẽ chư đại thiên biết rõ điều này nên mới đến nói với vị sư rừng **U Sundara** ở Sayettaw như vậy chăng?”

Ngài nói lời ấy một cách chừng mực, vừa phải, không khẳng định cũng chẳng phủ nhận hoàn toàn. Ta khó có thể biết chắc Ngài nói vậy với dụng ý sâu xa gì, nhưng có lẽ do thấy điều đó mang lại lợi ích cho người nghe theo kiểu “một mũi tên trúng hai đích” nên Ngài mới hứa khả như vậy.

**Ngài có chứng đắc thế gian thông (loki-abhiññā) chăng?**

Có vẻ như Ngài không xem lời của chư thiên là bằng chứng xác thực nhất. Chuyện chư thiên nói là việc của họ, còn Ngài dường như tự biết rằng mình đã **xong công việc của bậc Sa-môn** bằng chính tuệ giác của tự thân. Ngài nói ra điều đó có lẽ cũng nhằm khích lệ tinh thần cho các vị sư đang tu tập.

Ngài không chỉ uyên thâm về Pháp học (Pariyatti) mà còn có nhiều năm độc cư chuyên tu Pháp hành (Paṭipatti), điều này là không bàn cãi.

Ngài đã soạn thảo một tác phẩm về đề mục quán Pháp Đại chủng (dhatu-kammaṭṭhāna) mang tên “Tiến trình đắc quả Tiểu Tu-đà-hoàn” (Cūḷasotāpanna), tài liệu này dày 118 trang khổ lớn. Nghe nói Ngài còn có các tác phẩm khác nữa. Riêng quyển này đã được tái bản tới 13 lần. Văn phong của Ngài rất sắc sảo và trình bày rõ ràng về bản chất thực tại của các danh pháp, sắc pháp.

(Trong một số lần in, phần tiểu sử tóm tắt cũng được đính kèm. Phần tiểu sử đó thực chất có vẻ là những ghi chép từ nhật ký hằng ngày của Ngài. Dựa trên những nhật ký đó và những gì nghe được từ các bạn đạo, chúng tôi đã biên soạn lại theo trình tự trước sau.)

Tuy nhiên, ở phần kết của tác phẩm đó, Ngài đã viết lời nguyện rằng: “Sau khi thân hoại mạng chung ở kiếp này, con nguyện sinh làm một vị thiên tử ở cõi trời Đao Lợi (Tāvatiṃsa) để thuyết giảng chân lý tối hậu và thấu triệt được Bốn Diệu Đế”. Chính vì lời nguyện xin được làm thiên tử trong quá khứ này...