## TRANG 652


Trong đời này, không nên có quan niệm rằng một người không thể chứng đắc Thánh quả.

**Dhammācariya U Htay Hlaing**

Đối với các hành giả, tuệ giác và sự tinh tấn không phải lúc nào cũng duy trì ở một mức độ cố định, mà luôn có sự tiến triển không ngừng. Với phương châm "Hành động quan trọng hơn lời cầu nguyện", nếu một người nỗ lực tu tập Vipassanā (Thiền quán) không thối chuyển, thì những ước muốn ban đầu như mong cầu giàu sang, muốn thuyết Pháp, muốn hoằng dương Giáo Pháp, hay nguyện thành Phật cũng sẽ thay đổi theo thời gian. Những mong cầu ấy sẽ dần phai nhạt và rời bỏ tâm trí một cách tự nhiên.

Ngài Sadaw của tu viện Mahagandhayon ở Sagaing từng phát đại nguyện thành bậc Chánh Đẳng Giác. Tuy nhiên, ngay trong kiếp sống này, Ngài đã nổi danh là một bậc "Anāgāmī" (bậc A-na-hàm) và đã chứng đắc quả vị Thánh Thinh Văn (Sāvaka Bodhi). Do đó, không nên cứng nhắc cho rằng "vì trước đây từng cầu nguyện làm thiên nam nên nay không thể đắc Thánh quả". Điều đó chỉ có nghĩa là "nếu còn phải tiếp tục tái sinh thì mới như vậy".

Dù thế nào đi nữa, có vẻ như Ngài Sadaw cũng đã đắc được các thắng trí (Abhiññā) thế gian. Điều này thể hiện rõ qua lời nhắn nhủ của Ngài với vị trụ trì chùa Thayet Taw và việc Ngài hiện thân đến thăm vị đó. Việc Ngài thị hiện thân mình như vậy không phải là do chư thiên biến hóa ra hình dáng giống Ngài, như cách Ma vương đã biến hình Phật để cho Trưởng lão **Phussadeva** chiêm bái. (Chi tiết này sẽ còn được làm rõ ở phần sau).

### Trận động đất thúc giục việc xuất gia

Ngài Sadaw sinh vào Thứ Hai, ngày mùng 3 tháng Hai (Kason) âm lịch, năm 1255 (Miến lịch). Thân phụ là ông U Lone Tone, quê ở làng Pho Toke Pon, thị trấn Nyaung Lay Pin; thân mẫu là bà Daw Shwe Nu, quê ở làng phía Tây, thị trấn Shwegyin (thuộc quận Toungoo). Ngài là người con thứ hai trong số bảy anh chị em, tên thuở nhỏ là Maung Pho Thaung.

Vào hồi 8 giờ 30 sáng ngày mùng 4 sau rằm tháng Tư (Tabaung) năm 1278, Ngài thụ giới Tỳ-kheo với Ngài Sadaw của tu viện Thapyaypin, làng Kyar Inn làm thầy tế độ (Upajjhāya). Pháp danh của Ngài là **U Kitti**.

Có vẻ như Ngài đã thừa hưởng trọn vẹn di sản về cả Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti) từ các bậc thầy như Sayadaw U Sīla và các Ngài Sadaw ở tu viện Nyaung Lay Pin. Ngài U Vāsava, hiện là Sadaw của tu viện Kyar Taw ở Nyaung Lay Pin, chính là vị đại đệ tử của Ngài.

Sau khi thi đỗ kỳ thi Pathama Lat tại tu viện Nyaung Lay Pin, Ngài chuyển đến tu viện Kankalay ở thị trấn Oktwin. Tại đây, Ngài đã thi đỗ kỳ thi Pathama Gyi (vào thời đó, đây là cấp độ cao nhất). Sau đó, Ngài đã vân du đến các thành phố như Pakokku, Myingyan, Mandalay và Amarapura để tầm sư học đạo, nỗ lực nghiên cứu suốt ngày đêm về năm bộ Nikāya và Vi diệu pháp (Abhidhamma).

## TRANG 653


Suốt thời gian học tập Pháp học, Ngài thường xuyên ghi chép và thuộc lòng những điểm trọng yếu liên quan đến Pháp hành. Nhờ vậy, khi vào rừng sâu, Ngài không cần mang theo bất kỳ cuốn sách nào. Ngay cả khi soạn thảo các bộ luận về đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna) hay luật nghi (Vinaya) liên quan đến việc quyết định cương giới (Sīmā), Ngài có thể viết một cách tinh thông với đầy đủ các trích dẫn từ Pāḷi, Chú giải (Aṭṭhakathā) và Phụ chú giải (Ṭīkā) mà không cần tra cứu tài liệu.

Sau 10 hạ lạp chuyên tâm Pháp học và khoảng 4 năm làm giảng sư, kể từ ngày mùng 1 tháng Hai (Kason) năm 1288, Ngài hoàn toàn chuyển sang con đường Pháp hành. Điểm dừng chân đầu tiên Ngài chọn là tu viện hang động nhỏ (Gu Lay Tawya) gần làng Ywalut, đảo Bilu.

Sau khi quyết định việc xuất gia vào rừng và thông báo sắp xếp mọi việc, Ngài tỉnh giác nằm nghỉ để chuẩn bị khởi hành bằng chuyến tàu hỏa buổi sáng. Tuy nhiên, khi giờ ra ga đã đến, cả tu viện không một ai thức giấc, tất cả đều đang chìm trong giấc ngủ say. Đúng vào lúc cần phải khởi hành, một trận động đất mạnh đã làm rung chuyển toàn bộ tu viện. Chính nhờ đó mà Ngài U Sunanda và những người khác mới choàng tỉnh để kịp tiễn Ngài ra nhà ga.

Dù không nói với ai, Ngài Sadaw vẫn luôn tin tưởng rằng: "Ý nguyện và mục tiêu của ta nhất định sẽ thành công". Trận động đất chính là một điềm báo đại cát tường ngay từ lúc khởi đầu.

Ngài Sadaw chỉ lưu lại tu viện hang động ở đảo Bilu trong một mùa hạ. Kể từ ngày 13 tháng Chạp (Natdaw) năm đó, Ngài chuyển đến tu viện Thabeik Aing và phát nguyện độc cư tại đó cho đến cuối đời.

Tu viện Thabeik Aing nằm dưới chân núi Nwar Labo, gần làng Kyon Ka, cách Kywe Chan khoảng 3 dặm. Nơi đây được gọi là Thabeik Aing (Ao Bát) vì có một hồ nước suối lớn mang hình dáng như một chiếc bình bát. Không gian nơi đây vô cùng mát mẻ và tĩnh lặng với những khe núi và dòng suối nhỏ. Địa thế của tu viện giống như một dãy núi uốn cong hình chữ "P" (ký tự Miến), với cửa thung lũng hướng về phía nhánh sông Salween, đảo Bilu và biển cả. Những dòng thác nước chảy rì rào không dứt.

Tại tu viện này, Ngài Sadaw chỉ ở trong một chiếc chòi nhỏ dựng trên bốn cây cột. Ngài không cho phép bất kỳ sự dọn dẹp hay sửa sang nào làm mất đi vẻ tự nhiên của núi rừng. Ngay cả những đôi dép cao su hay bình bát sơn mài, Ngài cũng không dùng vì còn chút hoài nghi về tính thanh tịnh; thay vào đó, Ngài dùng bình bát bằng thiếc được nung qua dầu mè. Sau khi dùng bữa xong, chính tay Ngài thường cho cá và các loài chim ăn. Trong suốt 6 ngày đầu mới đến, Ngài chỉ thọ dụng cơm trắng mà không có bất kỳ món thức ăn nào kèm theo.

## TRANG 654



### Các loài thú dữ trở nên hiền lành

Đúng như câu nói "Tâm từ của người này chạm đến lòng người kia", giống như trong am thất của Đức vua Vessantara và bà Maddī, các loài thú dữ trong rừng đều trở nên hiền hòa, thì tại tu viện Thabeik Aing của Ngài Sadaw, những loài cầm thú hoang dã cũng trở nên thuần hậu và dễ bảo.

Trên đường đi khất thực, Ngài thường xuyên đối mặt với voi rừng và hổ dữ. Chúng không những không tấn công mà còn chủ động nhường đường cho Ngài. Mọi người dân trong vùng đều chứng kiến sự tương tác kỳ lạ giữa Ngài và muông thú, như thể đôi bên đều thấu hiểu lẫn nhau. Các loài thú hễ Ngài gọi "Lại đây" thì chúng đến, bảo "Đi đi" thì chúng đi. Chúng dường như hiểu được ngôn ngữ của Ngài.

Một số loài chim, voi và thú rừng khác thậm chí còn đến gần để ngửi dép và y áo của Ngài. (Trong phần tiểu sử đính kèm cuốn sách "Đề mục thiền về các đại hiển - Dhātu Kammaṭṭhāna", có ghi chép rất nhiều chi tiết kèm theo ngày tháng cụ thể về việc Ngài tương tác với các loài thú).

Xin trích dẫn một ví dụ điển hình:

Đó là ngày mùng 4 tháng Hai (Kason) năm 1302. Trong khi anh Thwin Linn Maung và những người khác đang lợp mái cho nhà nghỉ (zayat) trong khuôn viên tu viện, họ tiến hành phát quang bụi rậm cách đó khoảng 4 cubit (khoảng 2 mét). Một con hổ mẹ đang nấp trong bụi rậm liền bỏ chạy, để lại một con hổ con. Những người thợ lợp mái không chắc chắn nên mang đến hỏi Ngài Sadaw: "Bạch Ngài, đây là mèo hay hổ ạ?". Ngài Sadaw liền đáp:

"Này các con, loài mèo thì mõm tròn và dài, tai nhọn và dài. Còn con vật này mõm và tai đều ngắn và tròn. Đây chính là hổ con đấy. Thôi, các con cứ mau chóng lợp mái cho xong đi. Hổ mẹ chắc hẳn đang rất lo lắng tìm con của mình." Nói xong, Ngài ôm lấy hổ con và thọ nhận bữa cơm.

Vì thương con, hổ mẹ đã bảy lần mon men tiến vào khuôn viên tu viện. Khi Ngài Sadaw bế hổ con đi giao lại, lúc đến gần khoảng 9-10 cubit (khoảng 4,5 - 5 mét), hổ mẹ nhận thấy con mình đang nằm trong tay Ngài nên nó tỏ vẻ nản lòng, cứ vừa đi vừa ngoái đầu nhìn lại rồi lẩn mất. Mãi đến khi mọi người lợp xong mái nhà và đặt hổ con trở lại chỗ cũ, nó mới dám đến đón con về.

Loài hổ tuyệt nhiên không gây hại gì cho Ngài. Có lẽ là vì trong tâm Ngài vốn không còn sự phân biệt giữa "người và hổ". Đó chính là sức mạnh thực thụ của tâm từ.