## TRANG 673

### Những Vị Thánh Alahan và Bậc Đặc Biệt

Mọi người đều kinh hãi. Họ suy đoán xem có phải do dã thú hay kẻ trộm gây ra không, nên đã kiểm tra vết thương nhưng không tìm thấy bất kỳ dấu vết nào.

“Nhìn tư thế đặt đầu xuống chân giường như thế này, hẳn là Ngài biết mình sắp tịch vì bệnh nên đã tự sắp xếp tư thế cho mình,” mọi người nhận định như vậy khi quan sát xung quanh và thấy những vệt máu trên chõng tre. Họ cũng tìm thấy máu trong ống nhổ đặt ở một góc. Khi đi kiểm tra nơi thường đổ ống nhổ, họ thấy máu đọng lại thành vũng lớn đến mức không nỡ nhìn. Lúc bấy giờ, mọi người mới biết Ngài tịch vì bệnh kiết lỵ ra máu, căn bệnh vốn thường xuyên tái phát nơi Ngài.

Hàng thiện tín nam nữ trong làng lập tức hội họp bàn bạc, rồi đánh điện tín và cử người đi đón Ngài Sayadaw **U Vāsava**. Trước khi Ngài **U Vāsava** đến, họ đã đặt nhục thân Ngài vào quan tài kính.

Khi Ngài **U Vāsava** vừa đến, các cư sĩ thưa rằng đang có sự tranh luận chưa ngã ngũ về việc sẽ quàn nhục thân để cúng dường trong 7 ngày hay 15 ngày. Ngài **U Vāsava** bèn đưa ra tờ di chúc có chữ ký và bút tích của cố Sayadaw. Trước di nguyện đó, không ai dám làm trái, và lễ trà tỳ đã được tổ chức trong vòng ba ngày với một đống củi đơn sơ.

### Ánh Sáng Giáo Pháp

Tại nơi cúng dường cuối cùng trên đồi Thabeik Aing, sau khi quan sát cho đến khi nhục thân hóa thành tro và thu xếp mọi việc ổn thỏa, ba người được cắt cử ở lại trông nom chùa rừng vào ban đêm, số còn lại đều xuống núi.

Lúc ấy, cơn mưa tháng Thawthalin bắt đầu rơi lác đác. Đoàn người đang vừa đi vừa trò chuyện đi xuống núi trong đêm tối không trăng thì bỗng nghe tiếng gọi thất thanh của một người trên chùa rừng, đồng thời nhìn thấy một luồng sáng kỳ lạ. Khi quay lại nhìn lên ngọn đồi, tại nơi trà tỳ, họ thấy một vầng sáng rực rỡ, xanh biếc, sáng hơn bóng đèn thủy ngân gấp nhiều lần, từ từ bay lên không trung về phía đảo Bilu.

Mọi người vội vã chạy ngược lên đỉnh đồi. Khi vừa lên tới nơi, họ lại thấy vầng sáng xanh ấy từ phía đảo Bilu quay trở lại và hạ xuống ngay vị trí trà tỳ. Chứng kiến cảnh tượng hy hữu đó, ai nấy đều kinh ngạc, đồng loạt quỳ lạy khóc nức nở mãi không thôi.

“Có lẽ Ngài đã trở về thăm hang động nhỏ trên đảo Bilu, nơi Ngài bắt đầu xuất gia tu tập,”

## TRANG 674

khi Ngài **U Vāsava** vừa dứt lời, vầng sáng lớn từ nơi trà tỳ vụt bay lên, rồi bay qua bay lại giữa ngọn đồi và đảo Bilu nhiều lần. Mọi người chứng kiến cảnh tượng ấy mà lòng vừa bùi ngùi thương tiếc, vừa hân hoan hỷ lạc.

“Kìa... hãy đến xem chỗ này nữa!” Có tiếng ai đó gọi lớn. Mọi người chạy đến thì thấy tại những nơi có vết máu rơi hay nơi đổ ống nhổ, những tia sáng xanh trong suốt, lấp lánh như những sợi chỉ quang sai, cũng đang đồng loạt bay vút lên không trung.

Ngay tại nơi trà tỳ, mọi người đã tôn trí xá-lợi xương và xây dựng một bảo tháp kỷ niệm mang tên Lwun Zedi (Tháp Tình Thương) cao 12 hắc tay để cầu nguyện. Tiếng chuông gió và tiếng thác nước dường như vẫn luôn vang vọng khúc ca tán dương công hạnh của Ngài.

### Tinh Hoa Pháp Bảo

Ngài Thiền sư rừng Thabeik Aing đã soạn thảo một tác phẩm nhỏ tên là **Sīmākosalla**. Ngoài ra, Ngài còn soạn bộ **“Cūḷasotāpanna-bhāgana Dhātukammaṭṭhāna”** (Pháp hành Nguyên tố để đắc quả Dự lưu phần nhỏ), hay còn gọi là Yogi Nandi. Đây là một tác phẩm rất súc tích và ấn tượng được soạn từ khi Ngài còn trẻ.

Theo lời thỉnh cầu của đại chúng, những bài pháp Ngài thường giảng dạy đã được biên soạn thành sách để ban tặng cho đời.

Tác phẩm này cũng chính là câu trả lời cho câu hỏi: “Ngài đã tác ý vào pháp nào và hành trì như thế nào để đạt được thành tựu?” Bộ sách ấy phản ánh rõ nét trình độ **Pariyatti (Pháp học), Paṭipatti (Pháp hành)** và **Paṭivedha (Pháp thành)** của Ngài. Ngài đã trình bày việc phân tích các nguyên tố (Dhāt) và hơi thở (Ānāpāna) kèm theo các dẫn chứng từ kinh điển một cách dễ hiểu cho người bình dân.

Đối với những điểm quan trọng cần biết về hành trì **Vipassanā (Thiền quán)**, tác phẩm này cung cấp khá đầy đủ. Ngài đã viết một cách minh bạch các ý nghĩa từ kinh điển cũng như những kiến giải sâu sắc có được từ kinh nghiệm hành trì tự thân. Sau đây xin trích dẫn một vài điểm từ tác phẩm đó:

### Tam Tướng (Lakkhaṇā-re)

[ “Các bậc Dự lưu (**Sotāpanna**) và Nhất lai (**Sakadāgāmi**) thấu triệt hoàn toàn về khía cạnh Vô ngã (**Anatta**). Họ chưa thể thấu triệt trọn vẹn về khía cạnh Vô thường (**Anicca**) và Khổ (**Dukkha**).

Các bậc Bất lai (**Anāgāmi**) thấu triệt hoàn toàn về khía cạnh Vô ngã (**Anatta**) và Vô thường (**Anicca**). Họ chưa thể thấu triệt trọn vẹn về khía cạnh Khổ (**Dukkha**).

Bậc Alahan (**Arahat**) có khả năng thấu triệt trọn vẹn và tường tận cả ba tướng ấy.” ]

## TRANG 675

### Chọn Một Pháp Phù Hợp Và Hành Trì Quyết Liệt

Dù là pháp **Samatha (Thiền định)** hay **Vipassanā (Thiền quán)**, hành giả chỉ nên tìm chọn một pháp môn nào mình thấy tâm đắc nhất, thấy rõ ràng và minh bạch nhất với trí tuệ của mình, rồi dốc lòng hành trì pháp đó suốt đời.

“Nên tránh tâm lý phân vân (**Dhammavitatka**) kiểu như: ‘Pháp kia chắc là tốt, pháp này chắc là hay; hay là mình hành pháp kia một chút, rồi thử pháp này một ít’. Kết cục là không nắm chắc được pháp nào, cả pháp kia lẫn pháp này đều lỡ cỡ, chỉ làm lãng phí thời gian trong sự hoài nghi.

Tuy có thuyết nói rằng **Ānāpāna Kammaṭṭhāna (Đề mục Hơi thở)** phù hợp với người có tánh Tầm (Vitatka - hay suy nghĩ), nhưng thực tế nó lại càng phù hợp hơn với những người không có tánh Tầm. Tánh khí không phải là điều tiên quyết. Quan trọng nhất là tâm trí phải minh mẫn để pháp có thể hiện rõ, dễ thấy và dễ biết.”

### Tướng (Nimitta) Thật Và Giả

“Tâm không an định trong thân mà phóng ra ngoài theo các cảnh, rồi suy diễn, tưởng tượng ra các hình ảnh — đó không phải là Nimitta (tướng) thật.”

“Phải để cảnh tự tác động vào tâm để Nimitta hiện khởi.”

“Ví như việc chụp ảnh: tâm phải vững vàng như tấm kính ảnh (phim), còn cảnh phải giống như ánh sáng và bóng đổ chiếu vào để lưu lại hình ảnh. Chỉ khi hiện khởi như vậy thì mới gọi là Nimitta thật.”

### Thần Thông Bay Trên Không

“Mọi người thường mặc định rằng hễ đắc Thiền (Jhāna) là có thể bay lên trời. Nhưng chỉ với việc đắc các tầng Thiền từ **Sơ, Nhị, Tam đến Tứ thiền** thì chưa thể bay được.

**Ngũ thiền** có hai loại: Ngũ thiền thông thường và Ngũ thiền đi kèm với năng lực Thắng trí (Abhiññā). Chỉ với bậc đắc Ngũ thiền có năng lực **Iddhividha Abhiññā (Thần túc thông)** thì mới có thể bay đến nơi mình muốn.”

Có hai cách bay: Một là cơ thể trở nên nhẹ bẫng và bay đi cho mọi người nhìn thấy; hai là bay đi một cách nhanh chóng trong tích tắc, chỉ trong một **Sát-na tâm (Cittakkhaṇa)**, nhanh như chớp mắt mà người thường không kịp nhìn thấy.