## TRANG 682

“Mới sáng nay Ngài vừa vào làng chúng con khất thực, chính con đã dâng vật thực vào bát của Ngài xong đây ạ.” Một nam cư sĩ đã bạch với vị **Tỳ-khưu** (U-pa-zin) giữ cửa như vậy trước khi được vào đảnh lễ Ngài thiền sư. Trong lúc vị **Tỳ-khưu** còn chưa biết trả lời sao thì người cư sĩ đó lại tiếp tục:

“Thậm chí con còn hỏi cậu tiểu đi theo sau Ngài thiền sư rằng tên là gì, con cái nhà ai nữa cơ.”

“Thế cậu bé đó trả lời sao?” Vị **Tỳ-khưu** hỏi lại.

“Con cũng chẳng rõ, nó bảo nó tên là Maung Pauk Si, con của chú Tin Phay và cô Tin Ngwe.” Nghe khách thuật lại rành mạch như vậy, vị **Tỳ-khưu** chợt nhớ ra điều gì đó, liền gọi ngay chú tiểu Maung Pauk Si đang chạy chơi gần đấy lại hỏi xem sáng nay có đi đâu không, chú tiểu thưa rằng sáng giờ chẳng đi đâu cả.

Mọi người đều nảy sinh nghi vấn nhưng không ai tìm được câu trả lời. Họ cùng nhau tha thiết cầu xin vị **Tỳ-khưu** hộ tự cho phép được đảnh lễ Ngài thiền sư. Cuối cùng, vị **Tỳ-khưu** đành phải vào phòng đỡ Ngài thiền sư đi ra.

Các hàng thiện nam tín nữ mục kích cảnh ấy đều suy đoán theo cách của người phàm phu: “Đúng như chúng ta nghĩ rồi. Chắc chắn những lời đồn Ngài là bậc A-la-hán là sự thật.” Với tâm niệm cung kính như vậy, họ đã đảnh lễ Ngài. Ngài thiền sư chỉ thuyết giảng ngắn gọn một vài câu Pháp thoại.

Tại các ngôi làng xa xôi khác, những tin đồn về việc Ngài thường xuyên đi khất thực như vậy cũng hay xảy ra. Khi các đệ tử gặng hỏi thực hư, Ngài thiền sư chỉ đáp rằng:

“Đó là do tâm hướng đến (ā-rum nyut khae thi - *hướng tâm*).” Câu trả lời này thật sự rất thú vị. Nó cho thấy đây không phải là do chư Thiên đánh thức hay thúc giục. Qua đó ta thấy rằng, một cái tâm có năng lực của **Giới** (**Sīla**) và **Định** (**Samādhi**), chỉ cần một sát-na hướng tâm thôi thì hiệu quả có thể đi xa đến dường nào; chúng ta nên suy xét điều này để tu tập **tâm Từ** (**Mettā-bhāvanā**) và các pháp môn khác.

**Chỉ người biết mới biết được**

Hai ngày sau khi Ngài thiền sư viên tịch, phân và nước tiểu vẫn thoát ra ngoài như một người đang sống bình thường, khiến các đệ tử phải lau dọn. Ngài cũng đã di huấn rằng không được hỏa thiêu mà hãy đưa kim quan vào trong tháp mộ (gū).

Trong tập tiểu sử có ghi lại rằng, nhục thân của Ngài vẫn mềm mại, các khớp tay chân có thể co duỗi cử động bất cứ lúc nào, và tóc của Ngài vẫn phải được cạo định kỳ.

## TRANG 683

**THIỀN SƯ MOGOK - (1261 - 1324)**

“Đức Phật dạy rằng, người có đầy đủ của cải vật chất, con cái đầy đàn thì cũng giống như ‘một con quạ ngậm được một miếng thịt’.”

“Miếng thịt ấy con quạ này muốn ăn, con quạ kia cũng muốn ăn. Tất cả lũ quạ sẽ cùng xúm lại đuổi theo con quạ đang ngậm thịt để mổ, để mổ, để rỉa, để tranh giành. Lúc đầu nó có bị mổ không? Hay chỉ khi có miếng thịt mới bị mổ? Vốn dĩ chúng là bạn bè với nhau cả thôi. Nhưng giờ đây nó phải chịu đựng đến mức nào? Chịu đựng đau đớn cho đến khi miếng thịt rơi khỏi miệng mới thôi. Khi buông miếng thịt ra rồi thì chúng không mổ nữa, mà lại đuổi theo con quạ vừa giành được miếng thịt đó để tiếp tục mổ, tỉa.”

**Thấu hiểu sự đời nên giảng dạy không khoan nhượng**

“Việc dính mắc vào bản thân, dính mắc vào của cải, dính mắc vào vợ chồng con cái, nhà cửa... chính là đang ngậm miếng thịt trong miệng vậy. Thế nên khi chính phủ bảo: hãy đóng thuế nhà, hãy đóng thuế thu nhập, chẳng phải là ‘bị mổ’ rồi sao?

Bọn trộm cướp cũng luôn rình rập, chỉ cần sơ hở là chúng giết người đoạt của; nếu không buông bỏ được thì phải mất mạng thôi. Đó là vì các vị đang ngậm chặt miếng thịt với cái chấp **Thân kiến** (**Sakkāya-diṭṭhi**) rằng ‘đây là của tôi’. Vì cho rằng ‘của tôi’ nên không thể đưa ra được. Chẳng phải là bắt đầu nghĩ cách lừa gạt chính phủ, đưa tiền hối lộ sao?

Khi cửa tiệm lớn mạnh lên, bên này ghét, bên kia không ưa, rồi mổ, rồi rỉa, chẳng phải các vị đang phải chịu đựng đó sao? Tại sao phải chịu đựng như vậy? Do số đen, do không gặp thời, hay là do không chịu buông bỏ?

Thời gian các vị đang sống hiện nay chính là đang u mê chấp nhận cái chết. Hàng xóm thì ghét bỏ. Những người mình quan tâm chăm sóc thì lại làm khổ mình, phản bội mình. Vết thương lòng cứ thế lớn dần lên. Các vị có nhận ra không?

Cho vay nợ rồi phải chạy đôn chạy đáo đi đòi. Người bán hàng thì phải dòm chừng vì sợ người quen lén lút lấy đồ. Cuộc sống của các vị thật quá hỗn loạn.

Thậm chí, ngay cả việc đi làm phước, nếu không cúng dường đúng mức độ tương xứng với đẳng cấp của mình thì cũng ‘bị mổ’ (bị dị nghị). Thậm chí khi đi viếng đám tang, người đáng ra phải giúp 10 đồng mà chỉ giúp 5 đồng thì người ta chẳng buồn ghi vào sổ. Lại tiếp tục bị mổ rỉa.

Vậy có lúc nào các vị thoát khỏi cảnh bị mổ rỉa này không?”

## TRANG 684

Ngài thiền sư thường chỉ ra rất rõ ràng về tập quán **Thân kiến** (**Sakkāya-diṭṭhi**) của con người, cố gắng tháo gỡ những dính mắc ấy càng nhiều càng tốt. Ngài không kiêng nể bất kỳ ai, dù là người có địa vị cao sang đến đâu. Ngài luôn nói thẳng, nói thật, chỉ tận tay day tận trán.

Trước khi bắt tay vào thực hành Thiền quán (Vipassanā), Ngài luôn ưu tiên gọt tỉa các tà kiến (**Diṭṭhi**) vốn đã bám sâu từ bao đời trong vòng luân hồi. Ngài quan niệm rằng chỉ có như vậy thì hành trình tu tập mới đạt được kết quả. Ngài nhận định: “Nếu không đoạn trừ các **Diṭṭhi** này mà đã tu tập **Vipassanā** thì chỉ là **Dubbalavipassanā** (Vipassanā yếu ớt), không thể đắc được **Đạo Quả** (**Magga-Phala**). Sở dĩ có sự chấp thủ vào **Diṭṭhi** đó là do không thấu hiểu **Thập Nhị Nhân Duyên** (**Paṭiccasamuppāda**).” Vì vậy, để đoạn trừ **Diṭṭhi**, Ngài tập trung thuyết giảng lặp đi lặp lại về **Thập Nhị Nhân Duyên** cho đến khi thấm nhuần vào tai người nghe. Chỉ với **Nghiệp tự hữu trí** (**Kammassakatā-ñāṇa**) thì chưa thể đoạn trừ được **Ngã kiến** (**Atta-diṭṭhi**), chỉ khi đạt đến trình độ của Tuệ giác (Ñāṇa) thì mới có thể đoạn trừ được; do đó Ngài luôn chú trọng làm sạch nội tâm trước khi thực hành. (Kinh **Sammādiṭṭhi-sutta** - Chánh Kiến).

Theo phong cách của Ngài, một số đệ tử cũng viết và nói rằng: “Chỉ ghi nhận ‘đi, đứng’ thôi thì không thể đắc đạo. Phải hiểu rõ **Thập Nhị Nhân Duyên**, phải quán sát được sự Sanh - Diệt thì mới xong việc.”

Tuy nhiên, chân lý của giáo pháp vốn rất tinh tế, không nên chấp thủ một cách cứng nhắc. Công việc hành thiền **Vipassanā** phải bắt đầu dựa trên Chế định (**Paññatti**). Trước hết phải bước lên những bậc thang của **Thiền chỉ** (**Samatha**). Phải bóc lớp vỏ trước thì mới lấy được phần thịt bên trong. Việc ghi nhận “đi, đứng” chính là quá trình bóc vỏ. Nếu bóc vỏ nhiều lần thì không thể không thấy được phần thịt. Thời đại ngày nay cũng là lúc chúng ta có thể dễ dàng tiếp cận được những lời giáo huấn và kiến thức để thấu triệt sự Sanh - Diệt của Danh - Sắc.

Thậm chí các vị bậc học giả uyên bác cũng phải ngợi khen rằng: “Chỉ sau khi xem sách pháp bảo của Thiền sư Mogok, tôi mới thấu hiểu được giáo lý **Thập Nhị Nhân Duyên**.”

Vào thời vua Milinda, tuy có rất nhiều vị **A-la-hán**, nhưng dường như chỉ có Tỳ-khưu Nāgasena là người có thể giải đáp các nghi vấn bằng những ẩn dụ, ví dụ và lý luận logic xác đáng nhất. Trong việc thuyết giảng giáo pháp thâm diệu, Ngài thiền sư chính là bậc “**Shin Kumāra Kassapa** của Myanmar thời đại này”; đừng nói đến việc tìm người siêu việt hơn Ngài, ngay cả người tương tự như Ngài cũng thật khó tìm thấy.

**Thường kiến và Đoạn kiến**

“**Thường kiến** (**Sassata-diṭṭhi**) và **Đoạn kiến** (**Uccheda-diṭṭhi**), trong tâm khảm của các vị, nếu không có cái này thì cũng sẽ có cái kia, hãy tự mình quán xét kỹ lưỡng xem.

Những người có **Thường kiến** thì tin tưởng rằng có kiếp này, kiếp sau. Tin vào câu ‘Làm gì được nấy’, tin vào **Nghiệp** và **Quả của nghiệp**. Họ cũng làm các việc công đức. Tuy nhiên...”