## TRANG 685

Nếu bảo bây giờ hãy đi đến Niết-bàn ngay thì họ không thích. Họ chỉ muốn ẩn mình trong vòng luân hồi (bhava). Họ còn muốn hưởng thụ phước báu nhân thiên cùng với con cái, cháu chắt này.

Quý vị đã nhận ra ai là người xúi giục đưa ra những lời nguyện này chưa?

“Hà... chết ngày nào hay ngày đó, chết là hết (thế là yên), chẳng mong đợi kiếp này kiếp khác nữa.” Đây là tiếng nói xuất phát từ **Đoạn kiến (Uccheda-diṭṭhi)**. Còn có người thì biết rõ là có kiếp sau, kiếp khác; cũng tin vào nghiệp và quả của nghiệp, nhưng lại không làm việc phước thiện (kusal). Hoặc khi làm phước thì thường làm một cách tạp loạn (không thuần khiết). Thế nhưng, khi được gặp Phật, họ có thể từ bỏ tà kiến của mình rất nhanh chóng, không khó khăn như những người chấp vào không kiến.

“Trong tâm quý vị đang có một cái gì đó đấy nhé. **Thường kiến (Sassata-diṭṭhi)** là cái gốc của sự tăng trưởng 'cái tôi' (ngã); **Đoạn kiến (Uccheda-diṭṭhi)** là cái gốc dẫn đến sự tăng trưởng của địa ngục. Quý vị phải đi theo con đường Trung đạo. Nếu thấy được sự sanh (phát khởi) thì đoạn trừ được **Đoạn kiến**. Nếu thấy được sự diệt thì đoạn trừ được **Thường kiến**.

“**Xúc duyên Thọ (Phassa-paccayā Vedanā)**”. Va chạm, cầm nắm gọi là “**Xúc (Phassa)**”. Cảm thấy mềm mại, tốt lành gọi là “**Thọ (Vedanā)**”. Chẳng phải nhân và quả của nó đang vận hành đó sao? Ăn thấy ngon là “**Thọ**”, từ đó muốn mặc lại cái đó, muốn ăn lại cái đó là “**Ái (Taṇhā)**”. Khi biết rõ rằng do **Xúc** mà có **Thọ**, do **Thọ** mà có **Ái**, thì chẳng phải đã đoạn trừ được **Đoạn kiến** hay sao?

“Khi **Xúc** diệt thì **Thọ** diệt. Khi cái chạm (xúc) chấm dứt thì cái đau cũng chấm dứt. Khi biết rõ sự đoạn diệt như vậy, chẳng phải đã đoạn trừ được **Thường kiến** hay sao?

“Ngài Chanda vì vướng vào **Thường kiến** này nên dù đã thực hành quán chiếu **Vô thường (Anicca) - Khổ (Dukkha) - Vô ngã (Anatta)** suốt 45 năm mà vẫn không đắc Pháp, quý vị đã hiểu rõ chưa? Khi biết rằng cái gì đáng sanh thì sanh, cái gì đáng diệt thì diệt, thì đừng lo âu nữa, đó chính là lúc **Tuệ Minh Sát mạnh mẽ (Balava Vipassanā)** phát khởi.”

Tại điểm này, có thể nói rằng Ngài Thiền sư thường thuyết giảng nhấn mạnh rằng: “Nếu hành thiền mà không rời bỏ được **Thân kiến (Sakkāya-diṭṭhi)**, **Thường kiến**, **Đoạn kiến**, nếu hành thiền khi chưa hiểu rõ **Thập Nhị Nhân Duyên (Paṭiccasamuppāda)**, thì dù có hành cả đời cũng không thể đắc được **Đạo quả Niết-bàn**.” Ngài cũng thuyết giảng rất kỹ về ý nghĩa của ba loại **Biến tri (Pariññā)**.

Thật ra, không nên quá chấp chặt vào ví dụ về Ngài Trưởng lão Chanda, bởi vì trong Giáo pháp, Ngài Chanda chỉ là một ví dụ điển hình liên quan đến **Thường kiến**. Sự hiểu biết có được qua việc nghe pháp trước đó cũng chỉ mới dừng lại ở mức **Văn tuệ (Sutamaya-paññā)**; chân lý thực sự chỉ được đoạn trừ và chứng ngộ khi bắt tay vào thực hành. Không nên nhận định hay chấp thủ một cách cứng nhắc.

Cần hiểu rằng dụng ý của Ngài Thiền sư khi thuyết như vậy là để các hành giả đoạn trừ sự dính mắc, ham thích trong ba mươi mốt cõi, từ đó khiến cho **Văn tuệ về sự nhàm chán (Sutamaya Saṃvega-ñāṇa)** và tuệ giác về nhân quả trở nên sắc bén, giúp việc hành thiền dễ dàng đạt được kết quả.

## TRANG 686

Ý nói là hành giả phải quán chiếu để thấy rõ những lỗi lầm, khiếm khuyết của bản thân, giữ cho “thân chung nhưng tâm rời” (sống giữa đời nhưng tâm không dính mắc), không để lại bất kỳ sự luyến tiếc hay ràng buộc nào, giữ tâm hoàn toàn giải thoát, tự tại. Khi nghe pháp mà tâm còn lo lắng về đôi dép, chiếc ô hay đứa trẻ, hoặc cảm thấy nản lòng vì sự bất tiện của những người xung quanh, thì việc nghe pháp sẽ không mang lại kết quả. Đây chỉ là bước “dọn dẹp vệ sinh trước khi làm việc” mà thôi.

Chúng sanh vốn dĩ có tham, sân, si và ngã mạn rất lớn. Chính vì thế, trước khi truyền dạy một “**Đề mục hành thiền chính (Mūla-kammaṭṭhāna)**”, cần phải truyền dạy trước các đề mục như **Niệm Phật (Buddhānussati)**, **Tâm từ (Mettā)**, và **Niệm sự chết (Maraṇānussati)**. Đó chính là việc dọn dẹp rác rưởi trước để cỗ xe Bát Chánh Đạo có thể lăn bánh.

Ngài Thiền sư vốn là người có tài hùng biện và năng lực thuyết giảng xuất chúng, nên ngay cả trước khi truyền dạy đề mục chính hay các đề mục chuẩn bị, Ngài đã có thể dùng lời thuyết pháp của mình để giúp hành giả tạm thời đoạn trừ được tham, sân, si và ngã mạn. Ngay khi hành giả bị cuốn hút vào lời thuyết giảng, Ngài liền dẫn dắt họ vào lộ trình thực hành **Kammaṭṭhāna**, giúp các hành giả đạt được những bước tiến rất xa.

Đây chính là ý nghĩa của hạng người “phải được diễn giải chi tiết mới chứng đắc (Vipacitaññū)”. Các thế hệ sau nếu đọc được các cuốn sách pháp của Ngài cũng sẽ gặt hái được rất nhiều lợi lạc. Hãy cố gắng tìm đọc.

Theo chú giải kinh **Đa Giới (Dhātuvibhaṅga Sutta)** trong bộ **Uparipaṇṇāsa**, vua Pukkusāti ở thành Takkasilā sau khi nghe tin tức về pháp **Niệm hơi thở (Ānāpāna)** từ vua Bimbisāra thành Rājagaha, dù chỉ qua sách vở kinh điển nhưng đã thử thực hành và đắc đến Đệ Tứ Thiền ngay giữa các cung phi của mình, và cuối cùng đắc quả **A-na-hàm (Anāgāmī)**.

Chính việc mong muốn được đọc những dòng chữ này cũng đủ để tin rằng bản thân mình là người có ba-la-mật (pāramī).

### Bậc cao nhân xuất thế cùng với các điềm báo

Thiền sư Mogok là một bậc hữu công ba-la-mật đặc biệt trong việc thuyết giảng. Ngay từ khi còn nhỏ, Ngài đã có khả năng diễn đạt và thuyết pháp vượt xa độ tuổi của mình. Ngài từng thay mặt vị sư trụ trì để truyền giới, hồi hướng và thuyết pháp cho các thiện nam tín nữ trong các ngày giới lễ.

Bậc thánh tăng tương lai được sinh ra tại làng Uyin Taw, nằm bên kia sông Doke-hta-waddy, thuộc thị xã Myit Nge, huyện Mandalay. Ngôi làng này vốn là khu vườn thượng uyển trồng đủ loại cây trái từ thời vua Bodawpaya, được gọi là “**Mahāsīrinandavan**”.

Ngài sinh vào Thứ Tư, ngày 11 sau trăng rằm tháng Nat-daw năm 1261 (Miến lịch), vào lúc 2 giờ 30 phút sáng. Phụ thân là ông U Aung Tun, mẫu thân là bà Daw Shwe Eik. Tên thuở nhỏ là

## TRANG 687

“Maung Hla Baw”, là người con thứ năm trong gia đình có tám người con. Ở các bậc vĩ nhân thường xuất hiện những sự kiện phi thường.

Khi bà mẹ mang thai vị thánh tử này, bà đã nằm mộng thấy “một người mặc y trắng thanh khiết đi vào bào thai mẫu thân”. Do uy đức của thai nhi, người mẹ nảy sinh những mong muốn (nghén) rất đặc biệt: bà muốn giữ giới, muốn đọc và nghe kinh điển, muốn nghe pháp và thuyết pháp. Vì vậy, cho đến lúc sinh nở, người mẹ luôn giữ gìn cửu giới và dành thời gian cho kinh kệ, pháp bảo.

Ngay từ thuở ấu thơ, vị thánh tăng tương lai đã có phong thái điềm tĩnh, nề nếp. Ngài không bao giờ gây gổ hay giận dữ. Năm 4 tuổi, Ngài được gửi vào học tại trường tiểu học làng Uyin Taw với hiệu trưởng là ông U San Ya. Sau khi tốt nghiệp lớp 4, vào năm 9 tuổi, Ngài xuất gia sa di với vị Thiền sư chùa Gway Pin Taw Ya. Pháp danh là “**Shin Vimala**”. Ngài nỗ lực học tập các kiến thức căn bản như **Ngữ pháp (Saddā)**, **Vi Diệu Pháp (Saṅgaha)** và hoàn thành xuất sắc các bổn phận của một đệ tử đối với thầy. Ngài thuyết giảng rất hay, đức độ sáng ngời nên mọi người thường gọi Ngài là “Sa di **Sīvalī**”. Với dung mạo ưu tú và sự vẹn toàn trong mọi việc, Ngài nhận được sự nâng đỡ đặc biệt từ vị thầy của mình.

Một ngày nọ, khi sa di **Vimala** đang gấp y đặt trên giá treo y, chẳng bao lâu sau, một đàn ong bay đến đậu kín và làm tổ ngay trên chiếc y đó. Mọi người đều tiên đoán rằng: “Đây là vị sa di sau này sẽ vô cùng xuất chúng và nổi danh.”

Năm 14 tuổi, do sự vòi vĩnh của người em họ là sa di Canda (nay là ông U Ba Yin) muốn sang bên kia sông hái ngô, sa di **Vimala** đã tự mình chèo thuyền đưa sa di Canda băng qua sông. Không ngờ, chiếc thuyền trôi vào một vùng xoáy nước cực kỳ nguy hiểm. Đó là vùng nước xoáy mà không một con thuyền lớn nhỏ nào dám băng qua. Các vị sa di nhỏ tuổi vì không biết nên đã đi vào đó.

Những người dân ở hai bên bờ sông chứng kiến cảnh tượng đó, ai nấy đều hốt hoảng nghĩ rằng hai vị sa di cùng con thuyền nhỏ sẽ bị xoáy nhấn chìm. Họ la hét vang trời và chèo thuyền ra cứu mạng. Trước sự ngạc nhiên của những người cứu hộ, hai vị sa di vẫn thản nhiên chèo thuyền và đáp lại: “Thuyền của chúng tôi có sao đâu, vẫn êm ru mà.”

Phải chăng vì đây là bậc sau này sẽ chèo lái đưa người vượt qua vòng xoáy luân hồi (saṃsāra) một cách dễ dàng, nên cái xoáy nước Doke-hta-waddy kia bỗng trở nên phẳng lặng trước con thuyền nhỏ? Sa di **Vimala** vẫn giữ phong thái uy nghi, lướt nhẹ mái chèo đưa thuyền cập bến bờ bên kia.

Dù gặp phải những đại nạn nguy kịch đến tính mạng, nhưng nếu là bậc sẽ đắc được đặc biệt pháp trong kiếp này thì chắc chắn không có lệ phải chết. Đó chính là minh chứng cho năng lực ‘**Tuệ biến mãn thần lực (Ñāṇavipphāra-iddhi)**’ mà chúng tôi đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần.
