## TRANG 697

“Này Maung Ba Tote, ta muốn thấy con đường này được tu sửa thật tốt đẹp thêm lần nữa trước khi đi, hãy mau chóng chú tâm sửa sang đi.” Sư trưởng thường dạy những lời lạ lùng như thế.

Một đêm nọ, trong khi năm người đệ tử đang hộ độ lễ bái:

“Này Maung Hla Bu, có một con rắn trong phòng của ta, con hãy bắt nó rồi đem thả ở nơi an toàn.” Khi nghe lời Sư dạy, họ tìm khắp cửa phòng nhưng chẳng thấy đâu. Lúc bấy giờ, vị Sư trưởng lại dạy:

“Con không thấy con rắn này sao? Nó ở ngay cái vòng tay nắm cửa đó.” Cả năm người đệ tử đang hộ độ đều không ai nhìn thấy con rắn ấy cả.

Đến khi ông U Hla Bu đến nhìn sát vào vòng tay nắm cửa thì mới thấy con rắn đang phồng mang. Thấy toàn thân nó đỏ rực, ngay cả ông U Hla Bu (người vốn giỏi về thuốc thang trị độc) cũng phải giật mình kinh hãi. Đó chính là loài rắn thần (Hgwe Pyada), một loài cực kỳ quý hiếm và có nọc độc khủng khiếp. Ông U Hla Bu phải bắt nó bỏ vào một chiếc hũ rồi mới đem đi thả.

Về sau ngẫm lại, cánh cửa vốn rất trơn láng, họ không thể hiểu nổi bằng cách nào mà con rắn có thể leo lên được. Thực chất, con rắn đó chính là một vị Long vương. Có lẽ vua Rồng đã thay mặt Ma vương đến để thỉnh mời Ngài (về cõi trời).

### Thuyết pháp về việc thoát khỏi nghi thức cúng dường người chết (Pháp Tháp-bát-tuất-lộ)

Cũng trong tháng Tawthalin, Ngài gọi người hộ độ thân cận là ông U Kyaw Thein (người viết tiểu sử này) và bảo:

“Này Maung Kyaw Thein, con có việc gì thì cứ đến đây ở lại.” Ngài ra lệnh cho ông phải đốc thúc hoàn thành sớm các công trình đang xây dựng trong chùa. Ngài đi kiểm tra một vòng quanh chùa, điều mà trước đây Ngài chưa từng làm.

“Ta muốn thấy tất cả những công trình này được hoàn thiện và sắp đặt ngăn nắp trước khi ta đi,” Ngài dạy như thế nên mọi người đều ra sức làm việc. Lúc ấy, Sư trưởng vẫn còn rất khỏe mạnh, hồng hào. Mọi người cứ ngỡ Ngài sắp đi Yangon.

Vào ngày rằm tháng Thadingyut, khi thuyết pháp Ngài dạy rằng: “Hãy ghi nhớ rằng, khi tháng Thadingyut qua đi cũng chính là lúc cái chết đang cận kề.”

“Với những người đã thấu đạt chân lý (Saccā), liệu có còn cần đến nghi thức cúng dường thực phẩm sau khi chết (Soon-thut) nữa không? Hãy tự làm cho mình thấu hiểu; nếu đã hiểu rồi thì hãy dặn dò người nhà rằng: ‘Khi tôi chết, đừng có làm lễ cúng dường thực phẩm cho người chết nữa. Đừng để đến lúc chết rồi mới phải chịu hổ thẹn’.” Ngài chỉ ra sự đáng sợ của cái chết và gọi đó là “Pháp hãy nhớ để thoát khỏi nghi thức cúng dường người chết”.

## TRANG 698


“Giả sử như không thể tránh khỏi việc phải đặt xác chết (asubha) này trên ngôi chùa này, thì từ cái xác này sẽ còn gì thoát ra nữa? Chỉ có đại tiện thoát ra, tiểu tiện thoát ra. Cử động cũng là bất tịnh (asubha), ngồi yên cũng là bất tịnh. Khổ đế (Dukkha Sacca) đã hiển lộ chưa?” Ngài đã thuyết như vậy trong bài pháp ngày rằm. (Ý Ngài muốn dặn rằng: “Khi ta chết, đừng làm lễ cúng dường người chết, cũng đừng để lâu ngày.”)

Vị Sư trưởng vẫn thuyết pháp một cách đầy nhiệt tâm. Vào ngày mùng 2 sau ngày rằm, Ngài dành ưu tiên đặc biệt để thuyết giảng cho các vị (cựu Bộ trưởng) gồm ông Myaungmya U Tin, U Aung Zan Wai và U Than Maung (biệt danh Kyar Pyan), Ngài dạy:

“Các vị cũng đã già rồi, Bần tăng cũng đã già rồi. Sau này, Giáo pháp (Sāsana) này sẽ không còn nữa, sẽ mất đi. Nếu hỏi tại sao nó biến mất, thì vì đã đến lúc nó phải mất vậy. Chuyến tàu đã sắp khởi hành rồi. Chỉ còn kịp lúc để bám theo thôi.” (Cụm từ “Giáo pháp này” ở đây là Ngài đang ẩn dụ nói về chính bản thân mình).

Đến ngày mùng 4 là lễ xuất gia và dâng y Kaṭhina, nên từ ngày mùng 3, Ngài đã làm lễ hồi hướng và thuyết pháp rất tận lực. Đêm hôm đó, Ngài bảo những người hộ độ:

“Ngày mai hễ có việc gì ở nhà cũng đừng có ai vắng mặt tại chùa.” Khi nghe lời này, những người đệ tử thân cận như ông U Hla Bu càng thêm phần bối rối và lo âu.

### Tiếng nói và ánh sáng kỳ lạ

Nhóm ông U Hla Bu là những người ngủ ngay phía ngoài căn phòng nơi Sư trưởng nghỉ ngơi. Vào khoảng 12 giờ đêm ngày mùng 1 sau ngày rằm, họ nghe thấy tiếng Sư trưởng đang trò chuyện với ai đó nhưng nghe không rõ lời. Trong lúc đang lắng tai nghe, họ vô cùng kinh ngạc khi thấy những luồng ánh sáng rực rỡ phát ra từ trong phòng của Ngài. Vì vậy, ông U Hla Bu dặn những người hộ độ đêm sau phải chú tâm canh trực và đừng ngủ quên. Vào khoảng 12 giờ đêm hôm sau, họ lại nghe thấy tiếng trò chuyện và nhìn thấy ánh sáng rực rỡ y như đêm trước.

“Bạch Thầy, Thầy đang trò chuyện với ai vậy ạ? Lúc nãy chúng con còn thấy cả ánh sáng rực rỡ nữa,” họ bạch hỏi.

Sư trưởng chỉ dạy: “Này Hla Bu, con biết rồi mà.” Khi họ nhìn vào phòng, vẫn thấy Sư trưởng đang ngồi thiền như thường lệ. Nhóm của ông U Hla Bu ai nấy đều vô cùng hoang mang, không thể lý giải nổi.

Vào ngày mùng 4, ông U Chit Hla và phu nhân từ thành phố Mogok đã đến dự lễ xuất gia và dâng y Kaṭhina, khiến các nhà nghỉ (zayat) trong khuôn viên chùa đều chật kín khách. Đêm ngày mùng 3, các vị khách cùng một số người dân trong thành phố cũng nhìn thấy một quả cầu lửa lớn...

## TRANG 699

...rơi xuống ngôi chùa của Ngài, rồi ngay sau đó một luồng ánh sáng rực rỡ lại vụt bay lên. Ông U Hla Bu lại bạch hỏi Sư trưởng lần nữa, nhưng Ngài chỉ đáp:

“Này Hla Bu, con đã biết rõ rồi mà còn hỏi đi hỏi lại mãi. Thời gian không còn bao nhiêu nữa đâu.” Dù trong lòng vẫn còn nhiều thắc mắc nhưng ông U Hla Bu không dám hỏi thêm, đành lủi thủi đi ra khỏi phòng.

Sư trưởng sắp xả bỏ thân xác này rồi. Dường như chư Thiên và Phạm thiên cũng đang vân tập về để đảnh lễ và nghe pháp lần cuối.

### Ngày cuối cùng của vị Sư trưởng

Đây chính là ngày cuối cùng của Ngài. Thứ Tư, ngày mùng 4 sau ngày rằm tháng Thadingyut năm 1324 (Miến lịch).

Vì có lễ xuất gia và dâng y Kaṭhina nên hôm nay là ngày náo nhiệt nhất tại tu viện Mangala với sự hiện diện của đông đảo chư Tăng và Phật tử. Mọi người đang tất bật nấu nướng, chuẩn bị cho buổi lễ. Sư trưởng đã làm lễ hồi hướng trước từ ngày hôm qua và đã thuyết pháp suốt một giờ đồng hồ.

Lúc 5 giờ sáng, hai nữ thí chủ là Daw Tin Hla và Daw Kumara pha ngũ cốc (Quaker Oats) đem vào chùa dâng Ngài.

“Này Tin Hla, hãy sửa soạn giường chiếu cho ta,” Ngài sai bảo vào một thời điểm lạ lùng chưa từng thấy, khiến cô thí chủ vô cùng kinh ngạc. Cô chỉ nghĩ rằng vì đông người ồn ào và mệt mỏi nên Ngài muốn nghỉ ngơi.

“Tin Hla, các con còn trẻ, các con đang phải bơi lội giữa đại dương bao la không thấy bờ. Hãy nỗ lực để có thể chịu đựng được những biến động của cuộc đời (Loka-dhamma). Trong khi đang trôi dạt, nếu may mắn gặp được cái cây bên bờ, các con sẽ bám chặt vào đó để nương tựa, nhưng nếu cái cây đó là một cây đại thụ già cỗi đã bị sóng đánh bật gốc thì nó sẽ đổ ập xuống đè lên các con thôi.” Sau khi dạy như thế, Ngài bảo cô gọi chồng cô là ông U Kyaw Thein, người hộ độ thân cận, đến gặp Ngài.

Khi người hộ độ nhỏ đến nơi...

“Ái chà... về chuyện chi dùng, ăn uống thì ai nấy cũng đều có đủ theo phước phần của mình rồi, vậy là đủ rồi. Các con tìm kiếm tiền tài thực chất là tìm cái để phung phí mà thôi. Đừng có luyến ái vào tài sản vật chất của mình, hãy dùng trí tuệ mà từ bỏ, sóng gió cuộc đời sẽ ập đến đấy. Dù ta không còn ở đây, nhưng vẫn còn những băng đĩa ghi âm bài pháp của ta. Hãy nỗ lực mà lắng nghe.” Ngài dạy những lời tuy khó hiểu nhưng không ai dám hỏi lại. Diện mạo và giọng nói của Ngài vẫn bình thường như trước, khiến không ai nghĩ rằng có chuyện gì sắp xảy ra. Sau đó, ông trở về kể lại sự việc cho ông U Thar Saing (người hộ độ kỳ cựu đã theo hầu Ngài từ lâu)...