## TRANG 700


Khi được bạch kể lại, Ngài chỉ đưa ra lời nhận xét: “Vậy là thiền sư sắp đi Yangon rồi đó.” Quả thực, Ngài sắp sửa khởi hành về cõi Yangon (về nơi an nghỉ cuối cùng).

Sau khi thọ dụng món ngũ cốc (Quaker Oats), Ngài thay y và ngự đến dự lễ cúng dường vật phẩm Katina. Tại tu viện Maṅgalā, gia đình ông U Chit Hla và bà Daw Thaung từ Mogok đã chuẩn bị cúng dường ngọ trai cho hai trăm vị Tăng nhân dịp lễ xuất gia của con trai và lễ Katina, bắt đầu từ 6 giờ sáng. Ngài không thọ thực, mà chỉ ngồi im lặng bên cạnh các vị Đại Trưởng lão trong trạng thái định tĩnh hướng về Giáo Pháp.

Sau khi chư Tăng thọ thực xong, đích thân Ngài đã đi đến từng vị Đại Trưởng lão để dâng cúng các lễ vật. Khi các vị Trưởng lão cao hạ chuẩn bị ra về, Ngài đã từ trên lầu bước xuống, dìu từng vị một ra tận xe với thái độ cung kính, hân hoan. Ngài cứ đi đi lại lại, niềm nở tiễn biệt từng vị cho đến khi tất cả đã rời đi.

Khi buổi lễ kết thúc, Ngài gọi người đệ tử lớn là U Hla Bu rồi đi về phía hành thiền viện. Ngài phán: “Chà... cái thân ngũ uẩn này của ta giờ nặng nề quá rồi.” U Hla Bu không hiểu ý nghĩa thâm sâu của lời nói ấy nên đã thưa hỏi lại. Ngài chỉ mỉm cười và phán: “Con thật là đứa khờ khạo quá đi.”

Sau đó, Ngài truyền bảo bà Daw Tin Hla đến dâng cà phê. Khi bà đến, vừa thọ dụng cà phê, Ngài vừa hỏi: “Này Tin Hla, dạo gần đây con có nằm mộng thấy điều gì lạ lùng không?” Bà bạch rằng: “Con thấy Ngài đang hành thiền bên cạnh một bảo tháp lớn trong thiền viện. Bỗng nhiên từ bảo tháp bốc lên một làn khói, rồi từ phần đai tròn, bảo tháp bắt đầu sụp đổ dần xuống. Dù bảo tháp đổ sập lên người Ngài, nhưng Ngài vẫn bình an vô sự, không hề hấn gì.”

Ngài phán: “Hơ... giấc mộng của con thật là chuẩn xác. **Pubba-nimitta** (điềm báo trước) thường hiển hiện như vậy đó. Hãy nỗ lực hành thiền thật tinh tấn để có được sức chịu đựng giống như ta.” Nói đoạn, Ngài bảo: “Chờ ta một lát,” rồi đi vào trong phòng. Lát sau, Ngài trở ra, tay cầm bộ y vừa thay (gồm y nội, y vai trái và y tăng-già-lê (saṅghāṭi)).

Ngài trao cho bà: “Đây, con hãy mang bộ y này về tăng xá, giữ gìn cẩn thận, đừng giặt giũ gì cả.” Bà Daw Tin Hla lòng đầy hoang mang, chẳng dám thưa hỏi điều gì, lẳng lặng nhận lấy bộ y mang về xá của mình.

Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày hôm đó, Ngài thọ dụng cà phê và súp. Ngài còn cho phép chụp ảnh lưu niệm lúc đang thọ thực cùng ba vị thiền sư khác. Ngài vẫn tiếp tục ban những lời giáo huấn. Những lời Ngài nói lúc bấy giờ đều khiến người nghe kinh ngạc, nên các thiện tín đã tha thiết xin được thỉnh bác sĩ đến. Ngài phán:

## TRANG 701


“Không có gì đáng ngại đâu. Ngày hôm qua do hóng gió quạt nên hơi lạnh thấm vào người một chút thôi. Nếu muốn thỉnh bác sĩ thì hãy thỉnh vào lúc một giờ rưỡi.” Ngài vẫn điềm nhiên ban lời giáo huấn. Sắc diện và giọng nói của Ngài vẫn bình thường như bao ngày.

“Gánh nặng thân xác này thật quá nặng nề. Nào... này U Than Maung, hãy giúp ta thụt tháo (đi vệ sinh) một chút.” Nói rồi, Ngài tự mình đi vào nhà vệ sinh.

Chư Tăng và các hàng cư sĩ Phật tử đều tập trung đông đủ trên tịnh xá của Ngài. Bác sĩ Sony và bác sĩ Saw Mya Aung cũng đã đến nơi. Ngài phán: “Nào, nếu còn thuốc gì cần tiêm thì hãy tiêm nhanh lên. Thời gian không còn nhiều nữa đâu. Mà thuốc men của các ông cũng chẳng giúp gì được nữa rồi.” Lúc đó đã là một giờ trưa.

Giữa lúc chư Tăng và Phật tử đang lo lắng, thành kính phủ phục chung quanh với gương mặt đau sầu, Ngài phán: “Này Maung Chit Swe, lần này thì không được nữa rồi. Này Tin Ngွေ lớn, mắt ta đã bắt đầu mờ dần. Nào, tất cả chư Tỳ-khưu và các thiện nam tín nữ, hãy quán chiếu để vượt qua những thọ khổ mà bất cứ ai có thân này cũng phải gánh chịu. Hãy nhìn tận mắt sự khổ bạt ngàn của gánh nặng thân xác (khandha-bhāra) ngay tại nơi đây. Đừng sống trong sự phóng dật và lơ là (appamāda).” Sau khi ban lời giáo huấn, Ngài tĩnh tọa, an trú tâm trong Pháp khoảng 15 phút.

Vào lúc một giờ hai mươi phút, Ngài đã kết thúc lộ trình của thân xác (khandha-jāt), hơi thở hoàn toàn đình chỉ, Ngài đã an nhiên thị tịch.

### Những chuyện hy hữu về nhãn xá-lợi và xá-lợi tóc

Mặc dù Ngài đã báo trước về sự kiện này từ ba bốn tháng trước, nhưng vì thấy Ngài vẫn khỏe mạnh bình thường nên không ai nghĩ đến. Tất cả những người có mặt đều đành lòng chấp nhận trong nước mắt, đảnh lễ tiễn biệt Ngài. Tại thiền viện Maṅgalā, thay vì tiếng chuông trống thuyết pháp thường nhật, nay chỉ còn lại tiếng khóc thương vang vọng khắp nơi.

Lễ tang được tổ chức trọng thể trong suốt bảy ngày, bắt đầu từ ngày 9 tháng Pyatho năm 1324 (Âm lịch Myanmar). Có lẽ hiếm có một tang lễ nào lại đông đảo và trang nghiêm đến thế.

Trong kỳ lễ tang đó, tại rạp của ông U Kyaw Thein và bà Daw Tin Hla, người ta thấy vô số đàn ong bay đến đậu lại thành tổ giữa đám đông. Đó cũng chính là ngày đến lượt kim quan của Ngài được tôn trí tại rạp này. Chỉ trong vòng hai phút trước khi kim quan được di dời đến, đàn ong đã kết thành tổ xong xuôi. Đây là dấu hiệu tâm linh lớn lao lần thứ ba liên quan giữa Ngài và loài ong.

Vào ngày rằm, khi thực hiện lễ trà tỳ (hỏa thiêu), có gần hai trăm ngàn người đến dự. Trong lúc hỏa thiêu trên bệ gạch được canh phòng cẩn mật, người ta đã nhìn thấy những viên xá-lợi (dhātu) hình tròn xuất hiện.

## TRANG 702


Một số viên xá-lợi kết lại thành chuỗi, bám chặt vào các phần xương lớn. Có những mảnh nửa là xương, nửa đã biến thành xá-lợi. Xá-lợi có hai màu: màu trắng đục như sữa và màu vàng rực rỡ.

Khi các mảnh xương được các gia đình thỉnh về thờ tự tại nhà, người ta lại thấy chúng tiếp tục biến thành những viên xá-lợi tròn trịa. Tại nhà của ông U Thaung (chủ công ty thuốc lá Sin), người ta kể rằng từ mảnh xương đã hóa thành xá-lợi và còn tỏa ra những luồng hào quang rực rỡ.

Những sợi tóc của Ngài được các đệ tử lưu giữ khi Ngài còn sinh thời, sau khi Ngài nhập Niết-bàn, chúng cũng tự động cuộn lại thành hình tròn như những viên xá-lợi. Một điều kỳ diệu khác là sau khi hỏa táng, đôi nhãn cầu của Ngài vẫn còn nguyên vẹn, không bị lửa thiêu rụi, gắn liền với các đốt xương tay. Những viên xá-lợi này đã được tôn trí bên trong ngôi tháp “Maṅgalā Dhātu Dhamma Cetī” được xây dựng giữa hồ nước tại thị镇 In. (Gần ngã tư đường xe lửa và đường lộ Ratana Gu).

(Về việc các khớp xương liên kết với nhau, trong chú giải **Mahāparinibbāna Sutta**, phần giải thích từ **Nāgāpalokita** (trang 145) có nêu rõ: “Ở người bình thường thì các khớp xương rời nhau (hoặc đối đầu), ở bậc Độc Giác Phật thì các khớp xương móc vào nhau (như xích), còn ở bậc Chánh Đẳng Giác thì các khớp xương liên kết thành vòng (như khoen vòng).”)

Chính từ lúc đó, chư Tăng và Phật tử càng thêm thâm tín sâu sắc rằng Ngài quả thật là một bậc Thánh tăng, một bảo vật xuất thế (lokuttara) quý giá. Họ đã cùng nhau dâng cúng đủ loại trân bảo thế gian để trang nghiêm nơi thờ tự, nhưng dẫu có tán dương bao nhiêu cũng không xiết, dẫu có tưởng nhớ công đức bao nhiêu cũng không cùng. (Tiếp theo đây sẽ trình bày về Thiền sư Mying Phyu Zeetaw, người đã nỗ lực tu tập theo sự hướng dẫn của Thiền sư Mogok và đã hoàn tất phận sự của một vị Sa-môn.)
