
## TRANG 76

**Ngài Đại trưởng lão Mahasi Sayadaw**

Trong suốt giai đoạn Đại hội Kết tập Tam Tạng lần thứ VI — một sự kiện lịch sự trọng đại minh chứng cho năng lực phi thường của người dân Myanmar vào thời kỳ Phật lịch 2500 — thế giới không chỉ được thấy hào quang rực rỡ của Phật giáo tại Myanmar, mà còn có cơ hội để chiêm bái và tán dương năng lực uyên thâm về Pháp học (Pariyatti) của Ngài Đại trưởng lão Mahasi Sayadaw. Công tác trọng yếu nhất của Đại hội Kết tập lần thứ VI là việc hiệu đính, kiểm duyệt và ấn hành toàn bộ sưu tập 117 bộ Chánh tạng, Chú giải và Sơ giải (Pāḷi, Aṭṭhakathā, Ṭīkā). Hai bậc vĩ nhân gánh vác trách nhiệm nặng nề nhất, đứng ở vị trí hàng đầu trong công cuộc này chính là Ngài Mahasi Sayadaw và Ngài **Tam Tạng Thủ kho Pháp bảo (Tipiṭakadhara Dhammabhaṇḍāgārika) Ashin Vicittasāra**.

Trong đó, Ngài Mahasi Sayadaw còn đảm nhận trách nhiệm chuyên sâu hơn trong việc kiểm duyệt văn bản. Có thể nói, đây là hai biểu tượng cao quý (như hai thăng tượng trắng) xuất hiện nhờ phước báu của giáo pháp và thiện sự của nhân dân Myanmar.

Tại các buổi hành lễ của Đại hội, hai Ngài đã lần lượt đảm nhiệm các vai trò vấn và đáp, tuần tự diễn giải tỉ mỉ những điểm cần ghi nhớ để đại chúng cùng chiêm bái. Trong nhiệm vụ này, Ngài **Tam Tạng Sayadaw (Tipiṭakadhara Sayadaw)** đã gánh vác phần lớn trọng trách. Nếu những lời thuyết giảng của Ngài **Tam Tạng Sayadaw** giúp hàng thiện nam tín nữ tăng trưởng đức tin trong sáng, thì những giải đáp của Ngài Mahasi Sayadaw lại mang tính nghiên cứu lịch sử và phán quyết chuyên môn, giúp các bậc thông hiểu Phạn ngữ (Pāḷi) mở mang kiến thức và tuệ giác.

Vào thời điểm đó, bậc trưởng thượng đứng đầu Hội đồng Tăng-già Mahānāyaka, Ngài Trưởng lão Masoeyein Sayadaw — bậc nhận danh hiệu cao quý “**Abhidhaja Mahā-raṭṭha-guru**” (hiện nay Ngài 96 tuổi) — đã từng ngợi khen rằng:

“Ngài Mahasi Sayadaw có thể nhìn thấu những điểm sai sót mà ngay cả các bậc soạn luận Abhidhammattha Saṅgaha (Thắng pháp tập yếu), các bậc soạn Sơ giải (Ṭīkā-kyaw) hay các nhà soạn sách khác cũng không nhận thấy được.

Chẳng hạn, tại chương **Diệu tri kiến (Diṭṭhivisuddhi)** trong phần Hành pháp (Kammaṭṭhāna) của bộ Thắng pháp tập yếu, có ghi rằng việc phân biệt Danh-Sắc phải dựa trên **Đặc tính - Tự tính - Phận sự - Nhân gần (Lakkhaṇa-Rasa-Paccupaṭṭhāna-Padaṭṭhāna)**. Ngài Mahasi đã chỉ ra rằng phương diện **Nhân gần (Padaṭṭhāna)** chưa nên được đề cập ở chương Diệu tri kiến, mà chỉ nên xuất hiện ở chương **Đoạn nghi tri kiến (Kaṅkhāvitaraṇavisuddhi)**. Ngài đã khẳng định điều này một cách xác đáng trong kỳ kết tập.

Từ nay về sau, đừng nói đến việc tìm được ai ưu việt hơn, ngay cả tìm một bậc ngang tầm với Ngài Mahasi Sayadaw cũng không phải là điều dễ dàng. Chính vì nhận thấy năng lực xuất chúng này, nên tôi đã khuyến khích Ngài biên soạn bộ '**Niết-sa-ya của bộ Đại sơ giải Thanh tịnh đạo (Visuddhimagga Mahāṭīkā Nissaya)**'.” Lời nhận định này quả thật rất chuẩn xác. Bởi vì đối với bộ Đại sơ giải (Mahāṭīkā), nếu chỉ thông thạo tiếng Pāḷi hay tinh thông Pháp hành (Paṭipatti) thôi thì...

## TRANG 77

...vẫn chưa đủ sức để chuyển ngữ sang tiếng Myanmar một cách trọn vẹn. Do bộ luận này chứa đựng nhiều quan điểm tư tưởng Ấn Độ cổ đại, nên người dịch cần phải am tường cả các ngôn ngữ Hindi, Sanskrit và tiếng Anh thì mới có thể hoàn thành xuất sắc được. Nhờ vậy mà đến thời đại ngày nay, chúng ta mới có thể thấu hiểu được ý nghĩa đầy đủ và sâu sắc của bộ Đại sơ giải.

### Pháp Hành Tứ Niệm Xứ Lan Rộng Khắp Thế Giới

Cho đến nay, các bộ sách như “**Cẩm nang tu tập Thiền Minh Sát (Vipassanā Shuni-kyan)**” và hơn 40 tác phẩm khác đã minh chứng cho “**Đạo quả thuyết giảng (Desanā-paṭivedha)** và **Đạo quả chứng đắc (Paṭipatti-paṭivedha-ñāṇa)**” của Ngài. Ngay cả những bài kinh văn (Sutta) vốn dĩ khô khan, Ngài cũng có thể trang điểm và thuyết giảng một cách sinh động, hấp dẫn, cho thấy “**Trí tuệ thiện xảo trong thuyết giảng (Desanā-vilāsa-ñāṇa)**” vô cùng nổi bật của bậc đạo sư.

Khi đọc các tác phẩm của Ngài, người đọc sẽ khởi lên niềm khao khát mãnh liệt muốn hiểu rõ thuật ngữ “**Panna-paṭisambhidāpatta**” (Bậc đạt được các tuệ phân tích/vô ngại giải) được đề cập trong kinh điển.

Những tác phẩm này chính là những viên đá thử vàng giúp phân biệt rõ giữa giả và thật. Chúng giống như những con đê vững chãi bao quanh hồ nước Pháp hành (Paṭipatti), giữ cho dòng chảy được tinh khiết và đúng hướng.

Ngài bắt đầu hướng dẫn hành thiền từ hạ lạp thứ 14. Cho đến trước khi Ngài đến Yangon vào năm 1311 (Miến lịch), đã có hơn 30 chi nhánh thiền viện được thiết lập. Hiện nay, tại Myanmar đã có 246 chi nhánh với gần 800.000 (777.212) hành giả.

Tại Sri Lanka, đã có hơn 30 chi nhánh với gần 20.000 người đã thực hành pháp. Tại Thái Lan, Campuchia, Lào có hơn 300 chi nhánh; tại Indonesia có 70 chi nhánh, và chúng ta có thể hình dung được số lượng hành giả là vô cùng lớn.

Danh tiếng về Pháp hành (Paṭipatti) của Myanmar, hay chính xác là của Ngài Mahasi, đã tỏa hương khắp thế giới ngay từ trước kỳ Kết tập Tam Tạng. Các hành giả từ khắp nơi trên thế giới đã không ngừng tìm đến để nghiên cứu và thọ giáo pháp thiền của Ngài. Nhiều nhất là từ Hoa Kỳ, Anh quốc, Đức và Úc. Nhiều người đã tự mình viết sách ghi lại những trải nghiệm cá nhân. Các bậc như Ngài Tỳ-kheo người Đức **Nyanaponika Thera** (tại Sri Lanka) đã dịch các chương cốt yếu từ các tác phẩm của Ngài sang tiếng Anh để phổ biến ra toàn cầu.

Nếu trong thời đại của Ngài Ledi Sayadaw có những bậc như Ngài **U Ñāṇa** từ tu viện Masoeyein hay ông **U Shwe Zan Aung** đạt được trình độ tiếng Anh tầm cỡ quốc tế và am hiểu sâu sắc Phật học, thì những giá trị...

## TRANG 78

...vô giá và tinh hoa của Phật học tại Myanmar sẽ được tỏa sáng một cách chính xác, uy tín và rộng rãi hơn nữa. Cho đến nay, những đóng góp và vinh quang của Myanmar mà người dân nước này thường nhắc tới (nhiều không kể xiết) vẫn còn được thế giới biết đến quá ít ỏi.

Thời đại này cho thấy, thế giới biết đến Myanmar chủ yếu qua Phật giáo và quốc gia này cần thêm nhiều bậc trí giả am tường cả tiếng Anh lẫn tiếng Pāḷi — những người có niềm tin tuyệt đối rằng Myanmar đang nắm giữ nguồn năng lượng mạnh mẽ nhất để chuyển hóa thế giới một cách hòa bình. Về phần chư Tăng, các Ngài đã hoàn thành vô cùng trọn vẹn trách nhiệm của mình đối với Phật giáo, cũng như đối với quốc gia và dân tộc.

Sở dĩ Pháp hành (Paṭipatti) của Ngài Mahasi có thể lan rộng khắp thế giới không chỉ dựa vào năng lực Pháp học và Pháp hành của cá nhân Ngài. Mà còn nhờ vào: phương pháp thực hành dễ hiểu, kỷ luật nghiêm ngặt, hệ thống giảng dạy và điều chỉnh hàng ngày như dạy trẻ nhỏ trong trường học, và hệ thống kiểm tra/theo dõi sát sao từng cá nhân (chấm điểm) cho hơn 300 hành giả thường trực.

Về phía hàng cư sĩ hộ pháp, họ cũng nhiệt tâm gánh vác các “Phật sự” bằng cách cung cấp thực phẩm, thuốc men hoàn toàn miễn phí (khi cần thiết) cho các hành giả mới, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc tu tập.

Tóm lại, dòng sông Pháp hành (Paṭipatti) của Ngài **Đại trưởng lão Mahasi Sayadaw** ân đức vô lượng là một dòng chảy vô vô cùng mạnh mẽ, với hệ thống đê điều vững chắc, đủ sức cuốn trôi mọi rác rưởi, bụi rậm và những chướng ngại phá hoại (những mầm mống sai lệch) còn tồn đọng.