## TRANG 85

Một thuở nọ, có người đệ tử bổn đạo dâng cúng cho Trưởng lão **U Sīla** một trái dừa xiêm vừa mới chặt từ vườn nhà. Ngài dạy rằng: "Hãy cứ đặt tạm ở đó một lát đã". Nhưng vị ấy lại khăng khăng cung thỉnh: "Để lâu sẽ nhạt mất vị, xin Ngài hãy thọ dụng ngay cho", và ép Ngài phải dùng. Vị đệ tử dâng dừa lúc đầu thì hoan hỷ, nhưng chẳng bao lâu sau lại sinh lòng hối hận. Ấy là vì Ngài là bậc trì hạnh **Ekāsanika-dhutaṅga** (Hạnh Đầu đà Nhất tọa thực), mỗi ngày chỉ thọ thực một lần duy nhất. Pháp hành của các bậc Thánh tri thức và giới luật của chư Tăng vốn vô cùng rộng lớn và sâu mầu, người bình thường khó lòng thấu hiểu hết được.

**"Nói mình là bậc Dự Lưu" quả là điều đáng hổ thẹn**

Các bậc Thánh tri thức thường đặc biệt ẩn mật về pháp chứng đạt cũng như công phu tu tập của mình. Đó chính là đức tính **Appicchatā** (Ít muốn/Thiểu dục) — một trong những đặc tính của bậc Thánh nhân. Chẳng những không bao giờ phô trương, các Ngài còn sợ người khác nhận ra dấu vết tu chứng của mình. Bởi lẽ người đời trí tuệ còn non kém, thường hay gây ra nhiều sự phiền nhiễu không đáng có.

Vào thời điểm trước khi kinh **Mahāsamaya** (Kinh Đại Hội) được thuyết giảng, có 500 vị Tỳ-kheo đệ tử Phật đang thực hành pháp tại rừng **Mahāvana**. Sau khi hoàn tất phận sự của bậc Sa-môn (đắc quả Thánh), các Ngài cùng nhau đến đảnh lễ Đức Thế Tôn. Lúc bấy giờ, vị nào cũng giữ kẽ, hổ thẹn nên không ai dám bạch trình về việc mình đã hoàn tất phận sự. Trong chú giải kinh **Mahāsamaya** có chép rằng, ngay cả vị thiên nữ cư ngụ tại cội cây, người từng được nghe pháp và chứng quả **Sotāpanna** (Dự Lưu) trong đại hội ấy, khi bị một vị Tỳ-kheo gặng hỏi: "Ngươi có phải là bậc Dự Lưu không?", nàng đã cảm thấy vô cùng hổ thẹn và thưa rằng: "Bạch Ngài, Ngài đang hỏi một điều không nên hỏi."

Tâm nguyện của các bậc Thánh A-la-hán là muốn cho tất cả chúng sinh đều được nếm trải hương vị pháp bảo mà các Ngài đã chứng đắc. Tuy nhiên, các Ngài không bao giờ tuyên bố hiển lộ như thể khoe khoang việc mình tìm được hũ vàng. Dù vậy, vẫn có rất nhiều phương cách để nhận biết được các Ngài (điều này sẽ được trình bày ở những phần sau khi có duyên sự).

**Đến ngưỡng cửa cuối cùng của sự bố thí thì lại ôm lòng hối tiếc**

Bởi vì các bậc Thánh tri thức thường đặc biệt giữ kín giới hạnh, lại thêm người đời kiến thức và hiểu biết còn hạn hẹp, nên khi các Ngài còn tại thế, nhiều người vẫn cứ thờ ơ, xem thường. Những người có duyên gần gũi thì cũng chỉ dừng lại ở vai trò thí chủ dâng cúng tịnh xá, vật thực... rồi kết thúc lộ trình tu tập của mình ở mức độ Bố thí và Trì giới, bỏ lỡ mất cơ hội quý báu trong kiếp người ngắn ngủi này.

Thậm chí, một số người thực hiện những loại bố thí không thực sự cần thiết hoặc không mang lại lợi ích lớn cho chính mình, cho người thọ nhận hay cho giáo pháp. Chỉ với tâm niệm đơn thuần: "Cúng dường bậc A-la-hán thì sẽ được quả báo ngay trong kiếp này", họ đã tiếp cận các Ngài bằng sự cúng dường mang tính "trông đợi quả báo" (vị lợi) một cách quá mức cần thiết. Từ 4 giờ sáng đến tận 12 giờ trưa, để tế độ cho những hàng cư sĩ còn kém hiểu biết, các bậc Thánh tri thức đã phải dành trọn quỹ thời gian vô cùng trân quý của mình vào việc ăn uống. Sự lợi dưỡng đôi khi lại gây ra phiền toái ngay cả đối với các bậc Thánh **A-la-hán**.

Có những vị thí chủ giống như kẻ lên được đến núi ngọc rồi mà lại chọn nhầm đá mài dao mang về; họ không đón nhận được di sản pháp bảo cốt lõi từ những lời giáo huấn. Chỉ đến khi các Ngài viên tịch, được nghe kể hoặc đọc lại tiểu sử mới biết đó là những bậc phi thường, lúc ấy mới sinh lòng hối hận thì cũng đã muộn. Việc không biết bậc cao đức, không tin nên để tuột mất cơ hội vàng, hay dù biết và tin nhưng không biết cách tiếp nhận nên không có được lợi ích, quả thật còn đau xót hơn cả nỗi lòng của đạo sĩ **Devīla** khi lỡ duyên gặp Phật.

## TRANG 86

**Thời điểm quan trọng nhất đối với chúng ta**

Cũng giống như các bậc Thánh tăng thời Đức Phật, nếu chúng ta tự thân nỗ lực, chúng ta hoàn toàn có cơ hội đạt được những quả vị cao thượng, từ Thiền định, Thần thông cho đến quả vị **Arahattaphala** (A-la-hán). Phận sự của bậc Sa-môn không chỉ dừng lại ở việc chấm dứt phiền não; trong thế gian này vẫn luôn hiện hữu những bậc trọn vẹn với các thắng trí thế gian.

Chỉ người có mắt mới thấy, chỉ người có tai mới nghe. Chỉ những ai có trái tim mới khởi sinh đức tin và hành trì theo giáo pháp.

Nhìn lại tiến trình lịch sử giáo pháp, chúng ta thấy đã trải qua biết bao chặng đường gian nan, vượt qua những cánh rừng rậm và lối mòn hiểm trở. Từ **Suvaṇṇabhūmi** qua **Pagan**, từ **Pagan** đến **Konbaung**, trải qua hàng ngàn năm, ngọn cờ **Theravāda** (Phật giáo Nguyên thủy) đã được truyền thừa. Trong đêm dài tăm tối ấy, đôi khi ánh sáng chỉ lóe lên như một tia chớp. Phải từ thời vua Bodawpaya trở đi, giáo pháp mới bắt đầu tiến bước một cách hệ thống và mạnh mẽ. Tuy nhiên, việc thực hành giáo pháp (**Paṭipatti**) khi ấy vẫn còn bó hẹp trong phạm vi cá nhân.

## TRANG 87

So với hơn một ngàn năm trước, giáo pháp thực hành (**Paṭipatti**) ngày nay không chỉ dừng lại ở quy mô quốc gia mà đang hướng đến tầm vóc toàn cầu. Chúng ta cần phải dùng cả mạng sống của mình để suy ngẫm, sao cho không bỏ lỡ những cơ hội tuyệt vời hiện có trong kiếp sống này.