## PAGE 179

Vua Suriyavikram băng hà vào năm 50 (năm 128 PL).
Vua Harivikram băng hà vào năm 57 (năm 135 PL).
Vua Sīhavikram băng hà vào năm 80 (năm 158 PL).

Các năm, tháng, ngày và tuổi thọ đều được khắc ghi chính xác như vậy. Tuy nhiên, đối với các niên đại Pyu được ghi chép tỉ mỉ về năm, tháng, ngày này, các sử gia người Anh lại cho rằng "đó là niên đại Kōzā hiện đang sử dụng", rồi trừ đi 560 năm để đưa về các mốc như "Suriyavikram năm 68 PL", nhằm làm cho các niên đại này nhỏ đi (để phù hợp với giả thuyết về Myanmar thế kỷ thứ 9). Bản thân các vị vua Pyu ghi trên hũ tro cốt đã mang tước hiệu của các vị vua Ấn Độ, nên chắc chắn đó phải là những niên đại Thích-ca nguyên thủy.

Dù thế nào đi nữa, việc xem xét cách sử dụng niên đại này giúp giải quyết được nhiều vấn đề liên quan đến lịch sử dân tộc và giáo pháp thời kỳ đầu của người Myanmar, chẳng hạn như niên đại của các đại đô thị người Pyu; khẳng định Pyu chính là người Myanmar; họ đã xây dựng đô thị từ trước khi Đức Phật ra đời và đã tiếp nhận, thực hành Phật giáo ngay khi giáo pháp bắt đầu khởi nguồn.

Tại Thaye Khittaya, mặc dù các bộ sử chỉ ghi chép 27 đời vua từ Mahāsambhavā của dòng vua Tagaung cho đến vua Supaññā Nagarachinna, nhưng theo các minh văn trên hũ tro cốt, người ta còn tìm thấy sự tồn tại của các vương triều "**Varman**" và vương triều "**Vikram**".

Rõ ràng đây là một quốc gia Phật giáo vĩ đại, nơi Phật pháp hưng thịnh từ đầu kỷ nguyên Tây lịch cho đến khoảng thế kỷ thứ 10, và đất nước được cai trị bằng các bộ luật Dhammathat của Phật giáo.

Ngay cả các học giả sử học lỗi lạc của Ấn Độ cũng tự mình khẳng định chắc chắn rằng chính Gotama Buddha cũng là người Myanmar (nhóm Tạng - Miến), điều này là một sự thật không nên bị lãng quên. Vì vậy, Myanmar và giáo pháp là hai thực thể không thể tách rời.

Nỗi hoài niệm về giáo pháp tại vương quốc Hanlin

Các quốc gia Pyu như Beikthano, Thaye Khittaya và Hanlin là những vương quốc Pyu của người Myanmar sơ khai, tồn tại trước thời kỳ kinh đô Bagan, với niên đại không chênh lệch nhau quá nhiều.

## PAGE 180

Theo quan điểm thông thường, Beikthano tồn tại đến thế kỷ thứ 5, Hanlin đến thế kỷ thứ 9, và Thaye Khittaya đến thế kỷ thứ 10.

Dù các bộ sử không đề cập nhiều về Hanlin, nhưng qua các cuộc khai quật dưới lòng đất, người ta tìm thấy những minh chứng cho sự hưng thịnh của Phật giáo. Có vẻ như ngoài Phật giáo Thượng tọa bộ, còn có sự du nhập và pha trộn của Ấn Độ giáo và Đại thừa ở giai đoạn sau.

Theo "Hanlin Thamaing Linka" do ông U Aung Phyo (người giữ chức xã trưởng làng Hanlin thời vua Bodawpaya, niên hiệu Sithu Kyaw Htin) soạn vào các năm 1143-1181 PL: vương quốc này do hoàng tử **Karabhaw**, con trai của vua Mahāsammata từ Trung Ấn, khởi lập; có tổng cộng 799 đời vua trị vì, và kinh đô đã bị hủy diệt trong một trận mưa tro nóng vào thời vua Pyusawhti.

Theo "Sekkya Taw Yar Mawgun Linka" gồm 27 khổ thơ của Pho Waziya, biên tập viên báo vương triều Ratanabon: vào thời hai anh em vua Cittarājā và Dibbarājā của kinh đô Hanlin, đã xuất hiện một vị Sa-di A-la-hán lỗi lạc. (Câu chuyện này đã được trình bày trong cuốn sách "Các bậc A-la-hán và những nhân vật đặc biệt").

Theo các ghi chép nước ngoài, vào năm 832 PL, người Nanzhao đã tấn công và phá hủy kinh đô này. Các tư liệu Ba Tư và Bắc Afghanistan cùng thời cho thấy phạm vi của vương quốc Pyu trải rộng: phía Đông giáp Kamboja, phía Nam giáp biển, phía Đông Nam giáp Dvāravatī (Thái Lan), phía Tây giáp Ấn Độ, phía Bắc giáp vương quốc Nanzhao, với 18 quốc gia chư hầu phụ thuộc. Thậm chí Phalenwin, Java, Sāvatthī và Campā cũng được ghi nhận là các vùng lãnh thổ phía Nam thuộc vương quốc Pyu. Đất nước này có 9 thành lũy kiên cố và bao gồm 298 nhóm sắc tộc khác nhau.

Vương quốc văn hóa Pyu qua ghi chép của người Trung Hoa

Trong các ghi chép của Trung Hoa vào những năm 300, có đề cập đến "vương quốc Linyán" – một nơi Phật giáo hưng thịnh nằm ở vùng được cho là miền trung Myanmar. Đa số đều cho rằng Linyán chính là Hanlin. Các nhà chiêm bái Trung Hoa là **Huyền Trang** (năm 648) và **Nghĩa Tịnh** (khoảng năm 675) cũng ghi nhận vương quốc Pyu (Thaye Khittaya) là một quốc gia mà Phật giáo vô cùng hưng thịnh.

## PAGE 181

Vào năm 800 sau Công nguyên, một đoàn nghệ thuật gồm 35 người bao gồm hát, múa và nhạc công từ vương quốc Pyu đã đến biểu diễn cho Hoàng đế Trung Hoa. Có lời kể rằng tài năng của họ xuất chúng đến mức ngay cả các nghệ sĩ Trung Hoa cũng phải nảy sinh lòng đố kỵ. Đoàn nghệ sĩ Pyu đã trình bày 12 bài hát với nội dung gắn liền với đức tin Phật giáo, mang những tiêu đề đậm chất tôn giáo như "Rừng cây In-gyin (Rừng Ta-la)", "Sự tĩnh lặng của Thiền định", "Vua Công". Theo sử liệu Trung Hoa, họ có thể tấu lên 8 loại âm thanh khác nhau với bộ nhạc cụ phong phú gồm 22 chủng loại.

Trong bộ Tân Đường Thư của Trung Hoa cũng ghi chép rằng người Pyu có một quốc gia vô cùng văn minh và tráng lệ. Những ghi chép này thuộc giai đoạn sau năm 800 sau Công nguyên, tức là vào thời kỳ cuối của kỷ nguyên Pyu, khi trung tâm quyền lực đang chuyển dịch dần về kinh đô Bagan. (Sử liệu Myanmar ghi lại rằng vua Pyinbya đã xây dựng thành phố Bagan vào năm 849 sau Công nguyên). Sau đây là một số trích dẫn về những điểm liên quan đến Phật giáo từ các ghi chép về vương quốc Pyu trong Đường Thư:

"Vương quốc Pyu có 12 cổng thành. Tại 4 góc thành đều có các bảo tháp. Tường thành bao quanh kinh đô được xây bằng gạch men, chu vi khoảng 160 dặm (tương đương một ngày đường). Người dân sinh sống bên trong tường thành với hàng vạn ngôi nhà. Mái nhà được lợp bằng các tấm chì và thiếc.

Có hơn một trăm tu viện Phật giáo. Các tu viện này được trang hoàng bằng những lớp sơn đỏ vàng rực rỡ và bên trong trải thảm kín sàn. Khi gặp nhau, người dân thường nắm lấy cánh tay để chào hỏi và cúi đầu bày tỏ lòng cung kính. Họ rất tinh thông thiên văn học và hết lòng tôn kính, tin tưởng vào giáo pháp của Đức Phật."

"Khi lên 7 tuổi, cả trẻ em nam và nữ đều được gửi vào tu viện để học tập. Các em phải cạo tóc. Nếu sau 20 tuổi mà không thể tiếp tục con đường tu tập thì sẽ để tóc dài và trở về sống tại gia đình. Họ giữ giới tránh sự sát sanh."

## PAGE 182

Họ thậm chí không mặc quần áo làm từ tơ tằm (để tránh sát hại tằm). Họ đúc và sử dụng đồng tiền vàng bạc, trên đồng tiền có hình trăng khuyết.

"Trong cung điện nhà vua có đặt hai chiếc chuông vàng và bạc. (Đối diện với cửa chính của cung điện) có một pho tượng đá trắng khổng lồ cao một trăm bộ. Những người có việc tranh chấp, kiện tụng thường đến trước pho tượng này, quỳ gối đảnh lễ và tự suy xét về lỗi lầm của mình trước khi rời đi. Tại đây cũng có những cây mía lớn gần bằng bắp chân người."

Họ dùng sáp ong trộn với hương liệu để thắp đèn. Phụ nữ đã lập gia đình búi tóc cao, trang sức bằng bạc và những chuỗi ngọc trai. Họ mặc váy Longyi làm bằng sợi lanh màu xanh và quàng khăn mỏng. Khi đi ra ngoài, họ thường cầm quạt. Những bậc cao quý thường có từ 5 đến 6 người hầu theo sau cầm quạt che chắn.

### Người Pyu: Những người nhân hậu, hào phóng và biết tri ân

Khu vực Beikthano và Hanlin vào năm 1905 mới chỉ được khảo sát sơ bộ. Phải từ năm 1958-59 đến 1962-63 tại Beikthano (với 6 lần khai quật) và từ năm 1963 đến 1966 tại Hanlin (với 5 lần khai quật), Cục Khảo cổ học mới nỗ lực tiến hành các công tác khai quật chuyên sâu.

Cùng với những bằng chứng về lịch sử xã hội như tiền đồng Pyu, đồ thủy tinh, các nhà khảo cổ đã phát hiện được những chứng tích lịch sử tôn giáo quan trọng như một tấm bia đá khắc chữ Phạn và các pho tượng Phật. Tại Hanlin, tòa nhà số 9 gây kinh ngạc với chiều dài 120 bộ, là một đại sảnh được xây dựng với hơn 80 cột gỗ.

Các nhà khảo cổ học đã chứng minh rằng đây là một quốc gia có nền văn minh xã hội phát triển cao và Đạo giáo hưng thịnh, ít nhất là từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 9 sau Công nguyên.

## PAGE 183

Người ta cũng tìm thấy một con dấu khắc nổi rất tinh xảo có dòng chữ **"Dayādānaṃ"**, ước tính niên đại khoảng thế kỷ thứ 5 sau Công nguyên. Con dấu này hoàn toàn trùng khớp với con dấu tìm thấy tại thành phố cổ "Oc Eo" ở miền Nam Cambodia, cho thấy mối quan hệ đối ngoại rộng rãi của người Pyu. **Dayādānaṃ** có nghĩa là "Xin hãy bố thí bằng lòng bi mẫn", qua đó ta thấy rõ tâm hồn của người Pyu-Myanmar xưa kia vốn được xây dựng trên nền tảng nhận thức của Phật giáo.

Trên một mảnh gốm vỡ, dòng chữ Pyu được khắc nổi cũng làm nổi bật trình độ nghệ thuật và văn hóa tinh thần của người Pyu-Myanmar thời sơ khai. Dòng chữ đó là "Ka Ta Nyu Ta Ka Ta We Di", có ý nghĩa tương đương với từ Pāḷi **"Kataññuta Katave dī"** (Tri ân và Báo ân). (Ý nghĩa này hoàn toàn đồng nhất với cụm từ "I-thway Kyay-zu" trong bia đá Myazedi và các văn tự khác). Có thể hiểu theo tiếng Việt là "Cầu mong trở thành người biết ơn" hoặc đơn giản là "Lòng tri ân". Đó là một mảnh gốm vỡ mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc mỗi khi suy ngẫm.

---

(Tài liệu tham khảo: Tạp chí Giáo dục Đại học (Padeitha), Tập 3, Phần 3, 1968, bài "Thành cổ Hanlin" của U Myint Aung 'Trợ lý nghiên cứu' và Tập 5, Phần 3, 1970, bài "Một số con dấu khắc cổ ở Myanmar" của U Sein Maung Oo 'Cán bộ nghiên cứu').

---

Vương quốc Hanlin (còn gọi là Lin-yang), một quốc gia của người Pyu - những tín đồ Phật giáo Myanmar sơ khai, nơi luôn đặt sự dẫn dắt của Phật giáo Thượng tọa bộ lên hàng đầu và phát triển rực rỡ về mọi mặt từ xã hội đến khoa học kỹ thuật (đến mức có cả xưởng chế tác thủy tinh và đúc tiền), đã bị sụp đổ vào năm 832 sau Công nguyên do cuộc tấn công của người Nanchao.

Dù các vương quốc Pyu hùng mạnh như Beikthano, Hanlin, Sri Ksetra (tồn tại song hành hoặc kế thừa nhau) đã lụi tàn theo thời gian, nhưng từ Sri Ksetra đến Bagan... và cho đến nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Myanmar ngày nay, tinh thần dân tộc, phước báu của người Myanmar và trên hết là ánh sáng Phật giáo vẫn tiếp tục sống mãi trong trái tim mỗi người dân.

## PAGE 184

## Giáo pháp tại Haṃsāvatī, Vesālī và Thato n

### Phần đầu

Tôi xin trình bày đôi chút về thời kỳ sơ khai của Giáo pháp tại vùng Hạ Myanmar. Kinh đô Haṃsāvatī (**Ussā**, **Bago**) đã tồn tại suốt khoảng một ngàn năm (932 năm). Trong lịch sử Myanmar, kể từ năm 187 trở đi, đã có 17 đời vua, tiếp đến là giai đoạn 312 năm không có vua, sau đó từ đời vua Bañā Ū thứ hai thêm 28 đời vua nữa, tổng cộng có 45 vị vua đã trị vì và hộ trì Giáo pháp.

Từ thời vua Samala đến đời vua Bramādhicārāja, thời kỳ Giáo pháp Theravāda thứ hai đã đạt đến đỉnh cao vào năm Phật lịch 236, dưới triều vua Sīrimāsoka của vương quốc Thato n (còn gọi là Sudhammapura). Theo bia ký được lập dưới thời vua Dhammazedi, nhà vua đã cho tôn trí Xá-lợi răng của Đức Thế Tôn và xây dựng bảo tháp Shwemawdaw. Tuy nhiên, các bộ sử cũ lại cho rằng bảo tháp này đã được xây dựng để tôn thờ Xá-lợi tóc ngay từ thời hai thương gia Tapussa và Bhallika.

Dù hiểu theo cách nào, dưới triều đại vua Dhammazedi và vua Bayinnaung vào thời kỳ sau của kinh đô Haṃsāvatī, Giáo pháp Theravāda đã tỏa sáng rực rỡ và thanh tịnh. Do đó, dù không phải là thời kỳ sơ khai nhất, nhưng vị thế của kinh đô Haṃsāvatī trong lịch sử Phật giáo Myanmar thời trung đại vẫn vô cùng đáng khâm phục.

### Giáo pháp tại Vesālī vùng Rakhine

Vùng đất Rakhine cũng được ghi nhận là đã hưng thịnh cùng thời với các quốc gia Pyu cổ đại. Nơi đây có sự giao lưu mật truyền với vùng **Mazzhimadesa** (Trung Ấn). Cùng với Ấn Độ giáo và **Đại thừa**, truyền thống **Theravāda** cũng đã phát triển mạnh mẽ tại đây.

Trong bia ký của hoàng hậu Sāvitā Catriyā, phu nhân của vua Nīticandra (trị vì từ năm 520-575), có khắc bài kệ "Ye dhammā hetuppabhavā" (Các pháp do duyên sinh) cùng các bản ghi chép về việc bố thí. Điều này cho thấy chắc chắn đã có nhiều triều đại quân chủ tại đây tham gia hộ trì và hoằng dương Giáo pháp Theravāda.

Bia ký của vua Ānandacandra lập năm 720 SCN đã liệt kê tên tuổi, thời gian trị vì và niên đại của 36 vị vua thuộc ba triều đại lớn trước đó. Căn cứ vào các dòng đế vương này, có thể thấy vùng Rakhine đã hình thành các đô thị quốc gia từ khoảng năm 515 TCN, trước khi kỷ nguyên Công nguyên bắt đầu.

## PAGE 185

Tuy nhiên, theo bộ sử Dhanyawatī được biên soạn về sau, tại vùng Dhanyawatī thứ nhất, vua Māshayu đã thiết lập một triều đại gồm 54 vị vua vào khoảng năm 2666 TCN. Tại vùng Dhanyawatī thứ hai, từ năm 825 TCN đến năm 788 SCN, đã có 53 đời vua nối tiếp nhau, và triều đại này được cho là do hoàng tử Kaṃrāzā Lớn thuộc dòng họ Sakya từ kinh đô Tagaung thiết lập.

Trong vùng Rakhine, Vesālī nổi lên như một vương quốc hiển hách. Có thuyết cho rằng vị A-la-hán Rasī Shin Dibbacakka, người đã bay trên không trung đến hoằng pháp vào thời điểm kinh đô Pinya sắp được thành lập, chính là từ Vesālī đến. Do đó, người ta tin rằng đây chính là Vesālī vùng Rakhine. Nếu nhận định này đúng, có thể nói rằng tại vùng đất Rakhine, các bậc Thánh tăng Ariya đã xuất hiện liên tục không gián đoạn cho đến tận thời kỳ Pinya.

[Về ngài Shin Dibbacakka, có thể xem thêm trong Sāsanālaṅkāra và Vaṃsadīpanī, hoặc trong sách về các bậc A-la-hán và các bậc vĩ nhân thời Pinya. Vesālī nằm cách thị trấn Mrauk-U khoảng 6 dặm về phía Bắc.]

### Giáo pháp tại Thato n thuộc Suvaṇṇabhūmi

Trong lịch sử truyền thừa Theravāda tại Myanmar, kể từ sau kỳ **Kết tập Tam Tạng lần thứ ba** (năm Phật lịch 235), Giáo pháp tại vương quốc Thato n thuộc vùng Suvaṇṇabhūmi đã có những bước tiến triển và hưng thịnh đặc biệt.

Về địa danh Suvaṇṇabhūmi, vẫn còn một vài điểm chưa thống nhất. Theo các ghi chép của Hy Lạp và sử liệu Trung Hoa, dải duyên hải giữa sông Thanlwin và sông Ayeyarwady (vùng sông Toe) chính là **Suvaṇṇabhūmi**. Trong khi đó, người Ả Rập lại gọi toàn bộ vùng đất phía Đông và phía Bắc vịnh Bengal là "Vùng đất vàng - Suvaṇṇabhūmi". (Sử liệu Trung Hoa gọi nơi này là "Jin Lin" - Kim Lân).

Vùng núi Kelāsa thuộc huyện Bilin, tỉnh Thato n, từng là một thương cảng sầm uất từ nhiều thế kỷ trước. Vào thời đó, bờ biển kéo dài đến tận chân núi Kelāsa, nơi hiện nay là làng Ayetthema (Haik-ku-lar). Tại vùng

## PAGE 186

làng Ayetthema và khu vực thị trấn Thato n, người ta đã từng khai quật được các mảnh vỡ từ tàu thuyền nước ngoài như cung tên, dây đá. Điều này đã được ghi chép trong cuốn "Thato n District Burma Gazetteer" (1931). Cuốn cẩm nang này cũng đưa ra nhận định về Suvaṇṇabhūmi như sau:

"Những lý lẽ của những người bác bỏ truyền thuyết về việc ngài Soṇa và ngài Uttara đến hoằng pháp tại Suvaṇṇabhūmi là không đủ căn cứ. Mục đích của vua Asoka là làm cho Phật pháp được lan tỏa và hưng thịnh tại mọi quốc gia mà ông có thể vươn tới. Vì vậy, khi ông đã chọn những nơi xa xôi như Hy Lạp làm địa điểm hoằng pháp, thì việc bỏ qua một vùng đất như Myanmar là điều không hợp lý."

Trong bộ Đại Sử (quyển 1, trang 249) có chép rằng ngay từ khi Đức Thế Tôn còn tại thế, đã có một vị vua tên là Asoka Dhammarāja trị vì vùng Thato n. Tuy nhiên, các bản sử cũ của Thato n lại gọi vị vua này là Tissadhammasīharāja. Sử liệu này kể rằng, khi Đức Phật nhập Niết-bàn, vị vua này đã nhận được 32 chiếc răng từ người anh trai là ngài Gavampati Thera và đã tôn thờ, cúng dường suốt sáu mươi năm. Theo các bộ sử của người Mon và người Myanmar, thành phố Thato n được xác định là đã được thành lập từ thế kỷ 17 TCN.

Trong phần duyên khởi của bộ Chú giải có chép rằng, khi ngài Soṇa và ngài Uttara đến hoằng pháp, các ngài đã phải chinh phục nạn La-sát (bí-lưu). Sử liệu người Mon và bia ký Kalyāṇī cũng gọi vương quốc Thato n là **Rukkhapura** (vương quốc của La-sát nước). Căn cứ vào việc tháp Thīsaung ở làng Zokthoke, huyện Bilin được cho là do loài La-sát xây dựng, và hiện nay tại cửa sông Thanlwin vẫn còn một hòn đảo tên là Đảo La-sát (Bilu-kyun); mặt khác, nhà địa lý học Hy Lạp Ptolemy cũng ghi chép rằng dọc theo bờ biển vịnh Mottama vùng "Besynga" có những người thấp bé, tóc xoăn, mũi tẹt, thân hình vạm vỡ (**dòng giống Australoid**) sinh sống; từ đó có thể nhận định rằng việc chinh phục hiểm họa La-sát (Dukkhasa = Rakkhasī) là điều có khả năng đã xảy ra. Đa số các nhà sử học ngày nay đều chấp nhận và tin tưởng rằng Thato n chính là vùng **Suvaṇṇabhūmi** nguyên thủy.

## PAGE 187

**Hãy để mảnh đất này làm chứng tá**

Các nhà sử học Sri Lanka thời nay như siri-vi-krama-san-gha (trong tác phẩm "Quan hệ giữa Đông Nam Á và Sri Lanka") và Tiến sĩ Thivali (trong "Lịch sử Đức Phật") cũng đưa ra nhận định liên quan đến ghi chép trong bộ Đại Sử (Mahāvaṃsa). Theo đó, vào thế kỷ thứ II trước Công nguyên, khi vua Duṭṭhagāmaṇi đặt viên đá đầu tiên xây dựng Đại Bảo Tháp (Mahāthūpa), các đại diện Tăng đoàn từ tu viện Kelāsa đã đến tham dự; các nhà sử học này khẳng định rằng họ chính là những vị đến từ tu viện Kelāsa ở xứ Thaton.

Về vùng đất Suvaṇṇabhūmi (Sứ vàng) tại Thaton, cần phân biệt giữa Thaton thứ nhất và Thaton thứ hai. Thành Thaton thứ nhất do vua Tissadhamma Sīharājā thiết lập vào thời Đức Phật còn tại thế, nằm cách núi Binkyaik khoảng bảy dặm Miến Điện về phía Bắc; thành này bị suy tàn vào năm 191 Phật lịch.

Thành Thaton thứ hai được vua Rājā Saw Wei thiết lập vào năm 209 Phật lịch với tên gọi "Sudhammavatī". Về vị trí, vùng dọc theo các làng Danon Chaung Gyi, Kyauk Lon Gyi và Winka ngày nay chính là dấu tích của thành Sudhammavatī hay Thaton cũ thứ hai. Thời gian tồn tại của Thaton thứ nhất là 1398 năm, Thaton thứ hai là 241 năm, trải qua 58 đời vua (theo văn bia vua Manuha là 84 đời).

Trong tác phẩm "Tổng tập lịch sử tháp miếu và biên niên sử Mon" của Sitke U Naw có trình bày chi tiết rằng: vùng Thaton mà Đức Phật ghé thăm vào hạ thứ tám chính là Thaton hiện nay; còn vùng Thaton nơi Ngài Soṇa và Ngài Uttara đến hoằng pháp chính là Suvaṇṇabhūmi thứ hai, tức Thaton thứ hai.

Hai vị Trưởng lão hoằng pháp này đã viên tịch Niết-bàn vào khoảng sau năm 250 Phật lịch. "Di cốt của hai Ngài được tôn trí tại bảo tháp Kusinārum" (Sđd, trang 30).

Ngày nay, dù còn nhiều quan điểm và học thuyết khác nhau xoay quanh Suvaṇṇabhūmi, nhưng ngày mà lịch sử cổ đại của người Mon và người Miến hồi sinh không còn xa nữa. Bởi lẽ từ năm 1916, Cục Khảo cổ Chính phủ đã tiến hành các cuộc

## PAGE 188

khai quật tại khu vực xung quanh làng Winka và làng Ayetthema. Những tu viện lớn dưới lòng đất với chiều dài và chiều rộng lên đến 90 feet, tương tự như di tích tu viện Jetavana ở Trung Ấn (Majjhimadesa), đã bắt đầu lộ diện. Chẳng bao lâu nữa, thế giới sẽ được chiêm ngưỡng và tịnh tín trước diện mạo chân thực của Suvaṇṇabhūmi.

[Ghi chú: Bản đồ Suvaṇṇabhūmi trình bày ở phần trước chỉ mang tính chất khái quát. Các minh chứng lịch sử đang ngày càng củng cố mạnh mẽ quan điểm rằng Thaton chính là Suvaṇṇabhūmi.]

### Hạ Miến Điện và những biến động từ bên ngoài

Có khả năng vương quốc Suvaṇṇabhūmi từng là một quốc gia chư hầu trong thời kỳ cực thịnh của người Pyu, và cũng giống như các quốc gia Pyu khác, vùng đất này đã bị quân Nanzhao tấn công và tàn phá vào khoảng năm 832-835 sau Công nguyên. Dưới thời vua Manuha (người mà một sử gia Anh kỳ cựu thời thuộc địa cho rằng hậu thế đã gọi sai tên do không đọc được chữ Mon, vì các học giả Mon và Miến viết tên ông là Makuta theo tiếng Mon), mối đe dọa từ Đại thừa (Mahāyāna) và đặc biệt là các tư tưởng ngã luận (Attavāda) của Ấn Độ giáo và Bà-la-môn giáo là rất lớn.

Vùng Hạ Miến Điện, còn gọi là xứ Rāmañña, nhờ có giao thông thuận lợi nên đã có sự kết nối với nước ngoài qua nhiều thời đại. Vào thời vua Tissa (năm 697 Phật lịch), do sự xâm nhiễu của những người ngoại bang, Phật giáo tại toàn vùng Haṃsāvatī đã gần như bị xóa sổ, nhưng nhờ bà Subhaddā (còn gọi là Bhadrādevī) mà Chánh Pháp đã hưng thịnh trở lại.

Hai anh em Samala và Vimala, hoàng tử của vua Sīrimāsoka xứ Suvaṇṇabhūmi (Thaton), cùng với 270 tùy tùng và 17 chiến thuyền đã rời Thaton để đến nơi sắp thiết lập thành Haṃsāvatī (Bago). Tại đây, họ đã phải tranh đấu và kiện tụng về quyền sở hữu đất đai với những thương nhân ngoại quốc như "Shek Adulla Law", những kẻ khẳng định đã cắm cọc đánh dấu lãnh thổ từ hơn 90 năm trước.

Hai vị vua Samala và Vimala bắt đầu thiết lập kinh đô mang tên "Haṃsāvatī" vào năm 1135 Phật lịch, lấy cảm hứng từ hình ảnh đôi chim thiên nga (haṃsa) đậu tại đó. Đồng thời, bảo tháp Shwemawdaw cũng được khởi công xây dựng trong thời gian này.

## PAGE 189

Đến thế kỷ 15 sau Công nguyên, các đoàn thương nhân và truyền giáo từ Bồ Đào Nha, Pháp, Hà Lan và Anh lần lượt kéo tới. Một kẻ cai trị vùng Syriam (Thanlyin) tên là Philipe de Brito e Nicote (thường gọi là Nga Zinga) đã có hành vi phá hoại Phật giáo và thậm chí âm mưu chiếm đoạt quyền lực tại vương quốc Miến Điện.

Xứ Rakhine và vùng Rāmañña (Suvaṇṇabhūmi) so với các vùng khác của Miến Điện thì dễ dàng giao thương quốc tế hơn. Tuy điều này giúp dễ tiếp thu những nét văn hóa tốt đẹp từ bên ngoài, nhưng lịch sử cũng là lời cảnh báo về mối nguy hiểm từ các thế lực ngoại bang luôn trực chờ xâm lược và tàn phá quốc gia cũng như tôn giáo. Do đó, việc duy trì sự vững mạnh và gắn kết của bản sắc dân tộc và Chánh Pháp là điều tối quan trọng.

Dù thế nào đi nữa, nhờ sự xuất hiện của những vị minh quân có công kiến thiết quốc gia và hộ trì giáo pháp như vua Anawrahta, Bodawpaya và Mindon ở Thượng Miến Điện, hay vua Dhammazedi và Bayinnaung ở Hạ Miến Điện, mà đất nước Miến Điện và Phật giáo Theravāda đã trở thành nơi nương tựa cho toàn thế giới.

Từ kỳ Kết tập Chánh Pháp lần thứ năm tiến sang thời kỳ Kết tập lần thứ sáu, cả thế giới đã đổ dồn sự chú ý vào Miến Điện và giáo pháp Theravāda.

Nếu như sau khi Đức Phật nhập diệt, Sri Lanka đã đứng vững như một pháo đài kinh đô đầu tiên của truyền thừa Theravāda, thì kể từ thời vua Anawrahta, vương quốc Miến Điện với nền hành chính độc lập và ổn định đã trở thành quốc gia trọng yếu, là trung tâm của Phật giáo Theravāda, duy trì toàn diện cả về Pháp học (Pariyatti) lẫn Pháp hành (Paṭipatti).

## PAGE 190

(၇)

### Sự cân bằng của Giáo pháp tại Myanmar ngày nay

Trong giới chư Tăng đảm trì giáo pháp tại đất nước Myanmar, từ xa xưa đã tồn tại một truyền thống rằng:

"Mười hạ học Pháp, mười hạ dạy Pháp, sau đó vào rừng chuyên tâm hành đạo."

Trong giai đoạn lấy Pháp học (Pariyatti) làm trọng tâm, các Ngài vẫn thường kết hợp thực hành các pháp tu tập nhẹ nhàng như Niệm Phật (Buddhānussati) hay rải tâm Từ (Mettā). Ngược lại, khi lấy Pháp hành (Paṭipatti) làm trọng tâm, các Ngài vẫn duy trì những nhiệm vụ Pháp học ở mức độ vừa phải.

Giáo pháp (Sāsana) là tên gọi chung cho cả hai phương diện Pháp học và Pháp hành; nếu chỉ có Pháp học đơn thuần thì không thể đứng vững, và nếu chỉ có Pháp hành đơn độc cũng khó lòng tồn tại lâu dài.

## PAGE 191

"Paññavā bhikkhu, tepiṭakaṃ sutvā dve puraṃ pūreti" (Chú giải bộ Vibhaṅga) = Vị Tỳ-kheo có trí tuệ, sau khi đã nghe và học thuộc lòng Tam Tạng giáo điển, sẽ thực hành trọn vẹn cả hai phận sự: phận sự học Kinh (Ganthadhura - Pháp học) và phận sự thiền quán (Vipassanādhura - Pháp hành).

Truyền thống "Mười hạ học Pháp, mười hạ dạy Pháp, sau đó vào rừng" của Phật giáo Theravada Myanmar là một truyền thống tốt đẹp, giúp hoàn thành cả lợi ích tự thân lẫn lợi ích cho người khác. Với những bậc tôn túc vì hoàn cảnh mà không thể thực hành đúng chính xác theo lộ trình đó, các Ngài vẫn kiên trì tu tập theo phương châm: lấy Pháp học làm đầu, Pháp hành làm kế tiếp; hoặc lấy Pháp hành làm đầu, Pháp học làm kế tiếp. Các Ngài thực hành như vậy cho đến trọn đời để mang lại lợi ích vẹn toàn cho bản thân, tha nhân, đất nước và sự trường tồn của Giáo pháp.

### Người đến vì trách nhiệm thì không sợ trách nhiệm

Ngày nay, sự đứng vững của Phật giáo Theravada tại Myanmar là vô cùng kiên cố. Đất nước này đang ở vị thế sẵn sàng về mọi mặt để lan tỏa hạt giống giáo pháp ra khắp thế giới.

Trong suốt một ngàn năm qua, chưa từng có thời kỳ nào sở hữu được nền tảng vững chắc toàn diện như hiện nay. Đó là nhờ sự xuất hiện của những vị minh quân trị quốc và những bậc lãnh đạo giáo giới đầy năng lực, những người đến với cuộc đời này cùng sứ mệnh bảo vệ dân tộc, ngôn ngữ và tôn giáo, xứng đáng với phước báu to lớn của Giáo pháp.

Chỉ những người đến vì trách nhiệm mới không sợ hãi trách nhiệm; họ thậm chí còn lấy làm vinh dự khi được cống hiến lợi ích cho đến hơi thở cuối cùng.

Hiện nay, sự ủng hộ và niềm tin của các nhà lãnh đạo cũng như toàn thể nhân dân đối với Phật giáo Theravada tại Myanmar gần như đã đạt đến mức hoàn hảo. Chính nhờ vậy, về phía chư Tăng đảm trì giáo pháp, đa số các Ngài đều đứng vững trên nền tảng Pháp học và Pháp hành, hoàn thành xuất sắc cả hai phận sự.

Số lượng và chất lượng của các bậc hành giả đảm trì giáo pháp, những người đến vì sứ mệnh hoằng pháp tại Myanmar, hiện nay là rất lớn.

## PAGE 192

Trong số các bậc tôn túc ấy, không cần qua bất kỳ cuộc bầu chọn chính thức nào, toàn thể Tăng Ni và Phật tử đã tự nhiên dành trọn niềm tin và sự tôn kính đối với hai bậc đại trưởng lão. Chỉ cần nhìn vào sự dấn thân quên mình và sự phối hợp nhịp nhàng mang tính biểu tượng của hai Ngài là có thể thấy rõ tương lai tươi sáng của Phật giáo Theravada mà người dân Myanmar đang nắm giữ.

Hai bậc đại trưởng lão ấy không ai khác chính là:

1. Bậc Trí giả Cao thượng (Aggamahāpaṇḍita), Bậc trả lời trong kỳ Kết tập lần thứ sáu (Chaṭṭhasaṅgīti Visajjaka), bậc ân sư Mingun Dhammanāda, Ngài đại trưởng lão Ni-ka-ya giữ gìn Tam Tạng (Tipiṭaka Nikāya).

2. Bậc Trí giả Cao thượng (Aggamahāpaṇḍita), bậc hoằng dương pháp môn Tứ Niệm Xứ ra thế giới, Bậc vấn đạo trong kỳ Kết tập lần thứ sáu (Chaṭṭhasaṅgīti Puccaka), bậc ân sư đại trưởng lão Mahāsī.

### Pháp học làm đầu, Pháp hành kế tiếp
### Ngài Trưởng lão Tipiṭaka Nikāya Sayadaw Mingun Dhammanāda

Bậc ân sư được mọi người tôn kính gọi là Ngài Trưởng lão giữ gìn Tam Tạng (Tipiṭaka Dhara Sayadaw) Mingun U Vicittasārābhivaṃsa. Ngài đại trưởng lão Ni-ka-ya Mingun Dhammanāda sinh tại làng Kyi Pin (Thae Phyu Wa), huyện Myingyan, là con của thân phụ U Son (trưởng làng) và thân mẫu Daw Sin. Ngài đản sinh vào thứ Tư, ngày 11 tháng Tăng-sao-mông (Tazaungmon) năm 1273 Miến lịch (vào khoảng hơn 3 giờ chiều). Trong mọi kỳ thi lớn được công nhận tại Myanmar, Ngài luôn là người đạt thành tích sớm nhất và xuất sắc nhất.

1. Đỗ Thủ khoa kỳ thi của Chính phủ (Pathamakyaw).

2. Đỗ văn bằng Pháp sư (Pariyatti Sāsanahita Dhammācariya) - là người đầu tiên (Ādikammika) đạt được.

3. Đạt huy chương vàng trong kỳ thi diễn giảng Chú giải xuất sắc.

4. Đạt văn bằng Pháp sư Sāsanadhaja Sīripavara Dhammācariya.

5. Bậc Đặc biệt của Phật giáo (Buddhasāsana Visiṭṭha), người đầu tiên (Ādikammika) đạt văn bằng Bậc thông suốt Tam Tạng và giữ gìn Tam Tạng (Tipiṭaka Dhara Mahā Tipiṭaka Kovida).

## PAGE 193

6. **Bhadanta Vicittasārābhivaṃsa Tipitakadhara Dhammabhaṇḍāgārika** (Danh hiệu phục vụ giáo điển đặc biệt không ai sánh bằng của cuộc Kết tập Tam Tạng lần thứ VI).
7. **Bậc Trình bày (Vissajjaka) của cuộc Kết tập lần thứ VI**.

C. Tác giả bộ kinh điển **Maha Buddhavamsa (Đại Phật Sử)**.

Đối với các bản Sutta (Kinh), Vinaya (Luật), Abhidhamma (Vi Diệu Pháp) trong cuộc Kết tập lần thứ VI, Ngài đã thông thuộc lòng 6.950 trang sách khổ lớn, nắm vững tinh yếu cũng như những điểm nan giải. Do đó, khi tổ chức Kết tập lần thứ VI, Ngài đã đảm trách nhiệm vụ rà soát các bản Pāḷi, Chú giải (Aṭṭhakathā), Phụ chú giải (Ṭīkā) và trả lời mọi câu hỏi chất vấn. Ngài chính là bậc đại trí đức xuất hiện vì trọng trách của cuộc Kết tập và có thể nói Ngài sinh ra là để dành cho sự nghiệp Kết tập này.

Khi thực hiện Kết tập phần Pāḷi, trước mọi câu hỏi của bậc chất vấn (Puccaka) là **Đại lão Hòa thượng Mahāsī**, giữa sự hiện diện của các vị lãnh đạo Phật giáo thế giới, Ngài đã trả lời một cách trôi chảy, không hề vướng mắc hay nhầm lẫn, không chút chần chừ, tựa như một con tuấn mã dũng mãnh trên sa trường. Với văn phong Miến Điện trau chuốt, thanh tao và trầm hùng, Ngài đã đọc thuộc lòng và giải đáp các bản kinh khiến cho tất cả những người nghe đều phải rùng mình vì lòng thành kính và ngưỡng mộ.

Đến khi Kết tập phần Chú giải, các bậc Trưởng lão Tăng-già ở gần bên lại càng thêm ngạc nhiên và tán thán. Bởi lẽ, không chỉ Pāḷi Tam Tạng mà ngay cả các bộ Chú giải lớn (không rõ Ngài đã học thuộc từ khi nào), Ngài cũng có thể đọc thuộc lòng và giải đáp mà không cần nhìn vào sách.

Phương pháp thuyết giảng của Ngài đã tạo nên một bước ngoặt lớn, thay đổi truyền thống diễn giảng của các vị Pháp sư (Dhammadesanā) tại Miến Điện qua các thời đại, đúng như câu nói "vị mãnh sư đi đến đâu thì nơi đó thành đường".

Tựa như các loài cá lớn như Timila hay Tipingala chỉ cảm thấy thỏa chí khi được vẫy vùng giữa đại dương mênh mông, trí tuệ và Ba-la-mật của Ngài cũng hoàn toàn tương xứng và tỏa sáng rực rỡ nhất trong cuộc Kết tập lần thứ VI này.

Dành cho các thiện nam tín nữ, những người hộ tông (kappiya) và thí chủ vốn không am tường Pāḷi, dù bận rộn thuyết giảng khắp nơi (có khi lên đến mười thời pháp mỗi ngày), Ngài vẫn dành tâm huyết biên soạn bộ đại tác phẩm **Maha Buddhavamsa (Đại Phật Sử)** gồm 8 tập, 6 bộ, với tổng cộng 5.163 trang, tóm lược tinh hoa của Tam Tạng kinh điển.

## PAGE 194

Chỉ có bậc hiền tài mới có thể dưỡng dục nên bậc hiền tài.

Nhận thấy chư Tăng, Sa-di và các Tu nữ tại vùng đồi Sagaing-Mingun gặp khó khăn về vật thực, Ngài đã nỗ lực thuyết giảng không ngừng nghỉ để vừa giúp các bậc xuất gia yên tâm tu học, gánh vác việc đạo, vừa tạo điều kiện cho hàng cư sĩ gieo trồng phước báu bố thí (dāna) và tăng trưởng trí tuệ qua việc lắng nghe giáo pháp về Giới (Sīla), Định (Samādhi), Tuệ (Paññā). Toàn bộ tịnh tài nhận được, Ngài đã dành để thực hiện các công hạnh phục vụ xã hội (Sattussada) như xây dựng viện dưỡng lão, trường học, lắp đặt máy phát điện, hệ thống nước sạch và làm đường giao thông.

Cả cuộc đời Ngài luôn nỗ lực vì lợi ích của chúng sanh mà không hề nghỉ ngơi. Để kế thừa và phát triển sự nghiệp vì đạo pháp và đất nước, ngoài việc quản lý đại tự viện Dhammanāda với khoảng 100 tăng sinh, Ngài còn y giáo phụng hành tâm nguyện của bậc thầy tế độ là **Đại lão Hòa thượng Masoyein**, bậc Abhidhaja Mahāraṭṭhaguru. Vào ngày mùng 5 tháng Tư năm 1340 (Miến lịch), Ngài đã khai giảng và thành lập học viện Tipitaka Nikāya tại khu vực bảo tháp Moe Meit trên đồi Mingun để duy trì việc học Pháp (Pariyatti).

Ngài đã dùng số tiền trợ cấp hàng tháng 311 Kyat dành cho bậc Tipitakadhara cùng với khoảng 1,5 triệu Kyat tiền cúng dường từ khắp nơi để làm vốn điều lệ tại ngân hàng, nhằm chăm lo cho gần một trăm tăng sinh cao cấp — những bậc hiền tài tương lai của giáo pháp sẽ dự thi kỳ thi Tam Tạng. Ngài đã sắp xếp người hộ tăng (kappiya) chuẩn bị chu đáo vật thực buổi sáng và buổi trưa xứng đáng với các bậc hành giả.

Thấu hiểu nỗi vất vả của việc học thuộc lòng kinh điển suốt cả ngày, Ngài đã chỉ thị dâng cúng nước giải khát một lần và dược phẩm bốn món ngọt (Catumadhu) một lần mỗi ngày để các vị có đủ sức khỏe tu học.

Hiện nay, khoảng một nửa số bậc hiền tài đỗ đạt trong kỳ thi Tipitakadhara lừng lẫy đều xuất thân từ học viện Moe Meit Tipitaka Nikāya của Ngài.

## PAGE 195

### Ngài và danh hiệu Tipitakadhara là không thể tách rời

Đối với giáo pháp học rộng (Pariyatti), sự nỗ lực và tâm huyết của Ngài là vô cùng lớn lao.

Với mục tiêu đào tạo các bậc hiền tài thông suốt Tam Tạng để chuẩn bị cho cuộc Kết tập lần thứ VI, Chính phủ và các bậc Trưởng lão Tăng-già đã phối hợp tổ chức kỳ thi Tipitakadhara bắt đầu từ năm 1310 (Miến lịch). Tuy nhiên, sau 6 lần tổ chức đầu tiên, không có vị nào thi đỗ. Đến lần thứ hai, dù có 5 vị dự thi nhưng cũng chỉ có một vị đỗ xuất sắc phần lòng thuộc Luật tạng (Vinaya). Dù kết quả này mang lại chút khích lệ cho những người chịu trách nhiệm, nhưng mục tiêu đề ra vẫn chưa đạt được, kèm theo đó là nhiều trở ngại và chỉ trích từ nhiều phía.

(Thậm chí có một số tờ báo còn viết rằng thời nay không còn là thời của việc học thuộc lòng Tam Tạng nữa, và cho rằng việc tổ chức kỳ thi mà không có người đỗ là lãng phí công quỹ, nên dừng lại).

Lo sợ rằng tâm nguyện của các thí chủ và mục tiêu quan trọng đối với giáo pháp sẽ bị hủy bỏ, ngay từ khi kỳ thi mới bắt đầu, Ngài đã luôn túc trực bên các vị Hòa thượng ban tổ chức để hỗ trợ các việc lặt vặt như gọt bút chì, tìm sách vở. Nhận thấy sự lo lắng vẫn hiện rõ trên gương mặt mọi người, bắt đầu từ kỳ thi lần thứ ba (năm 1312 Miến lịch), đích thân Ngài đã tham gia dự thi như một cách để đền đáp thâm ân của hàng thí chủ đối với giáo pháp.

Thực tế, kỳ thi Tipitakadhara vĩ đại dường như được tổ chức là để dành cho Ngài, và cũng nhờ có Ngài mà kỳ thi ấy mới tiếp tục tồn tại và phát triển. Có thể nói, Ngài và danh hiệu Tipitakadhara (Bậc thông thuộc Tam Tạng) là một, không thể tách rời.

Ngài từng tuyên bố: "Tôi muốn làm việc thật nhiều nhưng chỉ nhận về quyền lợi thật ít" (ý nói về quả vị Thanh văn - Sāvaka), và Ngài đã thực hành theo hạnh nguyện tinh tấn của các bậc Bồ-tát (Bodhisatta). Ngài đã tận hiến cả thân tâm, không quản ngại gian khổ vì sự hưng thịnh của đất nước và đạo pháp.

## PAGE 196

Dù Ngài Thiền sư bận rộn với công tác Pháp học (Pariyatti) như vậy, Ngài vẫn không quên hướng dẫn và chỉ dạy tỉ mỉ cho hàng đệ tử cùng các nam nữ thí chủ những pháp thiền cơ bản thực hành tại gia như **Niệm Phật (Bud-dhānussati)**, **Thiền Từ Bi (Mettā-bhāvana)**.

Với việc lấy cách tu tập đề mục **Lục đại (Đất, Nước, Lửa, Gió, Không, Thức)** làm trọng tâm, Ngài đã cho thực hành song song với Pháp hành (Paṭipatti), điều này giống như việc Ngài đang khai mở con đường phía trước cho những bậc gánh vác Phật sự lấy Pháp học làm đầu. (Vì chuyện về Ngài Thiền sư ngay cả trẻ nhỏ cũng đều biết rõ nên ở đây chỉ xin trình bày bấy nhiêu thôi).

## Pháp hành đệ nhất, Pháp học đệ nhị - Thiền sư Mahāsi, bậc hoằng truyền giáo pháp Satipaṭṭhāna ra thế giới

Bậc hoằng truyền giáo pháp **Thiền Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna)** ra thế giới, vị hộ trì kỳ Kết tập Tam Tạng lần thứ sáu (Chaṭṭha-saṅgīti-pucchaka), bậc đạt danh hiệu Aggamahāpaṇḍita - Ngài Thiền sư Mahāsi tôn kính sinh vào khoảng 3 giờ sáng thứ Sáu, ngày mùng 3 sau trăng tròn tháng Đệ nhị Vassāvāsa (29-07-1904), năm 1266 (Miến lịch), tại làng Seikkhun, cách thị trấn Shwebo 7 dặm về phía Tây, là con của ông U Kan Taw và bà Daw Oke.

Như câu ví vol "đã là gai thì nhọn ngay từ lúc mới nhú", ngay từ khi còn nhỏ, tư chất trí tuệ của vị Thiền sư tương lai đã vô cùng xuất chúng. Năm 16 tuổi, Ngài đã có thể thấu hiểu môn số học chỉ nhờ đọc sách mà không cần thầy dạy. Sau này, khi học về Tạng Luật (Chappaccaya) ở trình độ Pathamagyi, Ngài có thể dễ dàng tính toán những con số toán học lớn trong các phương pháp tính toán phức tạp.

Ngay từ thời còn là Sa-di, dù tuổi còn nhỏ nhưng Ngài đã có thể tự nghiên cứu và giải nghĩa được những bộ luận khó trong giới học thuật như **Nyāsa**, **Mūla-ṭīkā**, khiến cho các vị thầy giáo thọ đều phải tán dương. Khi thọ đại giới Tỳ-kheo, Ngài đã theo học giáo pháp tại chùa Bwar Taw, tu viện Khin Ma Kan ở phía tây Mandalay.

Vào kỳ thi Pháp sư (Dhammācariya) của chính phủ lần thứ hai (năm 1303), Ngài đã tham dự và đỗ cùng lúc ba tạng chính là **Kinh (Sutta)**, **Luật (Vinaya)**, **Vi diệu pháp (Abhidhamma)** cùng với 5 bằng danh dự khác trong cùng một năm. (Khi đó có hơn 100 người dự thi nhưng số người đỗ nhiều nhất cũng chỉ khoảng 25 người).

## PAGE 197

Ngài Thiền sư không chỉ sắc sảo và tỉ mỉ trong phương diện Pháp học, mà trong phương diện Pháp hành (Paṭipatti), Ngài cũng là người xuất chúng dù tuổi còn trẻ. Trong thời gian đảm đương các trọng trách về Pháp học, ngay từ khi còn là tăng sinh, Ngài đã từng thử thực hành các hạnh **Đầu-đà (Dhutaṅga)** như **Hạnh ở gốc cây (Rukkhamūlika)**, **Hạnh không nằm (Nesajjika)** liên tục trong nhiều tháng.

Năm 1293, khi đang giảng dạy tại tu viện Taung Waing Kalay ở Mawlamyine, Ngài đã đến nương tựa và thực hành phương pháp quán **Thiền Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna-vipassanā)** dưới sự hướng dẫn của Ngài Thiền sư Mingun Jetawun ở thị trấn Thaton. Trong vòng 4 tháng, Ngài đã thực hành xuất sắc đến mức vị thầy hướng dẫn vô cùng hài lòng, sau đó vì vị trụ trì tu viện cũ viên tịch nên Ngài phải rời Thaton để về tiếp quản các công việc của tu viện.

Năm 1300, khi trở về sống tại làng quê Seikkhun khoảng 7 tháng, Ngài bắt đầu hướng dẫn phương pháp quán **Thiền Tứ Niệm Xứ** cho những người thân quyến, từ đó tiếng tăm của Ngài dần lan rộng.

### Kết quả từ chuyến hoằng pháp thế giới lần thứ bảy

Trước khi được Hội Hỗ trợ Giáo pháp (Buddha Sāsananuggaha Organization) thỉnh mời về tịnh xá Thathana Yeiktha tại Yangon vào năm 1311, Ngài Thiền sư đã có hơn 30 chi nhánh dạy **Thiền Tứ Niệm Xứ**. Theo thống kê hiện nay (năm 1979), tại Myanmar đã có 298 chi nhánh và số người thực hành **Thiền Tứ Niệm Xứ** một cách hệ thống đã vượt quá con số 884.315 người.

Tại Sri Lanka (đảo quốc Se-lan), từ năm 1317 (04-08-1955) đã có hơn 30 chi nhánh và gần 20.000 hành giả. Tại Thái Lan, Campuchia và Lào có hơn 300 chi nhánh; tại Indonesia từ năm 1315 (17-12-1953) đã có hơn 70 chi nhánh, có thể ước tính được số lượng hành giả lớn đến thế nào.

Đặc biệt, từ ngày 1 tháng 4 đến ngày 7 tháng 7 năm 1979 (tổng cộng 118 ngày), Ngài cùng với 5 vị Tỳ-kheo tùy tùng đã đi vòng quanh thế giới qua 9 quốc gia: Nhật Bản, Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Thụy Sĩ, Ý, Hà Lan, Tây Đức và Thái Lan để hoằng truyền giáo pháp **Thiền Tứ Niệm Xứ**. Đây là chuyến hoằng pháp nước ngoài lần thứ 7 của Ngài.

## PAGE 198

Tại Washington, các buổi thuyết pháp và hướng dẫn thiền với số lượng lên tới 200 hành giả đã được tổ chức thành công tốt đẹp.

Vào ngày 22 tháng 4 tại chùa Phật giáo Washington (Washington Buddhavihara), 13 vị Tỳ-kheo Thượng tọa bộ (Theravāda) từ 5 quốc gia: Ấn Độ, Sri Lanka, Campuchia, Thái Lan và Myanmar đã tụ hội. Dưới sự chủ trì của Ngài Thiền sư, **Ngôi tháp Sīmā - Vùng đất chiến thắng của Giáo pháp Thượng tọa bộ** đầu tiên đã được kết giới tại Hoa Kỳ. Đây chính là cột mốc đặt nền móng cho **Giáo pháp Thiền Tứ Niệm Xứ Thượng tọa bộ** tại đất Mỹ.

Khi được nghe Pháp và thực hành theo sự hướng dẫn của Ngài Thiền sư ở nước ngoài, đã có những người òa lên khóc nức nở. Họ chia sẻ rằng đó là vì họ đã lầm tưởng các pháp tu tập như Zen (Thiền tông) là giáo pháp gốc của Đức Phật và đã đi sai đường trong suốt một thời gian dài. Trước khi đi hoằng pháp thế giới, Ngài Thiền sư đã chuẩn bị sẵn 5 bài giảng in bằng hai ngôn ngữ Anh - Miến, và tại những nơi đi qua, Ngài đã đích thân đọc và giảng giải bằng hai ngôn ngữ này khi có cơ hội.

Các bài giảng được chuẩn bị cũng được lựa chọn kỹ lưỡng để phù hợp với người phương Tây, ngay cả việc chọn lựa nội dung cũng vô cùng thú vị. (Các bài giảng hoằng pháp thế giới này hiện đã được in thành sách).

### Sự bảo chứng thực tiễn của Thiền Tứ Niệm Xứ hiện đại

Các giáo lý về **Nghiệp và Quả (Kammaphala)**, **Cuộc đời Đức Phật (Buddhavamsa)** và **Bát Thánh Đạo (Magga)**, **Giới (Sīla), Định (Samādhi), Tuệ (Paññā)**, **Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna)** là những điều căn bản đầu tiên cần biết trong Phật giáo Thượng tọa bộ. Bên cạnh đó, các câu văn sau đây (vốn hiếm thấy trong các tác phẩm khác của Ngài) đã làm nổi bật tính thời đại, sự tỉ mỉ chính xác và sự bảo chứng thực tế của các khóa thực hành **Thiền Tứ Niệm Xứ**:

(1) “Bây giờ vị đã ghi nhận được 2 phút rồi; trong vòng 1 phút, vị có thể ghi nhận được từ 50 đến 60 đề mục. Trong mỗi một sát-na ghi nhận đều đang phát sanh các chi pháp của **Bát Thánh Đạo**.” (Trang 11).

(2) “Các nhà khoa học ở châu Âu và Mỹ này nói rằng khi chiếu phim, trong vòng một giây có tới 30 sự thay đổi của hình ảnh trên phim...”

## PAGE 199

đã được giải thích rõ: 'Ánh sáng từ bóng đèn điện cũng có sự thay đổi 50 lần trong một giây'. (Trang 37).

(3) 'Những người thực hành theo đúng chỉ dẫn, tự mình chứng nghiệm các tuệ quán (vipassanā-ñāṇa) đặc biệt như Đạo Quả và cảm thấy vô cùng mãn nguyện đã lên đến con số hơn một trăm ngàn người'. (Trang 33).

(4) '**Yo hi koci bhikkhave** (v.v.) **anāgāmitā**... Theo lời xác nhận và chỉ dạy đó, dù chưa đắc đến quả Bất Lai (Anāgāmi) thì việc chứng đắc quả Dự Lưu (Sotāpanna) là điều chắc chắn. Trong thời đại hiện nay, nếu ai nỗ lực thực hành theo đúng kinh điển Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna), bắt đầu từ việc quan sát sự 'phồng' 'xẹp' và bất cứ khi nào các cử động thân thể hiện khởi rõ rệt, hay khi các trạng thái tâm, các cảm thọ (vedanā), sự thấy, sự nghe, v.v. xuất hiện rõ ràng mà không ngừng quan sát, thì trong khoảng một đến hai tháng, số người chứng ngộ Đạo Quả và Niết Bàn (Nibbāna) hiện nay là rất nhiều'. (Trang 50).

(5) 'Sư không thuyết giảng dựa trên những suy nghĩ hay quan điểm cá nhân. Sư cũng không thuyết giảng chỉ dựa trên kinh nghiệm của năm mười thiền sinh. Sư thuyết giảng vì hàng trăm thiền sinh đã chứng nghiệm như vậy, và hiện nay vẫn đang có những vị tiếp tục chứng nghiệm. Đó là lý do Sư thuyết giảng'. (Năm 1320, Pháp thoại Cơ bản về Vipassanā, trang 115).

### Trách nhiệm với Pháp học (Pariyatti) và danh tiếng thế giới

Mặc dù Ngài Hòa thượng phải đi khắp thế giới để thuyết giảng và hướng dẫn thiền quán (Vipassanā) nhằm phát triển và truyền bá giáo pháp thực hành (Paṭipatti), nhưng Ngài vẫn không lơ là trách nhiệm đối với Pháp học, và vẫn đang tiếp tục thực hiện cho đến nay.

1. Vào năm 19 hạ lạp, lúc 39 tuổi (năm 1305), giữa những tiếng súng máy và bom đạn của thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng, Ngài đã hoàn thành việc biên soạn bộ sách lớn khảo cứu về phương pháp thiền quán 'Vipassanā Shunee' gồm hai tập dày 950 trang chỉ trong vòng 7 tháng.

## PAGE 200

[Đến nay bộ sách đã được tái bản lần thứ 9. Vào thời điểm chiến tranh đó, tại làng Ywar Thit Gyi, với sự giúp đỡ của Ngài Hòa thượng U Sundara (nay là Aggamahāpaṇḍita, Hòa thượng chùa Shwezedi) tại nhà in nhỏ của người sơ tán, 500 bản đầu tiên đã được in bằng loại giấy dùng để quấn cán thuốc lá. Khi tập hai sắp in xong thì làng Ywar Thit Gyi bị ném bom và bản thảo đã bị thiêu rụi trong hỏa hoạn].

2. **Mahāsatipaṭṭhāna Sutta Nissaya** (Năm 1311, cùng với các bài giải thích ý nghĩa).

3. **Visuddhimagga Nidānakathā** (Năm 1319, viết bằng tiếng Pāḷi. Theo lời yêu cầu của Hội đồng Tăng-già thực hiện kết tập lần thứ sáu, bao gồm các khảo cứu về văn bản và lịch sử).

4. **Visuddhimagga Mahāṭīkā Nissaya** (Năm 1322, gồm 4 quyển lớn, mỗi quyển khoảng 500 trang. Ngài đã viết so sánh các triết học Ấn Độ giáo như thuyết nguyên tử với các bộ luận bằng tiếng Hindi, Sanskrit và tiếng Anh).

5. **Visuddhimagga Miến dịch** (Năm 1323, gồm 4 quyển khổ lớn dày hơn 500 trang. Theo lời yêu cầu của Ngài Hòa thượng chùa Masoeyein - Chủ tịch Hội đồng Tăng-già kết tập lần thứ sáu, bậc Thống ngự quốc sư (Abhidhaja Mahāraṭṭhaguru), Ngài đã vừa giảng dạy cho các thiền sư và thiền sinh Tỳ-kheo, vừa biên soạn bản dịch Nissaya từ bộ Chú giải **Visuddhimagga** và bộ Đại Phụ chú giải (**Mahāṭīkā**)).

6. Các bộ sách là bài giảng như: Pháp thoại Cơ bản về Vipassanā, **Paticca-samuppāda** (Thập nhị nhân duyên), **Dhammacakka** (Chuyển Pháp Luân), **Anattalakkhaṇa** (Vô ngã tướng), **Mahāsamaya Sutta** (Kinh Đại Hội), v.v. đã được xuất bản hơn 40 bộ.

Vì những lý do này, từ năm 1314 trước khi diễn ra kỳ Kết tập Tam Tạng lần thứ sáu (năm 1316), trong việc chuẩn bị và điều hành các công việc kết tập — đặc biệt là việc hiệu đính và san định hơn một trăm bộ kinh điển Pāḷi, Chú giải và Phụ chú giải — Ngài Hòa thượng đã được giao trọng trách lớn nhất cùng với các vị Hòa thượng thành viên khác.

Trong kỳ kết tập này, giống như Ngài Mahā Kassapa và Ngài Ānanda trong kỳ kết tập đầu tiên, Ngài Hòa thượng Mahasi đóng vai trò là vị vấn giả (người hỏi) và Ngài Hòa thượng Tipitakadhara (bậc thông suốt Tam Tạng) đóng vai trò là vị đáp giả. Ngoài ra,

## PAGE 210

từ năm 1318, khi tiến hành kết tập cả các bộ Chú giải và Phụ chú giải, Ngài Hòa thượng lại tiếp tục đảm nhiệm vai trò thẩm định trong các phiên kết tập.

Ban đầu, người ta cũng đã thử sắp xếp các vị khác thay thế vị trí của Ngài, nhưng vì đây là công việc đòi hỏi năng lực thực sự nên hai vị Hòa thượng này vẫn là những người gánh vác trách nhiệm nặng nề nhất từ đầu đến cuối, được xem là hai cánh tay đắc lực nhất của kỳ Kết tập lần thứ sáu trong mọi việc từ hiệu đính văn bản đến thuyết giảng và vấn đáp.

Đối với Ngài Hòa thượng Tipitakadhara tôn kính, vào năm 1315 — một năm trước kỳ kết tập — Ngài đã đắc danh hiệu Tipitakadhara theo một sự sắp đặt chuẩn xác của nhân duyên, nên tất cả đều công nhận Ngài là 'người bạn đồng hành' cùng sự ra đời của kỳ Kết tập lần thứ sáu. Tuy nhiên, đối với Ngài Hòa thượng Mahasi tôn kính, vì mọi người thường chỉ biết đến Ngài như một bậc thực hành (thiền sư dạy thiền), nên ngoại trừ những người gần gũi từ sớm, có rất ít người biết đến trình độ Pháp học uyên thâm của Ngài.

Một số học giả Pāḷi quốc tế từng tiếp xúc gần gũi với Ngài về phương diện Pháp học đã sớm nhận ra và kính trọng Ngài ngay từ trước kỳ kết tập. Ví dụ, để chuẩn bị cho kỳ Kết tập lần thứ sáu, một phái đoàn truyền giáo gồm các bậc trí giả như Hòa thượng **Bhikkhu Ānanda Maitreya (Aggamahāpaṇḍita)**, Hòa thượng **Bhikkhu Buddhadatta (Aggamahāpaṇḍita)** từ Srilanka đã đến Miến Điện lần đầu tiên. Khi trở về Srilanka, Ngài Hòa thượng Ānanda Maitreya đã nói với các tu sĩ và cư sĩ thân thiết rằng:

'Tại Miến Điện, tôi đã gặp được hai vị Tipitakadhara', Ngài đã nhắc đến danh hiệu của Hòa thượng Mahasi và tán dương rằng Ngài có thể giải đáp mọi câu hỏi hóc búa và khó khăn nhất liên quan đến tạng định (Piṭaka).

[Trong lịch sử quan hệ Srilanka - Miến Điện qua các thời đại, lịch sử truyền bá Tứ Niệm Xứ của Ngài Hòa thượng từ Miến Điện sang Srilanka là một chương có thể làm thay đổi cả một thời đại của giáo pháp tại Srilanka hiện nay].

## PAGE 202

Bậc ân sư Abhidhaja Mahāraṭṭhaguru, Ngài Hòa thượng Ma-so-yein cũng nhớ lại những lời tường trình và phân tích của mình trong kỳ Kết tập lần thứ sáu liên quan đến bản Niissaya của bộ Đại Chú giải Visuddhimagga (Vism-mhṭ) rằng:

“Ngài Mahāsi Sayadaw có thể nhìn thấu những điểm sai sót mà ngay cả các bậc thầy soạn thảo Abhidhammattha-saṅgaha (Thắng Pháp Tập Yếu), các bậc thầy soạn bản Ṭīkā-kyaw (Phần chú giải súc tích) hay các nhà soạn sách khác cũng không nhận ra. Trong chương Diṭṭhivisuddhi (Kiến Tịnh) thuộc phần Kammaṭṭhāna (Đề mục thiền định) của tập Saṅgaha, có đoạn nói rằng phải phân biệt Danh và Sắc thông qua Lakkhaṇa (Đặc tính), Rasa (Phận sự), Paccupaṭṭhāna (Sự hiện khởi) và Padaṭṭhāna (Nhân gần). Khi ấy, trong kỳ Kết tập, Ngài đã chỉ ra rằng Nhân gần (Padaṭṭhāna) chưa nên đề cập trong chương Kiến Tịnh (Diṭṭhivisuddhi), mà chỉ nên đưa vào chương Kaṅkhāvitaraṇavisuddhi (Đoạn Nghi Tịnh).

“Đừng nói đến việc có ai hơn được Ngài Mahāsi Sayadaw ở đây, ngay cả việc tìm một người ngang hàng cũng không hề dễ dàng. Chính vì biết rõ năng lực và tài đức của Ngài Mahāsi Sayadaw nên chúng tôi đã khuyến khích Ngài soạn thảo bản Niissaya cho bộ Đại Chú giải Visuddhimagga này.” Ngài đã ban lời tán dương và khích lệ như vậy.

Vị Thánh mẫu mực này cũng đã góp sức hết mình.

Dù phải nêu danh tánh của hai bậc ân sư là Ngài Mahāsi Sayadaw và Ngài Mingun Tipiṭakadhara Dhammanāda, Tipiṭaka Nikāya Sayadaw, nhưng thực chất đây là cách để trình bày một cách khách quan (Dhammādhiṭṭhāna) về sự đứng vững vững chãi và đúng đắn trên mọi phương diện của Giáo pháp Theravāda tại Myanmar thời hiện đại.

Kẻ chú trọng Pháp học (Pariyatti) nhưng không quên Pháp hành (Paṭipatti), người trì giữ Pháp hành nhưng không rời bỏ Pháp học. Dù về danh xưng hay âm hưởng, đôi khi ta ngỡ như hai dòng chảy riêng biệt, nhưng trong việc gánh vác sứ mệnh Giáo pháp, các Ngài luôn là một khối thống nhất, để lại bài học làm gương cho các thế hệ mai sau.

Được sinh ra tại đất nước Myanmar, dưới bóng mát của Giáo pháp do các bậc vĩ nhân (Ājānīya) này dẫn dắt, thật là một niềm tự hào vô tận.

## PAGE 203

Ngày nay, khi mầm mống Giáo pháp Theravāda đã lan rộng khắp thế giới, trọng trách lịch sử và vận mệnh đã đặt lên vai người dân Myanmar trong việc chia sẻ hạnh phúc đến với mọi người trên toàn cầu. Theo đó, người dân Myanmar đang nắm giữ những phương pháp tu tập tuyệt vời để nâng tầm giá trị cuộc sống và đạt đến hòa bình thực sự, sẵn sàng để thực hiện sứ mệnh ấy một cách dễ dàng.

Nguyện xin những bậc Thánh (Ariya) mẫu mực thời Sīhaḷa này cũng sẽ hỗ trợ và trợ duyên cho việc truyền trao Giáo pháp Theravāda từ Myanmar ra khắp thế giới.

Nguyện cho tất cả có được tri kiến đúng đắn và hưởng hạnh phúc.

Bậc thiện trí, giáo pháp cao thượng, sẽ lan tỏa và trường tồn khắp thế gian.

Ngày rằm tháng Tabaung, năm 1340 (12-3-1988)

Htay Hlaing

## PAGE 204

## Khai mở kinh văn

**Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa**
**Apaṇṇaka Paṭipadā (Pháp hành chắc chắn)**

### Sự hưng thịnh và hạnh phúc chắc chắn

Trong thế gian, mong ước chung của mọi chúng sanh là sự hưng thịnh và hạnh phúc. Tuy nhiên, trong cách tư duy, lời nói và hành động để đạt được sự hưng thịnh và hạnh phúc ấy, mỗi người mỗi khác, không ai giống ai.

Theo cái nhìn từ tuệ Toàn Giác của Đức Phật, Ngài đã chỉ dạy ba con đường để mọi chúng sanh đạt được sự hưng thịnh và hạnh phúc, đó là: **Dāna (Bố thí), Sīla (Trì giới) và Bhāvanā (Tu thiền)**; nghĩa là sự cho đi, sự kiêng tránh và sự thực hành.

## PAGE 205

Bố thí, trì giới và nhẫn nhục

Có lẽ quan niệm của đa số chúng sanh thường tương phản với sự thực về việc chấp nhận chịu thiệt thòi hay mất mát. Ngay khi bắt đầu biết cho đi, người ta thường nghĩ rằng mình đang phải chịu tổn thất. Khi phải tránh né (điều ác) hay nhường nhịn, họ nghĩ mình đang chịu lép vế, đang từ bỏ quyền lợi của mình một cách vô ích. Với việc tu tập, họ lại càng nghĩ rằng đó là sự hy sinh to lớn, là hành động tự hành hạ bản thân.

Quan niệm thế gian và cái nhìn của Đức Phật nói chung có thể có sự mâu thuẫn trái ngược nhau. Tuy nhiên, giáo pháp của Đức Phật vô cùng minh bạch, và những lời cam kết của Ngài cũng hết sức mạnh mẽ:

1. **Bố thí (Dāna):** Từ chín mươi mốt kiếp trước cho đến tận ngày nay, chưa từng có một ai vì dũng cảm bố thí mà trở nên nghèo khổ. Những ai đang giàu sang, thịnh vượng đều chính là những nhà hảo tâm đã từng thực hành hạnh bố thí, như đã được thuyết giảng rõ ràng trong các kinh như “Tương Ưng Lục Xứ - Kinh Các Gia Đình” (Samyutta Nikāya - Kula Sutta, SN 35.210/SN 2.507).

2. **Trì giới (Sīla):** Chỉ có trì giới mới khiến một người được những người xung quanh yêu mến, kính trọng và giúp người đó có được mọi thứ như ý nguyện giống như cây như ý (padesāpinn). Điều này đã được Đức Phật khẳng định một cách mạnh mẽ trong “Trung Bộ - Kinh Ước Nguyện” (Majjhima Nikāya - Ākaṅkheyya Sutta, MN 6/M-1.39).

3. **Tu thiền (Bhāvanā):** Việc vừa mang lại lợi ích cho chính mình vừa giúp ích cho người khác, hay chỉ cần giúp người khác mà cũng mang lại lợi ích cho bản thân — một mũi tên trúng hai đích — chính là công việc hành trì Giáo Pháp. Đây là cách tốt nhất để giúp chúng sanh được giàu sang an lạc. Trong các kinh như “Tương Ưng Đại Phẩm - Kinh Sedaka” (Samyutta Nikāya - Sedaka Sutta, SN 47.19), Đức Phật đã dùng những ví dụ so sánh để chỉ ra rõ ràng rằng đây không phải là công việc của kẻ ích kỷ chỉ biết lo tìm lối thoát cho riêng mình.

Ngay cả với những ai tha thiết muốn dũng cảm bố thí để mang lại sự thịnh vượng cho toàn thế gian, thì tại một nơi nào đó, luôn có sẵn

## PAGE 206

những vật phẩm cúng dường đang chờ đợi họ. Hơn thế nữa, như lời Ngài dạy: “Vị ấy soi sáng thế gian này” (So maṃ lokaṃ pabhāseti), nếu ai muốn tu tập để trở thành bậc “Vô Thượng Phước Điền” (Aggakkhiṇeyya) — bậc có thể đem lại ánh sáng cho toàn thế giới — thì những phương pháp thực hành cụ thể, dễ dàng theo từng cấp độ vẫn còn đang rất mới mẻ (tươi nguyên). Đức Phật cũng chưa từng thuyết giảng những phương pháp thực hành mà con người không thể tuân giữ được.

### Không ích kỷ - Hãy cùng nhau truyền bá

Trong ba phương pháp trên, trách nhiệm và vốn liếng bỏ ra ngày càng nhẹ nhàng hơn (theo thứ tự từ bố thí đến tu thiền), nhưng sức mạnh và hiệu quả (quả báo) lại ngày càng to lớn hơn. Điều này đã được thuyết giảng chi tiết bằng cách so sánh sức mạnh giữa các phương pháp trong các kinh như “Tăng Chi - Kinh Veḷāma” (Aṅguttara Nikāya - Veḷāma Sutta, AN 9.20), “Trường Bộ - Kinh Kūṭadanta” (Dīgha Nikāya - Kūṭadanta Sutta, DN 5/D-1.136).

Dù tin hay không, dù muốn thực hành hay không, rõ ràng đây vẫn chính là những “Hạnh pháp chắc chắn” (Apaṇṇaka Paṭipadā) — những phương pháp tu tập chắc chắn đem lại sự thịnh vượng (M-2.62).

Những phương pháp mang lại sự thịnh vượng cho đời sống này không phải là những cách mà chỉ có người thực hành đơn độc mới được hưởng lợi. Tùy theo năng lực của người thực hành, lợi ích có thể lan tỏa từ một gia đình, một địa phương cho đến tận vô biên thế giới.

Vì vậy, sau khi Đức Phật đã tập hợp được sáu mươi vị Thánh A-la-hán, những bậc đã thấu triệt và có khả năng chỉ dạy những chân lý này, Ngài liền dạy rằng:

“Này các Tỳ-kheo... hãy đi du hành (thuyết pháp và truyền bá) vì sự hạnh phúc cho số đông, vì sự an lạc cho thế gian, vì lòng bi mẫn đối với đời... Chớ có đi hai người trên cùng một ngả đường.”

## PAGE 207

Đức Phật không muốn các vị Tăng chỉ thụ hưởng hạnh phúc của Thiền chứng (Samāpatti) cho riêng mình (Vinaya - Mahāvagga 3.27). Bởi vì những “phương pháp đem lại sự thịnh vượng chắc chắn” này không phải là những cách thức được tìm thấy chỉ sau một đời, hai đời, hay một trăm, một ngàn đời nghiên cứu. Đó là những phương pháp có được từ sự đầu tư bằng vô vàn số kiếp trải qua bốn A-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp, bằng rất nhiều mạng sống và rất nhiều tài sản.

Dù đã phải tìm kiếm một cách vô cùng khó khăn như vậy, nhưng vì chúng sanh quá u mê, còn phương pháp dù dễ dàng nhưng lại quá thâm thúy, nên ban đầu Ngài đã có chút ngần ngại trong việc thuyết giảng (Vinaya - Mahāvagga - Phạm Thiên cầu pháp).

### Bản chất của Pháp: Không phân biệt cá nhân, thời gian hay không gian

Ngoài ra, những phương pháp mang lại sự thịnh vượng này không hề có sự hạn định kiểu như: “Chỉ có thể hành trì vào thời Đức Phật, thời nay không thể đạt được; chỉ hạng người này mới đạt được, hạng người kia thì không; hay hạng người ở cấp độ nào thì chỉ thực hành đến mức độ đó.”

Bất cứ ai cũng có quyền thực hành tùy theo mức độ thịnh vượng mà mình mong muốn, và thực hành bao nhiêu thì sẽ đạt được sự thịnh vượng bấy nhiêu.

Giống như câu nói: “Dù có lặn sâu trăm sải dưới nước, trái ớt hễ là ớt thì phải cay,” bản chất của tự nhiên là không phân biệt thời gian, không gian và không thiên vị bất kỳ ai.

Những bậc vĩ nhân mẫu mực này cũng đang minh chứng và làm sáng tỏ điều đó.

Ngày nay, tại hòn đảo Ceylon nhỏ bé (gọi là Sri Lanka) — nơi có lượng dân cư chỉ khoảng 13 triệu người và diện tích không đáng kể trên bản đồ thế giới — dù Đức Phật không còn tại thế, nhưng các hạnh Bố thí, Trì giới... cùng với những bậc đại anh hùng, hàng triệu bậc Thánh nhân Thắng trí đã xuất hiện và tỏa sáng.

## PAGE 208

Những chứng cứ về cả phương diện vật chất lẫn tâm linh vẫn còn có thể tìm thấy cho đến tận ngày nay.

Không nói đâu xa về phương diện tâm linh, nếu những người từ một hai trăm năm trước thấy được cảnh thế giới loài người hiện nay ban đêm rực rỡ ánh điện, vừa nghe vừa xem truyền hình và đi lại giữa không trung, thì làm sao họ có thể tin nổi?

Thời đại không hề suy thoái đi mà đang ngày càng tiến bộ hơn.

Về phương thức tu tập căn bản nhất là bố thí, trưởng giả Cấp Cô Độc vào thời Đức Phật đã cúng dường 54 triệu (koti). Sau thời Đức Phật, đại đế Asoka đã cúng dường 100 triệu cho đại tự viện Asokarama. Vào thời Srilanka, vua Duṭṭhagāmaṇi Abhaya đã cúng dường hơn 1.000 triệu. Lịch sử đã minh chứng rằng, trái với suy nghĩ của một số người, thời đại không hề suy thoái mà trái lại ngày càng hưng thịnh hơn.

Ngay phía sau hành động bố thí đơn giản nhất, những nguồn lực vô hình ẩn chứa sâu thẳm bên trong lại vô cùng to lớn. Ngoại trừ những địa vị đặc biệt như tả hữu Thống tướng Chánh pháp vốn chỉ dành cho duy nhất một người trong một kỳ giáo pháp của một vị Phật, thì về năng lực tâm linh (Dhamma), hành giả vẫn có thể đạt được các nguồn lực như bố thí, trì giới, tu thiền không khác gì đại đệ tử thời Đức Phật. Những nguồn lực này có thể đạt được bất chấp thời gian, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo hay nơi chốn. Chúng ta hãy tôn kính ghi nhớ những bài học kinh nghiệm được đánh đổi bằng chính cuộc đời của những bậc vĩ nhân mẫu mực thời Srilanka.

**Người hiền giữ Pháp chẳng già nua.**

(**Bổn sanh Mahāsutasoma**)

## PAGE 209

Chánh pháp của bậc thiện trí chẳng bao giờ cũ kỹ, héo tàn hay hư hoại, mà trong mọi thời đại đều tỏa sáng rạng ngời, luôn luôn tươi mới và tràn đầy sức sống.

## PAGE 210

## Chương 1

### Những Bậc Mẫu Mực Đã Hiến Dâng Mạng Sống Vì Đất Nước Và Giáo Pháp

Bậc xứng đáng với Giáo Pháp

**Giáo Pháp dành cho bậc phước đức,**  
**Chỉ bậc phước đức mới có được,**  
**Kẻ thiếu phước đức chẳng bao giờ**  
**Trụ vững, hộ trì cho Giáo Pháp.**

Những người ít phước đức không có cơ hội được hộ trì Giáo Pháp dù chỉ một chút, chỉ những bậc có đại phước đức mới có thể làm được điều đó. Bởi vì Giáo Pháp này là Giáo Pháp của Đức Phật, bậc có phước đức vô song. (**Kệ ngôn cổ đức**)

## PAGE 211

### Trưởng lão Kalyāṇīya và một trăm bài kệ trên chảo dầu sôi

Tại thành phố Kalyāṇī gần sông Kalyāṇī ở phía tây nam đảo quốc Sri Lanka, vua Kalyāṇī Tissa (306-207 TCN) trị vì. Ông còn được gọi là "Yaṭhāla Tissa".

Vua phong cho em trai là Ayya Uttiya làm Hoàng thái tử (Uparāja). Cả hai anh em đều từng theo học với Đại trưởng lão Kalyāṇīya. Khi lên ngôi, nhà vua cung thỉnh bậc thầy của mình cùng chư Tăng tùy tùng vào cung đặt bát cúng dường hằng ngày.

Chẳng bao lâu sau, vị Hoàng thái tử có mối quan hệ bất chính với Vương hậu. Khi người anh bắt đầu nghi ngờ và phát hiện, người em đã bỏ trốn đến một ngôi làng nhỏ lánh nạn.

Sau một thời gian, vì nhớ nhung Vương hậu, Thái tử Uttiya đã viết một lá thư và sai người cận tùng tin cậy mang đến cho bà. Một buổi sáng nọ, người cận tùng này giả làm tu sĩ, đắp y chờ sẵn ở cổng hoàng cung. Khi Trưởng lão Kalyāṇīya cùng chư Tăng đi vào cung thọ trai, anh ta đã trà trộn vào đoàn thể để đi cùng.

### Thư tình bị phát hiện trong buổi đặt bát

Trưởng lão Kalyāṇīya nghĩ rằng: "Chắc đây là một vị sư quen biết với nhà vua", nên không hỏi han gì mà cứ thế đi vào. Nhà vua cũng tin rằng: "Đây chắc là đệ tử của Trưởng lão", nên không hề thẩm tra. Như thường lệ, vua và Vương hậu cùng dâng vật thực. Sau khi nghe kinh thuyết chúc phúc (anumodanā), nhà vua vừa đứng dậy đi vào bên trong thì Vương hậu tiến lại gần chư Tăng để thu dọn bát đĩa.

## PAGE 212

Khi chư Tăng chuẩn bị ra về, kẻ đưa thư giả dạng tu sĩ liền ném một bức thư viết trên lá buông xuống sàn nhà ngay cạnh Vương hậu. Nhà vua nghe thấy tiếng động khi chưa kịp đi vào trong nên quay đầu nhìn lại. Thấy bức thư lá buông, ông lập tức quay lại nhặt lên xem. Sau khi đọc xong, cơn thịnh nộ bùng lên dữ dội.

Nhà vua lập tức sai người đuổi theo đoàn chư Tăng vừa rời cung, bắt giữ vị sư giả mới đi theo lần đầu này về thẩm vấn.

Kẻ giả danh biết rằng nếu thú nhận sự thật thì cả bản thân và chủ nhân (Thái tử) đều sẽ bị xử tử, nên hắn nảy ra ý định lấy Trưởng lão Kalyāṇīya làm bia đỡ đạn. Hắn biết Trưởng lão là thầy cũ của vua và rất được tôn kính, nên khi vua tra hỏi, hắn thưa rằng:

"Tâu Đại vương, chính ngài Trưởng lão đã bảo bần tăng phải ném bức thư này trước mặt Vương hậu ạ."

Nghe vậy, nhà vua càng điên tiết hơn:

"Ta cứ tưởng là bậc A-la-hán nên mới tôn thờ, không ngờ lại đi làm tay sai cho đứa em ta. Chẳng lẽ thầy ta muốn chiếm đoạt cả Vương hậu của ta để làm vua hay sao?" ông gầm lên.

### Trưởng lão Kalyāṇīya và chảo dầu sôi

Vua lập tức triệu tập quân đao phủ, sai đến chùa bắt giữ và áp giải Trưởng lão Kalyāṇīya về cung. Tại hoàng cung, ông ra lệnh đổ đầy dầu vào một cái chảo lớn và đốt lửa đun thật sôi. Khi Trưởng lão bị đưa đến, nhà vua mắng nhiếc thậm tệ mà không hề thẩm tra thực hư, rồi hạ lệnh tức khắc ném ngài vào chảo dầu để nấu chết.

Trong lúc nhà vua vì thiếu sáng suốt và nóng giận mà hạ lệnh cho quân lính, các vị đại thần trí tuệ đã thay nhau ra sức can ngăn, trình bày rõ lẽ phải trái.

## PAGE 213

Dù họ đánh cược cả mạng sống để dũng cảm ngăn cản, nhưng nhà vua không hề bận tâm, phớt lờ mọi lời khuyên và vẫn kiên quyết ban lệnh hành hình.

Trưởng lão biết rằng dù mình có nói ra sự thật thì vua cũng chẳng tha mạng cho ai, nên ngài không nói lời nào nữa. Ngài bình thản để quân đao phủ dẫn đi với tâm trạng đầy sự kinh sợ (saṃvega) đối với luân hồi. Ngài liên tục tu tập tâm từ và quán chiếu tuệ quán (vipassanā). Khi đến nơi, theo sự áp giải của quân lính, ngài bước xuống chảo dầu sôi sùng sục.

Với sự định tĩnh không lay chuyển, ngài quán chiếu sâu sắc về bản chất của danh và sắc. Ngay khi bước vào chảo dầu, các tầng Đạo Quả lần lượt chín muồi, ngài chứng đắc quả vị tối thượng A-la-hán. Nhờ uy lực đức hạnh của bậc A-la-hán, ngay cả một sợi lông trên thân ngài cũng không hề bị nóng cháy.

### Tiền nghiệp của vị Đại trưởng lão

Như một con chim thiên nga vàng đậu trên tảng đá ngọc bích màu xanh, vị Đại trưởng lão đứng trên chảo dầu sôi và thuyết giảng cho đại chúng xung quanh về lỗi lầm của thân xác và sự nguy hiểm của vòng luân hồi. Ngài đã giảng tổng cộng một trăm bài kệ, được gọi là "Kệ ngôn chảo dầu" (Tēla Kaṭāha Gāthā).

Sau khi thuyết pháp xong, ngài quán chiếu về nghiệp báo của mình. Ngài thấy rằng trong một đời quá khứ khi còn là một cậu bé chăn bò, ngài từng cố ý dìm chết một con ruồi trong nồi sữa đang sôi sùng sục, và đó chính là ác nghiệp dẫn đến kết quả này.

"Thảm thay! Quả báo của hành vi bất thiện đó nay đã đến lúc chín muồi. Không thể tránh né, không thể thoát khỏi. Ta không thể thoái lui trước món nợ luân hồi này được nữa," ngài suy xét rồi bước thẳng xuống lòng chảo dầu sâu và trút bỏ gánh nặng ngũ uẩn, nhập Niết-bàn.

Vua Kalyāṇī Tissa sau đó ra lệnh chém kẻ đưa thư giả dạng làm ba khúc, rồi vứt xác hắn cùng nhục thân của ngài Trưởng lão xuống đại dương.

## PAGE 214

Khi ấy, các vị chư thiên gồm chư thiên ngự trên mặt đất (bhūma-deva), chư thiên ngự trên cây (rukkha-deva) và vị thần canh giữ đại dương đều phẫn nộ và bàn bạc với nhau rằng:

“Chúng ta hãy tiêu diệt tên vua ác ôn Kalyāṇi Tissa cùng với toàn bộ giang sơn và đất nước của hắn.” Sau đó, họ khiến cho nước đại dương dâng cao tràn vào một cách bất thường. Nước biển tràn ngập khắp toàn bộ vùng miền và chỉ còn cách kinh đô Kalyāṇī khoảng hai gāvuta (tương đương bốn dặm). (Sông Kalyāṇī cách bờ biển khoảng 16 dặm, bắt nguồn từ dãy núi nơi có dấu chân Phật Padacetiya, chảy dài khoảng 90 dặm.)

Khi nước đại dương cứ nhích dần lên cho đến khi chỉ còn cách một gāvuta, một vài vị đại thần Bà-la-môn vốn có tà kiến sâu nặng đã tâu lên rằng:

“Tâu hoàng thượng, nước lũ dâng cao bất thường đang khiến chúng sanh tử vong khắp nơi. Kinh thành Kalyāṇī giờ chỉ còn cách nước biển một gāvuta nữa thôi. Chỉ có cách cúng tế và cầu xin vị thần canh giữ đại dương Maṇimekhala thì chúng ta mới có thể thoát nạn.”

### Sự vi diệu của nghiệp lực

Đức vua, vì thiếu trí tuệ và sự suy xét, sau khi đã phạm phải nghiệp ác to lớn, lại tiếp tục chấp nhận lời đề nghị của các vị quan tà kiến đó và phạm thêm sai lầm nữa. Ngài cho trang điểm cho cô con gái duy nhất tên là Devī, lúc đó mới mười hai tuổi, bằng các đồ trang sức của thiên nhân, rồi đặt nàng vào trong một chiếc chum vàng lớn và thả trôi sông để cúng tế chư thần. Trong chum, ngài còn để sẵn lương thực kèm theo một dòng chữ ghi rằng: “Đây là công chúa Devī, con gái của vua Kalyāṇi Tissa, xin dâng lên cúng dường vị thần canh giữ đại dương.”

Định luật về nghiệp thực sự vô cùng vi diệu.

Khi công chúa Devī bị thả trôi sông, chiếc chum vàng dù bị sóng lớn cuốn đi, nhưng nhờ sự hộ trì của chư thiên, nó đã trôi vòng quanh đảo quốc Sri Lanka theo chiều kim đồng hồ rồi dạt vào bờ tại bến cảng gần ngôi chùa Toḷaka, thuộc vương quốc Rohaṇa, gần kinh đô Mahāgāma.

[Theo Từ điển danh từ riêng Pāli (**Dictionary of Pali Proper Names**), căn cứ vào chú giải Mahāvaṃsa-ṭīkā-432, nơi này được gọi là 

## PAGE 215

“Bến cảng chùa Toḷaka”. Tuy nhiên, trong các tác phẩm Madhura Rasavāhinī và Mahāvaṃsa Vatthu, tên gọi lại được ghi là Koṭṭhalaka hoặc Yoḷakalaṅkā.] Vị quan giữ bến cảng phát hiện ra chiếc chum vàng lớn, khi vớt lên và nhìn thấy một thiếu nữ xinh đẹp bên trong, ông ta vô cùng kinh ngạc. Khi biết đó là công chúa của vua Kalyāṇi Tissa, ông lại càng sửng sốt hơn.

Vị quan này đã trình báo lên vị đại trưởng lão đang trụ trì tại chùa Toḷaka và vị trưởng lão đã tạm thời nuôi nấng, chăm sóc nàng. Sau đó, vị quan bến cảng đã đến kinh đô Mahāgāma, nơi có ba mươi ngàn hộ gia đình, để yết kiến và trình báo sự việc lên vua Kākavaṇṇa Tissa. Đức vua sau đó đã phong nàng làm hoàng hậu với danh hiệu “Mahāvihāra Devī”. Họ cũng là anh em họ xa với nhau.

**Vihāra Devī** chính là thân mẫu của vị minh quân hộ pháp **Duṭṭhagāmaṇi** và em trai ngài là vua **Saddhā Tissa**.

Về phần vua Kalyāṇi Tissa, vì tin theo lời của các vị đại thần tà kiến nên đã thả con gái mình trôi ra đại dương để cầu mong sự bình an cho bản thân, nhưng công chúa không những không chết mà còn trở thành hoàng hậu của cả một vương quốc. Kể từ thời điểm công chúa bị thả trôi sông, nước biển đã tràn ngập khắp kinh đô Kalyāṇī, khiến cho thần dân bị rơi vào vòng xoáy của ác nghiệp và chịu cảnh chết chóc, diệt vong thảm khốc cùng với đức vua.

Nghiệp lực thực sự quá đỗi nhiệm mầu.

Chúng sanh thường lầm tưởng cái xấu là cái tốt nên vẫn luôn tươi cười hớn hở; ngược lại, đôi khi coi cái tốt là cái xấu nên lại u sầu, buồn bã và không thể chấp nhận được. Sự tốt và xấu đan xen lẫn nhau, đôi khi lại biến hóa như một màn ảo thuật. Chẳng phải “**Kamma-vipāko acinteyyo**” (Quả của nghiệp là điều không thể nghĩ bàn) đó sao?

Nghiệp vi diệu bao nhiêu thì chúng sanh lại tự mãn với cái trí tuệ ngắn ngủi của mình bấy nhiêu. Chính vì vậy, họ chưa bao giờ đạt được mục tiêu như mong đợi, cứ mãi sống trong đau khổ tột cùng rồi lại phải chết đi trong đau khổ.

Vì tưởng rằng sẽ được hạnh phúc, người ta cứ ngang nhiên làm những việc ác đạo (ducaita). Trong khi đó, việc nỗ lực giữ giới (sīla) để thân nghiệp và khẩu nghiệp được tốt đẹp, hay thực hành định (samādhi) để ý nghiệp được thanh tịnh, thì họ lại cho là một việc làm khó khăn.

## PAGE 216

Đối với những chúng sanh cứ mải mê suy nghĩ theo ý mình, nói năng tùy tiện và hành động theo sở thích rồi tự cho đó là quyền tự do đúng đắn, thì giáo pháp của Đức Thế Tôn về việc đoạn trừ nghiệp cũ và xây dựng nghiệp mới thực sự quá đỗi tinh tế.

Hơn thế nữa, pháp hành để phá vỡ cỗ máy định luật nghiệp báo (kamma-niyāma) đầy rẫy cả tốt lẫn xấu nhằm thoát ra khỏi cương vực của 31 cõi lại càng tinh tế và thâm sâu hơn nữa. Chỉ những ai dám thực hành trải nghiệm thực tế mới nhận thấy rằng đó là con đường mang lại hạnh phúc dễ dàng nhất.

Bà **Vihāra Devī** đã trở thành minh chứng cho sự thâm sâu của định luật nghiệp báo (kamma-niyāma); còn đại đức **Kalyāṇiya** thì đã chỉ ra rằng bến bờ của Thiền định, Đạo và Quả vốn tưởng chừng “không dễ dàng” thực ra lại nằm ngay trong tầm tay vậy.

[**Mahāvaṃsa-Pāḷi**-22, Chương 13, Kệ ngôn 22. **Madhuravatthu** số 22, **Kākavaṇṇatissavatthu**. **Sahassavatthu** (bản Sri Lanka) truyện số 39. Trong Mahāvaṃsa Vatthu, trưởng lão Kalyāṇiya còn được gọi là trưởng lão Abhaya, còn trong Madhura thì gọi là Dhammapāla.
Tác phẩm nổi tiếng “**Tele Kaṭāha Gāthā 100**” đã được Ngài U Candobhāsa tại chùa Theim, thị trấn Painwekon chuyển sang mẫu tự Myanmar và được Ngài Cố đại trưởng lão Mānlal dịch sang nghĩa tiếng Myanmar vào năm 1281.
Mời xem chi tiết trong **D.P.N.**]

## PAGE 217

**Tướng quân Theraputtābhaya** và **Đức vua Duṭṭhagāmaṇi Abhaya** (Phật lịch 383-407; 101-77 TCN)

Khi hoàng tử lớn Gāmaṇi (sau này là **Duṭṭhagāmaṇi**) lên năm tuổi và em trai Tissa (sau này là **Saddhātissa**) lên ba tuổi, đức vua Kākavaṇṇatissa đã thỉnh mời chư tăng đến để tổ chức lễ đút cơm (măng-ga-la).

Sau khi dâng cúng chư tăng, phần cơm sữa (nanno-ga-na) còn lại đức vua đưa cho hoàng hậu Vihāradevī ăn. Ngài cũng cho hai hoàng tử ăn và phán rằng:

“Này các con, hãy ăn đi. Nếu các con ruồng bỏ Giáo pháp của Đức Thế Tôn, thì ước mong số cơm các con đang ăn đây sẽ biến thành chất độc.” Hai vị hoàng tử đã vui vẻ ăn hết phần cơm ấy.

Đây chính là việc nuôi dưỡng huyết thống tâm linh ngay từ lúc các vị còn ở tuổi hiểu biết.

## PAGE 218

Hoàng tử lớn Gāmaṇi

Lại một lần khác, khi hai vị hoàng tử được 12 và 10 tuổi, đức vua lấy phần cơm canh còn lại sau khi năm trăm vị Tỳ-kheo đã thọ thực, chia vào ba chiếc bát. Trước tiên, ngài đưa cho mỗi con một bát và bảo:

“Này các con, hãy phát nguyện chân thật rồi hãy ăn. Chúng ta sẽ không bao giờ làm ngơ, không quan tâm, hay thiếu tịnh tín mà không cúng dường đến chư Tăng, bậc mà tổ tiên truyền đời luôn tôn kính thờ phụng. Nếu chúng ta làm như vậy, nguyện cho bát cơm này sẽ không tiêu hóa được và trở thành chất độc.” Hai hoàng tử đã theo lời phụ vương phát nguyện và vui vẻ ăn hết.

Đến bát cơm thứ hai, hai anh em phải phát nguyện rằng: “Chúng con sẽ không bao giờ bất hòa với nhau.” Cả hai cũng đã vui vẻ ăn hết bát cơm đó.

Đến bát cơm thứ ba, đức vua muốn thử lòng các con nên đã lấy lý do vùng phía bắc bên kia sông Gaṅgā đang bị các vị vua ngoại đạo cực đoan (**Damiḷa**) cai trị, rồi bảo các con hãy phát nguyện rằng: “Chúng con sẽ không đi đánh đuổi những kẻ ngoại đạo đó.” Nghe vậy, hoàng tử em Tissa đã cầm bát cơm ném đi. Còn hoàng tử anh Gāmaṇi thì bóp nát nắm cơm rồi không ăn, chỉ đảnh lễ phụ vương rồi bỏ đi.

Khi về đến phòng, hoàng tử không nằm ngay ngắn mà nằm co quắp lại. Thấy vậy, mẫu hậu đi đến bên cạnh khuyên nhủ:

“Con trai của mẹ, tại sao con lại nằm co xẻo như thế? Hãy duỗi chân tay ra nằm cho thoải mái đi con.” Hoàng tử đáp lời:

“Thưa mẫu hậu, phía bên kia sông Gaṅgā quân ngoại đạo đang thống trị, còn phía bên này thì đại dương Ghoṭhasamuddrā lại nằm sát ngay cạnh nhà. Trong cái nơi chật hẹp tù túng như thế này, làm sao con có thể duỗi chân duỗi tay mà ngủ được hả mẹ?”

## PAGE 219

Phía cực nam của đảo Sīhaḷa là vùng Rohaṇa, đóng đô tại Mahāgāma, còn toàn bộ vùng phía bắc sông Mahāveligaṅgā đều do quân xâm lược Coḷa cai trị, nên tại kinh đô Mahāgāma chỉ còn lại một khoảng đất nhỏ hẹp. (Thời xưa gọi là sông **Mahāvalukagaṅgā**). Đúng như câu nói “Bậc quân vương thể hiện qua khí chất”, khi nghe những lời đầy chí khí hào hùng và lòng yêu nước vượt xa lứa tuổi của con trai, phụ vương và mẫu hậu dù ngoài mặt không nói nhưng trong lòng vô cùng hài lòng và không khỏi mỉm cười. (**Mahāvaṃsa**-22, 73-87.)

Người hùng Abhaya

Trước khi đức vua băng hà, mười vị tướng quân dũng cảm, những người sẵn sàng xả thân vì Giáo pháp và đất nước, tuyệt đối trung thành với chủ nhân đã xuất hiện làm cánh tay đắc lực cho Gāmaṇi. Trong số đó, tướng quân **Abhaya** không chỉ là người đồng cam cộng khổ, đồng đội vào sinh ra tử ngoài thế vị mà còn là một bậc thiện tri thức lớn lao trên con đường tâm linh luân hồi.

Ông là con trai của Rohaṇa, người đứng đầu làng Kitti gần núi Koṭa. Ngay từ nhỏ, ông đã có thể nâng một phiến đá mà năm người lớn không khiêng nổi để chơi như một món đồ chơi. Khi **Abhaya** lên mười sáu tuổi, cha ông đã phải làm cho ông một cây gậy dài 16 tầm và dày 38 lóng tay. (Trong sách **Madhurarasa** ghi 28 lóng tay, còn **Mahāvaṃsa** bản Pāḷi ghi 38 lóng tay. Về sau, nếu có sự khác biệt sẽ ưu tiên theo bản **Mahāvaṃsa**).

**Abhaya** thường dùng cây gậy đó đánh gãy các cây thốt nốt, cây dừa, nên tiếng tăm về sức mạnh của ông dần lan xa. Khi vua Kākavaṇṇa nghe danh, đã tuyển chọn ông đến phục vụ dưới trướng hoàng tử lớn Gāmaṇi. Người cha vì không muốn con mình dấn thân vào con đường binh nghiệp nên đã vội vàng sắp xếp cho con xuất gia Sa-di.

Người cha vốn là người hộ tăng, chăm sóc tứ sự cho đại trưởng lão **Mahāsumma**, vị đang trú ngụ tại ngôi chùa trên núi Koṭa. Sau khi nghe pháp từ đại trưởng lão, ông đã chứng đắc quả Dự Lưu. Không lâu sau, ông xin từ bỏ chức vụ trưởng làng, bàn giao mọi tài sản cho con trai rồi xuất gia tỳ-kheo tại chính ngôi chùa đó. Các đề mục thiền định đã được ngài thọ nhận và tinh tấn thực hành. Chẳng bao lâu, ngài đã đắc quả A-la-hán. Do vậy, vị dũng sĩ Abhaya cũng được gọi là **Theraputtābhaya** (Abhaya con của vị trưởng lão). (**Mahāvaṃsa**-23, 55-63.)
## PAGE 220

Phần vị thân phụ đã chứng quả A-la-hán, vì không an tâm cho con trai Abhaya nên đã xin phép Đức vua và cho con xuất gia Sa-di ngay lập tức. Cả hai cha con cùng trú ngụ tại vùng **Kappakandara**.

Sa-di Abhaya đã trồng rất nhiều cây ăn trái như thốt nốt, dừa... cho chư Tăng và gần cây **Bồ-đề**. Một ngày nọ, khi Sa-di Abhaya đang đi vào làng, dũng sĩ **Goṭha-imbara** — một trong những dũng sĩ của vua **Kākavaṇṇatissa** — cùng nhóm tùy tùng trên đường đi đến **Mahāgāma** đã ghé vào chùa **Kappakandara** này. Sau khi ăn cơm xong, những người đi cùng nói muốn ăn dừa, nên **Goṭha-imbara** đã rung những cây dừa cho quả rụng xuống để chiêu đãi. Ăn xong, tất cả nằm ngủ một giấc tại đó.

Chẳng bao lâu sau, Sa-di Abhaya đi từ làng về. Thấy cây dừa bị gãy đổ, vỏ dừa và cơm dừa bị ăn uống vứt bỏ bừa bãi khắp nơi, vị Sa-di nổi giận hỏi chuyện thì biết do **Goṭha-imbara** làm. Ngài bèn quở trách nhẹ nhàng và nghĩ rằng: "Tên này chỉ biết cậy vào sức mạnh của mình mà không biết sức mạnh của người khác, ta sẽ cho hắn biết tay". Nói rồi, ngài tiến đến gần chỗ **Goṭha-imbara** đang ngủ, dùng ngón chân cái kẹp lấy chân hắn rồi kéo lê đi. **Goṭha-imbara** không cách nào vẫy vùng được, chỉ biết quằn quại đau đớn bị lôi đi.

Sau khi kéo lê khắp sân chùa và xoay vòng tròn, nhóm tùy tùng chạy đến định giải cứu cho dũng sĩ. Vị Sa-di chỉ dùng tay búng nhẹ vào từng người, khiến họ ngã lăn ra, người thì sưng vù, không ai dám lại gần nữa. **Goṭha-imbara** van xin: "Bạch chú tiểu... xin hãy thả tôi ra, tôi sẽ bồi thường tiền dừa, xin hãy thả ra". Chư Tăng quanh đó cũng cùng nhau khuyên giải nên ngài mới buông tay.

**Goṭha-imbara** chẳng những không giận mà còn nói lời cảm ơn: "Bạch chú tiểu, tôi cứ ngỡ mình là người mạnh nhất không ai bằng, nay gặp được chú tiểu tôi rất vui mừng vì đã tìm được bạn đồng hành".

## PAGE 221

Sau đó, vị dũng sĩ khuyên ngài nên hoàn tục để phục vụ triều đình, hứa hẹn sẽ nhận được nhiều phần thưởng và lương bổng hậu hĩnh. Sa-di Abhaya đáp: "Này ông, tôi không cần nhận từ nhà vua đâu. Cha mẹ tôi cũng đã rất giàu có rồi".

Thấy không thể thuyết phục được Sa-di Abhaya, **Goṭha-imbara** tiếp tục hành trình đến **Mahāgāma**. Một ngày nọ khi vào cung, vua **Kākavaṇṇatissa** hỏi rằng: "Ngoài **Goṭha-imbara** ra, còn ai có sức mạnh lớn nữa không?", vị dũng sĩ bèn tâu lên chuyện về vị Sa-di ấy. (Trong cuốn **Madhura** thì nói đó là vua **Duṭṭhagāmaṇi**). Nhà vua sai người đi mời, **Goṭha-imbara** mang theo tiền vàng và các vật phẩm cúng dường đến chùa **Kappakandara**. Sau khi cúng dường vật thực cho chư Tăng, vị dũng sĩ đến gặp Sa-di Abhaya:

**Goṭha-imbara**: Bạch chú tiểu, nay chú tiểu đã xuất gia nhưng vẫn chưa thể nỗ lực thực hành giáo pháp (Pāṭipatti). Sống đời cư sĩ, làm các việc công đức lành vẫn có thể hưởng được hạnh phúc cõi người, cõi trời. Đức vua nghe biết về chú tiểu nên rất vui mừng. Xin hãy hoàn tục và đi cùng tôi ngay bây giờ.

**Sa-di Abhaya**: Này thí chủ, tôi đã gặp được kiếp người khó đắc, gặp được giáo pháp nên đã xuất gia Sa-di, nỗ lực vun bồi giới hạnh. Tôi muốn thoát khỏi những khổ đau trong vòng luân hồi. Dù hiện tại chưa thể giải thoát ngay, nhưng vì ban ngày đã thấy rõ hầm sâu vực thẳm, nên ban đêm phải chú tâm để không bị rơi xuống đó.

**Goṭha-imbara**: Đúng vậy thưa chú tiểu... Thấy người ta đang bị cuốn trôi trong dòng nước, đang đi đến chỗ diệt vong mà mình có khả năng cứu giúp nhưng lại đứng nhìn thì không phải là người có lòng bi mẫn. Hiện nay bọn ngoại đạo (người Damilas) đang phá hoại cây **Bồ-đề**, bảo tháp, tượng Phật và chùa chiền, chắc chú tiểu cũng biết rõ. Chư Tăng thiếu thốn tứ sự, thiện nam tín nữ chết chóc vô ích, ngay cả Đức Phật...

## PAGE 222

... khi ở dưới chân Đức Phật **Dīpaṅkarā** (Nhiên Đăng), Ngài dù có thể đắc Niết Bàn nhưng đã không nhận lấy, mà đã vun bồi Ba-la-mật để cứu độ chúng sanh, điều này chú tiểu đã biết rõ. Lúc này là lúc cần hợp lực cùng hoàng tử để dẹp tan quân thù, làm cho giáo pháp được huy hoàng. Sau khi đã phụng sự quốc gia và giáo pháp xong, khi đó chú tiểu muốn vào trong giáo pháp để thực hành thiền định thì cũng có thể sống một cách an vui tự tại.

Do lời thuyết phục khéo léo của **Goṭha-imbara**, Sa-di Abhaya đã hoàn tục. Khi tóc chưa kịp dài, ông tạm trú tại nhà của **Goṭha** rồi thông qua vua **Kākavaṇṇatissa** để đến phục vụ cho hoàng tử **Gāmaṇi**. Những ngày tháng trước đó ông chỉ mới 16 tuổi nên tài năng chưa hiển lộ rõ nét. Nay ông đã 18, 19 tuổi, cùng với hoàng tử **Gāmaṇi** đang ở độ tuổi tràn đầy dũng khí và tự hào về dòng giống, là lúc muốn phô diễn tài năng. (**Mahāvaṃsa**-23, 54-63. Từ câu chuyện dũng sĩ **Theraputtābhaya**, **Madhurarasavāhinī**-26).

### Tầm nhìn của cha mẹ và lòng từ của chư Tăng
### **Trưởng lão Bodhimātu Mahātissa**

Vua **Kākavaṇṇatissa** với tầm nhìn xa trông rộng, đã tập hợp mười vị dũng sĩ sức mạnh phi thường ở độ tuổi 18, 19 để phục vụ cho hoàng tử. Nhà vua chu cấp lương bổng rất hậu hĩnh. Những thăng tượng (voi quý) cũng xuất hiện. Mỗi vị dũng sĩ lại được yêu cầu chiêu mộ thêm từ mười người đến một ngàn một trăm mười người tùy ý, tổng cộng đã tập hợp được mười một ngàn một trăm người.

## PAGE 223

Vị hoàng tử trưởng tên là **Gāmaṇi** cùng các dũng sĩ trú tại kinh đô **Mahāgāma** bên cạnh phụ vương, ngày đêm luyện tập cưỡi voi, cưỡi ngựa và binh pháp. Trong khi đó, vị hoàng tử thứ là **Tissa** được lệnh đến trấn giữ vùng **Dīghavāpi** để bảo vệ biên cương.

Khi binh lực và vũ khí của các dũng sĩ dưới quyền đã trở nên hùng mạnh và tinh nhuệ, **Gāmaṇi** ba lần dâng sớ xin phụ vương cho phép xuất quân đánh đuổi quân ngoại đạo xâm lược ra khỏi đảo **Sīhala** (Tích Lan). Tuy nhiên, đức vua vì muốn bảo toàn lực lượng nên đã khuyên can hoàng tử hãy bằng lòng với bờ cõi hiện có.

Vốn đang hừng hực tinh thần chiến đấu, hoàng tử **Gāmaṇi** cho rằng phụ vương là người nhu nhược, thiếu lòng dũng cảm. Ngài bèn sai một người lính thân cận đem những món trang sức và đồ dùng của phụ nữ gửi đến cho cha mình. Hành động này khiến đức vua vô cùng tức giận. Ngài ra lệnh bắt giam hoàng tử trưởng và truyền làm các sợi xích vàng để xiềng chân lại, vì vậy **Gāmaṇi** đã phải trốn chạy đến vùng **Malaya**.

Kể từ đó, vì có hành vi xúc phạm đến cha mình nên ngài được gọi là "**Duṭṭhagāmaṇi**" (Gāmaṇi Kẻ Xúc Phạm). (Danh tạc đầy đủ của ngài là: **Duṭṭhagāmaṇi Abhaya**). Một ngày nọ, đức vua phụ vương viễn kiến đã tổ chức một lễ cúng dường trọng thể các bộ vật dụng (pari-kkhāra) đến mười hai ngàn vị Tỳ-kheo, trong đó có rất nhiều bậc Thánh A-la-hán đang trú ngụ tại núi **Cittala**, đồng thời cử hành đại lễ cúng dường ngôi bảo tháp mang lại điềm lành. Đức vua cũng triệu tập các vị tướng quân lại, trước mặt chư Tăng, ngài yêu cầu họ phải tuyên thệ rằng: "Nếu hai anh em hoàng tử có xảy ra bất hòa, các khanh không được phép đứng về phe của bất kỳ bên nào".

Sau khi thực hiện 64 đại thiện sự hộ trì giáo pháp như xây dựng chùa tháp, lúc 64 tuổi, đức vua băng hà. Giữa lúc chiến tranh bùng nổ bất ngờ, vùng núi non trở nên náo loạn.

Ngay sau khi lễ trà tỳ của phụ vương vừa hoàn tất, hai anh em hoàng tử đã đem quân đánh nhau. Một trận chiến lớn đã xảy ra tại vùng **Cūḷaṅgaṇiya**, khiến hàng ngàn binh sĩ tử trận. Hoàng tử anh là **Duṭṭhagāmaṇi** thất trận, phải cùng với đại thần **Tissa** cưỡi một con ngựa cái chạy trốn. Hoàng tử em là **Tissa** bèn cưỡi thăng tượng **Kakkula**,

## PAGE 224

dẫn theo đại quân truy kích. Lúc bấy giờ, một ngọn núi lớn chưa từng có tiền lệ bỗng hiện ra ngăn cản trước mặt. Biết rằng: "Có lẽ các bậc Thánh A-la-hán có thần thông đã ngăn chặn", hoàng tử em bèn rút quân về. Người anh cũng nhận ra mình đã nhận được sự bảo trì của các bậc Trưởng lão hộ trì giáo pháp có đại thần lực, nên đã yên tâm lánh đến bến **Jīvamālī** bên dòng sông **Kappakandara**. (**Mahāvaṃsa** 24, 1-22.)

### Bữa cơm cúng dường khi đang lánh nạn

Đang trên đường chạy trốn cùng đại thần **Tissa** và một con ngựa, vua **Duṭṭhagāmaṇi** cảm thấy vô cùng mệt mỏi và đói khát. Ngài bèn hỏi:

"Đại thần **Tissa**, Trẫm từ hôm qua đến giờ vẫn chưa được dùng bữa, bụng dạ đói lả cả rồi, giờ phải làm sao đây?"

Đại thần **Tissa** tâu rằng trong bát vẫn còn một phần cơm mang theo đủ cho một người dùng. Nghe vậy, đức vua truyền lệnh hãy chia phần cơm đó thành bốn phần bằng nhau.

"Minh quân... chúng ta ở đây chỉ có ba người kể cả con ngựa, tại sao lại phải chia làm bốn phần?"

"Này **Tissa**, từ khi biết nhận thức đến nay, Trẫm chưa bao giờ dùng bữa mà không cúng dường phần cơm đầu tiên đến chư Tăng. Hôm nay, nếu chưa được cúng dường, Trẫm cũng không muốn dùng bữa."

(Thế là đại thần **Tissa** chia cơm làm bốn phần. Sau đó vua bảo:) "Này **Tissa**, chia xong rồi hãy lên tiếng thỉnh nguyện rằng: 'Bạch đức Thế Tôn, đã đến giờ thọ thực của chư Tăng'."

"Minh quân... giữa chốn rừng sâu núi thẳm này, làm sao có thể tìm được vị Tăng nào đến thọ thí bây giờ?"

"Ôi... việc đó khanh không cần phải lo lắng. Cứ hãy dõng dạc lên tiếng thỉnh nguyện đi. Nếu Trẫm là người luôn sống theo Chánh Pháp (Sammā-dhamma) thì chắc chắn sẽ có các bậc đáng cúng dường xuất hiện."

## PAGE 225

Đại thần **Tissa** bèn cất giọng thỉnh nguyện dõng dạc ba lần. Ngay lúc ấy, vị Đại Trưởng lão **Bodhimātu Mahātissa** đang ở đảo **Piyangu**, nhờ có Thiên Nhĩ Thông (**Dibbasota-abhiññā**) đã nghe thấy và thấu rõ sự tình. Vì muốn hộ trì đức vua, Ngài đã dùng thần thông bay đến bằng đường hư không.

Thấy một vị Trưởng lão đắp y cầm bát bay đến để thọ thí, đức vua mừng rỡ nói: "Kìa... đại thần **Tissa**, khanh thấy chưa?", rồi ngài đón lấy bát. Với lòng tịnh tín (pasāda) dâng cao, ngài không chỉ cúng dường phần phần dành cho Trưởng lão mà còn trút hết cả phần cơm của mình vào bát.

Ngài cung kính đảnh lễ và nguyện rằng: "Bạch Ngài, nhờ phước báu này, cầu mong về sau con không bao giờ gặp phải bất kỳ sự trở ngại nào về lương thực, vật phẩm hộ thân". Trong lúc đức vua còn đứng đó, đại thần **Tissa** thấy sự việc hy hữu này cũng bèn cúng dường luôn phần cơm của mình.

Sau khi đã cúng dường xong, đức vua nhìn sang con ngựa cái đứng gần đó. Thấy con ngựa cũng có biểu hiện như muốn cúng dường phần của nó, ngài bèn đem toàn bộ các phần cơm còn lại dâng lên hết.

Đại Trưởng lão sau khi thọ nhận vật thực xong bèn bay về lại chỗ cũ bằng đường hư không. Sau khi về tới nơi, Ngài đã dâng phần cơm ấy đến mười hai ngàn vị Tỳ-kheo. Về phần đức vua:

"Đói quá đi mất, nếu vị Trưởng lão gởi lại cho một ít cơm thừa thì tốt biết mấy", vua vừa mới khởi ý nghĩ ấy thì Trưởng lão đã thấu suốt. Sau khi chư Tăng thọ thực xong, Ngài chừa lại phần cơm đủ cho ba người rồi dùng thần lực gửi chiếc bát bay qua hư không đến cho đức vua. Cả vua, đại thần và con ngựa cái đều được dùng bữa no nê.

Sau khi tự tay rửa sạch bát, đức vua không muốn gửi trả bát không, nên đã tháo chiếc khăn tay của mình ra cột vào bát làm khăn lau rồi định tâm phát nguyện cho chiếc bát đến được tận tay vị Trưởng lão. Chiếc bát bèn bay lên không trung và trở về ngay trên tay của vị Trưởng lão.

---

[**Aṅguttaraṭṭhakathā 2**, 105-7, chú giải **Nidānasutta**. Còn trong **Mahāvaṃsa** 24, 24-31 thì nói rằng vị thầy Trưởng lão tên là **Gotama** ở đảo **Piyangu**, người đã truyền Quy y và Ngũ giới cho vua **Duṭṭhagāmaṇi**, khi nghe thấy bằng Thiên Nhĩ Thông đã sai đệ tử là **Kuṭambiyatissa** dùng thần thông bay đến thọ thí.]

## PAGE 226

**Sayādaw Saraṇaṃ Gacchāmi**

Sau khi từ bến Jīvamālī trở về kinh đô Mahāgāma, đức vua Duṭṭhagāmaṇi đã chiêu tập binh mã. Khi có được khoảng sáu vạn quân, ngài lại mở cuộc tấn công vào hoàng đệ Tissa. Hoàng đệ bị mất mẫu hậu Vihāradevī cùng thăng tượng Kandula — những người đã bị hoàng đệ đưa đi vào thời điểm phụ vương băng hà và hành lễ hỏa táng — nên phải đào thoát. Quân đội của hoàng đệ cũng bị tổn thất và thiệt hại nặng nề.

Vua anh truy đuổi phía sau để bắt giữ, nên hoàng đệ đã chạy vào ẩn náu trong một ngôi chùa. Vị Trưởng lão tại đó tức tốc đẩy vị hoàng tử xuống dưới gầm giường và lấy y đắp phủ lên trên.

Đức vua Duṭṭhagāmaṇi bám sát không rời, đuổi đến nơi và bạch với Trưởng lão rằng: "Bạch Ngài... tên Tissa dại khờ đang ở đâu?". Trưởng lão đáp lời khéo léo để tránh né rằng: "Tâu đại vương... Tissa không có ở trên giường đâu" (Dù biết rõ nhưng vì lòng tôn quý Tăng-già, vua đã đi ra ngoài chùa). Tuy nhiên, vua lại hạ lệnh canh giữ nghiêm ngặt quanh khuôn viên chùa. Vị Trưởng lão nhận thấy nếu để lâu sẽ không có cách giải vây, bèn bảo hoàng tử Tissa nằm ngủ trên một chiếc giường nhỏ, đắp y lên như kiểu khâm liệm thi hài một vị tỳ-kheo, rồi bảo bốn vị tỳ-kheo trẻ khiêng ra ngoài chùa. Đức vua nhìn thấy hành động đó và nhận ra ngay, liền nói: "Hỡi Tissa dại khờ... ngươi dám chạy trốn trên đầu của chư Tăng, những vị mà tổ tiên chúng ta bao đời tôn thờ sao... Ta không muốn dùng bạo lực để cướp đoạt từ nơi chư Tăng-già tôn túc mà chúng ta hằng nương tựa. Cho đến chết, ngươi hãy luôn quán tưởng đến ân đức của chư Tăng, bậc quy kính của dòng tộc". Nói rồi vua đưa mẫu hậu và thần tượng Kandula trở về Mahāgāma.

Hoàng đệ Tissa chạy đến vùng Dīghavāpi, tự hối lỗi lầm của mình nên đã đến yết kiến vị Trưởng lão Godhadattatissa, thỉnh năm trăm vị Tỳ-kheo cùng đi đến để tạ lỗi và đảnh lễ vua anh (**Mahāvaṃsa-24.**). Ngay cả chư Tăng-già tôn túc, những bậc đầy đủ tri kiến, cũng đã hết lòng trợ giúp và hộ trì hai vị hoàng tử đầy phước báu và uy lực này vì lợi ích của đất nước và giáo pháp.

## PAGE 227

**Chư vị Trưởng lão A-la-hán tại đảo Piyaṅgu đã quang lâm vì sự hối lỗi của đức vua sau cuộc chiến**

Vì những người vốn dĩ phải luôn đoàn kết lại bất hòa với nhau, nên trước đó họ đã không thể hướng sự tập trung vào kẻ thù của quốc gia và giáo pháp.

Kể từ khi đặt Tam Bảo lên hàng đầu, hai anh em đã hòa thuận, đồng thời sức mạnh của mười vị dũng sĩ và quân đội cũng trở nên hùng mạnh. Họ đã lập kế hoạch tiêu diệt những kẻ ngoại đạo (Kula) đã chiếm đóng và thống trị bên kia bờ sông Gaṅgā trong suốt nhiều năm.

Khi chuẩn bị xuất quân, trước tiên vua đi đến ngôi đại tự Tissa Mahā Vihāra tại kinh đô Mahāgāma để đảnh lễ chư Tăng. Tại ngôi chùa lớn này, có hàng ngàn vị Thánh tăng A-la-hán đang cư ngụ. Đức vua bạch với chư vị Trưởng lão rằng:

"Bạch chư tôn giả... con phải đi sang bên kia bờ sông Gaṅgā để làm cho giáo pháp được hưng thịnh, cho quốc dân và hàng xuất gia lẫn tại gia được an lạc. Việc được thường xuyên chiêm bái chư Tăng là minh chứng cho mống phước **'Samaṇānañca dassanaṃ'** (Kiến hạnh Sa-môn), ngoài ra nhờ vào Sīla (Giới), Samādhi (Định), Paññā (Tuệ) của các bậc thiện tri thức mà con có thể nhận được sự bảo vệ khỏi các mối hiểm họa. Để được thường xuyên chiêm bái và viên mãn công đức bố thí, con xin kính thỉnh chư tôn đức cử chư tỳ-kheo đi cùng với con".

Chư vị Trưởng lão đã cho phép năm trăm vị tỳ-kheo trẻ cùng đi. Ban đầu vua đã có hơn sáu vạn quân, việc thỉnh chư Tăng đi cùng không phải vì sự hỗ trợ hay bảo vệ thế gian thông thường, mà chính là sự tôn kính Tam Bảo tối thượng vì đất nước và giáo pháp.

Lúc bấy giờ có đến 32 vị tiểu vương ngoại đạo đang cai trị các thành bang khác nhau. Suốt hơn một năm trời, vua lần lượt tiến đánh và thu phục từng thành phố, tiêu diệt rất nhiều quân ngoại đạo (hơn một Akkhobhiṇī — 218.700 quân).

Thậm chí, cái hồ nơi quân sĩ rửa gươm giáo cũng nhuộm đỏ thắm, nên nơi đó được gọi là hồ "Kulatthavāpī".

## PAGE 228

**Việc chiến đấu vì giáo pháp và sự hối lỗi**

Quân đội của đức vua đông đảo đến mức không thể đặt ký hiệu nhận diện, dẫn đến việc quân sĩ lỡ tay sát hại lẫn nhau. Khi đó, đức vua đã lập lời thề nguyện (Sacca) như sau:

**Rajjhaṃ sukhāya vāyāmo**,
**Nāyaṃ mama kadācipi**.
**Sambuddha sāsanasseva**,
**Ṭhapanāya ayaṃ mama**. (25, 17)

"Việc ta chiến đấu lúc này, tuyệt đối không bao giờ vì mục đích tư lợi hay ham muốn ngôi vị đế vương. Việc này chỉ nhằm mục đích làm cho giáo pháp của Đức Bổn Sư được hưng thịnh, lan tỏa và vì sự an lạc của chúng sanh. Nhờ lời chân thật này, nguyện cho y phục và trang bị của quân sĩ ta tỏa sáng rực rỡ như ngọn lửa vàng và giành được thắng lợi".

Nhờ lời thề nguyện lấy Phật pháp làm đầu này, kẻ thù chỉ vừa nhìn thấy quân đội của vua đã sinh lòng khiếp sợ. Cuộc chiến trải qua 29 trận đánh, kéo dài hơn hai năm.

Cùng với những dũng sĩ cùng thời như Theraputtābhaya, vua đã lần lượt chiếm lĩnh thành công các thành trì. Tuy nhiên, khi lên ngôi trị vì, nghĩ đến việc đã sát hại quá nhiều người, đức vua suy tư: "Dù ta làm vì muốn hộ trì giáo pháp, nhưng đây vẫn là hành động có thể dẫn đến ác đạo", vua sinh lòng hối hận (Kukkucca) đến mức không thể chợp mắt.

Biết được điều đó, các vị Đại đức A-la-hán chứng đạt Thần thông đang trú tại đảo Piyangu đã cử tám vị A-la-hán đến cung điện để thuyết giảng giáo lý cho nhà vua. Khi vua hỏi lý do, các ngài đáp rằng đến để thuyết pháp; lúc này nhà vua liền bày tỏ sự hối hận, ăn ăn của mình, thì các ngài phán rằng:

_'Đại vương… Ác nghiệp từ việc giết phạt quân sĩ tà kiến không thể ngăn cản đại vương đạt được hạnh phúc chốn chư thiên, cũng chẳng thể làm cản trở việc chứng đạt Đạo, Quả, Niết-bàn. Trong số các quân sĩ tử trận, đại vương chỉ sát hại tương đương một người rưỡi mà thôi. Số còn lại đều là kẻ tà kiến, nên tội lỗi chỉ ngang bằng như việc mổ thịt muông thú._ _(Ý nói trong số đó chỉ có một người quy y Tam bảo và một người giữ năm giới)._'

Sau khi khuyên vua nên dẹp bỏ tâm **Trạo cử** (hối hận) để an tâm hộ trì giáo pháp, chư vị A-la-hán liền trở về trú xứ.
## PAGE 229

### Trái ớt của vua Duṭṭhagāmaṇi

Kể từ khi được vua cha làm lễ cho ăn lúc còn nhỏ, đại vương luôn ghi nhớ lời dạy không được dùng bất cứ thứ gì mà chưa dâng cúng đến chư Tăng. Ngài bắt đầu suy xét lại suốt quãng đời mình xem có lần nào lỡ độ thực mà chưa dâng cúng hay không.

Khi hồi tưởng lại, ngài chợt nhớ có một lần trong bữa sáng lúc đang chinh chiến, ngài đã lỡ ăn một trái ớt mà chưa dâng cúng đến chư Tăng. Để tự răn mình, tại chính nơi đó, ngài đã phát tâm xả thí mười chín câu-đê (koti) đồng tiền vàng để kiến tạo **Bảo tháp Trái ớt (Maricavaṭṭi)** (với chu vi 560 foot, cao 60 foot) cùng các tự viện phụ cận để cúng dường lên giáo pháp.

[*Suttani-ṭṭha-I*, 63; *Apa-ṭṭha-I*, 174; *Cūḷani-ṭṭha*, 103 và chương 25 của *Mahāvaṃsa*. Giá trị các loại bảo vật chưa được tính vào đây. Về các đại lễ dâng cúng tại tu viện này trong bối cảnh nạn đói Brāhmaṇatissa sẽ được trình bày sau.]

### Thera-puttābhaya từ chối chức tước

Vào năm Phật lịch 383, đại vương Duṭṭhagāmaṇi đóng đô tại kinh đô Anurādha, miền bắc đảo Ceylon, cử hành nghi lễ **Quán đảnh (Rājabhiseka)**, trở thành vị vua tối cao của toàn bộ đảo quốc.

Ngay trong ngày đầu tiên thiết triều tại chánh điện, đại vương Duṭṭhagāmaṇi đã ban thưởng tước lộc cho những dũng tướng và chiến binh đã cùng ngài hy sinh xương máu vì đất nước và giáo pháp. Ngài sắc phong các chức vị như thành chủ, xã chủ, đại thần, thống soái...

## PAGE 230

Các vị tướng quân đều hân hoan đón nhận chức tước và quyền lợi, duy chỉ có dũng tướng **Abhaya**, còn gọi là **Thera-puttābhaya** (vốn là một vị Sa-di hoàn tục), lại từ chối chức quan được ban. Điều này khiến nhà vua và triều đình vô cùng kinh ngạc.

Đại vương hỏi: “Này Abhaya... chúng ta đã từng xả thân vì đất nước và giáo pháp. Nay là lúc giáo pháp được trùng hưng, là lúc khanh đáng lẽ phải được hưởng thụ an lạc, tại sao khanh lại từ chối chức tước này?”

Abhaya bạch: “Tâu đại vương, đó là vì hạ thần vẫn còn những trận chiến phải tiếp tục.”

Đại vương kinh ngạc: “Hả... khanh đang nói gì vậy Abhaya? Trẫm cùng các khanh đã đánh bại những kẻ thù tà kiến hủy hoại đất nước và giáo pháp, nay trẫm đã là vị hoàng đế tối cao của toàn đảo quốc, vậy còn kẻ thù nào, còn trận chiến nào nữa mà khanh phải vào sinh ra tử?”

Abhaya bạch: “Tâu đại vương, mọi kẻ thù của đất nước, giáo pháp cũng như những hiểm họa đối với đại vương đều đã được quét sạch tận gốc. Tuy nhiên, hạ thần vẫn còn trận chiến với những kẻ thù bên trong là **Phiền não (Kilesa)** vốn cực kỳ khó chinh phục. Xin đại vương cho phép hạ thần được tham gia trận chiến với **Phiền não** này.”

Lời tấu trình khiến nhà vua và cả triều đình vô cùng kinh ngạc. Đại vương không thể bác bỏ lý do đầy thuyết phục này nhưng ngài cũng không muốn rời xa người bạn đồng cam cộng khổ, nên đã nhiều lần ngăn cản. Tuy nhiên, sau nhiều lần khẩn cầu, cuối cùng Abhaya cũng nhận được sự chấp thuận và lần thứ hai bước vào đời sống xuất gia.

Vì chỉ mới ngoài hai mươi tuổi, trận chiến với **Phiền não** của Đại đức **Abhaya** đã diễn ra thuận lợi và giành được thắng lợi rực rỡ. Không lâu sau khi xuất gia, ngài đã chứng đắc

## PAGE 231

A-la-hán cùng với bốn trí **Phân tích (Paṭisambhidā)**. Ngài cùng năm trăm vị Tỳ-kheo tùy tùng đã giương cao lọng trắng **A-la-hán quả**, thực hiện sứ mệnh cao cả nhất để mang lại lợi ích cho chúng sanh.

Khi nghe tin này, đại vương vô cùng hân hoan và xúc động: “Lời chư vị thánh tăng dạy rằng những trận chiến của chúng ta không gây chướng ngại cho thiên giới, **Đạo Quả và Niết Bàn** quả thật là chân lý.” (*Mahāvaṃsa-26*, 1-5; *Madhura Rasavāhinī*.)

### Các công đức hơn một ngàn câu-đê của vua Duṭṭhagāmaṇi

Nhờ thấm nhuần lời dạy của cha mẹ và lòng từ ái của các bậc thiện tri thức từ thuở nhỏ, đại vương Duṭṭhagāmaṇi đã lần lượt kiến tạo nhiều công trình tôn giáo vĩ đại và hộ trì giáo pháp suốt 24 năm trị vì.

Tổng số tiền vàng chi ra cho các hạng mục công đức có thể thống kê được lên tới một ngàn bốn mươi chín câu-đê (koti). Con số này chưa bao gồm các lễ vật bằng châu báu vô giá và các khoản cúng dường thường nhật không được ghi chép lại.

### Đại lầu các mái đồng Lohapāsāda

Vào năm Phật lịch 236, vua **Devānaṃpiyatissa** khi lên ngôi đã ghi chép lại những lời huyền ký của Đại đức **Mahinda** vào sổ sách triều đình rồi cất giữ trong một chiếc rương sắt. Khi đại vương Duṭṭhagāmaṇi mở chiếc rương đó ra, ngài vô cùng hoan hỷ khi thấy tên mình cùng danh sách các công đức mà ngài sẽ thực hiện cho giáo pháp được ghi lại rõ ràng.

Trong đó có ghi về việc sẽ xây dựng một tòa **Đại Bảo tháp** cao 120 hắc tay ngay trong khuôn viên tu viện **Mahāvihāra** của vua Devānaṃpiyatissa; và một tòa đại lâu các chín tầng, mỗi tầng có một trăm phòng kiểu vòm nhọn, chiều dài - rộng - cao đều là một trăm hắc tay, lợp bằng ngói đồng.

## PAGE 232

Khi đọc về các lý do để xây dựng và cúng dường **Lohapāsāda** (Lâu đài Đồng), đức vua đã thỉnh ý các bậc Thánh A-la-hán tại Mahāvihāra rồi cho tiến hành xây dựng ngôi lâu đài bằng đồng trước tiên.

Kiểu dáng của lâu đài được các bậc Thánh A-la-hán lên cõi trời sao chép lại từ thiên cung của thiên nữ **Bharaṇī**, rồi cho xây dựng trang trí bằng đủ loại trân bảo. Lâu đài có bốn mặt chính, bốn cổng vào, tường thành bao quanh, phía Đông có điện **Ambalaṭṭhika**, phía Tây có giảng đường **Pañcanikāya**, cùng với các vật dụng trải thảm bằng trân bảo vô cùng nguy nga, tráng lệ.

Trong 9 tầng lầu, tầng thứ nhất dành cho các vị phàm tăng, tầng thứ hai dành cho các vị thông thuộc Tam Tạng, tầng thứ ba dành cho các bậc Dự Lưu, tầng thứ tư là bậc Nhất Lai, tầng thứ năm là bậc Bất Lai, còn bốn tầng từ thứ sáu đến thứ chín là nơi trú ngụ của các bậc Thánh A-la-hán. (**Mahāvaṃsa**-27, 44-5.)

Không tính các loại ngọc báu vô giá, chỉ riêng tiền mặt đã tiêu tốn đến ba mươi triệu.

## Đại bảo tháp Suvaṇṇamālī (Hemamālī)

Sau khi hoàn thành Lâu đài Đồng vô giá, đức vua nằm tại hoàng cung suy tính kế hoạch xây dựng ngôi đại bảo tháp cao 120 hắc tay (tính cả lọng che là 137 hắc tay, nền móng rộng 666 hắc tay 2 tấc, đường kính 222 hắc tay 4 inch).

Vì đất nước vừa trải qua hơn hai năm chiến tranh, đức vua biết rõ dân chúng còn đang nghèo khó nên không muốn thu thêm thuế, cũng không muốn cưỡng bách lao dịch. Do đó, ngài lo lắng không biết làm sao để có đủ gạch xây tháp một cách hợp lẽ đạo mà không gây khổ cho dân. Cả tiền của lẫn sức lực của quốc gia đều vừa mới kiệt quệ.

Vị thiên nữ bảo hộ lọng trắng trong hoàng cung biết được tâm tư đó đã báo tin cho Thiên chủ Sakka. Sáng hôm sau, một người thợ săn đến tâu rằng đã tìm thấy rất nhiều gạch được nung sẵn ở gần sông **Gambhīra**, cách kinh thành Anurādhapura một do-tuần (tám dặm). Đức vua liền ban thưởng trọng hậu.

## PAGE 233

Sau đó, người dân từ các làng như **Acāapiṭṭhi**, **Tammapiṭṭha**, **Sumanavāpi** trong vòng ba bốn do-tuần quanh kinh đô liên tục báo tin tìm thấy hồng ngọc, ngọc trai, đá quý, đồng và các thỏi vàng nhiều đến mức phải dùng hàng ngàn cỗ xe để chở. Đức vua đều ban thưởng xứng đáng.

Việc tìm thấy từ gạch xây tháp cho đến các loại trân bảo thật đáng kinh ngạc, cũng như việc có được các viên Xá-lợi từ long cung để tôn thờ cũng là điều hy hữu chưa từng có.

### Đằng sau sự bố thí hướng về Giáo pháp

Những chuyện như thế này, người ít hiểu biết thường cho rằng đó là lời kể thổi phồng nhằm phô trương công đức. Nhưng muốn thấu hiểu, ta cần phải nuôi dưỡng nền tảng trí tuệ.

> **Sāthanaṃ puññavantassa,**
> **Puññavantāva labbhare.**
> **Nāppapuññā karahaci,**
> **Patuṃ avisaha.**

"Những người ít phước báu không thể có cơ hội hộ trì Giáo pháp dù chỉ là một chút. Chỉ những người có đại phước mới làm được điều ấy. Bởi vì đây là Giáo pháp của đức Phật, bậc có đại phước đức không ai sánh bằng."

Theo giáo lý **"Kammapāko acinteyyo"** (Quả của nghiệp là điều bất khả tư nghì), không thể dùng tư duy thông thường để suy xét. Dù kiến thức thực tế chưa thể chấp nhận ngay, nhưng với lòng tin (tịnh tín) nơi các bậc thiện trí như đức Phật, ta nên giữ tâm ngay thẳng để ít nhất có thể tiếp nhận được.

Trong việc trì giới và bố thí hướng về Giáo pháp với tâm vô ngã, không mảy may mong cầu lợi ích cá nhân, thường ẩn chứa những năng lực vô hình rất lớn. Xin dẫn ra một ví dụ nhỏ.

## PAGE 234

Khi trưởng giả Cấp Cô Độc xây dựng tinh xá **Jetavana**, ông đã chi ra 540 triệu. Hàng ngày ông còn tốn kém rất nhiều cho việc phục vụ tăng chúng, trong khi việc buôn bán gặp khó khăn nên chẳng bao lâu tài chính bị sa sút. Đây chính là lúc "chất nghiệp" vận hành. Sau đó, một vị thần giữ cửa nhà theo tà kiến đã ngăn cản việc bố thí, vị trưởng giả liền đuổi vị thần đó đi. Vị thần phải đến xin Thiên chủ Sakka để được quay lại. Thiên chủ Sakka đã sai vị thần này đi tìm lại những kho báu đã mất cho vị trưởng giả. (Hãy lưu ý cách nghiệp - **dāna-cetanā** - vận hành).

Số tiền 180 triệu mà các thương buôn vay không trả, 180 triệu chôn bên bờ sông **Aciravatī** bị nước cuốn trôi ra biển, và 180 triệu khác không chủ ở một nơi khác; tổng cộng 540 triệu đã được vị thần tà kiến kia thu gom lại và lấp đầy các kho tàng đang trống rỗng của vị trưởng giả. (**Ekanipāta**-**Khadiraṅgāra Jātaka**, **Jā-A-1**, 243.)

Trong Giáo pháp của đức Phật, ngay cả việc bố thí thôi cũng không dễ gì thấu hiểu tường tận.

Với những người thực lòng muốn cống hiến cho Giáo pháp, trân bảo luôn có sẵn. Không phải chúng tự nhiên hiện ra trước mắt, mà ta cần phải xây dựng năng lực để đạt được. Trong Giáo pháp này, thực sự có phương pháp có thể biến quả bồ hòn hay cục đất cày thành vàng ròng.

Nước trong một cái giếng sâu một tầm, nếu cứ dè xẻn không dùng thì nó cũng chỉ có bấy nhiêu. Nhưng nếu dùng để ăn uống, sẻ chia thì nước cũng chẳng bao giờ vơi đi.

Với những người chưa từng cúng dường dù chỉ một ly nước đến đức Phật, phải chắt móp từng đồng để mua từng chút dầu sử dụng, thì thật khó để nói cho họ tin. Sợi dây liên kết của họ đã bị đứt đoạn quá xa rồi.

Chính những hạng người ấy lại thường thốt ra những lời xúc phạm, hướng mình về những kiếp sống mà ngay cả gạo, dầu, muối cũng không được nghe, được thấy hay được sử dụng.

## PAGE 235

## Chín mươi ngàn vị A-la-hán từ xứ Thaton

Trong tập **Mahāvaṃsa** (Đại Sử), chương về việc vua **Duṭṭhagāmaṇi** xây dựng đại bảo tháp **Mahācetī** thật vô cùng kinh ngạc và đáng ngưỡng mộ. Đây là một minh chứng sống động để làm sáng tỏ ý nghĩa của đại phước đức.

Các vị Chư thiên, Phạm thiên, và đặc biệt là các bậc Thánh nhân cao thượng đã tự mình sử dụng thần thông để chỉ ra các kho báu, thỉnh xá lợi từ long cung về, ngăn chặn sự phá hoại của Ma vương, và che chở cho đại chúng đến chiêm bái không bị mưa gió ướt át... tất cả những điều ấy thật khiến lòng người khởi tâm tịnh tín và ngưỡng mộ.

Vào năm 372 Phật lịch, khi bắt đầu đặt viên đá đầu tiên, các bậc Thánh nhân cao thượng từ khắp nơi trên thế giới đã ngự trên hư không đến để hộ trì, tương truyền số lượng lên đến 960 triệu vị. Điều đặc biệt là:

Từ tu viện lớn **Kelāsa** ở xứ Thaton, trưởng lão **Suriyagutta** đã dẫn đầu chín mươi sáu ngàn vị Thánh tăng A-la-hán ngự trên hư không đến tham dự. (**Mahāvaṃsa**-29, 43 và Phật Giáo Sử Sīhaḷa.)

Liên tục qua các tuần đại lễ cúng dường bảo tháp **Mahācetī**, có hàng ngàn người đã đắc chứng đạo quả, giải thoát.

Đại vương **Duṭṭhagāmaṇi** cũng đã xây dựng và cúng dường tổng cộng 99 tu viện lớn. (**Mahāvaṃsa**-32, 26-g.) Nhờ sự cống hiến tận tụy, hy sinh xả thân vì đất nước và đạo pháp như vậy, ngài thường xuyên được ca ngợi trong các bộ Chú giải thuộc các bộ Kinh (Trường Bộ Chú Giải-2, 233, v.v.). Trước cả khi các bộ Chú giải của Ngài **Mahābuddhaghosa** xuất hiện, các bậc thầy Chú giải cổ như Đại Chú Giải (Mahā-aṭṭhakathā) cũng đã ghi chép để tôn vinh ngài.

(Trong thời đại đó, các vị A-la-hán có thần thông quảng đại như Ngài **Indagutta**, **Soṇuttara**, **Piyadassī**... đã dùng thần thông trợ giúp và hộ trì như thế nào, xin mời xem chi tiết trong **Mahāvaṃsa**.)

## PAGE 236

### Thera-puttābhaya và ngày cuối cùng của bậc hộ trì Chánh Pháp

Đại bảo tháp **Mahācetī** cao một trăm hai mươi hắc tay đã hoàn tất phần xây gạch. Tuy nhiên, lớp vữa bên ngoài chưa kịp trát, bảo cái (lọng thờ) cũng chưa kịp an vị.

Đại vương **Duṭṭhagāmaṇi**, vị thí chủ hộ trì Chánh Pháp, lâm trọng bệnh đến mức nằm trên giường không thể cử động. Ngài chỉ còn biết dặn dò hoàng đệ **Saddhātissa** tiếp tục hoàn thiện công việc.

Hoàng đệ nhận thấy đại vương khó lòng qua khỏi căn bệnh này, nên muốn ngài được khởi tâm tịnh tín trước khi lâm chung. Thay vì dùng vữa và lọng vàng thật, vương đệ đã triệu tập các họa sĩ và thợ may, dùng vải mới bao phủ và trang trí, tạo nên một mô hình bảo tháp tạm thời trông như đã hoàn thiện để đại vương chiêm bái. Hoàng đệ thưa với đại vương rằng bảo tháp **Mahācetī** đã hoàn thành xong xuôi.

Đại vương được đặt trên kiệu nằm và được đưa đến để chiêm bái bảo tháp **Mahācetī**.

Hoàng đệ cùng các triều thần đi theo sau, cung thỉnh đại vương đi nhiễu quanh bảo tháp ba vòng theo chiều bên phải. Ngài nằm trên kiệu, chắp tay tôn kính chiêm bái trong suốt hành trình.

Khi kiệu được đặt xuống tại sân phía Nam, ngài nằm nghiêng về phía bên phải để quán tưởng. Bảo tháp hiện lên với sắc trắng tinh khôi và ánh vàng rực rỡ, trang nghiêm hơn cả bình thường, khiến ngài chiêm bái mãi không biết chán. Một lúc sau, mọi người giúp ngài nằm nghiêng sang bên trái. Từ đây, ngài hướng tầm mắt chiêm bái tòa lầu đồng **Lohapāsāda** (vốn chỉ cách đó khoảng 600 mét).

Trên bốn phía sân của bảo tháp, 960 triệu vị A-la-hán từ khắp nơi đã vân tập đông đủ để hộ trì. Các ngài cùng nhau chia thành từng nhóm, đồng thanh tụng đọc các thời kinh giáo pháp để cầu nguyện cho đại vương.

## PAGE 237

Đại vương bỗng nhiên nhớ đến **Thera-puttābhaya**, người vốn là một dũng tướng kề vai sát cánh cùng ngài trong công cuộc dựng nước và hộ pháp. Ngài đưa mắt tìm kiếm khắp nơi nhưng không thấy vị ấy đâu, lòng cảm thấy bất an và buồn bã.

Lúc ấy, bậc Thánh giả A-la-hán **Thera-puttābhaya** đang cư ngụ tại núi **Pañcali** thuộc thượng nguồn sông **Karinda**, có năm trăm vị A-la-hán vây quanh.

"Ôi... khi ta cùng chiến đấu với 29 toán quân ngoại đạo xâm lược, vì biết ta sẽ chiến thắng nên Abhaya đã là người bạn chiến đấu trung thành. Giờ đây, trong cuộc chiến với tử thần, chắc vì thấy ta sẽ thất bại nên vị ấy đã không đến."

Nước mắt đại vương chợt trào ra. Tâm trí ngài thậm chí không còn tập trung được vào việc tưởng nhớ Phật ân.

Trưởng lão **Abhaya** (tức **Thera-puttābhaya**) thấu triệt được tâm ý của đại vương, liền cùng năm trăm vị A-la-hán đằng vân đến bên cạnh ngài. Đại vương nhìn thấy vị ấy thì lòng đầy phấn chấn và hoan hỷ:

"Bạch Ngài **Abhaya**... thuở trước, con đã cùng các Ngài chiến đấu và chiến thắng kẻ thù của đất nước và đạo pháp. Nhưng giờ đây... con đang phải một mình chiến đấu với tử thần. Trong lần này, chắc chắn con phải nhận lấy thất bại rồi."

"Tâu đại vương... xin đừng nản lòng. Cái chết không phải là điều đáng sợ, nếu chưa chiến thắng được kẻ thù phiền não thì chưa thể gọi là chiến thắng được tử thần. Các pháp danh và sắc này cũng vậy, việc sinh ra, biến diệt và chết đi là quy luật tự nhiên. Ngay cả đức Thế Tôn cao thượng, bậc không còn sợ hãi điều gì, cũng từng phải chịu sự chi phối của các pháp này.

Đại vương hãy nhìn lại: Các pháp hành này, tức thân ngũ uẩn này, vốn là các pháp vô thường, luôn sinh diệt liên tục không ngừng... Vì vô thường nên chúng là khổ... Vì là khổ nên dù ta muốn chúng an lạc theo ý mình thì chúng cũng chẳng tuân theo, mà chỉ vận hành theo bản chất riêng của chúng... Đó chính là vô ngã. Tâu đại vương, xin ngài hãy định tâm quán chiếu sâu sắc vào một nơi nào đó trên thân thể mình ngay lúc này.

Đại vương sẽ thấy toàn bộ thân ngũ uẩn này đang sinh diệt, tan biến từng khoảnh khắc một, nhanh chóng và liên tục không có chỗ trống nào."

## PAGE 238

Vì chúng luôn biến đổi tiêu tan, nên chưa từng có giây phút nào thực sự cảm thấy nhẹ nhàng hay an lạc cả. Hãy dùng tuệ giác định tĩnh vào nơi khó chịu đựng nhất, và quán chiếu suy xét để thấy rõ sự đánh phạt của **khổ thọ**, thưa Đại vương.

(Dù Ngài Abhaya đã tận tình hướng dẫn thiền tập như thế, nhưng đức vua vẫn không thể nhiếp tâm nảy sinh thiền định. Những giọt nước mắt vừa bi thương vừa hân hoan cứ tuôn rơi lã chã.)

Bạch Hòa thượng, Ngài Abhaya... Thay vì đại tượng **Kakkūla** (vị tướng thắng trận của con), giờ đây con voi tử thần đang giày xéo khắp thân thể con. Đã đến lúc con phải lìa đời rồi bạch Ngài...

Đại vương, đây không phải là lúc để bi lụy. Trong tiền kiếp, ngay chính tại đảo quốc Sīhaḷa này, Đại vương từng là vị Sa-di tại chùa **Koṭipabbata**. Chỉ nhờ vào chút phước báu từ các việc **phục vụ Tăng chúng**, hành trì **giới** luật và xây dựng các lối đi quanh bảo tháp mà Đại vương đã được sanh về cõi trời.

Nhờ phúc đức để hộ trì đất nước và giáo pháp mà kiếp này Ngài đã trở thành vị Đại vương. (**Mahāvaṃsa**-22, 25-39. 32, 21-22.)

Sự luân hồi của người phàm phu vốn dĩ rất đáng sợ, nhưng chẳng phải Đại vương đã tích lũy được những công đức vô song để làm rạng danh giáo pháp đó sao? Đây chính là lúc cần hồi tưởng lại tất cả từ đầu chí cuối. Chỉ cần nhiếp tâm như vậy, chắc chắn thiên lạc sẽ sớm đạt được, không có gì phải nghi ngờ. Cả đại bảo tháp **Mahācetiya** và điện thờ **Lohapāsāda** này là niềm đại hỷ vô tận cho từ hàng xuất gia, cư sĩ cho đến chư thiên và Phạm thiên.

(Trưởng lão Abhaya thuận theo tâm tư đức vua, thay vì hướng dẫn tu tập thiền định, Ngài đã chuyển sang thuyết về công đức bố thí. Đức vua đưa mắt nhìn về phía đại bảo tháp và điện thờ đồng mà lòng trào dâng niềm hoan hỷ, phấn chấn trở lại.)

## PAGE 239

Bạch Ngài... Trong cuộc chiến thứ hai đối trọng với tử thần này, Ngài quả thực là một vị bạn đồng hành, một vị dũng tướng kề vai sát cánh bên con... Sa-thế! Sa-thế! (Lành thay! Lành thay!)

(Đức vua cho vị quan giữ sử sách đứng gần đó đọc lại từ đầu đến cuối "Cuốn sổ ghi chép công đức" – danh mục những việc hộ trì giáo pháp mà Ngài đã thực hiện trong suốt 24 năm trị vì để được lắng nghe và hoan hỷ.)

### Niềm tự hào về danh hiệu "Nô lệ của Tăng-già"

Vị quan giữ sử sách lần lượt đọc từng mục công đức, bắt đầu từ việc xây dựng Đại Bảo Tháp với chi phí tính riêng bằng tiền mặt đã hơn một ngàn không trăm bốn mươi chín (1049) triệu đồng, cùng với vô số châu báu vô giá khác.

Tiếp đó... Khi Đại vương còn ở vùng **Malayajanapada** (xứ Malaya), giữa lúc đất nước gặp nạn đói kém kinh hoàng, người dân phải ăn củ mài nấu thay cơm, thấy chư Tăng chịu cảnh thiếu thốn, Ngài đã tháo đôi hoa tai hoàng tộc vô giá đem bán lấy tiền mua lúa mạch. Số lúa mạch đó được nấu thành cháo để dâng cúng đến năm vị Thánh A-la-hán, đứng đầu là Ngài **Maliyamahādeva** (sẽ nhắc đến ở phần sau) danh tiếng. Việc công đức này cũng được đọc lên.

Sau đó là chuyện khi Ngài phải lánh nạn trong rừng cùng vị quan thân tín **Tissa** trong cuộc chiến với người em trai; Ngài đã nhịn bữa cơm duy nhất của mình để dâng cúng. Những việc thiện nhỏ hơn cũng tiếp tục được xướng lên.

Lúc ấy, đức vua giơ tay ra hiệu dừng lại. Ngài tự mình thuật lại một cách rành mạch về những việc cúng dường thường nhật, các đại lễ cúng dường chùa tháp vốn không nằm trong sổ sách. Sau khi nghỉ mệt một lát, Ngài phán rằng:

"Phải... công đức thật nhiều. Tuy nhiên, dù những công sở, công đức lớn kia rất vĩ đại nhưng lòng ta vẫn chưa thấy hoan hỷ tột cùng. Trong lúc cực kỳ khốn khó,

## PAGE 240

bát cháo lúa mạch dâng cúng hay bữa cơm nhường lại trong rừng sâu chính là điều khiến ta cảm thấy hân hỷ nhất."

Khi nghe những lời ấy, Trưởng lão **Abhaya** đã dùng **Thắng trí** để quán xét, rồi vì muốn cho đức vua càng thêm hoan hỷ, Ngài nói rằng:

1. Tâu Đại vương... Tuy lúc đó Đại vương chỉ dâng cúng đến năm vị Trưởng lão, nhưng việc ấy không khác gì đã dâng đến toàn thể Tăng chúng trên khắp đảo quốc này... Trưởng lão **Maliyadeva** sau khi thọ nhận vật thực từ Đại vương, đã mang đến núi **Sumhanakūṭa** (núi Dấu Chân Phật) để chia sẻ và dâng cúng đến chín trăm vị Tỳ-kheo chưa có vật thực. Chính Ngài cũng đã thọ dụng phần còn lại tại đó, thâu Đại vương. (Xem chương 2 về Trưởng lão **Maliyadeva**.)

2. Trưởng lão **Dhammagutta** tại chùa **Kalyāṇīya**, bậc có đại **Thần túc thông** làm rúng động đất trời, cũng đã thọ dụng phần cháo lúa mạch của Đại vương cùng với năm trăm vị Tỳ-kheo tại chùa **Kalyāṇī**.

3. Trưởng lão **Dhammadinna** trú tại vùng **Talangara** cũng đã mang phần vật thực ấy đến đảo **Piyangu** để chia sẻ và cùng thọ dụng với một vạn vị Tỳ-kheo đang lúc thiếu thốn vật thực. (Xem chương 8 về Trưởng lão **Dhammadinna**.)

4. Trưởng lão **Khujjatissa** lừng lẫy thần thông trú tại vùng **Maṅgaṇa** cũng đã thọ dụng cùng với sáu vạn vị Tỳ-kheo tại chùa **Kolāsa**. (Xem chương 7 về sự **Viên tịch** kỳ diệu của hai vị Trưởng lão **Kuṭatissa** và **Mahāvyaggha**.)

5. Trưởng lão **Mahāvyaggha** cũng đã mang đến chia sẻ và cùng thọ dụng với bảy trăm vị Tỳ-kheo đang tu học tại chùa **Ukkanagara**.

## PAGE 241

Vật thực năm món này, toàn thể chư Tăng trên khắp hải đảo đều được thọ dụng. Sự hỗ trợ này thật vừa đủ để chư vị thọ dụng.

Hơn nữa... khi còn ở trong rừng cùng với đại thần Tissa, bát cơm dành cho một người mà đại thần đã dâng cúng, thực tế đã được mười hai ngàn vị Tỳ-kheo tại đảo Piyagu thọ dụng... tâu Đại vương. (**Mahāvaṃsa**-32, 55- so với 24, 29).

(Khi đó, Đại vương vừa lắng nghe giáo pháp của Trưởng lão Abhaya vừa trào dâng hỷ lạc, đôi tay chắp lại cung kính niệm "Sādhu" không dứt. Ngài vô cùng hoan hỷ.)

- Bạch ngài Abhaya, khi ngài phán dạy như vậy, lòng con càng thêm hoan hỷ khôn cùng.

Suốt hai mươi bốn năm qua, con là kẻ tôi tớ của giáo pháp, tôi tớ của Tăng-già, người đã nỗ lực phụng sự đem lại nhiều lợi ích cho chư Tăng, bậc trì giữ gánh nặng giáo pháp. Bạch ngài, con là kẻ tôi tớ của Tăng-già.

Thân xác này của con, vốn là một tôi tớ của Tăng-già, con cũng muốn hiến dâng trọn vẹn cho chư Tăng vào phút cuối. Tại Sīmā (nhà Uposatha), nơi gần bảo tháp Mahācetiya, cũng là nơi con đã tạo phước và là nơi chư tăng thực hiện các Tăng sự lớn nhỏ, xin chư Tăng từ bi cho phép được hỏa táng con tại đó.

(Đại vương vừa nói vừa lịm dần đi, phải dừng lại nghỉ nhiều lần mới có thể bạch xong. Một lát sau, nhà vua dồn hết sức lực nhìn chăm chú vào người em trai Tissa đang ở gần bên. Người em trai chắp tay sát lại gần mặt đức vua.)

- Tâu Hoàng huynh... huynh còn điều gì muốn dạy bảo em không? Em xin đảnh lễ cầu xin huynh tha thứ cho tất cả những gì em đã lầm lỗi.

## PAGE 242

Em sẽ nỗ lực hơn nữa để gánh vác trách nhiệm giáo pháp và phụng sự Tăng-già, tâu Hoàng huynh.

- Lành thay, lành thay em trai... Huynh không còn gì để dạy bảo nữa, bảo tháp Mahācetiya này huynh đang xây dở, em hãy tiếp tục hoàn thành. Đừng để việc dâng cúng vật thực, hoa và nước bị mai một.

Đúng như lời phụ vương lúc lâm chung đã dạy, em hãy tiếp tục công việc của một tôi tớ giáo pháp, tôi tớ Tăng-già... Ôi... Phật... Phật.

Trong khi đang trăn trối với em trai, đức vua bỗng ngừng lời. Có vẻ như ngài đã nhìn thấy hoặc nghe thấy điều gì đó khác thường nên đưa mắt nhìn chăm chú lên không trung. Đôi môi ngài nở nụ cười. Đức vua cũng đưa tay ra như muốn ra hiệu.

Tiếng tụng đọc kinh văn đồng thanh bỗng chốc dừng lại. Sau khi chư Tăng bạch hỏi mới biết nhà vua đưa tay không phải để bảo ngừng tụng, nên chư vị lại tiếp tục tụng đọc. Vì nhà vua nói những lời không liên quan đến trước sau nên những người xung quanh cho rằng ngài đang mê sảng.

Để xua tan nỗi nghi ngờ đó và để đại chúng thấy rõ, theo hướng ngón tay chỉ của đức vua, Trưởng lão Abhaya đã tung một vòng hoa lên không trung. Mọi người nhìn thấy vòng hoa đó đã vướng vào chiếc xe Tusitā trong số sáu chiếc xe thiên đang chờ sẵn. Đại chúng còn nghe thấy cả tiếng kêu lanh lảnh phát ra từ xe thiên.

Đại vương chắp tay hướng về bảo tháp Mahācetiya với tâm định tĩnh rồi trút hơi thở cuối cùng. Chẳng bao lâu sau, hàng ngàn tu sĩ và dân chúng trên sân bảo tháp Mahācetiya xôn xao bàn tán và tất cả cùng ngước nhìn lên bầu trời.

Thiên tử Duṭṭhagāmaṇi từ xe thiên Tusitā, trong trang phục thiên giới rực rỡ, đã hiện thân rõ rệt, đi nhiễu quanh bảo tháp Mahācetiya và chư Tăng ba vòng với nụ cười rạng rỡ, thành kính đảnh lễ trước khi biến mất; tất cả mọi người đều vô cùng tán thán và kinh ngạc trước sự việc chưa từng thấy này.

## PAGE 243

## Giáo pháp được duy trì bằng chính mạng sống trong nạn loạn lạc Brāhmaṇa Tissa

### Bối cảnh lịch sử rộng lớn của lần kết tập lần thứ tư

Đức vua **Vaṭṭagāmaṇi Abhaya** (tiếng Sinhala gọi là **Valagamba**), vương tử của Đại vương Saddhā Tissa, lên ngôi lần thứ nhất vào năm 440 Phật lịch. Sau năm tháng, cuộc nổi loạn của những người Tamil từ xứ Coḷa cùng với **Brāhmaṇa Tissa** (tiếng Sinhala gọi là **Brāhmaṇa Tīya**) bùng nổ. Sau khi đất nước yên bình, ngài lên ngôi lần thứ hai vào năm 455 Phật lịch.

Tại đảo quốc Sri Lanka, khoảng thời gian mười lăm năm từ sau năm 440 Phật lịch là thời kỳ chính trị hỗn loạn nhất. Giáo pháp khi ấy cũng suýt rơi vào đêm tối.

Theo **Anguttara Atthakatha** (1-17), giữa nạn loạn quân tàn phá đất nước và giáo pháp của kẻ phản loạn còn được gọi là **Caṇḍāla Tissa**, thời tiết cũng vô cùng khắc nghiệt, hạn hán kéo dài khiến chư Tăng và dân chúng chết chóc rất nhiều.

Trong phần mở đầu kinh **Puttamansūpama Sutta**, chú giải **Samyutta Atthakatha** (**Saṃ-ṭṭh-2, 102**) mô tả rằng thời đó thực phẩm cạn kiệt đến mức "không còn tình nghĩa vợ chồng, cha con. Khi nạn loạn quân qua đi, lễ đặt tên và đặt nằm nôi cho trẻ nhỏ mới được tổ chức rộn ràng khắp hải đảo rộng một trăm do-tuần".

### Tướng cướp Tissa và những thủ lĩnh phiến quân

**Tissa** hay còn gọi là **Tīya** là một người thuộc giai cấp Bà-la-môn quê ở vùng **Rohana** (**Kulanagara**) miền Nam Sri Lanka. Dựa trên lời tiên tri của một nhà chiêm tinh thuở nhỏ rằng mình sẽ làm vua, hắn đã chiêu mộ những kẻ hung ác và nổi loạn vào tháng thứ năm triều đại **Vaṭṭagāmaṇi**, lấy tên là **Brāhmaṇa Tissa**.

Sau khi đánh chiếm các đô thị và làng mạc dọc đường từ **Rohana** miền Nam đến kinh thành **Anurādhapura** miền Bắc, hắn đã sai sứ giả đến gặp đức vua **Vaṭṭagāmaṇi** với thông điệp: "Sẽ giao nộp vương quốc hay chọn việc giao chiến?".

## PAGE 244

Vào chính thời điểm đó, bảy thủ lĩnh phiến quân **Tameya-kā** (**Damiḷa**), vốn là hậu duệ của vua **Damiva**, cũng đã cùng tùy tùng kéo đến bến cảng **Mahātittha**. Họ lại một lần nữa cử sứ giả đến gặp đức vua.

[Tại đây, bến cảng **Mahātittha** có lẽ không phải là bến cảng **Mahātittha** mang tên "**Mātara**" ở bờ biển cực nam Sri Lanka như trên bản đồ. Có khả năng đây là **Mahātittha** ở cực tây bắc **Yāvane**, nay gọi là **Japmanā**. Theo **D.P.N.**, nơi này từ xưa cũng được gọi là **Mahātittha**, vốn là lộ trình tiến nhập của những người Kalar (Ấn Độ). Đây cũng được cho là bến cảng nơi Ngài **Mahābuddhaghosa** đã đặt chân đến. **Laṅkādīpa**-154.]

Khi đối mặt với hai mặt trận quân sự cùng lúc, vua **Vaṭṭagāmaṇi** đã dùng mưu kế cử sứ giả đến chỗ Bà-la-môn **Tissa** nhắn rằng: "Vì chúng ta là những người cùng sống trên một hòn đảo và cùng chung niềm tin tôn giáo, ta sẽ giao lại ngai vàng, nhưng trước hết hãy cùng nhau đánh đuổi quân ngoại tộc Kalar ra khỏi đất nước". Do đó, **Tissa** đã giao chiến với bảy tên thủ lĩnh phiến quân và tử trận trong cuộc chiến gần "**Saṃketahāla**".

Dù mối họa **Tissa** đã được dẹp yên, nhưng đức vua lại phải đối mặt với quân ngoại tộc Kalar và thất bại, buộc phải lẩn trốn trong rừng sâu suốt 14 năm 7 tháng. Trong khi phải tháo chạy cùng hai vương hậu **Anaḷādevī**, **Somādevī** và hai vương tử, Ngài đã được các vị trưởng lão như Đại đức **Mahātissa** ở vùng **Kuppilaka** nuôi dưỡng và bảo bọc.

[Về sau, khi xây dựng chùa **Abhayagiri**, đức vua đã nhớ đến ân đức này mà dâng cúng ngôi chùa, điều này dẫn đến việc phải chấn chỉnh tông phái **Abhayagiri** sau này, xin xem ở phần phụ lục. Về tên địa danh, **D.P.N.** có các biến thể như "**Kupikkala**, **Kuvikkala**, **Kubbikāla**, **Kukko-kula**".]

Trong số bảy tên thủ lĩnh phiến quân, một tên đã lấy bình bát của Phật còn lại ở Anurādhapura rồi tháo chạy. Một tên khác bắt vương hậu **Somādevī** đem đi. Năm tên còn lại lần lượt giết hại lẫn nhau và thay phiên nhau trị vì ngai vàng trong suốt 14 năm 7 tháng.

## PAGE 245

Các ngôi chùa và bảo tháp do các đời vua trước dày công xây dựng và thờ phụng cũng bị chúng tàn phá đến mức không còn dấu vết. (**Mahāvaṃsa** - Chương 33).

Trong các bản Chú giải (Atthakathā) chỉ ghi chép rằng: "Khi đại hỏa hoạn từ quân phiến quân **Caṇḍāla** (**Brāhmaṇa**) **Tissa** xảy ra suốt mười hai năm". Tại đây, cùng với nạn loạn lạc quốc gia, nạn đói khủng khiếp (**Dubbhikkhantara**) cũng đồng thời hoành hành. Tôi sẽ trình bày về cách các vị Trưởng lão, những bậc gánh vác sứ mệnh giáo pháp, đã bảo vệ tôn giáo bằng cả mạng sống của mình trong thời kỳ đó.

Vì các bộ sử Phật giáo Myanmar chỉ đề cập sơ lược về sự kiện này, nên tôi muốn trình bày đầy đủ theo nội dung trong Chú giải để độc giả Myanmar được tường tận. Đây cũng là bối cảnh lịch sử quan trọng dẫn đến cuộc kết tập Tam Tạng lần thứ tư (**Saṅghāyana**), một điều rất đáng để tìm hiểu.

### Từ chiếc bát gáo dừa trong lễ dâng cúng chùa Ớt

Khi nạn loạn lạc quốc gia xảy ra, các vị Trưởng lão bảo vệ giáo pháp đã phải nỗ lực vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ để giữ cho dòng mạch giáo pháp không bị gián đoạn.

Đừng nói chi đến trọng trách lớn lao đối với đất nước và thế giới, ngay cả việc giữ gìn "giáo pháp tự thân" mà nhiều người cũng không thể thực hiện được. Khi gặp thời thế đảo điên, những người không đủ sức giữ gìn giáo pháp cho riêng mình (những người có năng lực giáo pháp tự thân yếu kém) sẽ dễ dàng để giáo pháp bị mai một.

Sự việc dưới đây là một minh chứng cho điều đó. Một mặt khác, đây cũng là một câu chuyện minh chứng rằng dù lớn hay nhỏ, dù tu sĩ hay cư sĩ, nếu còn vướng mắc chút dính mắc của ái dục (taṇhā pema) thì sẽ dễ gặp tai họa.

Cũng giống như câu chuyện về bảo tháp và ngôi chùa "Một quả ớt" của vua **Duṭṭhagāmaṇi** vô cùng kinh ngạc, sự việc tiếp nối trong lễ dâng cúng ngôi chùa đó cũng kỳ lạ không kém.

## PAGE 246

Bảy ngày sau khi làm lễ quán đảnh lên ngôi vua, đức vua cùng với các quan đại thần và vương hậu khởi hành đến hồ **Tissavāpi**. Các lễ vật từ khắp các thành phố cũng được mang đến cung điện tạm thời, nơi dự kiến sẽ xây dựng chùa và bảo tháp. Cây thương dùng làm vũ khí, trong đó có tôn trí xá-lợi Phật, cũng được cắm gần đó. Sau khi vui chơi dưới nước và ăn uống suốt cả ngày, khi chuẩn bị ra về, dù quân lính có vây quanh để rút cây thương ấy lên nhưng không tài nào rút được, nên đức vua đã cho xây dựng bảo tháp "Một quả ớt" ngay tại vị trí đó.

Vì bảo tháp được xây dựng bằng cách tôn trí cây thương (tiếng Pāḷi gọi là **Kunta**), nên bảo tháp vàng **Marīcavatti** còn được gọi là bảo tháp **Kunta**. Sau khi hoàn thành bảo tháp, ngôi đại tự **Marīcavatti** cũng được xây dựng gần đó. Phải mất ba năm để hoàn thành.

Ngôi chùa và bảo tháp lớn này nằm giữa hai hồ nước vốn là vẻ đẹp của thành phố **Anurādhapura** là hồ **Tissavāpi** và hồ **Abhayavāpi**. Hồ **Tissavāpi** có chiều đông tây dài ba dặm, nam bắc dài hai dặm. Hồ nằm sát phía tây của núi đá **Isigili**. Bờ đập của hồ rộng 50 túc ở chân, 20 túc ở đỉnh và cao 15 túc, vốn là con đường chính nối giữa **Anurādhapura** và **Mahiyaṅgaṇā**. Đây là hồ nước khổng lồ cung cấp nước cho toàn bộ thành phố qua hệ thống ống dẫn.

Hồ **Abhayavāpi** có kích thước bằng khoảng hai phần ba hồ kia, là hồ dùng để tắm. Người dân Sri Lanka gọi là "**Bakavā**". Hồ **Abhayavāpi** nằm cách Mahācetiya đúng 50 tầm về phía tây, và cách hồ **Tissavāpi** khoảng một dặm về phía bắc.

Khi tổ chức lễ dâng cúng ngôi đại tự "Một quả ớt", những rạp lễ (maṇḍap) vĩ đại đã được dựng lên. Riêng rạp dành cho chư Tăng trú ngụ được xây dựng ngay giữa hồ **Abhayavāpi**. Lễ cúng dường khánh thành chùa được tổ chức liên tục trong suốt bảy ngày.

Trong lễ dâng cúng chùa, có một trăm ngàn vị Tỳ-kheo và chín mươi ngàn Tỳ-kheo-ni đến tham dự. Đức vua đã dâng cúng các vật dụng hợp pháp (pari kkhāra) trị giá một trăm ngàn đến các vị Trưởng lão và trị giá một ngàn đến các vị Tỳ-kheo trẻ hơn. (**Ma hāvaṃsa** - Chương 26). Trong lễ hội, các loại thực phẩm cũng được dâng cúng đầy đủ, không thiếu thứ gì. Có một vị Sa-di trẻ khi đang bế bát cháo nóng hổi vừa được dâng đầy tràn, vì quá nóng không thể cầm trực tiếp nên đã phải dùng các góc y cuộn lại để lót tay bế đi. Sau một lúc, ngay cả lớp y cũng bị nóng nên vị ấy đã đặt bát xuống đất.

## PAGE 247

Một lần nữa, vị Sa-di lại quấn y quanh bát để che nóng rồi tiếp tục đi thêm một đoạn. Chứng kiến cảnh vị Sa-di cứ đi một đoạn lại phải dừng nghỉ vì quá nóng, một vị Sa-di-ni (nữ Sa-di) trẻ tuổi bèn nói với lời lẽ vui tươi đầy thiện chí:

“Thưa sư huynh… nếu nóng quá, sư huynh hãy lấy chiếc gáo dừa này lót dưới bát mà bưng đi. Em xin cúng dường chiếc gáo này đến sư huynh”.

Ngay lúc đó, vị Sa-di cảm thấy bớt nóng và việc bưng bát cũng trở nên thuận tiện hơn nên tâm rất hoan hỷ. Vì quá cảm kích, vị ấy chưa đi tiếp ngay mà đứng lại nhìn chăm chú vào vị Sa-di-ni một hồi lâu. Vị Sa-di-ni cũng chuyển từ lòng bi mẫn sang tâm tùy hỷ, mỉm cười chào vị Sa-di một cách vui vẻ. Sau đó, mỗi người lại tiếp tục con đường của mình, thỉnh thoảng còn ngoái đầu nhìn lại lúc chia xa.

Vì đó là ngày cuối cùng của đại lễ thí tạt Vô Thượng (Asadisa dāna) nhân dịp khánh thành chùa kéo dài suốt bảy ngày đêm, nên họ không còn cơ hội gặp lại nhau nữa.

Khoảng năm mươi năm sau, khi vua Vaṭṭagāmaṇi phải đi lánh nạn do cuộc loạn của Bà-la-môn Tissa, đất nước cũng rơi vào nạn đói kém trầm trọng. Phần lớn các vị Tỳ-kheo và Sa-di từ đảo quốc Sri Lanka phải vượt biển sang lánh nạn và trú ngụ tại vùng **Majjhimadesa** (**Ấn Độ**).

Tại một ngôi làng nọ ở đất nước **Ấn Độ**, có các Tỳ-kheo-ni từ Sri Lanka cũng đã vượt biển sang đó. Tại ngôi chùa nơi các vị Tỳ-kheo cư ngụ trong làng này, gần đây cũng có một vị Trưởng lão người Sri Lanka đến tạm trú.

Một vị Tỳ-kheo-ni khoảng sáu mươi tuổi, khi nghe tin có một vị Trưởng lão người Sri Lanka mới đến chùa, vì tình đồng hương nên bà đã đến ngôi chùa đó để thăm hỏi tin tức. Thật trùng hợp khi gặp được vị Trưởng lão cùng hoàn cảnh, cùng quê hương, nên chỉ trong một buổi trò chuyện, họ đã trở nên thân thiết và cùng nhau hỏi han về tình hình đất nước.

Dù trước đây chưa từng quen biết, nhưng vì cùng là người Sri Lanka, cùng chung số phận lánh nạn chiến tranh, nên họ nhanh chóng tâm đầu ý hợp. Khi gặp gian khó, người ta thường nhớ lại thuở còn huy hoàng, vị Tỳ-kheo-ni bèn nhìn chăm chú và cung kính hỏi vị Trưởng lão: “Bạch Ngài, Ngài có kịp dự đại lễ khánh thành ngôi chùa cúng dường một quả ớt không ạ?”

## PAGE 248

Vị Trưởng lão đáp: “Thưa bà, tôi có dự. Đó là lễ hội vui nhất trong đời tôi.”

Vị Tỳ-kheo-ni suy nghĩ một lát rồi hỏi: “Vậy bạch Ngài, lúc đó Ngài khoảng bao nhiêu tuổi?”

Vị Trưởng lão trả lời: “Lúc đó tôi có là bao… chắc khoảng lên bảy. Còn bà lúc ấy bao nhiêu tuổi?”

Vị Tỳ-kheo-ni nói: “Tôi chắc cũng chừng bảy tuổi. Hồi đó Giáo Pháp hưng thịnh lắm Ngài ạ, thật là vui. À… có một chuyện này cụ nhớ ra nên xin thưa với Ngài. Chính vào ngày cuối cùng của lễ khánh thành chùa đó, tôi đang trên đường từ phía đại bảo tháp trở về, thì gặp một vị Sa-di nhỏ đang bưng bát cháo nóng hổi… vì nóng quá không cầm nổi bát nên cứ phải ôm y mà quấn quanh. Thấy vậy, tôi đã cúng dường cho vị ấy một chiếc gáo dừa lớn. Vị ấy có vẻ rất cảm kích. Đến tận bây giờ, hình ảnh ấy vẫn còn hiện rõ mồn một trước mắt tôi…”

Vị Trưởng lão nghe xong liền thở dài một tiếng: “Ái chà… chuyện đó đâu phải của ai khác. Chính là tôi đây!” (Vừa nói, Ngài vừa lấy ra một chiếc gáo dừa đã cũ kỹ được bọc kỹ trong mảnh y rách để đưa cho vị Tỳ-kheo-ni xem).

Vị Tỳ-kheo-ni thốt lên “Ồ!” rồi không nói thêm được lời nào nữa, bà chỉ biết run rẩy nhìn trân trân vào gương mặt vị Trưởng lão. Vị Trưởng lão cũng cầm chiếc gáo dừa, không nói nên lời, chỉ biết thở dài một tiếng dài và nhìn chằm chằm vào gương mặt vị Tỳ-kheo-ni.

Ngày hôm sau, tại ngôi làng đó, người ta không còn thấy vị Trưởng lão và vị Tỳ-kheo-ni hơn sáu mươi tuổi đi lánh nạn ấy đâu nữa. (**Chú giải Trung bộ kinh 2, 51-2 – Rathavinīta Sutta.**)

## PAGE 249

## Đại lễ viên tịch của hai mươi bốn ngàn vị A-la-hán

Trong thời gian xảy ra cuộc loạn của Bà-la-môn Tissa, tại vùng biên viễn Rohaṇa phía Nam đảo quốc Sri Lanka, có một trung tâm thiền định nổi tiếng mang tên **núi Cittalat-pabbata**, nơi có mười hai ngàn vị A-la-hán đang cư trú.

Tại ngôi đại tự viện **Tissamahā-vihāra** ở kinh đô cổ Mahāgāma thuộc vùng đó, cũng có mười hai ngàn vị A-la-hán đang cùng nhau tu tập. (Khoảng cách giữa **núi Cittalat-pabbata** và chùa **Tissamahā-vihāra** chỉ chừng mười hai dặm.)

Những chướng ngại đôi khi xảy ra cho một cá nhân hay cho toàn thể giáo giới thật đáng kinh ngạc. Định luật nghiệp quả quả thật rất vi diệu.

Tại cả hai trú xứ là **núi Cittalat-pabbata** và chùa **Tissamahā-vihāra**, để chư Tăng có thể an tâm tu học **Pháp học (Pariyatti)** và **Pháp hành (Paṭipatti)**, các thí chủ đã cắt cử người hộ Tăng (kappiya) và dâng cúng lương thực, lúa gạo đủ dùng trong khoảng ba năm. Dù thời tiết có khô hạn, họ cũng đã chuẩn bị dư dả để các bậc tu hành không phải chịu khổ cực.

Thế nhưng, số lương thực tích trữ cho khoảng hai mươi bốn ngàn vị Tăng dùng trong ba năm đó đã bị những đàn chuột lớn kéo đến cắn phá, chỉ trong một đêm duy nhất, số còn lại chỉ là một phần nhỏ.

Mười hai ngàn vị A-la-hán tại trú xứ **núi Cittalat-pabbata** lâm vào cảnh thiếu hụt lương thực trầm trọng. Với ý nghĩ rằng “Chắc bên chùa **Tissamahā-vihāra** còn lương thực”, các Ngài bèn lên đường đi về phía chùa **Tissamahā-vihāra**.

Trong khi đó, mười hai ngàn vị Thánh Tăng tại **Tissamahā-vihāra** cũng bị nạn chuột tàn phá dẫn đến hết vật thực, các Ngài cũng nghĩ rằng “Chắc phía **núi Cittalat-pabbata** vẫn còn lương thực” nên bèn khởi hành đi về hướng núi Cittalat-pabbata.

## PAGE 250

Hai mươi bốn ngàn vị Thánh A-la-hán ấy đã gặp nhau tại đầu con sông lớn Gambhīra trên đường đi. Khi hỏi thăm và trò chuyện với nhau, các ngài biết rõ mọi sự tình nên không tiếp tục cuộc hành trình nữa.

Mỗi vị lần lượt đi vào khu rừng lớn bên cạnh sông Gambhīra, và toàn bộ hai mươi bốn ngàn vị Thánh A-la-hán đều ngồi thiền rồi viên tịch Niết-bàn tại đó. Chỉ đến khi nạn giặc cướp phá hoại đất nước được dẹp yên, với sự trợ giúp của Thiên chủ Sakka, người ta mới thu gom xương xá-lợi và xây dựng bảo tháp để tôn thờ. (Vibhaṅga-aṭṭhakathā, Ñāṇavibhaṅga-426-7.)

Ngay cả đức Thế Tôn cùng các bậc Đại Thệ tử có thần thông quảng đại, khi an cư mùa mưa tại thành Verañjā, cũng đã từng phải thọ dụng lúa mạch của ngựa trong suốt cả mùa an cư. Sự sắp đặt của nghiệp lực thì dù là bậc có thần thông lớn lao đến đâu cũng không thể cưỡng lại được.

Vì vậy, chúng ta chỉ nên nỗ lực để tạo nhân duyên tốt. Hãy giữ gìn trì giới để thân nghiệp và khẩu nghiệp được tốt đẹp, và thực hành tu tập định tâm để ý nghiệp cũng được tốt đẹp theo.

### Trưởng lão Cūḷasīva, vị đã trì tụng Saṃyutta Nikāya suốt hơn 14 năm bằng cách ăn lá cây

Vì tên loạn quân Brāhmaṇatissa đang tàn phá khắp đảo quốc Sīhaḷa (Srilanka), chư Tăng đã hội họp và cử tám vị Trưởng lão đến gặp Thiên chủ Sakka để nhờ ngăn chặn tên loạn quân này.

Thiên chủ Sakka bạch lại rằng: "Bạch các bậc cao thượng, con không có khả năng ngăn chặn tên loạn quân đang hoành hành này. Con chỉ mong các ngài hãy lánh sang bờ bên kia đại dương (Trung Ấn - Ấn Độ). Còn việc vượt đại dương thì con có thể hộ trì được."

Chư Tăng từ khắp bốn phương trên đảo Sīhaḷa, vì muốn lánh nạn giặc và tìm nơi có mưa thuận gió hòa, đã cùng nhau đi về phía Tây Bắc đảo Sīhaḷa

## PAGE 251

đến đảo Nāgadīpa. Tại cảng Jambukola, các ngài đã lên một chiếc bè lớn ba tầng do Thiên chủ Sakka biến hóa ra. (Xem bản đồ cảng Jambukola, đảo Nāgadīpa và phần phụ lục). Tầng dưới cùng chìm dưới nước, một tầng dành cho chư Tăng ngự, và tầng còn lại dùng để để các vật dụng phụ tùy (pari-kkhāra). (Vibhaṅga-aṭṭhakathā, 427.)

Trên chiếc bè lớn lúc ấy đã có bảy trăm vị Tỳ-kheo. Trên bờ cảng vẫn còn khoảng bảy mươi vị đang đứng. Khi ấy, người lái tàu (Thiên chủ Sakka) đến gần các vị Trưởng lão đang đứng trên bờ và bạch rằng: "Bạch các ngài, tai họa lớn sắp ập đến rồi. Mưa sẽ không còn thuận hòa nữa. Các ngài sẽ gặp khó khăn, thiếu thốn về tứ sự và sẽ không thể duy trì, bảo vệ giáo pháp học thuật (Pariyatti) được nữa.

"Các ngài nên sang Trung Ấn để bảo toàn mạng sống. Xin mời các ngài lên tàu. Nếu chỗ ngồi không đủ, các ngài có thể nằm sấp trên những tấm ván này để qua bờ. Xin các ngài yên tâm, con sẽ không để bất kỳ nguy hiểm nào xảy ra."

(Thời kỳ đó, Tam Tạng chỉ được truyền thừa bằng cách ghi nhớ trong lòng, chưa có việc ghi chép rộng rãi trên lá buông.)

Trong số chư Tăng đang đứng trên bờ, có sáu mươi vị Trưởng lão đã cùng nhau lập lời thệ nguyện: "Thôi... chúng ta đừng đi. Hãy ở lại đây để bảo vệ Tam Tạng Pháp Bảo", rồi các ngài đi về vùng Malaya (vùng đồi núi nằm khoảng giữa đảo Sīhaḷa, cách đường từ Kandy đi Anuradhapura khoảng 15 dặm, gọi là Mātale). (Aṅguttara-aṭṭhakathā-1, 71.)

Một vị Trưởng lão đã già yếu cùng một vị Sa-di thị giả cũng đi vào rừng sâu. (Vibhaṅga-aṭṭhakathā, 430.) Chỉ còn lại ba vị Trưởng lão là bậc thầy của chư Tăng trên tàu: Trưởng lão Cūḷasīva bậc thông suốt Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya), Trưởng lão Isidatta và Trưởng lão Mahāsoṇa vẫn đang đứng trên bờ cảng trầm tư suy xét.

"Bạch các ngài, xin mời các ngài lên tàu," người lái tàu lại thỉnh mời lần nữa. Hai vị Trưởng lão Isidatta và Cūḷasīva nói với Trưởng lão Mahāsoṇa rằng:

## PAGE 252

"Này hiền giả Mahāsoṇa, thời gian đã muộn rồi, hiền giả hãy lên tàu đi thôi," hai vị cùng nhau khuyên bảo.

"Còn các ngài thì sao, bạch các ngài?" Trưởng lão Mahāsoṇa hỏi lại. Trưởng lão Cūḷasīva đáp:

"Này hiền giả Mahāsoṇa, chúng tôi đã già rồi. Chết ở dưới nước hay chết trên cạn thì cũng như nhau cả thôi. Chúng tôi sẽ không đi nữa. Nhưng hiền giả thì vẫn còn trẻ. Trong tương lai, giáo pháp của chúng ta cần nương nhờ vào hiền giả để được duy trì bền vững cho các thế hệ mai sau. Vậy nên, chúng tôi khẩn thiết mong hiền giả hãy lên tàu."

"Nếu các ngài không đi, con cũng sẽ không đi đâu cả. Xin các ngài hãy lượng thứ cho con."

Dù đã khuyên bảo đến ba lần nhưng không được, các vị Trưởng lão đành phải thôi.

Người lái tàu thấy không thể can thiệp thêm được nữa nên quay trở lại tàu. Chiếc tàu lớn dần dần rời cảng Jambukola.

Ba vị Trưởng lão vẫn đứng lại nơi cảng Jambukola. Trước khi chia tay, Trưởng lão Cūḷasīva đã dặn dò Trưởng lão Isidatta rằng:

"Này hiền giả Isidatta, tương lai giáo pháp của chúng ta sẽ dựa vào hiền giả Mahāsoṇa này mà được tiếp tục hưng thịnh. Tôi xin đặc biệt gửi gắm ngài, xin ngài đừng rời bỏ hiền giả ấy." Trưởng lão Isidatta hỏi: "Còn ngài định sẽ đi đâu?"

"Tôi muốn đi đảnh lễ Đại Bảo Tháp (Mahācetiya) một lần nữa," nói rồi ngài từ biệt. Trưởng lão Cūḷasīva chậm rãi đi về hướng thành phố Anuradhapura. Còn Trưởng lão Isidatta thì dẫn Trưởng lão Mahāsoṇa đi về hướng khác từ bến tàu. (Từ Jambukola đến Anuradhapura đi bộ mất khoảng 5 ngày đường. D.P.N.)

Trong cơn loạn lạc, chư Tỳ-kheo người thì sang Ấn Độ, người thì ở lại tùy theo ý nguyện của mình, và rất nhiều vị Tỳ-kheo đã phải viên tịch trong nghịch cảnh.

## PAGE 253

Các bậc Đại Thưởng tọa hộ trì Giáo Pháp chỉ còn cách xem xét và sắp xếp làm sao để duy trì mạng mạch Phật giáo sau khi vượt qua kiếp nạn khủng khiếp này. Các ngài chẳng màng đến thân xác nhọc nhằn, dù có phải đánh đổi mạng sống cũng một lòng giữ vững tâm nguyện thực hiện gánh nặng mà Giáo Pháp đã giao phó.

Khi Đại Thưởng tọa Cūḷasīva đến đại tu viện Mahāvihāra tại kinh đô Anurādhapura, ngài đã vô cùng xúc động trước sự vô thường.

Ngôi đại tu viện Mahāvihāra, nơi vua Devānampiyatissa (Phật lịch 236-277) đã xây dựng vào thời kỳ đầu khi Giáo Pháp truyền đến đảo quốc Srilanka và là cư ngụ của hàng vạn chư Tăng suốt bao năm qua, giờ đây đã hư hỏng, tan hoang, chỉ còn là những đống tro tàn đổ nát. Khi đi tiếp nửa dặm về phía đại bảo tháp Mahācetiya, niềm thương cảm trong ngài còn trào dâng mạnh mẽ hơn. Ngôi đại tháp phủ đầy rêu phong, cây cối, bụi rậm bao quanh tám phía. Toàn bộ khuôn viên bảo tháp giờ đây chỉ còn cây thầu dầu mọc lên hoang dại.

Đại Thưởng tọa thành kính ngồi xuống một góc, kính cẩn đảnh lễ như đang hầu cận trước đức Thế Tôn đang còn sinh tiền. Sau đó, ngài vào nghỉ tại một nhà mát ở cổng phía Tây bảo tháp, vừa chiêm bái bảo tháp với lòng tịnh tín, vừa suy ngẫm:

"Ôi! Thật xót xa thay, ngôi đại tháp Mahācetiya này, nơi tôn thờ Kim Thân Xá Lợi của đức Thế Tôn – bậc đã thọ nhận những sự cúng dường vô song – mà nay lại không có người trông nom chăm sóc." Ngài ngồi đó, lòng đầy niềm cảm hối.

Trong lúc ngài đang suy tư như vậy, một người nam cư sĩ mang theo ống tre đựng gạo và những miếng đường thốt nốt đến gần đảnh lễ Đại Thưởng tọa và hỏi:

Cư sĩ: Bạch Ngài, chư vị định đi về phương nào ạ?

Đại Thưởng tọa: Chúng ta định đi về vùng phía Nam (Dakkhiṇadesa).

Cư sĩ: Con cũng đang đi về hướng đó, xin mời Ngài cùng đi với con.

Đại Thưởng tọa: Này cư sĩ, ta đã già yếu rồi, e rằng không theo kịp bước chân của ông đâu. Ông hãy cứ đi trước đi.

Cư sĩ: Bạch Ngài, không sao đâu ạ. Ngài đi được đến đâu, con sẽ xin theo đến đó.

## PAGE 254

Người cư sĩ ấy cầm lấy y bát của Đại Thưởng tọa rồi cùng lên đường. Khi đến bờ hồ Tissavāpi (con đường đê nối từ Mahiyangaṇa đến Anurādhapura), vị ấy lấy đường thốt nốt mang theo pha vào bát nước dâng lên Đại Thưởng tọa. Sau khi dùng xong, ngài cảm thấy sức lực tràn trề một cách lạ thường.

Không lâu sau, họ đến một ngôi chùa cũ gần sông Veṇu, người cư sĩ dọn dẹp nơi đó để ngài nghỉ ngơi. Sáng hôm sau, sau khi Đại Thưởng tọa rửa mặt, vị ấy đã nấu cháo dâng cúng. Đến giờ ngọ, vị ấy lại dâng cơm.

Đại Thưởng tọa lấy tay che bát lại và bảo: "Này cư sĩ, hãy chừa lại phần cho ông nữa." Cư sĩ đáp: "Bạch Ngài, quãng đường con phải đi không còn xa nữa đâu ạ," rồi dâng hết phần cơm còn lại. Chẳng mấy chốc, họ đã đến bến sông Bara (nay gọi là Deduru Oya). Vị cư sĩ thưa: "Bạch Ngài, vùng đất này là nơi ở của những người ăn lá cây rừng. Đằng kia con đã thấy khói bốc lên rồi. Con xin phép Ngài cho con được đi tiếp ạ," nói rồi vị ấy rời đi.

Nghĩ đến việc có thể đi quãng đường xa như vậy trong thời gian ngắn mà không hề mệt mỏi, Đại Thưởng tọa mới nhận ra rằng người cư sĩ ấy không phải là một người bình thường.

Trong thời buổi đất nước loạn lạc điêu linh ấy, Đại Thưởng tọa Cūḷasīva đã duy trì mạng sống chỉ bằng cách ăn lá cây rừng, trong khi tâm luôn quán chiếu và tư duy về bộ Samyutta Nikāya (Tương Ưng Bộ) (Vibhaṅga-Aṭṭhakathā, 427-8).

(Về câu chuyện hai anh em Thưởng tọa và Ni sư Nāga đã thọ nhận vật thực của chư thiên để hoằng dương Giáo Pháp trong thời loạn lạc, xin xem ở Chương 3).

Bậc mẫu mực về khả năng chịu đựng của thân xác

Vì Đại Thưởng tọa Cūḷasīva vô cùng nổi tiếng khắp đảo quốc Srilanka nên có rất nhiều người đến chiêm bái và dâng cúng. Do được cúng dường quá nhiều khiến ngài cảm thấy nhàm chán. Để tìm kiếm sự thanh tịnh, ngài đã từng lên tàu từ cảng Mahātittha để sang Jambudīpa (Ấn Độ).

## PAGE 255

Trong chuyến hành trình, khi ngồi trên tàu lặng lẽ quan sát mặt biển mênh mông, ngài đã lập tức nhập vào định Āpo Kasiṇa (vòng tròn nước). (Visuddhimagga-1, 165 - Āpokaasiṇakathā).

Khi giải thích ý nghĩa của kinh điển Pāḷi, các nhà chú giải vĩ đại như Đại Thưởng tọa Mahāsīva thường trích dẫn và tham khảo quan điểm của Đại Thưởng tọa Cūḷasīva. (Dīgha-Aṭṭhakathā-3, 66 - Sampasādanīya Sutta, về ý nghĩa của Dhammā-abhiññā).

Tuy nhiên, việc hai vị Thượng tọa có cùng tên Cūḷasīva này là hai người khác nhau hay chính là vị này thì vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn. Trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga 1, 307 - Mettā-bhāvanā; Aṅguttara-Aṭṭhakathā-3, 346) có chép:

"Người an trú trong tâm Từ sẽ không bị trúng độc, giống như trường hợp của Đại Thưởng tọa Cūḷasīva – vị tụng đọc Tương Ưng Bộ." Tuy nhiên, chi tiết về việc ngài bị trúng độc như thế nào thì không thấy ghi chép tỉ mỉ. Trong từ điển danh từ riêng Pāḷi (D.P.N.), người ta dự đoán có lẽ sự kiện này đã xảy ra vào thời kỳ loạn lạc Brāhmaṇa Tissa.

Dẫu sao đi nữa, Đại Thưởng tọa Cūḷasīva không chỉ là một bậc học giả mẫu mực trong việc tu tập tâm Từ, mà ngài còn là một bậc đại ân nhân của Tam Tạng kinh điển, người đã kiên trì ăn lá cây rừng suốt hơn 12 đến 14 năm để trì tụng và giữ gìn cho bộ Samyutta Nikāya không bị mai một. Đây là điều không thể phủ nhận và hoàn toàn đáng được kính ngưỡng.

Các Thượng tọa Isidatta và Mahāsoṇa duy trì mạng mạch Giáo Pháp bằng cách ăn củ và rễ cây

Đại Thưởng tọa Isidatta cũng từ bến tàu đi Jambudīpa quay trở lại, ngài gọi Thưởng tọa Mahāsoṇa cùng đi đến những vùng đất mà họ nghĩ rằng có thể tránh được nạn giặc cướp, và cuối cùng đã đến vùng Aṭṭhajana thuộc miền Nam đảo quốc Srilanka.

Dân chúng ở vùng đó thường hái quả Mì-sì khi quả vừa chín tới, họ chỉ lấy hạt bên trong và vứt bỏ lớp vỏ bên ngoài.

Lúc ấy, Đại Thưởng tọa Isidatta do chưa ăn uống gì, lại thêm đường xá xa xôi mệt mỏi, liền bảo:

## PAGE 256

“Này hiền giả Mahāsoṇa… tôi nghĩ ở nơi này có thể đi khất thực được”, nói rồi vị ấy đắp y bưng bát, cùng đi đến chỗ các thí chủ đang hái quả thầu dầu (thit-mee-zi) để đứng bát.

Các trẻ nhỏ gần đó vốn dĩ thạo việc, nghĩ rằng chư Tăng đang thọ nhận vật cúng dường nên đã dùng tay chùi sạch cát trên vỏ quả thầu dầu rồi đặt vào bát cúng dường. Cả hai vị trưởng lão đã trú ngụ tại vùng biên địa ấy suốt bảy ngày, chỉ thọ dụng vỏ quả thầu dầu để duy trì mạng sống.

Khi tiếp tục hành trình lên đường, các vị đi đến một ngôi làng nhỏ tên là Coriyassa. Nhìn thấy những cọng sen (trà-yoe) bị vứt bỏ sau khi người ta đã hái lấy hoa, những đứa trẻ ở đó cũng theo cách cũ mà cúng dường những cọng sen ấy vào bát. Tại vùng đó, suốt bảy ngày liền, các vị chỉ thọ dụng cọng sen mà vẫn tinh tấn duy trì việc học Pháp (Pariyatti) và hành Pháp (Paṭipatti).

Tiếp tục tiến bước, các vị lại đi đến cổng một ngôi làng mà dân cư ở đó chỉ ăn lá cây để sống. Trong làng ấy có một cô bé, trước khi cha mẹ đi vào rừng làm việc, họ đã dặn rằng:

“Này con gái… nếu có vị tu hành (Samaṇa) nào ghé qua, đừng để các vị đi đâu mất, con hãy cung kính chỉ dẫn nơi nghỉ ngơi cho các vị.”

Tuân theo lời dặn, khi thấy hai vị trưởng lão vào làng khất thực, cô bé liền đi đến nhận lấy bát và sắp xếp chỗ ngồi cho các vị. Vùng đất này vốn chẳng có lúa gạo hay lương thực dư dả.

Sau khi đảnh lễ thỉnh mời các vị tạm nghỉ, cô bé cầm một con dao nhỏ đi ra phía sau nhà. Cô hái lá thầu dầu, dây thầu dầu và lấy cả lõi thân cây chuối rồi quay vào trong. Cô bỏ tất cả vào cối giã nát, nặn thành ba nắm tròn rồi đặt lên một chiếc đĩa mang đến cúng dường hai vị trưởng lão.

Cô bé định bụng cúng dường mỗi vị một nắm, còn nắm cuối cùng sẽ đặt vào bát của trưởng lão **Isidatta**. Nhưng khi cô đưa tay định đặt vào, thì bàn tay lại tự nhiên chuyển hướng sang bát của trưởng lão **Mahāsoṇa**, và nắm thức ăn ấy đã rơi vào bát của trưởng lão **Mahāsoṇa**.

“Này hiền giả **Mahāsoṇa**… hãy nhìn điều đó xem. Trong thời kỳ đói kém khắc nghiệt của nạn Brāhmaṇatissa này, ngay cả đối với vật thực làm từ lõi chuối và lá cây mà nghiệp tạo ra quả báo rõ rệt như thế này, nếu là vào thời kỳ và trú xứ thuận lợi (desakālasampatti)

## PAGE 257

thì quả báo ấy còn mạnh mẽ đến nhường nào nữa.” Nói rồi, hai vị đi vào một ngôi chùa hoang không có người ở mà cô bé đã chỉ dẫn để thọ thực.

Khi những người lớn từ trong rừng trở về, nghe con gái kể lại, họ đã hân hoan tìm đến chùa và thưa rằng:

“Bạch các ngài… vì lòng bi mẫn đối với chúng con, nếu không quá phiền hà, xin các ngài hãy ở lại đây tu tập. Chúng con xin được hết lòng tìm kiếm những gì có thể để dâng cúng chăm sóc các ngài.”

Hai vị trưởng lão đã ở lại vùng đó suốt 14 năm mà không rời đi nơi khác. Các vị chỉ dùng lá cây, vỏ cây và củ rễ làm vật thực để duy trì mạng sống, tinh tấn thực hành việc học Pháp và hành Pháp.
(**Vibhaṅga-aṭṭhakathā**, 428-9.)

### Vị trưởng lão ăn lá cây để bảo bọc người đệ tử cho đến chết — Thầy của Sa-di Nigrodha

Trưởng lão **Vattabbaka Nigrodha** vào thời điểm xảy ra quốc nạn (nạn đói Brāhmaṇatissa) vẫn còn là một Sa-di. Vị ấy đang chăm sóc vị thầy tế độ (Upajjhāya) đã già yếu của mình.

Vị trưởng lão già nói rằng ngài không muốn đi sang Ấn Độ, nên hai thầy trò đã cùng nhau lưu lại đảo Lankā, đi đến những vùng rừng núi hẻo lánh để lánh nạn phiến quân và chăm sóc lẫn nhau. Khi đi đến một vùng biên địa xa xôi, cả hai thầy trò đã bị đứt bữa suốt bảy ngày liền. Nhìn thấy những cây thốt nốt có quả chín ở gần một ngôi làng, vị Sa-di thưa:

“Bạch thầy… xin thầy đợi con một lát, để con trèo lên cây hái quả thốt nốt chín xuống.”

Mặc dù vị trưởng lão đã ngăn cản: “Này **Nigrodha**… con đừng trèo, con đang rất yếu rồi”, nhưng vì lòng hiếu thảo, vị Sa-di vẫn cầm con dao nhỏ trèo lên cây. Trong lúc đang cắt buồng thốt nốt, con dao bỗng bị rơi xuống đất.

## PAGE 258

Trong lúc cơ thể đang kiệt quệ vì đói mà con dao lại rơi mất, vị thầy ở dưới lo lắng không biết đệ tử sẽ làm sao, thì vị Sa-di đã dùng tay xé những lá thốt nốt, kết lại thành một sợi dây rồi thả xuống đất.

“Bạch thầy… xin thầy thứ lỗi cho con, xin thầy hãy buộc con dao vào sợi dây lá này giúp con.”

Vị thầy khen ngợi: “Thật là bậc có trí huệ”, rồi buộc dao vào cho đệ tử.

Vị Sa-di sau khi cắt quả thốt nốt thả xuống thì leo xuống đất. Vị thầy dùng con dao ấy gọt một quả thốt nốt chín vừa rơi xuống rồi bảo:

“Này Sa-di… con mệt lắm rồi. Hãy ăn cái này trước đi.”

Vị Sa-di thưa: “Bạch thầy… khi thầy chưa thọ dụng thì con không muốn ăn trước đâu ạ.” Nói rồi vị ấy gọt vỏ quả thốt nốt đặt vào bát kính dâng vị trưởng lão già trước, sau đó mới tự mình ăn.

Sau khi hai thầy trò thọ dụng quả thốt nốt no nê dưới gốc cây, họ tìm thấy một ngôi chùa cũ đổ nát bỏ hoang ở gần nơi dân cư ăn lá cây sống. Sau khi dọn dẹp nơi nghỉ ngơi cho thầy, vị trưởng lão cũng ban lời giáo huấn nhắc nhở ngắn gọn cho người đệ tử rồi đi vào trong nghỉ ngơi.

Vị Sa-di nhìn về phía một ngôi bảo tháp trong chùa và suy xét: “Ôi… ta không biết mình sẽ chết ở đâu. Đã bao kiếp rồi ta phải chết mà không có nơi chốn định hướng rõ ràng. Nhờ ân đức Tam Bảo mà kiếp này ta có được trí huệ, trong khi mạng sống còn duy trì, ta nên làm việc phục vụ (veyyāvacca) bảo tháp và hướng tâm về đức Phật.” Suy nghĩ vậy, vị ấy đi đến sân bảo tháp.

Trên sân bảo tháp không người trông nom, cỏ mọc cao lút đầu người. Vị Sa-di bắt đầu nhổ cỏ, gom lại thành đống rồi vứt đi. Do đã bảy ngày không được ăn, vị ấy kiệt sức và ngã quỵ xuống khi đang đứng. Nhận thấy hiểm họa của cái chết đã cận kề, vị ấy vừa quán xét pháp vừa nằm trong đám cỏ, tay vẫn cố gắng nhổ những cây cỏ trong tầm với.

Lúc đó, một vài người dân làng đang đi tìm kiếm vật thực và hái củi trở về ngang qua chùa, thấy cỏ lay động, họ nghĩ là có thú rừng nên đã tiến lại gần.

## PAGE 259

Thí chủ: Ôi... Là sư Sa-di đó sao! Thưa sư, sư đang làm gì ở đây vậy ạ?

Sa-di: Thưa..., tôi đang dọn cỏ trên sân bảo tháp này.

Thí chủ: Ồ... Ở đây chỉ có một mình sư thôi sao, hay còn có ai đi cùng nữa không ạ?

Sa-di: Có cả Hòa thượng Tế độ của tôi nữa. Nhưng vì ngài đã cao tuổi, đường xa mệt mỏi nên đang nghỉ ngơi dưỡng sức ở trong liêu phòng rồi.

Các thí chủ ấy đã dâng cúng cho vị Sa-di một tổ ong đầy mật vừa lấy được từ trong rừng và thưa rằng: "Bạch Sa-di, xin hãy dâng lên Ngài Hòa thượng rồi Sa-di cũng cùng thọ dụng. Xin phép Ngài cho chúng con đi trước. Xin cung thỉnh hai Ngài ghé qua làng của chúng con. Trên đường đi chúng con sẽ bẻ các nhành cây để lại làm dấu. Cung thỉnh Sa-di cùng Ngài Hòa thượng quang lâm đến làng để khất thực." Nói xong, họ xin phép ra về.

Vị Sa-di vô cùng hoan hỷ nhận lấy tổ mật ong rồi đi đến ngôi chùa nhỏ nơi vị Thầy tế độ đang ở. Đứng từ bên ngoài cửa, Sa-di thưa: "Bạch Ngài." Ngài Hòa thượng nghĩ: "Chắc là Sa-di đang đói và mệt rồi," nên Ngài giữ im lặng, không đáp lời.

Sa-di: Bạch Ngài....
Hòa thượng: Này Sa-di... tại sao con lại muốn làm phiền một lão Tỳ-kheo đang nghỉ ngơi yên tĩnh thế này?
Sa-di: Bạch Ngài, xin Ngài từ bi mở cửa cho con một chút.
Hòa thượng: (Đứng dậy mở cửa) Trong tay con có thứ gì vậy?

(Sau khi Sa-di thuật lại mọi chuyện, theo ý muốn của vị Hòa thượng, Sa-di đã pha nước mật ong dâng cúng. Sau khi thọ dụng, vị Hòa thượng hồi phục sức lực đáng kể.)

Hòa thượng: Này Sa-di, con có hỏi thăm xem nơi nào có dân cư sinh sống gần đây không?
Sa-di: Bạch Ngài, con chưa kịp hỏi thì họ đã chủ động thỉnh mời rồi ạ.
Hòa thượng: Ừm... vậy thì tốt quá Sa-di. Nếu sáng mai mới đi thì mọi người sẽ mệt vì đói, bây giờ vẫn còn chút sức, chúng ta hãy đi ngay thôi.

## PAGE 260

Hai thầy trò vừa nói vừa tiếp tục cuộc hành trình. Sa-di mang theo bát và y của vị Hòa thượng, đi theo dấu các nhành cây đã được bẻ sẵn. Khi trời gần lặn, họ đã đến gần một ngôi làng. Không tiến vào trong làng ngay, họ quyết định nghỉ qua đêm tại một nơi không xa cổng làng.

Vì đây là vùng đất họ chưa từng đặt chân đến nên không thể hoàn toàn an tâm. Tuy không có giặc giã, nhưng giữa chốn rừng sâu núi thẳm, họ không khỏi lo ngại về hiểm nguy từ thú dữ. Vị Hòa thượng cũng đã biết trước rằng ở một số vùng biên địa hẻo lánh còn có cả bộ tộc ăn thịt người. Tuy các bậc thiện trí không còn sợ hãi, nhưng các Ngài vẫn luôn duy trì sự tỉnh giác và thận trọng.

Vị Sa-di Nigrodha dọn dẹp một chỗ dưới gốc cây đại thụ gần làng cho vị Hòa thượng, rồi nằm nghỉ ở một nơi không xa Thầy mình. Vị Hòa thượng nhắc nhở đệ tử rằng vì không thể truyền dạy giáo lý pháp học trong lúc này, nên hãy cố gắng chánh niệm, quán tưởng đề mục thiền định phù hợp với lứa tuổi, rồi Ngài nghỉ ngơi.

Vị Sa-di, với tâm thế của một người trẻ tuổi, không hề tỏ ra lo âu hay sợ hãi. Khi thấy vị Hòa thượng đã thâm nhập định và thiếp đi một lát, Sa-di liền cầm lấy bát của mình, một mình đi vào sâu trong rừng giữa đêm tối mịt mù.

Khi vị Hòa thượng thức giấc và nhìn quanh, không thấy Sa-di đâu, Ngài đã đi vòng quanh các bóng cây tối đen để tìm kiếm nhưng vẫn không thấy.

Ngài suy nghĩ: "Chao ôi... chắc là Sa-di của ta đã bị những kẻ ăn thịt người bắt đi mất rồi," lòng Ngài đầy lo âu nên không thể chợp mắt được nữa. Suốt đêm đó, Ngài chỉ ngồi thiền và quán chiếu giáo pháp.

Khi bình minh vừa hé rạng, vị Sa-di từ trong rừng trở về. Sa-di dùng bát múc nước để Ngài rửa mặt và dâng lên vị Hòa thượng một chiếc tăm xỉa răng (que đánh răng) vừa lấy được từ trong rừng.

## PAGE 261

Vị Hòa thượng thậm chí còn chưa kịp rửa mặt đã lên tiếng:

"Này Sa-di, hãy nhìn xem, đêm qua con đã đi đâu vậy? Thật là... con đã khiến một lão Tỳ-kheo phải lo lắng quá chừng. ........ Ta phải phạt con mới được." Nghe vậy, Sa-di thưa: "Dạ bạch Ngài, con xin nhận hình phạt ạ."

Sau khi rửa mặt xong, hai thầy trò vào làng để khất thực buổi sớm. Dân làng dâng cúng những loại củ, rễ và trái cây rừng mà họ thường dùng làm vật thực. Sau khi việc khất thực hoàn tất, hai thầy trò trở về gốc cây nơi họ đã nghỉ đêm qua. Vị Sa-di dùng bát múc nước để rửa chân cho vị Hòa thượng. Khi về đến nơi—

Sa-di: Bạch Ngài, con đã múc nước rửa chân về đây ạ, xin Ngài cho phép con được rửa chân cho Ngài.
Hòa thượng: (Nhìn vị đệ tử thấu hiểu đạo nghĩa và chu toàn bổn phận, Ngài nhớ lại sự việc đêm qua và hỏi) Này Sa-di... đêm qua con đã đi đâu? Vì không yên tâm nên ta đã lo lắng cho con, cả đêm không thể nhất tâm quán chiếu giáo pháp được.
Sa-di: Bạch Ngài, kể từ ngày xuất gia sa-di đến nay, chưa bao giờ con để mặt trời mọc khi đang ở trong làng hay thậm chí là vùng ven làng. Điều này Ngài cũng đã rõ ạ. Vì vậy, đêm qua vì không muốn bình minh lên khi đang ở gần làng, con muốn được đón bình minh giữa cảnh rừng núi nên đã đi sâu vào trong rừng. Thấy Ngài đang ngon giấc nên con sợ làm Ngài tỉnh giấc và ảnh hưởng đến việc hành thiền nên đã không thưa trước với Ngài ạ.
Hòa thượng: Ừm... Sa-đhu, Sa-đhu! Này Sa-di, nếu đúng như vậy thì con không đáng bị phạt. Thôi được rồi... chính ta mới là người đáng nhận phạt.

Vị Hòa thượng càng thêm yêu mến vị đệ tử của mình, dù tuổi còn nhỏ nhưng đã vô cùng tôn kính lời dạy của Đức Phật, giữ gìn trọn vẹn hạnh đầu đà **Aranyaka** (hạnh trú rừng). Trong khi hai thầy trò đang lưu trú tại vùng biên địa đó—

## PAGE 262

“Này chú nhỏ, sư cũng đã già rồi, chẳng thể nói trước được ngày mai sẽ ra sao. Các chú vẫn còn rất nhiều thời gian để gánh vác việc cho Giáo Pháp. Đừng chỉ mải nhìn vào sư mà nương tựa. Nếu chẳng đặng đừng, hãy biết xả bỏ khi cần thiết, rồi tự mình nỗ lực với sự tỉnh giác và tinh tấn mà giữ mình để có thể phụng sự Giáo Pháp” — đó là lời nhắc nhở và phó thác của vị trưởng lão.

Bậc trưởng lão ấy vốn là một vị Thánh **Bất Lai**.

Chẳng bao lâu sau, vị trưởng lão đã bị những kẻ ăn thịt người sát hại và viên tịch.

Sa-di **Nigrodha** vì thầy đã viên tịch nên lòng đầy buồn bã, đơn độc vào ra nơi rừng sâu để tìm bậc thầy tốt. Trong khi tự mình hộ trì bản thân, chú đã gặp được những bậc thầy hiền đức. Giữa thời loạn lạc, chú vẫn chuyên tâm học tập các kinh điển **Pháp học** rồi thọ giới tỳ-kheo.

Vị ấy về sau trở nên nổi tiếng với danh hiệu Trưởng lão **Vattabbaka Nigrodha**, bậc thông thuộc Tam Tạng. (Vibhaṅga-aṭṭhakathā, 430, 432.)

## Cuộc hội ngộ đầu tiên của các bậc Thánh A-la-hán phụng sự Giáo Pháp thời hậu chiến tại vùng Malaya

Sáu mươi vị tỳ-kheo, sau khi đến bến cảng Jambukola nhưng vì không muốn sang **Ấn Độ** nên đã quyết định: “Sống sao cũng được, miễn là hộ trì được ba tạng **Kinh điển**”, rồi quay trở lại. Từ bến cảng, các vị đi về vùng nông thôn Malaya (cách Kandy khoảng 15 dặm). Vùng Malaya là nơi rừng núi trùng điệp. (Ngày nay gọi là “Mātale”, nơi diễn ra cuộc Kết tập Thánh điển lần thứ tư.)

Sáu mươi vị tỳ-kheo ấy, ai nấy đều chỉ chuyên tâm đọc tụng, ôn lại các bộ **Nikāya** mà mình đã thọ trì để không bị mai một hay quên lãng. Thực phẩm nơi rừng sâu Malaya chỉ là các loại củ, rễ và lá rừng.

Khi nào có đủ củ rễ để duy trì sức khỏe cho việc đọc tụng, các vị lại ngồi lại cùng nhau để ôn tập. Những lúc cơ thể suy nhược, các vị đắp một đống cát lớn, rồi ngồi vây quanh đống cát đó, chụm đầu lại với nhau, chỉ thầm ôn lại các kinh điển trong tâm trí.

## PAGE 263

Bằng cách này, suốt 12 năm (hoặc khoảng 14 năm), các vị đã thọ trì và bảo tồn trọn vẹn ba tạng **Kinh điển** cùng với các bản **Chú giải**. Bảy trăm vị tỳ-kheo đã sang sang **Ấn Độ** cũng vậy, tại những nơi tạm trú, các vị cũng chuyên tâm đọc tụng và thọ trì trọn vẹn ba tạng **Kinh điển** cùng hệ thống **Chú giải**. (Aṅguttara-aṭṭhakathā, quyển 1, trang 71.)

Giữa lúc chư tỳ-kheo ở khắp mọi nơi đang nỗ lực đặc biệt trong cả **Pháp học** lẫn **Pháp hành** để bảo vệ ba tạng **Kinh điển** mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng, không để bất kỳ một từ, một chữ hay một đoạn nào bị thất lạc, quên lãng hay sai lệch; thì cũng có nhiều vị trưởng lão khác cũng đang làm công việc tương tự. Tuy nhiên, theo lẽ tự nhiên trong thời “**thời kỳ suy đồi**” loạn lạc, có rất nhiều vị tỳ-kheo tăng và tỳ-kheo ni có giới hạnh và định lực yếu kém đã phải hoàn tục hoặc bị mất mạng, không thể vượt qua được thời kỳ ác nghiệt ấy.

## Thời điểm kết thúc nội chiến vào năm 455 Phật lịch

Sau khi dẹp tan loạn Brāhmaṇatissa và nạn xâm lược của bảy vị vua Damila, vua **Vattagāmaṇi** đã lên ngôi lần thứ hai.

Vì nhà vua đã nhận nuôi dưỡng Vương tử **Mahācūḷika** (con trai của anh trai mình là vua **Khallāṭa** và Vương hậu **Anuḷādevī**) như con ruột, nên vương tử đã gọi bác mình bằng danh hiệu “Pitu - Phụ vương”. Từ đó, nhà vua có hiệu là **Piturājā** (người **Srilanka** gọi là **Pitirājā**). Do vậy, trong các bản **Chú giải**, vua **Vattagāmaṇi** cũng được gọi là **Pitumahārājā**.

Sau 14 năm 7 tháng, khi vua **Vattagāmaṇi** phục vị, đất nước dần trở nên thái bình. Những bậc xuất gia và dân chúng từng phải chạy loạn, ẩn nấp khắp nơi cũng bắt đầu trở về quê quán cũ.

Sáu mươi vị trưởng lão từng trú ngụ nơi rừng sâu núi thẳm vùng **Malaya**, cùng với các vị trưởng lão như **Isidatta**, **Mahāsoṇa**, **Nigrodha**, v.v...

## PAGE 264

Các vị trưởng lão vốn ẩn nấp nơi rừng sâu biên địa trên khắp cả nước, nay đều hướng về ngôi đại tự viện **Maṇḍalārāma** tại làng **Kālaka** thuộc miền Nam (**Dakkhiṇadesa**). (Làng **Kālaka** có lẽ nằm gần vùng **Bhokkantarā** — theo Dictionary of Pali Names.)

Làng **Kālaka** khi ấy có khoảng bảy trăm hộ gia đình, và tại đại tự viện **Maṇḍalārāma**, vị trưởng lão **Tissabhūti** đang trụ trì. Vì đây là vùng đất ít bị ảnh hưởng bởi hỏa tiễn và loạn lạc, nên đã trở thành điểm tập kết và trú ngụ đầu tiên cho tất cả chư tăng chạy nạn từ khắp nơi đổ về.

Bảy trăm vị trưởng lão sang **Ấn Độ** khi nhận được tin đất nước đã yên bình, thái bình cũng đã lên thuyền trở về đảo quốc **Srilanka**. Trong số đó có cả các đệ tử của hai vị đại trưởng lão **Isidatta** và **Mahāsoṇa**. Ngay khi tàu cập cảng **Mahātittha**, các vị này đã lập tức dò hỏi: “Có tin tức gì về nơi trưởng lão **Mahāsoṇa** đang dừng chân không?”, rồi cũng lần bước tìm đến làng **Kālaka**.

Tại ngôi đại tự viện **Maṇḍalārāma**, nơi trưởng lão **Mahāsoṇa** đang tạm trú, đã có sự hội tụ của năm trăm vị tỳ-kheo là đệ tử của ngài. Trong đêm hội ngộ đó, chư thiên dọc theo ngôi làng **Kālaka** đã lớn tiếng truyền tin thông báo:

“Này hỡi những bậc thiện nam tín nữ trong làng Kālaka... Trưởng lão **Mahāsoṇa** cùng với năm trăm vị tỳ-kheo hiện đang dừng chân tại đại tự viện **Maṇḍalārāma**. Mỗi gia đình hãy dâng cúng một xấp vải may y dài chín túc, cùng với một phần vật thực trị giá một đồng tiền vàng.”

Sáng hôm sau, vị trưởng lão trụ trì **Tissabhūti** dẫn đầu, cùng trưởng lão **Soṇa** và năm trăm vị tỳ-kheo cùng đi vào làng khất thực.

Vì đã từ lâu do nạn loạn lạc mà dân chúng không được chiêm bái và cúng dường đến tăng đoàn đông đảo như vậy, nên dân làng đã nô nức cùng nhau dâng cúng lễ vật. Sau khi sắp xếp chỗ ngồi trang trọng và dâng cúng cháo sữa đầu tiên, một vị cận sự nam lớn tuổi đã tiến đến đảnh lễ vị trưởng lão lãnh đạo **Tissabhūti** và thưa rằng—

## PAGE 265

— Bạch Thế Tôn... vị trưởng lão **Maha Soṇa** là bậc Thượng tọa cao đức nào vậy? — Một người đang thưa hỏi như thế. Dù danh tiếng của ngài **Maha Soṇa** rất lẫy lừng, nhưng vì ngài vẫn còn là một vị tỳ-kheo trẻ (hạ lạp còn ít) nên ngài chỉ ngồi ở phía cuối hàng giáo hội. Khi vị trưởng lão lớn tuổi dùng ngón tay chỉ vào ngài, vị ưu-bà-di ấy liền tiến đến gần ngài Soṇa, đảnh lễ rồi cung kính xin được bưng bát. Trưởng lão Soṇa không trao bát, thấy vậy vị đại trưởng lão bèn lên tiếng nhắc nhở:

— Này Hiền giả **Soṇa**, không phải chỉ một mình Hiền giả, mà ngay cả chúng tôi cũng không hề biết trước việc này. Đối với những bậc có đại phước đức, chư thiên thường hay dâng cúng vật thực được nấu nướng (tinh khiết). Này Hiền giả, để tạo duyên lành cho các bạn đồng phạm hạnh, Hiền giả hãy cứ trao bát vào tay người cư sĩ ấy đi.

Chỉ khi được vị trưởng lão lãnh đạo tăng chúng cho phép, ngài **Maha Soṇa** mới trao bát.

Vị ưu-bà-di múc đầy bát những món vật thực cao lương mỹ vị giá trị một tỳ (một đồng báu), rồi lấy một tấm vải dài chín gang (có chỗ nói chín tấc) gấp lại ngay ngắn để lót dưới đáy bát, sau đó mới cung kính dâng lên tận tay Trưởng lão **Maha Soṇa**.

Kế đó, một cư sĩ khác cũng đến xin bát của ngài **Maha Soṇa** và dâng cúng theo cách tương tự. Ngài Soṇa lại cầm bát của các vị trưởng lão khác để nhận vật thực dâng cúng. Tất cả các cư sĩ trong làng đều chỉ muốn dâng cúng cho ngài **Maha Soṇa**, nên sau khi nạn binh đao kết thúc, buổi thọ thí đầu tiên đã thu nhận được bảy trăm mâm cơm vật thực và bảy trăm tấm vải may y.

Nhìn thấy đại phước đức ấy, Trưởng lão **Isidatta** mới nhắc lại lời ngài đã nói khi xưa, trong lúc tăng chúng còn phải ở trong rừng trong thời chiến, phải ăn tạm lá dâu và lõi thân cây chuối để duy trì mạng sống. (**Vibhaṅga-aṭṭhakathā, 429-430.**) Trưởng lão **Vattabbaka Nigrodha** cũng giống như ngài **Maha Soṇa**, hễ ngài đi đến đâu là dân chúng trên khắp hòn đảo đều rầm rộ kéo đến cúng dường bái thỉnh.

[Dù là người có đại phước đức từ quá khứ đến đâu, cũng phải hội đủ bốn yếu tố Thành tựu (**Sampatti**: **Gati** = cõi sống, **Upadhi** = thân tướng, **Kāla** = thời thế, **Payoga** = sự nỗ lực chân chính) thì quả báu mới có thể trổ sanh. Nếu gặp phải một trong bốn yếu tố Suy bại (**Vipatti**) thì những nghiệp lành trong quá khứ cũng không thể cho quả. Vị luận sư muốn dùng những câu chuyện này để minh họa cho điều đó. Ở đây, câu chuyện cũng được ghi lại như một chương trong lịch sử truyền thừa giáo pháp.]

## PAGE 266

### Việc đối chiếu và kiểm chứng Tam Tạng

Như đã trình bày ở trên, tại đảo quốc Sīhaḷa, khi nạn loạn quân **Caṇḍālatissa**, nạn giặc cướp **Damiḷa** và nạn đói khủng khiếp đồng loạt xảy đến cấu xé, việc bảo vệ giáo pháp **Pariyatti** (Pháp học) và **Paṭipatti** (Pháp hành) không để bị mai một là một việc vô cùng gian nan, thậm chí phải đánh đổi bằng cả mạng sống.

Đặc biệt là giáo lý **Pariyatti**, những lời dạy của Đức Phật được gọi là Tam Tạng kinh điển gồm **Sutta** (Kinh), **Vinaya** (Luật), **Abhidhamma** (Vi diệu pháp) và năm bộ **Nikāya**, vào thời bấy giờ vẫn chưa được ghi chép đầy đủ thành văn bản như hiện nay. Tùy theo tâm nguyện và trách nhiệm, các vị tỳ-kheo cố gắng học thuộc lòng và truyền thừa từ đời này sang đời khác bằng phương pháp khẩu truyền (āgama).

Nếu những vị trưởng lão nắm giữ kho tàng thuộc lòng này bị tử nạn trong cơn đại nạn ấy, thì Tam Tạng giáo pháp **Pariyatti** sẽ không còn tồn tại nữa. Một khi Pháp học bị diệt mất, thì Pháp hành **Paṭipatti** — vốn là con đường đưa đến sự phồn vinh hạnh phúc vững chắc dựa trên nền tảng từ năm giới đến những lời dạy tối hậu của Phật — cũng không thể nào tồn tại độc lập được.

Vì vậy, những vị trưởng lão mang trọng trách hộ trì giáo pháp, những người đã kiên trì ăn rễ cây, củ dại để bảo trì bộ nhớ kinh điển, với tầm nhìn xa trông rộng và nghị lực tinh tấn, đã tạo nên một chương quan trọng hàng đầu cần được ghi lại trong lịch sử Phật giáo **Theravāda**.

Khi các vị trưởng lão gánh vác trọng trách giáo hội, những người may mắn sống sót qua cơn đại nạn tàn phá đất nước ấy, hội ngộ đông đủ tại đại tu viện **Maṇḍalārāma**, một cơ hội lớn đã mở ra để tiến hành cuộc Kết tập kinh điển lần thứ tư.

Các vị trưởng lão chuyên trì tụng năm bộ **Nikāya** trong Tam Tạng đã cùng nhau đối chiếu xem giữa các vị, các nhóm có sự sai khác nào hay không. Khi tiến hành đối chiếu nghiêm ngặt (**Ekakkharampi ekabyañjanampi asamentaṃ nāma na passū-Aṅguttara-aṭṭhakathā-1, 71.**), họ nhận thấy không có một mẫu tự, một câu văn nào bị sai khác, bị rơi mất hay nhầm lẫn. Tất cả đều trùng khớp một cách nhất quán, đó thật là phước báu to lớn của giáo pháp.

## PAGE 267

### Một bộ kinh trong Kinh Tạng bị thất lạc

Khi tất cả các vị trưởng lão hội họp, đối chiếu và kiểm tra kỹ lưỡng, họ nhận thấy trong hơn bốn mươi bộ kinh của Kinh Tạng, bộ **Mahāniddesa** đã bị thất lạc. Khi hỏi kiểm tra từng vị tỳ-kheo trong toàn thể Tăng chúng, không thấy một vị nào còn thuộc lòng bộ **Mahāniddesa** cả.

Vì lý do đó, các vị trưởng lão đã giao trọng trách cho ngài **Tissa**, một vị thông thạo bốn bộ Nikāya (**Catunikāyika**), phải đi tìm kiếm và khôi phục lại bộ kinh **Mahāniddesa**. Qua quá trình dò hỏi, được biết trên khắp hòn đảo chỉ còn duy nhất một người còn thuộc lòng bộ kinh này, nhưng người đó lại là một kẻ phá giới (dussīla). Trưởng lão **Tissa** liền đem sự tình này thưa lại với thầy tế độ của mình là ngài trưởng lão **Mahātipiṭaka**.

Trưởng lão **Mahātipiṭaka** liền lập tức suy xét và đưa ra quyết định, ngài nói với người đệ tử là Trưởng lão **Mahārakkhita**:

(Thầy): — Này Hiền giả **Mahārakkhita**, Hiền giả hãy đến nơi vị tỳ-kheo nắm giữ bộ **Mahāniddesa** kia để học thuộc lòng bộ kinh quan trọng ấy.

(Trò): — Bạch thầy, người ta nói người đó là kẻ phá giới, hạng tỳ-kheo tồi tệ. Con không muốn làm đệ tử của hạng người phá giới ấy.

(Thầy): — Này Hiền giả, hãy cứ đi và học đi, đây là việc cúng dường giáo pháp. Tôi cũng sẽ đi cùng với Hiền giả để cùng nghe và kiểm chứng.

(Trò): — Nếu được như vậy thì con xin vâng lời đi học ạ.

Cứ như thế, hai thầy trò đã tìm đến vị tỳ-kheo phá giới kia để thụ giáo bộ kinh **Mahāniddesa** vĩ đại — vốn là bộ kinh do Đức Đại đức **Sāriputta** (Xá-lợi-phất) thuyết giảng và giải thích. Họ đã kiên trì học tập suốt ngày đêm. Vào đúng ngày hoàn tất việc học, Trưởng lão **Mahārakkhita** bỗng nhìn thấy một người đàn bà đang trốn dưới gầm giường của vị tỳ-kheo phá giới ấy, ngài liền thưa với thầy:

“Bạch Ngài, trước đây con chỉ nghe người khác nói lại thôi. Nay chúng con đã tận mắt chứng kiến. Nếu biết như thế này, con đã không tôn kẻ phá giới này làm thầy để học **Mahaniddesa** (Đại Nghĩa Diễn),” vị ấy bạch như vậy.

Giống như loài ong phải hút mật từ cây xương rồng hay cây gai đầy gai góc và cay nồng vì không còn cách nào khác, chư Tăng khác cũng vì kính trọng thể diện của Giáo Pháp mà phải theo học với vị tỳ-kheo giả hiệu phá giới này. (Vi-ṭṭha-2, 274-5 - Giải thích về học giới Rūpiya.)

## Trưởng lão Tissa, con trai vị cư sĩ, bậc mẫu mực về Phân Tích Đạo

Trong suốt hành trình truyền thừa Giáo Pháp tại đảo quốc Sīhaḷa (Sri Lanka), suốt khoảng bốn trăm năm mươi năm, Tam Tạng chỉ được truyền tụng bằng miệng (khẩu truyền). Vì thế, một số người thời nay hay phê phán, vốn chỉ quen dựa vào sách vở, thường nảy sinh ý nghĩ rằng: “Liệu tất cả những văn bản Pāḷi này có hoàn toàn chính xác để tin tưởng hay không?”

Một số người khác giữ quan điểm tu tập “không cần kinh điển, chỉ quan trọng cái mình biết” (tu mù), giống như đang nhận trọng trách loại bỏ kinh Tam Tạng đầu tiên, thậm chí còn xuất bản các tập san từ phương Tây và viện dẫn lịch sử truyền khẩu để “thăm dò sức bền” của Thượng tọa bộ (Theravāda).

Dù họ có quan niệm hay suy xét thế nào đi nữa, các bậc Trưởng lão hộ trì Giáo Pháp Thượng tọa bộ đời đời vẫn luôn giữ niềm tin rằng “một mặt chữ là một vị Phật”. Vì vậy, không nói đến một bộ kinh hay một chương hồi, chỉ vì một từ ngữ hay một mặt chữ, các Ngài đã sẵn sàng đi bộ vượt hành trình một trăm do-tuần (tám trăm dặm) để nghiên cứu và xác minh.

Cần phải suy xét đến sự tinh tấn và tầm nhìn xa trông rộng của các bậc Trưởng lão hộ trì Giáo Pháp. Những dự kiến và tầm nhìn ấy không phải là những ước đoán hời hợt chỉ nhìn trong khoảng một trăm hay hai trăm năm của một đời người. Đó là những tuệ nhãn mà người thời nay không cách nào có thể đồng cảm hay thấu đạt tới được.

Sau kỳ Kết tập Tam Tạng lần thứ ba, khi chín đoàn truyền giáo được phái đi chín phương, Ngài Mahinda và **Saṅghamittā** (Thắng Cúc Ma), là con trai và con gái của vua Asoka, được phái đến đảo quốc Sīhaḷa. Nếu suy xét kỹ về tuệ nhãn của các bậc Trưởng lão gánh vác trọng trách Giáo Pháp, từ việc các Ngài chờ đợi thêm bảy tháng sau mới khởi hành, chúng ta có thể phần nào thấu hiểu được tầm nhìn của các Ngài.

## PAGE 269

Một từ Pāḷi, hành trình hai trăm do-tuần

Tại đảo quốc Sīhaḷa, có một vị A-la-hán tên là Trưởng lão Tissa, con trai của cư sĩ Punabbasu, bậc mẫu mực về **Paṭisambhidā** (Tuệ Phân Tích).

Quá trình học tập Pháp học (Pariyatti) của Trưởng lão Tissa thật vô cùng kỳ diệu và đáng tịnh tín.

Sau khi học xong Tam Tạng kinh điển từ các bậc đại Trưởng lão tại đảo quốc Sīhaḷa, để kiến thức thêm phần phong phú và đủ đầy, Ngài đã lên đường sang Jambudīpa (Ấn Độ) để học thêm với đại Trưởng lão **Dhammarakkhita** người Yonaka.

[Xứ Yonaka là vùng đất trải dài từ Tây Bắc Ấn Độ đến tận Hy Lạp. Đây là nơi đoàn truyền giáo do Ngài Mahārakkhita dẫn đầu đã đến hoằng pháp vào thời kỳ Kết tập Tam Tạng lần thứ ba. Trong số chín phương, đây là nơi Giáo Pháp đặc biệt hưng thịnh và lan rộng. Vào thời vua Duṭṭhagāmaṇi, trong lễ đặt đá xây dựng Đại Bảo Tháp (Mahā Cetiya), đã từng có ba mươi ngàn vị A-la-hán do đại đức **Mahādhammarakkhita** người Yonaka dẫn đầu đến dự. Có thể nói đây là nơi Giáo Pháp tồn tại lâu dài chỉ sau Sīhaḷa và Myanmar. Có thể tham khảo thêm trong cuốn *Buddhism in Pakistan*.]

Người ta nói rằng thầy của vị Trưởng lão Tissa (con trai vị cư sĩ) này chính là Ngài **Dhammarakkhita** người Yonaka, rất có thể là vị Trưởng lão vào thời vua Duṭṭhagāmaṇi. Dù thế nào đi nữa, sau khi Ngài Tissa đã học tập và ghi nhớ trọn vẹn Tam Tạng từ nơi thầy mình, Ngài đã đến bến cảng ở Jambudīpa để trở về đảo quốc Sīhaḷa.

Trước khi bước lên tàu, Ngài bỗng nảy sinh sự nghi ngờ về một từ vựng Pāḷi mà không thể phân định hay quyết định chính xác được. Vì thế, Ngài đã không lên tàu đi Sīhaḷa nữa mà quay trở lại bến cảng, đi bộ ngược về xứ Yonaka xa xôi một trăm do-tuần để thưa hỏi vị thầy.

## PAGE 270

Kinh điển của người hữu học (Theravādin) trên toàn thế giới

Trên đường đi, Ngài gặp một vị cư sĩ và vị này đã thưa hỏi những vấn đề chưa rõ ràng trong giáo lý Tam Tạng. Trưởng lão Tissa đã giải đáp một cách thỏa đáng khiến vị cư sĩ vô cùng tịnh tín và cúng dường một tấm chăn len (kambala) trị giá một trăm ngàn (vàng). Ngài đã thọ nhận tấm chăn đó.

Ngài cũng đã đem tấm chăn len đó cúng dường lại cho vị thầy. Vị thầy đã dùng một con dao nhỏ cắt tấm chăn ra để làm tấm thảm trải ngồi.

Vị thầy làm vậy với mục đích để lại một bài học ghi dấu vào lịch sử Giáo pháp rằng: “Khi nghĩ về hành trình đi và về hai trăm do-tuần của ta chỉ vì một từ ngữ, cầu mong các bậc hiền giả, đồng phạm hạnh đời sau khi nhìn vào tấm thảm này sẽ khởi lên tâm nguyện vâng giữ và thực hành theo lời dạy của đức Phật.” Ngài đã cắt tấm chăn trị giá trăm ngàn bằng dao để trải ngồi là vì lý do như vậy.

Sau khi nhận được lời giải đáp thỏa đáng về từ ngữ còn nghi ngại từ nơi thầy là Ngài **Dhammarakkhita** người Yonaka, Trưởng lão Tissa đã lên tàu từ bến cảng Jambukola để trở về đảo quốc Sīhaḷa.

Các bậc đại đức gánh vác trọng trách Pháp học tại đảo quốc Sīhaḷa thời xưa không hề tự mãn rằng những gì mình nhận được từ thầy đã là hoàn toàn đầy đủ. Các Ngài vẫn thường xuyên sang các quốc gia cùng thời như Ấn Độ để nghiên cứu và trao đổi, tạo nên những truyền thống tốt đẹp. Có lần, Trưởng lão **Tipiṭaka** Tissa đã từng có ý định sang Ấn Độ với tâm nguyện: “Ta sẽ hiệu đính và làm sạch Tam Tạng kinh điển để nó trở nên thanh tịnh hơn nữa” (theo Saṃ-ṭṭha-3, 272 - Giải thích kinh Ekabījī).

Do đó, kinh điển Tam Tạng hiện nay dù được ghi chép tại Sīhaḷa, nhưng không chỉ đơn thuần là sự chấp thuận của riêng các bậc trí giả Sīhaḷa mà thôi.

Khi Trưởng lão Tissa trở về đến đảo quốc Sīhaḷa, theo thông lệ của các bậc xuất gia là vào giờ quét dọn sân bảo tháp, sân chùa, Ngài đã vào chùa Vālika gần bến cảng Jambukola nơi mình vừa cập bến để cùng quét dọn.

## PAGE 271

Các vị Đại A-la-hán cũng cư ngụ tại ngôi chùa đó, chỉ cần nhìn qua cách quét dọn sân chùa là các ngài biết ngay đây là nơi được quét bởi một vị A-la-hán. Theo đó, các ngài đã thử đặt ra những câu hỏi vấn đáp cực kỳ hóc búa để thử thách Ngài Tỳ-kheo Tissa khi ngài đang quét dọn. Ngài Tissa trước mỗi câu hỏi đều không hề do dự, trả lời trôi chảy và nhanh chóng như ngựa hay đang phi nước đại. (**Chú giải Vibhaṅga, 372-3, Paṭisambhidā-vibhaṅga.**)

### Năm nguyên nhân đắc Tuệ phân tích

Trong Chú giải có trình bày năm nguyên nhân khiến cho Tuệ phân tích (Paṭisambhidā-ñāṇa) trở nên chín muồi, sáng suốt và trong trẻo:

1. **Chứng đắc (Adhigama):** Đắc được sau khi đã thành tựu quả vị A-la-hán.
2. **Pháp học (Pariyatti):** Đã từng học tập các kinh điển Pāḷi.
3. **Nghe Pháp (Savana):** Lắng nghe giáo pháp một cách cung kính.
4. **Vấn đáp (Paripucchā):** Thường xuyên thỉnh giải và thuyết giảng ý nghĩa giáo pháp.
5. **Tiền tu (Pubbayoga):** Đã từng thực hành pháp hành thiền định trong các kiếp quá khứ, đặc biệt là thực hành **pháp hành khứ hồi (Gatapaccāgatikavatta)**. (Hay nói cách khác là duy trì sự chú niệm liên tục trong Tứ Niệm Xứ).

Khi trình bày về 5 điều này, bản kinh nêu gương Ngài Tissa để làm bằng chứng rằng: trong lúc hành thiền, nếu một vị có khả năng ghi nhớ liên tục các oai nghi nằm, ngồi, đứng, đi từ trước ra sau không gián đoạn, thì khi hoàn thành phận sự của bậc Sa-môn, vị ấy sẽ có Tuệ phân tích sáng suốt và bén nhạy hơn những vị khác.

Trong tác phẩm này, đây là cách để nhắc lại sự nỗ lực tinh tấn và tầm nhìn xa trông rộng cho tương lai giáo pháp của các bậc Trưởng lão hộ trì truyền thống Thừa tự Chánh pháp (Theravāda).

## Đại hội chuẩn bị cho Kết tập Tam Tạng lần thứ tư
### Cuộc thảo luận sôi nổi về Pháp học và Pháp hành

Sau khi may mắn thoát khỏi nạn diệt vong của đất nước và giáo pháp, các bậc Trưởng lão gánh vác trọng trách duy trì Phật giáo Thừa tự Chánh pháp đã tụ hội tại chùa Maṇḍalārāma, làng Kālaka thuộc vùng Dakkhina khi đất nước vừa bắt đầu yên bình.

## PAGE 272

Cuộc hội ngộ này thoạt nhìn như tình cờ, nhưng thực chất đằng sau đó có một động lực thúc đẩy vô hình.

Thực tế, đó chính là một đại hội tiền đề cho việc kết tập Tam Tạng lần thứ tư nhằm giúp Chánh Pháp trường tồn và lan tỏa dài lâu về sau mà các ngài cũng không hề hay biết trước.

Đầu tiên, các ngài khẩn trương đối chiếu và rà soát kỹ lưỡng các bản kinh Pāḷi vốn là lời dạy trực tiếp từ kim khẩu của Đức Thế Tôn. Chỉ khi thấy rằng không có bất kỳ sự sai khác hay thất lạc nào, các ngài mới tạm an tâm về tương lai của giáo pháp. Trong đại hội này, khi hầu hết các bậc Thánh Tăng tinh thông cả Pháp học (Pariyatti) lẫn Pháp hành (Paṭipatti) trên toàn hòn đảo họp mặt, một vấn đề nan giải đã nảy sinh trong lúc thảo luận về vận mệnh giáo pháp.

Vấn đề đó là: “Cội rễ căn bản giúp giáo pháp của Đức Thế Tôn trường tồn và lan tỏa rộng rãi là Pháp học hay Pháp hành?”

### Pháp hành là cội rễ giáo pháp

Các bậc Trưởng lão trì hạnh đầu đà (pāṃśukūla) trả lời rằng: “**Pháp hành (Paṭipatti)** chính là nền tảng cốt lõi của giáo pháp.”

Tuy nhiên, các bậc Trưởng lão Pháp sư (dhammakathika) lại phản đối và khẳng định rằng: “Chỉ có **Pháp học (Pariyatti)** mới là nền tảng căn bản.”

Các vị Đại Trưởng lão liền đưa ra lời khuyên: “Này các hiền giả, chúng tôi chưa thể chấp nhận nếu các ông chỉ nói suông bằng miệng. Hãy dẫn chứng và trích dẫn những lời dạy từ các bản Kinh (Sutta) mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng để minh chứng cho lập luận của mình.”

Các vị Trưởng lão trì hạnh đầu đà thưa rằng: Bạch Ngài, việc đưa ra bằng chứng từ kinh điển không có gì khó khăn cả.

“**Ime ca subhadda bhikkhū sammā vihareyya, asuñño loko arahantehi assa** — Này Subhadda, nếu các con của Như Lai tu tập tốt Tám Thánh Đạo, tự mình thực hành và hướng dẫn người khác cùng thực hành đúng đắn, thì thế gian này sẽ không bao giờ vắng bóng các vị A-la-hán.” Lời dạy này đã được ghi chép rõ ràng trong **Kinh Đại Bát Niết-bàn (Dīgha Nikāya 2, 125)**.

Các ngài tiếp tục trình bày: Bạch Ngài, ngoài ra trong bản kinh **Mi-lan-đà Vấn Đạo (Milindapañhā)**, chính Ngài Nāgasena đã trả lời vấn đề này cho vua Milinda rằng:

“**Paṭipattimūlakaṃ mahārāja satthu sāsanaṃ paṭipatti sārakāṃ, paṭipattiyā dharantāya tiṭṭhati** — Tâu Đại vương, giáo pháp của Đức Thế Tôn lấy Pháp hành làm gốc rễ, lấy Pháp hành làm cốt lõi. Chừng nào Pháp hành còn tồn tại rực rỡ thì Chánh pháp vẫn còn tồn tại.” Điều này đã được khẳng định trong kinh **Mi-lan-đà Vấn Đạo (Milindapañhā, 136)**.

### Pháp học là tối quan trọng

Các vị Trưởng lão Pháp sư liền đọc các bài kệ sau đây để phản bác và củng cố quan điểm của mình:

(1) “**Yāva tiṭṭhanti suttantā, vinayo yāva dippati. Tāva dakkhanti ālokaṃ, suriye abbhuṭṭhite yathā.**”
“Chừng nào Kinh tạng và Vi diệu pháp còn tồn tại, chừng nào Luật tạng còn tỏa sáng, thì cũng giống như khi mặt trời mọc lên, nhờ có ánh sáng mà người ta phân biệt được tốt xấu; trong thế gian này, nhờ ánh sáng của bậc thiện trí mà người ta có thể phân biệt được đúng sai.”

(2) “**Suttantesu asantesu, pamuṭṭhe vinayamhi ca. Tamo bhavissati loko, suriye atthaṅgate yathā.**”
“Nếu Kinh tạng và Vi diệu pháp biến mất, nếu Luật tạng bị lãng quên và mai một, thì toàn bộ thế gian này sẽ rơi vào bóng tối mịt mù giống như lúc mặt trời lặn.”

(3) “**Suttante rakkhite sante, paṭipatti hoti rakkhitā. Paṭipattiyaṃ ṭhito dhīro, yogakkhemā na dhaṃsati.**”
Cho nên, nếu bảo hộ và gìn giữ được _Pariyatti_ (Pháp học)—gồm Kinh, Luật và Luận (Abhidhamma)—thì _Paṭipatti_ (Pháp hành) cũng tự nhiên được bảo hộ. Vị Bậc Trí kiên trì đứng vững trên Pháp hành thì nhất định không bao giờ xa rời hay đánh mất _Paṭivedha_ (Pháp thành)—chính là nguồn hạnh phúc cõi Niết-bàn.

## PAGE 274

### Quyết định của các bậc đại trưởng lão

(Khi đó, các vị trưởng lão hành Pháp đầu-đà (paṃsukūla) im lặng, không đưa ra lời phản biện nào nữa.) Chư đại trưởng lão tăng sau đó tiếp tục giải thích và ủng hộ lời của các vị trưởng lão Pháp sư (dhammakathika) như sau:

“Những lời giải đáp từ cả hai phía đều rất đáng ghi nhớ. Tất cả đều đúng đắn. Tuy nhiên, nếu xét về sự tồn tại và hoằng dương giáo pháp lâu dài, thì **Pháp học (Pariyatti)** và những vị đảm trách gánh nặng **Pháp học** mới là cội nguồn căn bản và quan trọng nhất.

“Dù có hàng trăm, hàng ngàn con bò đực, nhưng nếu trong đàn không có bò cái để duy trì dòng giống thì giống bò đó cũng sẽ bị tuyệt diệt. Tương tự như vậy, dù có hàng trăm, hàng ngàn vị tỳ-kheo nỗ lực hành thiền Minh sát (vipassanā), nhưng nếu không có **Pháp học** và những vị duy trì **Pháp học** thì **Pháp thông đạt** (khả năng thông suốt Thánh đạo) cũng không thể tồn tại được.

“Nói cách khác, hễ tấm bia đá khắc chữ chỉ dẫn chính xác nơi chôn giấu kho vàng còn đó, thì không thể nói rằng kho vàng đã bị thất lạc. Cũng vậy, chừng nào **Pháp học** còn tồn tại như một tấm bia đá vững chãi, thì không thể nói rằng giáo pháp đã bị suy tàn. (**Chú giải Tăng Chi Bộ I, 71-72 - Phẩm Thứ Hai Không Phóng Dật.**)

“Lại nữa, **Pháp học** giống như bờ đê của một hồ nước. **Pháp hành** giống như dòng nước trong hồ. **Pháp thông đạt** giống như những đóa hoa sen. Nếu không có bờ đê thì không thể giữ được nước; nếu không có nước thì hoa sen cũng không thể nở được.

“**Tiếng Pāḷi: Iti paṭipattito pi pariyatti yeva pamāṇaṃ** = Vì vậy, Pháp học quan trọng hơn cả Pháp hành. (**Chú giải Tương Ưng Bộ II, 187 - Giải thích Kinh Tự Thuyết về Chánh Pháp Trực Chỉ.**)

## PAGE 275

### Bài học nuôi bò và thưởng thức sữa

“Điều cuối cùng cần khẳng định là: **Tiếng Pāḷi: Sāsanatiṭṭhiyā pana pariyattiyeva pamāṇaṃ** = Đối với sự tồn tại của giáo pháp, Pháp học là thước đo chuẩn mực duy nhất, đây là điều không thể bàn cãi.

“Tại sao **Pháp học** và những vị trì giữ **Pháp học** lại là yếu tố then chốt? Khi suy xét sâu hơn, chúng ta thấy rằng:

“**Tiếng Pāḷi: Paṇḍito hi tepiṭakaṃ suṇanto dve pi pūreti** = Việc dày công học tập thông suốt Tam Tạng kinh điển chính là để thực hành, đặc biệt là đối với những người phàm phu. Mọi bậc trí giả sau khi học tập Pháp học đều không thể không thực hành Pháp hành và Pháp thông đạt; họ sẽ tiếp tục bồi đắp và đạt được cả hai. Đó là lý do tại sao nói Pháp học là cốt lõi.

“Nếu chỉ học mà không thực hành, người đó sẽ giống như một người chăn bò thuê, chỉ biết đếm bò cho người khác mà không bao giờ được nếm hương vị của sữa. Điều này cũng giống như lời dạy của đức đại trưởng lão **Dhammarakkhita** tại chùa Asokārāma, kinh thành Pāṭaliputta, khi ngài răn dạy đệ tử là Ngài Nāgasena. (**Chú giải Trường Bộ III, 82 - Giải thích Kinh Tự Hỷ và Mi-lan-đà Vấn Đạo.**)

**Dù tụng đọc nhiều lời kinh dạy,**
**Nhưng buông lung không chịu hành theo.**
**Khác chi kẻ mướn chăn bò,**
**Đếm bò cho kẻ khác, sữa nào được ăn.**
**Hạnh tu chẳng hưởng chút phần.**

(**Kinh Pháp Cú 19, Chú giải I-101 - Chuyện Hai Tỳ-kheo Bạn.**)

“Một người dù mang theo và thuyết giảng rất nhiều lời dạy của Đức Phật trong Tam Tạng kinh điển, nhưng nếu bản thân người đó dể duôi, không tuân giữ và thực hành theo những gì đã học, thì giống như người chăn bò mướn không được nếm vị sữa, người đó không thể gọi là nhận được phần phước báo của một tu sĩ.”

## PAGE 276

### Sự việc trong rừng cây Sala

“Về vấn đề này, cuối cùng chúng ta phải suy xét và làm theo đúng ý nguyện của Đức Thế Tôn.

“Như tất cả các Ngài đều đã biết, khi Đức Thế Tôn còn tại thế, Ngài cùng với các vị đại đệ tử lừng danh như Ngài Sāriputta, Ngài Mahāmoggallāna, Ngài Mahākassapa và nhiều vị khác đang trú ngụ trong rừng cây Sala thì nảy sinh một cuộc thảo luận giữa các vị trưởng lão.

“Vấn đề đặt ra là: Trong khu rừng Sala này, tức là trong giáo pháp này, hạng người có năng lực như thế nào mới có thể làm cho giáo pháp trở nên rạng rỡ và duy trì sự phát triển lâu dài? Trước vấn đề này, mỗi vị đại trưởng lão đã đưa ra quan điểm riêng dựa trên sở trường của mình. Có lẽ vì các Ngài thấy trước những tranh luận như ngày hôm nay nên đã thảo luận và đưa ra câu trả lời từ trước. Trong cuộc thảo luận đó:

1. Ngài Ānanda cho rằng đó phải là người có kiến thức sâu rộng về **Pháp học**.

2. Ngài Revata trẻ cho rằng đó phải là người viên mãn và tinh thông về thiền **Chỉ** và thiền **Quán**.

3. Ngài Anuruddha cho rằng đó phải là người đạt được **Thiên Nhãn Minh**.

4. Ngài Mahākassapa cho rằng đó phải là người hành trì **đầu-đà (dhutaṅga)**.

5. Ngài Mahāmoggallāna cho rằng đó phải là người tinh thông về **Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)**.
(Ở đây, “Abhidhamma” không chỉ có nghĩa là học thuộc lòng sơ sài như cuốn Thắng Pháp Tập Yếu.)

6. Ngài Sāriputta thì cho rằng chỉ những người không để tâm lôi kéo mà có khả năng điều phục tâm theo ý muốn của mình (thông thạo các tầng **Thiền định**) mới có thể làm cho giáo pháp trong khu rừng Sala này trở nên rạng rỡ.

Ngài đại trưởng lão Sāriputta đã đích thân lắng nghe quan điểm của từng vị, sau đó dẫn tất cả đến đỉnh lễ Đức Thế Tôn và thay mặt mọi người trình bày từng ý kiến lên Ngài.

Khi Ngài Sāriputta bạch hỏi: ‘Bạch Thế Tôn, câu trả lời của vị nào là tốt nhất?’, Đức Thế Tôn đã đáp rằng–”,path:

## PAGE 277

“Này Sāriputta... xét về phương diện pháp môn, những câu trả lời dựa trên kiến thức và quan điểm của các ông đều rất tốt. Tuy nhiên, hãy lắng nghe quan điểm của Như Lai,” Đức Thế Tôn phán như vậy rồi dạy rằng: “Vị Tỳ-kheo sau khi đi khất thực, dùng bữa xong, ngồi kiết già và hạ quyết tâm với lòng tinh tấn dũng mãnh rằng: ‘Nếu chưa đắc quả A-la-hán, ta quyết không tháo bỏ tư thế ngồi kiết già này, nhất định không đứng dậy’. Chỉ có hạng người có đức tin và sự nỗ lực kiên trì như thế mới có thể làm cho giáo pháp này trở nên rạng rỡ như rừng cây hoa sala, và có thể duy trì, hoằng dương giáo pháp một cách vững chắc.” (Mūlapaṇṇāsa, kinh Mahāgosinga, M.1, 272-281.)

“Giờ đây, cầu chúc tất cả các bậc thượng nhân hãy hướng tâm theo ý nguyện của Đức Thế Tôn; tuy Pháp học (Pariyat) và Pháp hành (Paṭipat) có tên gọi khác nhau nhưng không có gì phải tranh luận, hãy làm cho cả hai trở thành một thể thống nhất. Tuỳ theo khả năng của mình, cầu chúc các ngài có thể song hành thực hiện cả hai trọng trách (dhura) này.”

[Trong chú giải (Aṭṭhakathā) chỉ đề cập trực tiếp đến cuộc tranh luận giữa các vị hành đầu đà khổ hạnh (paṃsukū) và các bậc pháp sư (dhammakathika), không ghi lại trực tiếp lời của các bậc Đại Trưởng lão. Những nội dung trên được người viết tổng hợp từ các bản chú giải nhằm mục đích làm tăng trưởng trí tuệ (ñāṇavakhuna) và hy vọng người đọc có thể khởi tâm niệm tưởng đúng đắn.]

## Kết tập Tam Tạng lần thứ tư thay mặt cho toàn thể chư Tăng Thượng tọa bộ trên thế giới

Việc các bậc Đại Trưởng lão gặp gỡ, thảo luận và thẩm định như vậy chính là nguyên nhân trực tiếp nhất dẫn đến việc kết tập Tam Tạng lần thứ tư, dưới sự lãnh đạo của năm trăm vị Thánh A-la-hán, lần đầu tiên giáo pháp được ghi chép thành văn bản trên lá buối.

Địa điểm diễn ra là tại hang Āloka (tên gọi tại Srilanka là Aloka Vihara), nằm bên sườn hai ngọn núi đá kết hợp như hình kiềng ba chân, gần vùng Mātula (nay là thành phố Matale), thuộc địa hạt Malaya. Vào năm 455 sau Phật niết bàn, các bản Chánh tạng (Pāḷi) cùng với Chú giải (Aṭṭhakathā) đã được kết tập và ghi chép lên lá buối.

## PAGE 278

Trong sự kiện này, cần đặc biệt lưu ý một điểm: Việc xác lập và ghi chép Tam Tạng trên lá buối tại đảo quốc Srilanka không phải chỉ dựa trên nguyện vọng và trí tuệ của riêng các vị Trưởng lão Srilanka, mà còn tiếp thu ý kiến và trí tuệ của tất cả các bậc Đại Trưởng lão thuộc Thượng tọa bộ (Theravāda) trên toàn thế giới thời bấy giờ; điều này đã được ghi lại trong phần nói về Trưởng lão Tissa.

Không chỉ vậy, các tín đồ Phật giáo tại Srilanka luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ với các quốc gia Thượng tọa bộ ở phương Đông qua nhiều thời kỳ, từ các vấn đề quân sự cho đến tôn giáo. Cứ mỗi khi có sự kiện Phật giáo quan trọng như lễ đặt đá xây dựng đại bảo tháp Mahācetiya, các bậc Đại Trưởng lão Thượng tọa bộ trên khắp thế giới đều tham gia ủng hộ. Do đó, có thể hoàn toàn tin tưởng rằng bộ Tam Tạng hiện nay chính là bản đã được toàn thể truyền thống Thượng tọa bộ cùng xác nhận.

Vì các bản Chú giải (Aṭṭhakathā), Sớ giải (Ṭīkā) và các bộ sử (Vaṃsa) không ghi chép đầy đủ sự kiện kết tập lần thứ tư này thành một chương riêng biệt, nên tôi cố gắng xâu chuỗi các dữ kiện lịch sử để viết lại. Trong bộ Đảo sử (Dīpavaṃsa 20, 20-1) và Đại sử (Mahāvavaṃsa 33, 102-3) chỉ ghi lại bằng hai câu kệ như sau:

(1) Các bậc Tỳ-kheo trí tuệ thời xưa đã truyền thừa Chánh tạng Pāḷi cùng với các bản Chú giải bằng cách học thuộc lòng.

(2) Khi thấy chúng sinh thời sau bị suy giảm (về trí nhớ và khả năng), chư Tỳ-kheo lúc bấy giờ đã họp lại, và để cho Chánh pháp được trường tồn lâu dài, các ngài đã cho ghi chép kinh điển vào các tập sách (lá buối).

Về năm diễn ra cuộc kết tập, người ta thường dựa vào năm trị vì của vua Vaṭṭagāmaṇi để xác định là năm 455 sau Phật niết bàn. Thời gian chính xác không được nêu rõ. Trên thực tế, có vẻ như cuộc kết tập không diễn ra ngay vào năm 455 khi nạn đói Brāhmaṇatissa vừa chấm dứt, mà có lẽ diễn ra sau khi các tà kiến Vetulla xâm nhập vào nhóm tăng sĩ tại Abhayagiri. Khi đó, chư Tăng cảm thấy kinh sợ trước những hiểm họa bên trong lẫn bên ngoài giáo hội nên đã thực hiện việc này vì sự trường tồn và hưng thịnh của giáo pháp.

Nếu xem xét văn phong các câu kệ trong Đại sử (Mahāvaṃsa), chúng ta cũng thấy ý nghĩa tương tự. Trong tác phẩm Mahāvaṃsa bản văn xuôi Myanmar (trang 324) dịch rằng:
[Chư Tăng trú ngụ tại chùa Dakkhiṇa cũng có sự bất đồng với chư Tăng ở chùa Abhayagiri.

## PAGE 279

Tại đảo quốc Srilanka này, kể từ khi Ngài Mahinda đặt chân đến cho đến thời vua Vaṭṭagāmaṇi, các thế hệ giáo thọ sư đã truyền thừa Tam Tạng gồm Chánh tạng Pāḷi và Chú giải bằng khẩu truyền. Rất ít nội dung được viết trên giấy hay lá buối. Đến thời vua Vaṭṭagāmaṇi:

Xét thấy đời sau chúng sinh bị suy giảm trí tuệ và chánh niệm, không còn khả năng ghi nhớ qua việc học thuộc lòng, nên chư Tăng đã báo cho nhà vua biết rồi cùng nhau hội họp, ghi chép Chánh tạng Pāḷi và Chú giải lên lá buối vì lợi ích trường tồn lâu dài của giáo pháp.]

Mặc dù cuộc kết tập diễn ra dưới thời vua Vaṭṭagāmaṇi, nhưng nhà vua không phải là người hộ trì (dānapati) cho cuộc kết tập này. Chư Tăng đã không nhận được sự hỗ trợ từ phía triều đình mà phải tự lực nỗ lực thực hiện. (Nhà vua vốn là người ủng hộ giáo phái Abhayagiri, phái đối lập với Đại Tự viện Mahāvihāra).

Một điểm đáng lưu ý là trong các bản Chú giải (Aṭṭhakathā) chỉ đề cập đến ba lần kết tập đầu tiên mà không nhắc đến lần thứ tư. Trong các bản Sớ giải như Vajirabuddhi (543), Sārattha (3, 456) và Vimati (2, 272) cũng chỉ dùng cụm từ: “Sự kết tập ghi chép trên lá buối tương tự như cuộc kết tập lần thứ tư”. Điều này không phải vì cuộc kết tập này thiếu tính xác thực hay tầm quan trọng, mà thực tế là do các ngài chú trọng vào việc ghi chép văn bản hơn là việc tụng đọc tập thể, nên đã không dùng thuật ngữ "Kết tập" (Saṅgāyana) một cách trực tiếp.

Vào năm 2423 Phật lịch, trong bộ sử "Sāsanavaṃsadīpa" gồm 1671 câu kệ do Đại Trưởng lão Vimalasāra thuộc tông phái Amarapura tại Srilanka biên soạn, sự kiện kết tập lần thứ tư đã được ghi lại trong khoảng 20 câu kệ, bắt đầu từ câu số 1075. Tại câu kệ số 1090 có ghi:

“Cuộc kết tập tương tự lần thứ tư đã hoàn thành trong vòng một năm.” Việc ghi chép trên lá buối kéo dài suốt một năm là một chi tiết hợp lý và có khả năng là sự thật.

## PAGE 280

**Giáo pháp của Đức Thế Tôn đôi khi phải đối mặt với những hiểm họa và áp lực từ cả bên trong lẫn bên ngoài.** Đặc biệt, tư tưởng Đại thừa luôn đeo bám và gây rối ren khắp nơi, khiến ngay cả những người theo Phật giáo Nguyên thủy cũng bị hiểu lầm là **Hina-yana** (Tiểu thừa). (Hãy xem thêm phần phụ lục).

Trong một khu vườn lớn, những loài cỏ dại có thể tự sinh sôi bùng phát mà không cần ai gieo trồng hay chăm sóc; thế nhưng, để chăm bón và bảo vệ một loài cây ăn quả hữu dụng có thể sinh trưởng phát triển là điều vô cùng khó khăn. Nó phải đối mặt với vô số hiểm họa từ sâu đục thân, sâu ăn rễ cho đến mưa, gió và nắng gắt.

Nhìn lại hành trình gian khổ của lịch sử truyền thừa Phật giáo quốc tế trong quá khứ, chúng ta cần suy xét xem việc tìm ra một chân lý khó khăn đến nhường nào để từ đó nỗ lực tinh tấn hết mình trong khoảng thời gian ngắn ngủi của kiếp người này.

## PAGE 281

### Chương (2)
### Những vị Trưởng lão mẫu mực trong việc kết hợp Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti)

**Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành**

Dù một vị có thông thạo và thuyết giảng nhiều về Tạm Tạng — tức là **lời dạy của Đức Thế Tôn (Saṃhita)** — nhưng nếu bản thân lại buông lung, không thực hành và rèn luyện theo những gì trong kinh điển thì vị ấy không được gọi là người thọ hưởng hạnh phúc sa-môn **Sa-môn quả (Sāmaññaphala)**; chẳng khác nào một anh chăn bò thuê, chỉ biết đếm bò cho người khác mà không bao giờ được thưởng thức hương vị của sữa bò. (**Kinh Pháp Cú**).

**Paṇḍito hi sopiṭakaṃ sutvā bbepi pūreti** = Bậc trí sau khi học hỏi Pháp học xong, luôn song hành thực hành cả Pháp hành.

(**Sách Chú giải Trường Bộ Kinh 3, 82**).

## PAGE 282

**Ba vị tỳ-kheo hành giả có thể hy sinh cả mạng sống vì thầy**

Thời kỳ Phật giáo hưng thịnh tại đảo quốc Sri Lanka, có một vị Trưởng lão tên là **Cūḷapiṇḍapātika Tissa**. Ngài là một trong những vị Trưởng lão lừng danh và xuất chúng trong truyền thống **Pháp hành (Paṭipatti)** tại Sri Lanka.

Một ngày nọ, ba vị tỳ-kheo trẻ cùng nhau đến gặp vị Trưởng lão ấy để cầu xin đề mục và phương pháp tu tập thiền định.

**Yathābhūtaṃ ñāṇāya satthā pariyesitabbos** = Để đạt được tri kiến đúng đắn, cần phải tìm một vị thầy có khả năng hướng dẫn và dạy bảo. (Không nên tự tu tập mà không có thầy). Theo lời dạy đó, sau khi nghe được danh tiếng của Ngài, các vị ấy đã tìm đến một bậc thầy hiền triết. Không chỉ tìm được thầy, mà lòng tin tưởng và sự nương tựa của họ đối với vị thầy còn được mô tả trong **Chú giải Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga Aṭṭhakathā)** như sau.

Vị Trưởng lão đã thử hỏi ba vị tỳ-kheo hành giả vừa mới đến về mức độ tin tưởng và sự phó thác của họ đối với vị thầy và đề mục thiền định. Khi đó, ba vị tỳ-kheo khách tăng này đã trả lời:

Vị tỳ-kheo thứ nhất: "Bạch Ngài, nếu có ai bảo với con rằng việc nhảy xuống vực sâu thẳm mà chết sẽ mang lại một lợi ích nào đó cho các Ngài, thì con cũng sẵn lòng nhảy xuống để chết vì các Ngài, bạch Ngài."

Vị tỳ-kheo thứ hai: "Bạch Ngài, nếu có ai nói rằng việc nghiền nát thân thể này thành bột sẽ mang lại lợi ích cho các Ngài, thì con sẵn lòng đem cả thân mình từ gót chân đến đỉnh đầu mài trên tấm đá để dâng cúng cho các Ngài, bạch Ngài."

## PAGE 283

Vị tỳ-kheo thứ ba bạch rằng: **"Bạch Thế Tôn, nếu có ai nói rằng hơi thở ra hơi thở vào của con khi nén lại cho đến chết sẽ có ích cho các ngài như một phương thuốc, thì con cũng có thể từ bỏ mạng sống vì các ngài, bạch Thế Tôn."**

Mỗi vị đã thực hiện lời hứa nguyện như vậy.

Khi các vị đã trình bày lòng tin bằng sự từ bỏ mạng sống với ý muốn, nguyện vọng và tinh tấn như thế, vị đại trưởng lão suy nghĩ rằng:

"Ba vị tỳ-kheo trẻ này đều là những người xứng đáng được trao đề mục thiền định," rồi ngài đã hướng dẫn các phương pháp thực hành. Ba vị tỳ-kheo trẻ ấy đã thực hành theo sự chỉ dẫn của vị thầy đại trưởng lão với sự cung kính, tin tưởng, mong cầu và nỗ lực hết mình; chẳng bao lâu sau, cả ba vị đều hoàn thành phận sự tỳ-kheo (đắc quả A-la-hán).

Đây chính là lợi ích của đức tin có thể từ bỏ thân thể và mạng sống đối với bậc thầy. (**Visuddhimagga-1, 112- Chương lấy đề mục thiền.**)

## Năm phẩm chất của người sẽ chứng đắc Pháp đặc biệt

Vì vậy, những hành giả muốn nỗ lực thực hành đề mục thiền định... Phải có những phẩm chất tiên phong đã được thuyết giảng trong đề mục thiền tâm từ (**Metta Sutta**): "**Sakkoca** = Phải là người có khả năng thực sự nỗ lực hết mình dù phải hy sinh mạng sống vì các pháp thiện, và **Suvacoca** = Phải là người dễ dạy, tuân theo lời dạy của thầy không sai sót."

Đối với những người sẽ hành thiền, có năm phẩm chất (Pháp Cần thiết - **Padhāniyaṅga**) cần phải hội đủ trước (để có thể chứng đắc Pháp đặc biệt ngay trong kiếp sống này).

1. Có đức tin tuyệt đối vào Tam Bảo và vị thầy dạy thiền.
2. Là người có sức khỏe tốt.
3. Là người thành thật, thẳng thắn, không phô trương những đức tính mình không có, và không che giấu những lỗi lầm mình có.

## PAGE 284

4. Có sự tinh tấn (**Caturaṅga-viriya**) với quyết tâm: "Dù thịt và máu có khô cạn đi chăng nữa, dù chỉ còn gân và xương, ta sẽ nỗ lực không ngừng nghỉ cho đến khi chứng đạt Pháp đặc biệt."
5. Sự phát khởi của trí tuệ (**Udayabbaya-ñāṇa**) giác ngộ sự sinh diệt của danh sắc.
(**Majjhima Nikāya-2, 300- Bodhirājakuimāra Sutta.**)

Vì vậy, theo phẩm chất thứ nhất, trước khi thực hành thiền (**Pubbakicca - Phận sự tiền tác**), hành giả phải thực hiện các việc chuẩn bị như thọ trì giới, niệm ân đức, rải tâm từ, hồi hướng phước báu, và dâng hiến thân mình cho Đức Phật và vị thầy dạy thiền. Điều này là để thể hiện đức tin.

### Dâng hiến đến Đức Phật
"**Imāhaṃ bhagavā attabhāvaṃ tumhākaṃ pariccajāmi** = Bạch Thế Tôn, con xin dâng hiến tự ngã thân thể này đến Đức Thế Tôn."

"**Saṃsāra vaṭṭadukkhato mocanatthāya kammaṭṭhānaṃ me detha** = Xin Thế Tôn hãy ban cho con đề mục thiền định vì lợi ích giúp con thoát khỏi khổ đau luân hồi."

### Dâng hiến đến vị thầy
"**Imāhaṃ bhante attabhāvaṃ tumhākaṃ pariccajāmi** = (Chỉ khác biệt là dùng từ "Bạch Ngài" thay cho "Bạch Thế Tôn").

**Saṃsāra vaṭṭadukkhato mocanatthāya kammaṭṭhānaṃ me detha**. (Như trên).

### Lợi ích của việc dâng hiến thân mình cho Đức Phật và vị thầy

Việc dâng hiến như vậy có lợi ích gì? Có rất nhiều lợi ích. Hành động này chính là sự bày tỏ lòng cung kính và khiêm nhường đối với bậc thầy. Những người cung kính, khiêm nhường và tiếp nhận lời dạy một cách trân trọng sẽ nhận được sự khích lệ và nâng đỡ. Chỉ những người nhận được sự khích lệ và nâng đỡ từ bậc thầy mới có thể đi đến đích đến mong muốn và đạt được an lạc.

Hơn nữa, điều này cũng thể hiện đức tin, nguyện vọng và tinh tấn của bản thân. Ngay từ khi thốt lời dâng hiến, hành giả sẽ thấy năng lực đức tin trong sáng và rõ ràng (**Saddhā-dhātu**), năng lực tâm chí quyết tâm đạt được (**Chanda-dhātu**), và năng lực nỗ lực không ngừng (**Ārambha-**

## PAGE 285

**Nikkama-parakkama-dhātu** gọi là **Viriya-dhātu**) tuôn chảy mạnh mẽ vào dòng danh sắc của mình.

Các năng lực **Saddhā, Chanda, Viriya** này là những năng lực thực sự hiện hữu về mặt chân đế (paramattha), là những đặc tính kỳ diệu. Người nỗ lực hành thiền không thể thiếu ba nguồn năng lực này.

Dù có vẻ như bạn đang ngồi thiền một mình, nhưng thực tế không phải vậy. Qua oai lực, lòng từ và lòng bi mẫn của Đức Phật - Bậc Tối Thượng trong ba cõi, cũng như của vị thầy dạy thiền, Đức Phật và các bậc thầy thực sự đang hiện diện cùng với vị hành giả.

Theo tâm lý học, trong các cuộc chiến thời xưa, trận chiến do một vị tướng chỉ huy và trận chiến do chính vị vua đích thân dẫn đầu có sự thắng lợi khác nhau. Đó chính là do những người lính có tinh thần phấn chấn, quyết tâm hơn và oai lực của vị vua to lớn hơn.

Ngồi thiền chính là đang bước vào cuộc chiến với quân đội của Ma vương.

### Công việc mà chư thiên khích lệ và Ma vương phải khiếp sợ
Trong **Kinh Itivuttaka, Devasadda Sutta**, Đức Thế Tôn dạy rằng có ba thời điểm mà chư thiên và Phạm thiên có đại thần lực vui mừng hạ huyệt Sa-thế (Sādhu) để ủng hộ khi một người chiến đấu với Ma vương:

1. Khi một người xuất gia thành tỳ-kheo.
2. Khi bắt đầu nỗ lực hành thiền.
3. Khi đã hoàn thành phận sự tỳ-kheo (chứng quả Thánh).

Lại nữa - Trong phần trình bày về **Hạnh đầu đà ngồi (Nesajjikaṅga) của Thanh Tịnh Đạo**:
**Ābhujitvāna pallaṅkaṃ,**
**Paṇidhāya ujuṃ tanuṃ.**
**Nisīdanto vikampati,**
**Mārassa hadayaṃ yati.**

"Khi hành giả ngồi kiết già, giữ thân thượng thẳng đứng để hành thiền (chỉ cần ngồi xuống với tư thế kiết già để thực hành thiền), điều đó sẽ khiến trái tim của Ma vương phải rung động và khiếp sợ."

## PAGE 286

243. Về việc phó thác thân thể này, cũng nên biết trước những lời nhắn nhủ sau đây trong **Thanh Tịnh Đạo** (Visuddhimagga):

"Nếu không phó thác thân thể như vậy mà đi đến những nơi rừng sâu hẻo lánh để hành thiền, khi gặp phải những đối tượng, hiện tượng gây sợ hãi, kinh hoàng hay các chướng ngại nguy hiểm, hành giả có thể sẽ không đủ vững vàng để chịu đựng; khi đó phải chạy về nương náu ở các làng mạc lân cận, sống trà trộn với người đời và có thể dẫn đến sự suy sụp, hoại diệt những lợi ích không mong muốn.

"Với hành giả đã phó thác thân thể cho Đức Phật, dù có gặp phải những đối tượng, hiện tượng gây sợ hãi, kinh hoàng hay chướng ngại nguy hiểm, vị ấy cũng không còn sợ hãi, khiếp đảm nữa. Không chỉ vậy:

"Này hành giả có trí tuệ..., chẳng phải ngươi đã dâng hiến và từ bỏ thân thể cùng mạng sống này cho Đức Phật từ trước rồi sao? Ngay khi quán chiếu như vậy, vị ấy sẽ cảm thấy hoan hỷ rằng: 'Cái thân xác đầy rẫy hiểm họa cả bên trong lẫn bên ngoài này của ta, nay đã được ký thác vào nơi an toàn và xứng đáng rồi'. (**Mahāṭīkā**.)

"Ví như người có bộ quần áo quý giá, khi thấy quần áo bị mối mọt, rệp hay chuột cắn phá thì vô cùng khổ tâm. Nhưng nếu đem bộ quần áo đó dâng cúng đến một bậc có đức hạnh rồi, sau đó dù thấy nó bị rách nát từng mảnh không còn dùng được nữa, vị ấy cũng không còn khổ tâm (vì không còn chấp ta, cái của ta - **Atta**, **Attaniya**). Khi đó vị ấy chỉ cảm thấy hoan hỷ rằng: 'Nếu để trong tay ta thì nó cũng hư hỏng mà thôi, nhưng nay ta đã thành tựu được việc bố thí của mình vậy'."

### Chiến thắng trước khi ra trận

Thật vậy, những người con trai, con gái của Đức Phật, những vị luôn dựng cao lá cờ chiến thắng dựa trên ân đức của đấng Thế Tôn vô thượng uy nghiêm, thì

## PAGE 287

không có hàng chư thiên, nhân loại hay Phạm thiên nào dù quyền năng đến đâu lại dám đàn áp hay phá hoại. Ở thế gian, con của vua thì không ai dám xúc phạm. Những vật dụng thuộc sở hữu của Đức Phật cũng không ai có thể chiếm đoạt hay phá hủy được. (**Buddhanam udissa abhihata nam catunnam paccayanam na sakka kenaci antarayo katum tatha me hotu**.)

Sự chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi hành thiền như vậy mang lại uy lực và lòng dũng cảm thật đáng hài lòng. Ngay khi vừa ngồi kiết già, các đạo quân quân thù (phiền não) đã rút lui và tan rã một cách rõ rệt.

Này những bậc thiện trí, hãy nỗ lực với tinh thần xả thân... Sự thật chỉ có thể đạt được bởi những người có niềm tin và dám đánh đổi bằng cả mạng sống của mình.

### Trưởng lão Sāketa Tissa không muốn được biết đến là người giỏi kinh điển

Các bậc thiện trí không chỉ che giấu đức hạnh trong việc thực hành (hạnh đầu đà), mà trong phương diện Pháp học (Pariyatti) các vị cũng không muốn người khác biết mình là "bậc thông thuộc kinh điển" hay "bậc pháp sư" (**Dhammakathika**), đây gọi là **Pariyatti appicchā** (ít muốn về pháp học).

Trưởng lão Sāketa Tissa, một vị vô cùng nổi tiếng về phương diện Pháp học, đã dành thời gian dài để giảng dạy kinh điển. Thời gian biểu trong ngày của Ngài không có một kẽ hở nào; ngay cả việc xin học riêng một thời pháp, hay thậm chí là lúc đi đường muốn hỏi một vấn đề nhỏ nào đó cũng không có thời gian. Ngài dành trọn vẹn thời gian cho **Pháp học**.

Khi đó, có một vị Tỳ-kheo đến xin học, Ngài bảo rằng không có thời gian. Vị ấy hỏi: "Bạch Ngài, nếu vậy... liệu Ngài có còn thời gian để chết không?". Câu hỏi đó đã làm Ngài phát khởi tâm kinh sợ (Saṃvega). Ngài liền từ giã các đệ tử và đi đến ngôi chùa gọi là **Kaṇikāra Vālikā Samudda** để thực hành Pháp hành.

## PAGE 288

Khi đến ngôi chùa đó, Ngài vẫn tùy thời hỗ trợ các vị Tỳ-kheo trẻ, trung niên và cao hạ về các kiến thức kinh điển. Ngài đã nỗ lực hành thiền suốt cả mùa an cư. Đến ngày lễ **Tự tứ** (Mahāpavarāṇā) sau khi mãn hạ, vì cần có người thuyết giảng cho chư Tăng và các thí chủ, Trưởng lão Sāketa Tissa đã lên pháp tòa để trợ giúp việc thuyết pháp.

Toàn thể hội chúng đều vô cùng hoan hỷ, đức tin và sự tinh tấn phát khởi đến mức rùng mình sởn gai ốc. Mọi người đều háo hức tự hỏi: "Khi nào chúng ta mới lại được nghe pháp của vị trưởng lão này lần nữa?". Ngay khi thời pháp kết thúc, trong lúc hội chúng đang đồng thanh vang rền tiếng Sa-thú (lành thay) và đảnh lễ một cách chí thành, vị trưởng lão đã nhanh chóng rời khỏi pháp tòa, len lỏi vào giữa chư Tăng và trở về liêu phòng.

Đó là vì Ngài sợ hội chúng sẽ biết được vị thuyết pháp là ai. (**M-ṭṭh-1, 46. Aṃ-ṭṭh-1, 59. Aṃ-ṭṭh-3, 226**.)

### Ba cách học Pháp học (Pariyatti)

Có ba phương pháp học tập Pháp học:

1. **Alagaddūpama Pariyatti** = Cách học ví như bắt rắn độc. Cách học như ôm rắn hổ mang trong lòng. Là cách học không suy xét, không tác ý vào ý nghĩa và bản chất chân thật của giáo pháp, mà chỉ học với mục đích xấu như để tranh luận, để thắng thua và lấn lướt người khác. Cách học này sẽ mang lại khổ đau lâu dài trong vòng luân hồi.

2. **Nittharaṇattha Pariyatti** = Cách học để thoát ly. Là cách học với mục đích tốt đẹp, để khi đã thông hiểu thì sẽ thực hành các đức tính Trì giới, Định và Tuệ. Đây là cách học mang lại hạnh phúc cho bản thân và mọi người xung quanh.

## PAGE 289

**Bhaṇḍāgārika Pariyat** = Pháp học giữ kho bộ. Đây là cách học và dạy Pháp học, cũng như việc biên soạn kinh điển của các bậc A-la-hán. Ý nghĩa của việc này là để giữ gìn và bảo vệ Chánh Pháp của bậc thiện trí không bị mai một.

Nếu không am tường Luật tạng, hoặc hành trì sai lạc thì dễ trở thành bậc phá giới (duussīla).

Nếu không am tường Kinh tạng, hoặc thấu hiểu sai lạc thì dễ rơi vào tà kiến (micchādiṭṭhi).

Nếu không am tường Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), hoặc thấu hiểu sai lạc thì dễ nảy sinh những suy nghĩ vượt quá khả năng, dẫn đến loạn trí.

(**M-1, 186-Alagaddupama Sutta. Vi-ṭṭha-1, 20-Bāhiranidāna.**) Theo lời dạy: "**Yāva deva-anatthāya, ñattaṃ bālassa jāyati**" — khi đức tin và giới hạnh kém khuyết, con người sẽ lún sâu vào hố thẳm của sự mê muội đến mức không ai cứu vãn được và phải chuốc lấy khổ đau.

Nhờ việc học tập Pháp học (Pariyat), trong nhiều bản Pāḷi đã chỉ rõ hệ quả của việc học tập như sau:

"**Tā = Trì tụng (thuộc lòng); Vacasā paricitā = Sau khi thuộc lòng thì đọc tụng, ôn tập; Manasānupekkhitā = Trong khi đọc tụng, tâm luôn quán chiếu vào yếu nghĩa của Pháp như các vị Trưởng lão tụng đọc ôn tập; Diṭṭhīyā suppaṭividdhā = Nhờ sự quán chiếu suy xét như vậy mà thấu thị Tam tướng, chứng đắc Thánh quả**". Chỉ khi đạt được những kết quả này thì việc học tập mới thật sự có ý nghĩa.

Chỉ khi đó, phương pháp học tập mới trở thành **Nittaraṇattha** = Đạt đến cứu cánh giải thoát, đúng với ý muốn của Đức Phật. Chính vì mục đích này mà người ta mới nói rằng: "Pháp học mới là nền tảng cốt yếu cho sự tồn tại của giáo pháp". Nếu không như vậy, nó sẽ giống như lời dạy của vị Trưởng lão Dipayin: "Người thì không hiểu, chữ nghĩa thì thông, nhưng lại bị kẹt vào các chấp thủ (gāha)". Đó chính là mồi ngon cho con rắn lớn mang tên tham ái, ngã mạn và tà kiến. Dù có thể kiềm chế ở mức độ nào đó để không bị rắn cắn, nhưng nếu không được thưởng thức hương vị sữa (giải thoát) mà chỉ mải mê chăn dắt bò (con chữ) thì vẫn mãi chỉ là kiếp người chăn bò thuê mà thôi.

## PAGE 290

### Chỉ có Pháp học thuần túy chưa thể giải quyết khó khăn

Nếu chỉ giỏi về Pháp học (Pariyat) mà thiếu kinh nghiệm thực chứng về Pháp hành (Paṭipatti) thì cũng giống như chuyện dưới thời vua Bodawpaya. Khi các vị cố vấn triều đình đến gặp hai vị hành giả cư ngụ tại Yesagyo để kiểm chứng xem họ có phải là bậc Thánh hay không, sau khi nghe xong những lời chia sẻ, họ ra về mà không thể đưa ra bất kỳ câu trả lời hay sự chỉ dẫn nào. Đôi khi, một số vị giảng sư còn có thái độ xem thường cả các bậc Thánh thực thụ. Như vậy là không hoàn thành trách nhiệm đối với giáo pháp, mà ngược lại lỗi lầm còn nặng nề hơn. (Ví dụ như câu chuyện về hai người bạn ở Sāvatthī thời Đức Phật, hay thái độ của một số học giả đối với vị Kavi ở Myingyan).

### Đường lối của Ngài Moggaliputta Tissa

Thế thực, trong thời đại mà Pháp hành hưng thịnh, những quan điểm và lời nói về giáo pháp thường rất đa dạng và khác biệt. Nếu không biết cách xử lý thì sẽ rất khó khăn. Để có thể gạn đục khơi trong, làm sáng tỏ các quan điểm sai lệch thì chỉ có Pháp học thuần túy là không đủ. Những người chỉ có Pháp hành đơn thuần lại càng ít có điểm tựa để xử lý việc này. Do đó, đây là công việc mà chỉ các bậc vừa thông suốt Pháp học, vừa mang nặng Pháp hành mới có thể thực thi được.

Nhìn thấy viễn cảnh các tà thuyết sẽ làm nhiễu loạn giáo pháp, Ngài Trưởng lão Siggava đã dày công thu phục và đưa vị anh hùng giáo pháp tương lai là "Moggaliputta Tissa" vào cửa đạo. Sau khi cho vị này xuất gia Sa-di, Ngài đã truyền dạy pháp môn Kammaṭṭhāna về các thể trược (koṭṭhāsa). Chỉ sau khi vị Sa-di chứng đắc quả Dự Lưu (Sotāpanna), Ngài mới gửi đến Trưởng lão Caṇḍavajja để học tập kinh điển.

(Bởi vì sau khi chứng quả Dự Lưu, tâm ly tham đã vững vàng), không những không còn lo lắng về việc hoàn tục, mà sự nỗ lực và định tâm vững chãi còn trở thành nền tảng cực kỳ mạnh mẽ cho việc học tập Pháp học. Khi ấy, Ngài tạm dừng việc truyền dạy các pháp cao hơn mà tập trung hoàn toàn cho việc học tập.

## PAGE 291

Đó là bởi vì sau khi chứng đắc quả vị A-la-hán, một số vị thường dành thời gian tận hưởng hương vị giải thoát mà sao lãng việc giữ gìn Pháp học. (**Vi-ṭṭha-1, 31-Tatiyasaṃgītikhaṇḍa.**) Vì vậy, bất kỳ bậc hành giả nào muốn phụng sự giáo pháp một cách xứng đáng đều nên suy xét noi theo gương hạnh của các bậc Trưởng lão truyền thừa.

### Ngài Mahāgatigamiya Tissa Datta — Chứng quả A-la-hán trong khi học dạy và truyền bá bộ Paṭṭhāna

Ngài Mahāgatigamiya Tissa Datta là một vị Trưởng lão rất tinh thông trong việc giảng dạy và nghiên cứu bộ Paṭṭhāna — bộ kinh thâm thúy và vi diệu nhất trong bảy bộ Vi Diệu Pháp.

Ngày nọ, Ngài đi tàu vượt biển từ đảo Sri Lanka đến Ấn Độ (Trung bang) để chiêm bái cội Đại Bồ Đề. Khi đi được nửa chặng đường, đứng trên tàu nhìn ra mặt biển bao la bát ngát, Ngài thấy biển cả rộng lớn không thấy bến bờ, chỉ có những con sóng bạc đầu to lớn như những ngôi nhà cuồn cuộn vỗ nhịp. Đứng trước sự mênh mông không thấy bờ nấy, người ta cũng chẳng thể nào đo lường nổi độ sâu của nó.

Khi ấy, nhờ đã quán triệt sâu sắc bộ đại kinh Paṭṭhāna, trong tâm Ngài khởi lên một sự suy xét: "Sức mạnh cuồn cuộn nầy của đại dương lớn hơn, hay là tuệ giác vi diệu trong 24 phần của bộ đại kinh Paṭṭhāna lớn mạnh hơn?"

Lúc bấy giờ, tuệ giác vi diệu của Ngài đã soi sáng: "Dù đại dương có rộng lớn đến đâu thì vẫn có giới hạn của nó; phía trên là bầu trời, phía dưới là mặt đất, chung quanh là núi Sivali và bờ biển, vẫn có ranh giới để xác định. Nhưng sự thâm sâu và vi diệu của bộ đại kinh Paṭṭhāna thì thật là vô biên, không hề có giới hạn". Ngài cứ thế suy xét, quán chiếu theo chiều xuôi chiều ngược về sự thâm sâu của bộ kinh nầy.

## PAGE 292

Khi quán chiếu và suy xét sâu sắc những giáo pháp **Pháp Tụ (Paṭṭhāna)** thuộc **Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)** tế nhị và thâm sâu theo chiều xuôi chiều ngược, tới lui lặp lại, hỷ lạc tràn dâng bao phủ khắp toàn thân vị ấy.

Vị ấy xả bỏ niềm hỷ lạc vừa phát sanh, tập trung ghi nhận các thực tính danh sắc đang liên tục sanh diệt trên thân mình dưới góc độ nhân quả, **cảnh (ārammaṇa)** và **tâm biết cảnh (ārammaṇika)**, v.v... Ngay trên con tàu đó, vị ấy đã đoạn tận các lậu hoặc phiền não và chứng đắc quả vị A-la-hán.

Những yếu nghĩa thực tính của giáo pháp **Pháp Tụ** và **Vi Diệu Pháp** vốn đã được nghiên cứu kỹ lưỡng dưới hình thức Pháp học (Pariyatti), nay khi được đưa vào thực hành Pháp hành (Paṭipatti) để quán chiếu trên danh sắc, vị ấy đã chứng nghiệm thực tế đúng như những gì kinh điển đã mô tả. Do đó, ngay trên tàu, vị ấy đã thốt lên lời tự cảm thán (udāna) như sau:

**Attheva gambhīragataṃ sudubbedhaṃ,**
**Sayaṃ abhiññāya sehatusambhavaṃ.**
**Yathānupubbe nikhilena desitaṃ,**
**Mahesinā rūpagataṃva passati.**

"Bậc Đại Mưu Sĩ (Đức Phật) bằng Thắng trí tự thân đã thâm nhập và thuyết giảng không còn dư sót, theo đúng trình tự, bộ đại kinh **Pháp Tụ** cực kỳ thâm sâu và khó tri đạt này; quả thật trên đời vẫn có những đệ tử của Ngài có khả năng thấu thị giáo pháp ấy rõ ràng như nhìn viên ngọc quý đặt trong lòng bàn tay." (Aṭṭhasālinī-12.)

## Bậc thiện xảo Pháp học luôn kiên trì Pháp hành

Trong kinh Sangāthāvagga Saṃyutta (Tương Ưng Bộ), cũng từng có câu chuyện về vị "Trưởng lão Sajjhāya", người đã chứng đắc A-la-hán nhờ lấy chính âm thanh tụng đọc kinh điển của mình làm đối tượng quán chiếu.

"Việc tụng đọc bằng lời hỗ trợ cho việc tụng niệm bằng tâm. (Tụng niệm bằng tâm là nhân của sự tác ý). Việc tụng niệm bằng tâm là nhân để thấu suốt Tam tướng (Vô thường, Khổ, Vô ngã). Việc thấu suốt Tam tướng chính là nhân dẫn đến Niết-bàn." (Trích chú giải **Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)** và **Sammohavinodanī**, phần **Koṭṭhāsa**).

Các bậc hành giả chuyên sâu Pháp học khi chuyển sang Pháp hành không cần phải nỗ lực quá đặc biệt, bởi họ đã có sẵn một nền tảng định lực nhất định; điều cần thiết chỉ là sự chuyển hướng đối tượng của tâm mà thôi. Đây là điều cần lưu ý.

## PAGE 293

## Vị Trưởng lão Khīṇāsava ở chùa Vijayārāma trục xuất vị tu sĩ có đức tin nhưng quá chấp vào văn phạm

Tại tu viện Vijayārāma, có một bậc Thánh tăng A-la-hán cư ngụ. Tu viện này được xây dựng trong một khu vườn nằm trên con đường băng qua ranh giới của chùa Mahāvihāra tại thành phố Anurādhapura. Có hai vị tu sĩ hành giả đến xin đề mục **Thiền định (Kammaṭṭhāna)**, và bậc Trưởng lão đã giảng dạy bằng cách trích dẫn các đoạn kinh (Sutta Pāḷi).

Trong những đoạn Pāḷi mà Trưởng lão tụng đọc có từ "**Samuddo samuddo**". Lẽ ra phải đọc với âm "da" (d), nhưng Ngài lại đọc nhầm thành âm "dha" (dh). Một vị tu sĩ hành giả vốn quá chú trọng vào văn phạm đã ngắt lời và hỏi: "Bạch Ngài, 'Samuddo samuddo' mà Ngài vừa đọc có nghĩa là gì ạ?"

Trưởng lão đáp rằng: "Này hiền giả... dù đọc là 'Samudda' hay 'Samuddha' đi nữa, thì chúng tôi cũng đều hiểu đó là biển mặn cả. Hóa ra các ông không phải là người đi tìm cầu ý nghĩa giáo pháp mà chỉ là những người đi tìm lỗi văn phạm và văn tự. Nếu đã vậy, các ông hãy quay về chùa Mahāvihāra đi. Ở đó có những bậc thầy tinh thông về văn pháp, hãy đến đó mà học." Nói rồi, Ngài không dạy thiền nữa mà trục xuất họ đi.

Vị tu sĩ ấy về sau đã cho đánh trống thông báo trong khuôn viên đại tự Mahāvihāra để cung thỉnh chư Tăng hội tụ. Khi chư Tăng đã đông đủ, vị ấy đã thuyết giảng và giải đáp các vấn đề liên quan đến bốn Đạo quả, rồi nhập Niết-bàn ngay tại chỗ đó.

Việc cung thỉnh chư Tăng để thuyết pháp trước khi viên tịch như vậy là nhằm để lại một bài học rằng: Một chút sai sót nhỏ trong việc phát âm hay văn pháp không hề gây trở ngại cho việc chứng đắc Đạo Quả và Niết-bàn.

Tuy nhiên, trong phương diện Luật tạng (Vinaya), việc tụng đọc từ "**Samuddo samuddo**" (âm nhẹ **Sithila** và âm mạnh **Dhanita**) tuyệt đối không được phép có sự sai lệch.

## PAGE 294

Trong phương diện Kinh tạng, khi thực hành **Thiền chỉ (Samatha)** và **Thiền quán (Vipassanā)**, không nên quá chú trọng vào những lỗi nhỏ về văn phạm hay cách phát âm, mà phải ưu tiên vào bản chất thực tính của giáo pháp.

Trong kinh "**Kinti Sutta**" (Kinh 'Như Thế Nào', số 26-31) thuộc **Uparipaṇṇāsa Pāḷi**, Đức Thế Tôn thuyết giảng không phải để cầu mong sự sung túc về tứ vật dụng, mà Ngài dạy về các pháp **Bồ-đề phần (Bodhipakkhiya)** như **Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna)**, v.v... nhằm giúp chúng sanh thoát khỏi khổ đau luân hồi theo đúng những gì Ngài đã chứng ngộ. Ngài khuyến khích đại chúng nên hòa hợp, hoan hỷ thực hành mà không nên tranh cãi hay xích mích với nhau.

Ngay cả khi cả hai bên đều thống nhất về mặt văn phạm cũng như ý nghĩa thực tính nhưng vẫn nảy sinh tranh luận, Đức Phật cũng đã dạy các phương pháp để dàn xếp các cuộc tranh cãi (vi-vāda) đó. (Trích Chú giải Kinh Kinti, M-ṭṭ-4, 19).

### Văn và Nghĩa, trong hai điều ấy, Nghĩa mới là điều cốt yếu

Ngày nay, những người chỉ thuần túy coi trọng Pháp học thường có xu hướng nói những lời gây áp lực lớn lao trong việc thực hành Pháp hành như: "Nếu không biết rõ về tâm, tâm sở và 28 loại sắc pháp thì hành thiền có được ích lợi gì đâu?", v.v... Cần phải cẩn trọng với những quan điểm như vậy.

Trong các bản Chú giải, tại nhiều nơi có dạy rằng: "**Byañjanaṃ anādiyitvā** = không nên quá chấp chặt vào văn tự từ ngữ, **Attho hi paṭissaraṇaṃ** = ý nghĩa và thực tính mới là chỗ nương tựa cuối cùng." (Bậc Đại Mưu Sĩ, bậc cầu lợi ích cho thế gian đã dạy rằng: Ý nghĩa mới là nơi nương tựa, không phải là văn tự — Chú giải Luật tạng).

Cũng giống như khi viết chữ "Chùa Pabbārāma" dù có viết sai một vài nét chữ thì người ta cũng không ai đọc thành "Nhà Pabbārāma" cả; đối với việc thực hành Đạo Quả và Niết-bàn, các bậc thầy Chú giải đã nêu bật ý muốn của Đức Phật với tâm từ bi rằng: Đừng vì một chút khác biệt nhỏ trong cách dùng từ mà lập tông phái tranh cãi, để rồi đánh mất cơ hội quý báu trong giáo pháp.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng điều này không có nghĩa là chấp nhận những sai lệch mang tính hệ thống có thể gây ra sự hiểu lầm tai hại cho suốt cả vòng luân hồi, ví dụ như quan điểm "cứ để tâm tự nhiên theo ý tâm" (tâm-tâm tự tại).

## PAGE 295

**Trưởng lão Kāḷa Buddharakkhita, tiền thân là Du sĩ Saccaka**

Du sĩ Saccaka, còn gọi là Saccaka Nigaṇṭha nổi tiếng, đã từng hai lần đối đầu và tranh luận giáo lý với Đức Thế Tôn. Do đó, trong phần **Mūlapaṇṇāsa** thuộc **Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikāya)** có đến hai bài kinh thuyết giảng cho ông là **Kinh Tiểu Saccaka (Cūḷasaccaka Sutta)** và **Kinh Đại Saccaka (Mahāsaccaka Sutta)**. Mặc dù Saccaka đã hai lần nghe pháp, nhưng ông vẫn không đạt được đạo quả, thậm chí ngay cả đức tin Quy y Tam Bảo cũng chưa thiết lập được.

Đối với chư Phật Thế Tôn, các Ngài không chỉ thuyết pháp cho những người có lòng tin, những người có khả năng tiếp nhận ngay lập tức, hay những người sẽ đắc đạo quả tức thời. Nếu thấy rằng việc thuyết pháp sẽ giúp cho chúng sanh đó gieo trồng được chủng tử thiện lành, tạo nên thói quen và ba-la-mật căn bản để đắc được pháp thượng nhân vào một thời điểm nào đó trong tương lai, thì các Ngài vẫn sẽ thuyết giảng.

Về việc thuyết pháp cho những người ngoại đạo như Saccaka, chính Đức Thế Tôn đã từng tuyên bố về tôn chỉ của mình trong bài **Kinh Khettūpama (Tương Ưng Bộ)** như sau:

“Như người nông dân gieo trồng trên vùng đất khô cằn sỏi đá, dù chỉ thu được chút ít cỏ cho bò ăn thì cũng vẫn cứ gieo trồng. Cũng như việc múc nước đổ vào một chiếc bình nứt bể, dù chỉ giữ lại được chút ít nước rửa thuốc hay nước lau rửa thì cũng vẫn cứ múc đổ vào. Tương tự như vậy, Ta cũng thuyết giảng cho những người ngoại đạo.”

Saccaka, người từng có quan điểm cực đoan và tranh luận với Đức Phật, sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn hơn hai trăm năm, vào thời kỳ Giáo pháp hưng thịnh tại đảo quốc Sri Lanka, đã đắc quả A-la-hán cùng với bốn trí Tứ Tuệ Phân Tích (Paṭisambhidā).

Điều này đã được Đức Phật thấy biết rõ ràng không còn dư sót. Du sĩ Saccaka sau khi qua đời, nhờ thiện nghiệp từ việc cúng dường vật thực đến Đức Thế Tôn và lòng hoan hỷ khi nghe pháp mà được sanh về cõi trời.

Nhờ ân đức của đại vương Asoka, người hộ trì giáo pháp và các vị Trưởng lão A-la-hán gánh vác Phật sự như Ngài Mahā Moggaliputta Tissa, khi Giáo pháp của Đức Thế Tôn được truyền bá rộng rãi đến đảo quốc Sri Lanka, thì Saccaka

## PAGE 296

vị thiên tử ấy đã tái sanh làm con của một vị đại thần tại làng hộ độ thuộc đại tự viện **Dakkhiṇagiri** ở đảo Sri Lanka. Khi đến tuổi trưởng thành, ông đã xuất gia và thông thạo Ba Tạng (Piṭaka), trở thành một vị Trưởng lão lãnh đạo giáo đoàn, với danh hiệu là **Kāḷa Buddharakkhita**.

### Giáo huấn vị đệ tử đang đa đoan việc học thuật

Một ngày nọ, Trưởng lão **Kāḷa Buddharakkhita** cùng với đông đảo đệ tử vây quanh tìm đến nơi vị thầy tế độ (upajjhāya) của mình đang cư ngụ. Vị thầy tế độ vốn đã có ý định giáo huấn người đệ tử đang rất giỏi về học thuật này. Khi Trưởng lão **Kāḷa Buddharakkhita** – người đã thông thạo làu thông Pháp học (Pariyatti) – đến đảnh lễ, vị thầy không hề thốt ra một lời nào, cũng không hỏi han hay trò chuyện, mà chỉ giữ im lặng.

Trưởng lão **Kāḷa Buddharakkhita** sau khi lưu trú qua một đêm, vào sáng hôm sau đã tìm đến đảnh lễ thầy một mình để hỏi về ý định của thầy.

**Trưởng lão**: "Bạch Ngài là bậc ân nhân... Theo lời chỉ dạy của Ngài, chúng con đã nỗ lực học tập Ba Tạng kinh điển. Nay việc học đã hoàn tất, con đến đây để đảnh lễ Ngài, nhưng vì sao Ngài lại im lặng không nói với con lấy một lời? Phải chăng chúng con đã phạm phải lỗi lầm gì? Nếu có lỗi, xin Ngài hãy giáo huấn cho con."

**Vị thầy**: "Này hiền giả **Buddharakkhita**... Phải chăng hiền giả nghĩ rằng chỉ với việc thông thạo, am tường Ba Tạng kinh điển từ đầu đến cuối là đã hoàn thành và đầy đủ phận sự của một vị Tỳ-kheo rồi chăng?"

(Ở đây có thể hiểu vị thầy đang nhắc đến gương của Trưởng lão Poṭhila, một bậc thông suốt Ba Tạng qua bảy đời chư Phật, hay Trưởng lão Kapila, bậc thầy dạy kinh điển nhưng lại sanh làm con cá vàng lớn. Xem *Chú giải Kinh Pháp Cú 2, 262-328; Kinh Kapila trong Kinh Tập*).

**Trưởng lão**: "Bạch Ngài, xin Ngài chỉ dạy cho con phải làm gì."

## PAGE 297

**Vị thầy**: "Này hiền giả, ngay cả việc đến đây mà hiền giả cũng đi cùng với đoàn đệ tử tùy tùng, vậy nên trước tiên hiền giả phải cắt đứt các chướng ngại (Palibodha) về giáo đoàn, đệ tử và thí chủ. Hãy dẹp sạch những sự phóng dật phiền não (Papañca) đang làm tâm trí đa đoan, rồi hiền giả phải đến trú xứ tại núi Cetiya. Hãy đến đó mà chuyên tâm thực hành sa-môn hạnh."

Trưởng lão đã cung kính đón nhận lời giáo huấn của vị thầy tế độ mà không hề phản kháng. Ngài một mình lên đường đi đến núi Cetiya chỉ với một bình bát và ba tấm y.

Nhờ có ba-la-mật sẵn có, không lâu sau, Ngài đã chứng đắc quả vị A-la-hán cùng với Tứ Tuệ Phân Tích (Paṭisambhidā). Ngài tiếp tục cư ngụ tại trú xứ núi Cetiya đó, trở thành một bậc Trưởng lão có phước báu lớn lao, được Đức vua quy ngưỡng và có đông đảo đệ tử vây quanh.

### Thuyết kinh Kāḷakārāma

Đức vua **Saddhātissa** (Phật lịch 407, năm 77-59 TCN) cũng đặc biệt kính trọng Trưởng lão **Kāḷa Buddharakkhita**. Vào thời điểm đó, nhà vua đang giữ bát quan trai giới tại một hang động hoàng gia trên núi Cetiya. Nhà vua đã dặn trước với một vị vị Tăng trẻ phục vụ cho Ngài Trưởng lão rằng:

"Bạch Ngài, nếu Ngài Trưởng lão có giải đáp các vấn đề nan giải (pucchā-passanā) hay thuyết giảng giáo pháp, xin Ngài hãy báo cho trẫm biết."

Vào một ngày thường lệ thuyết pháp, Trưởng lão cùng các đệ tử đi lên sân bảo tháp **Kaṇḍakacetī**. Sau khi đảnh lễ bảo tháp, khi Ngài đang đứng dưới một gốc cây Tì-pà (tì-bà) xanh mát, thì vị Trưởng lão **Piṇḍapātika** đã đến thỉnh vấn về những vấn đề liên quan đến bài **Kinh Kāḷakārāma**.

Lúc bấy giờ, vì cũng là ngày cần thuyết pháp cho đại chúng, và để giải đáp luôn câu hỏi của Trưởng lão **Piṇḍapātika**, Ngài đã bảo sắp xếp pháp tòa. Sau đó, Ngài bước lên pháp tòa dưới gốc cây Tì-pà, và để bắt đầu thuyết giảng về bài **Kinh Kāḷakārāma** theo lời thỉnh cầu, trước tiên Ngài đã diễn xướng một bài kệ mở đầu pháp thoại.

## PAGE 298

“**Kāḷakārāma Sutta**” là một bài kinh trong Tăng Chi Bộ, chương Bốn Pháp (Catukka Nipāta), thuyết về công đức, ân đức và trí tuệ của Đức Thế Tôn.

[Bài kinh **Kāḷakārāma** này được Ngài Đại đức **Kāḷabuddharakkhita** thuyết giảng khi đang trú tại hồ đá “**Kāḷedaka Pokkharaṇī**” hoặc “**Kāḷasilā Pokkharaṇī**”. Gần đó là nơi mọc loại cây **Kāḷatimbara** — một loại cây hồng (timbara) có thân đen huyền đặc biệt. Địa điểm này nằm ở phía Tây Nam của ngọn núi **Cetiya** (còn gọi là núi Missaka), theo Địa lý Phật giáo trang 170. Trong Chú giải chỉ gọi chung là “**Tissā**”. Cuốn D.P.N. cho rằng tên gọi đúng phải là Saddhātissa.]

## Cúng dường đất nước sau thời Pháp

Đức vua Tissa, nhờ vị Sa-di thị giả của Ngài Đại đức đến báo tin kịp thời, đã rời hang động của mình và lặng lẽ đứng ở phía cuối hội chúng để lắng nghe chánh pháp.

Đó là một thời pháp ban đêm, hội chúng đã say sưa lắng nghe cho đến khi rạng đông. Khi trời vừa sáng cũng là lúc thời pháp kết thúc, Ngài Đại đức đọc lời kết: “**Idamavoca Bhagavā** — Những lời này đã được Đức Thế Tôn, bậc Chánh Biến Tri, bậc hữu ngươn hạnh, thuyết giảng như vậy”. Ngay khi ấy, toàn thể hội chúng đồng thanh vang rền tiếng Sa-thu (Lành thay). Từ phía cuối hội chúng, Ngài Đại đức nghe thấy một tiếng Sa-thu rất trầm hùng và đầy hỷ lạc. Khi quan sát kỹ, Ngài nhận ra đó chính là Đức vua Tissa.

**Ngài Đại đức**: Tâu Đại vương, Ngài đã đến đây từ lúc nào?

**Đức vua**: Bạch Ngài, trẫm đã đến ngay từ khi Ngài vừa dứt bài kệ khai kinh. (Đức vua ngụ ý rằng mình đã đứng suốt cả đêm ở cuối hội chúng để nghe pháp).

**Ngài Đại đức**: Tâu Đại vương, Ngài đã làm được một việc mà người bình thường khó lòng làm được.

**Đức vua**: Bạch Ngài, việc này vẫn chưa phải là khó làm. Kể từ khi Ngài bắt đầu thuyết pháp cho đến tận lúc bình minh

## PAGE 299

kết thúc thời pháp này, nếu trong tất cả những lời vàng ngọc ấy mà trẫm có một sát-na nào lơ là, không chú tâm ghi nhớ dù chỉ một chữ, một câu, thì đừng nói chi đến việc cai quản cả hòn đảo Sīhaḷa (Sri Lanka) rộng lớn này, ngay cả đến một tấc đất bằng độ dài một cây lao, trẫm cũng không xứng đáng làm người chủ tể, bạch Ngài. (Đức vua thậm chí đã nói lời thề nguyện như vậy. Vì bài kinh Ngài Đại đức thuyết về Ân Đức Phật nên vua vô cùng tịnh tín, muốn được nghe thêm về tầm vóc trí tuệ và ân đức vô lượng của Đức Thế Tôn qua khả năng thuyết giảng tài tình của Ngài Đại đức). Bạch Ngài, Ân Đức của Đức Thế Tôn chỉ chừng ấy thôi, hay vẫn còn những Ân Đức khác nữa?

**Ngài Đại đức**: Tâu Đại vương, những Ân Đức mà bần tăng vừa thuyết giảng so với những Ân Đức chưa nói đến thì những điều chưa nói còn nhiều vô số kể, không thể đo lường được, tâu Đại vương.

**Đức vua**: Bạch Ngài, xin Ngài hãy cho một ví dụ.

**Ngài Đại đức**: Được lắm, tâu Đại vương. Ví như trong một cánh đồng lúa sạ rộng một ngàn mẫu (khoảng hơn mười ngàn mẫu Anh), số hạt lúa trên một bông lúa so với số hạt lúa còn lại trong cả cánh đồng là vô cùng ít ỏi. Cũng vậy, những Ân Đức chưa thuyết giảng nhiều đến mức không thể so sánh được như ví dụ ấy, tâu Đại vương.

**Đức vua**: Bạch Ngài, xin hãy cho trẫm thêm một ví dụ nữa.

**Ngài Đại đức**: Tâu Đại vương, khi nước sông Hằng đầy tràn sát bờ, nếu ta dùng một đầu lỗ kim để múc nước, thì lượng nước dính trên đầu kim so với lượng nước còn lại trong dòng sông Hằng là vô cùng ít. Cũng vậy, Ân Đức chưa thuyết giảng nhiều vô lượng vô biên so với những gì vừa được thuyết, tâu Đại vương.

**Đức vua**: Bạch Ngài, xin hãy cho trẫm thêm một ví dụ nữa.

**Ngài Đại đức**: Được rồi, tâu Đại vương. Ở thế gian này có loài chim nhỏ gọi là chim sẻ bụi (hoặc chim chích), phải không Đại vương?

## PAGE 300

**Đức vua**: Bạch Ngài, đúng là có loài chim ấy.

**Ngài Đại đức**: Khi con chim sẻ nhỏ ấy tung cánh bay lượn giữa bầu trời, thì khoảng không gian mà đôi cánh nó che phủ được là nhiều, hay không gian mà nó chưa chạm tới là nhiều, tâu Đại vương?

**Đức vua**: Bạch Ngài, không gian mà đôi cánh chim nhỏ che phủ được chỉ là một phần cực nhỏ, còn không gian mà nó chưa thể chạm tới mới là mênh mông vô tận.

**Ngài Đại đức**: Tâu Đại vương, cũng giống như ví dụ đó, Ân Đức của Đức Thế Tôn còn lại chưa được thuyết giảng cũng mênh mông như bầu trời không thấy bờ bến, không thấy điểm tận cùng vậy.

**Đức vua**: Bạch Ngài, Ngài đã đưa ra một ví dụ tuyệt vời khi so sánh với bầu trời vô tận. Trẫm vô cùng kính ngưỡng Ngài. Trẫm thấy mình không có khả năng nào để đền đáp xứng đáng cho thời pháp cao thượng của Ngài. Nay, trẫm xin dâng cúng vương quyền cai trị cả hòn đảo Sīhaḷa rộng một trăm do-tuần này lên Ngài. Đây chính là lễ vật cúng dường pháp cao quý nhất của một kẻ tôi tớ hèn mọn là trẫm, bạch Ngài.

**Ngài Đại đức**: Tâu Đại vương cao quý, việc làm này xuất phát từ tâm tịnh tín và ý nguyện thiện lành của Ngài. Về phần bần tăng, xin được trao lại vương quyền mà Ngài vừa dâng cúng về lại chính Ngài. Bần tăng chỉ mong muốn Đại vương hãy tiếp tục cai trị đất nước theo đúng Chánh Pháp.

---

(Chú giải Trung Bộ Kinh 2, trang 194-6. Phần chú giải bài kinh **Mahāsaccaka**.)

## PAGE 301

### Đại đức Mahā-Sīva rơi lệ vì chưa chứng đắc pháp đặc biệt

Bậc Trưởng lão nổi danh là “Trưởng lão Mahā-Sīva ngụ tại hang núi gần làng (Gāmanta-pabbhāra)”. Ngài trú ngụ tại đại tự viện Tissa-Mahā-Vihāra ở làng Mahāgāma, nổi tiếng bậc nhất trong việc truyền dạy Pali, Attha-kathā và các tạng Kinh điển cho chư Tăng đến từ mười tám đại bộ phái, mỗi nhóm có từ một đến hai ngàn vị.

Trong các bộ chú giải Nikāya, tại nhiều nơi, các vị soạn giả Attha-kathā cũng đặc biệt lưu tâm và xem trọng khi ghi chép rằng: “Trưởng lão Mahā-Sīva đã quyết định như thế này tại địa điểm này”. (Trong Dī-ṭṭh 2, 133; Dī-4-3, 66 cũng sử dụng danh xưng Trưởng lão Dīgha-bhāṇaka Tipitaka Mahā-Sīva).

Nhờ tiếp nhận những lời giáo huấn về Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti) của vị Trưởng lão này mà số người chứng đắc A-la-hán lên đến khoảng ba mươi ngàn vị (trong Aṃ-ṭṭh 1, 31 ghi là sáu mươi ngàn). Trong số các đệ tử đã chứng đắc A-la-hán đó, có một vị Trưởng lão, mỗi khi hướng tâm đến đạo quả mình đã đạt được, vị ấy cảm thấy niềm hỷ lạc và an tịnh vô biên, nên luôn nhớ ơn và tri ân vị Thầy đã chỉ dạy cho mình hạnh phúc ấy.

Khi vị ấy quán xét rằng: “Những ân đức và hạnh phúc này của ta thật là vô lượng. Không biết vị Thầy của ta có được những ân đức và hạnh phúc này hay không?”, vị ấy nhận ra rằng vị Thầy Trưởng lão của mình vẫn còn là một phàm phu. Vị ấy suy nghĩ: “Ôi! Vị Thầy của chúng ta chỉ là nơi nương nhờ cho kẻ khác, nhưng lại chưa thể là nơi nương nhờ cho chính bản thân mình. Ta phải dùng phương tiện để giúp Thầy ta khởi lên sự kinh sợ (saṃvega) và tỉnh giác mới được”. Nghĩ đoạn, vị ấy lập tức dùng thần thông bay qua không trung đến gặp vị Trưởng lão.

## PAGE 302

### Đệ tử giáo giới bậc Thầy tinh thông kinh điển

Khi đến gần tự viện, vị ấy từ không trung hạ xuống, cung kính tiến đến gần và đảnh lễ vị Thầy Trưởng lão. Trong lúc vị ấy đang đảnh lễ:

**Thầy**: — Này hiền giả, ông đến có việc gì vậy?

**Đệ tử**: — Bạch Thế Tôn (bạch Thầy), nếu được Ngài cho phép, con đến đây để xin học một bài pháp tùy hỷ (anumodanā).

**Thầy**: — Này hiền giả, số đệ tử đang theo học rất đông. Ta không thể dành thời gian cho ông được.

**Đệ tử**: — Bạch Ngài, nếu không có thời gian riêng, con xin được thưa hỏi lúc Ngài đang đứng ở giảng đường khi chư Tăng tụ họp để đi khất thực.

**Thầy**: — Ở nơi đó cũng có những vị khác đang thỉnh vấn như vậy rồi.

**Đệ tử**: — Bạch Ngài, vậy con xin thưa hỏi trên đường Ngài đi khất thực.

**Thầy**: — À... ở đó cũng có người hỏi rồi.

**Đệ tử**: — (Vị đệ tử lần lượt xin thời gian vào các lúc: khi đắp y, khi đặt bát vào túi, khi uống cháo, khi vừa ra khỏi làng khất thực, trên đường trở về chùa, khi vừa dùng bữa xong, lúc ban trưa, lúc rửa chân trước khi đi ngủ, lúc sắp rửa mặt khi thức dậy, khi vừa rửa mặt xong, lúc đang ngồi nghỉ tạm trong phòng... Nhưng lần nào vị Thầy cũng phán rằng “Ở đó cũng đã có người thưa hỏi rồi”).

“Bạch Ngài, thời gian từ lúc rửa mặt xong đến khi vào phòng tăng, khoảng chừng ba bốn lần ngồi nghỉ khi nước còn ấm, lẽ ra phải là thời gian để hướng tâm tu tập. Với đà này, không biết Ngài có còn kịp thời gian để chết hay không? Ngài giờ đây giống như một chỗ dựa lớn cho thiên hạ; người khác thì nương tựa được vào Ngài, còn bản thân Ngài lại chẳng có cơ hội nương tựa chính mình. Con cũng không còn muốn học bài pháp tùy hỷ từ Ngài nữa đâu, bạch Ngài.”

Nói đoạn, vị đệ tử lập tức nhập vào Thiền Thắng trí (với ý định giáo giới rằng làm Sa-môn thì phải nên như thế này) rồi từ nơi đó bay vút lên không trung. Khi ấy, Trưởng lão Mahā-Sīva mới chợt tỉnh ngộ:

## PAGE 303

“Thì ra, vị ấy đến đây không phải để học đạo, mà là để nhắc nhở và giáo giới mình”. Ngài quyết định dừng việc dạy học cả ngày lẫn đêm. Sáng hôm sau, Ngài mang theo y bát, rời khỏi đại tự viện Mahā-Tissa-Vihāra để dấn thân vào lộ trình thực hành giáo pháp.

Ngài chỉ mang theo một vị Sa-di đệ tử đang theo học để giúp dọn dẹp hang núi gần làng, đồng thời Ngài cũng thọ trì mười ba hạnh đầu-đà (dhutaṅga).

Ngài nghĩ thầm: “Với một người như ta, việc đạt được quả vị A-la-hán chẳng có gì khó khăn, chỉ cần hai ba ngày là chứng đắc rồi trở về chùa thôi”. Vì tin chắc như vậy nên Ngài cũng chẳng nhắn nhủ gì thêm với các đệ tử khác.

Hôm đó là ngày 13 tháng Tư (tháng Āsāḷha). Trong hang núi, vị đệ tử đã trải sẵn một chiếc chõng (giường thấp) cho Ngài. Ngày rằm đến, nhưng pháp đặc biệt vẫn chưa chứng đắc.

“Ồ... ta cứ ngỡ chỉ một hai ngày là đắc quả A-la-hán. Thôi được rồi... ta sẽ xem ba tháng an cư này như là ba ngày và cố gắng hết sức. Mãn hạ rồi sẽ biết.” Với tâm niệm như thế, Ngài trú ngụ an cư trong chính hang núi đó. Dù luôn nỗ lực với ý chí “hôm nay phải đạt được”, nhưng ba tháng trôi qua, mùa an cư đã mãn mà Đạo Quả và pháp đặc biệt vẫn chưa xuất hiện. Vào những ngày gần lễ Tự tứ (Pavāraṇā) cuối mùa hạ:

“Ta sẽ trở về đại tự viện Mahā-Tissa và thực hành lễ Tự tứ thanh tịnh nhất với tư cách là một vị A-la-hán. Ta sẽ không hành lễ với tư cách một phàm phu”. Ngài đã tự quyết tâm như vậy. Thế nhưng, khi ngày lễ Tự tứ thực sự đến:

“Ôi... Ta đến đây vì ngỡ rằng việc Sa-môn chỉ hai ba ngày là xong, vậy mà đã ba tháng trôi qua vẫn chẳng đắc được pháp gì. Chắc hẳn các bạn đồng tu của ta đều đang thực hành lễ Tự tứ với tư cách là những bậc Thánh A-la-hán cả rồi”. Nghĩ đến đó, Trưởng lão Mahā-Sīva chỉ còn biết để những dòng lệ tuôn rơi lã chã.

### Hạnh đầu-đà không nằm có khó chăng?

“Có lẽ vì lúc đi ngủ ta còn rửa chân, còn nằm nghỉ trên chõng nên mới không chứng được Đạo Quả. Thôi được... kể từ hôm nay cho đến khi chưa đắc quả A-la-hán, ta sẽ không đặt lưng xuống chiếc chõng này. Vì không đi ngủ nên cũng chẳng cần phải lo việc rửa chân."

## PAGE 304

Vừa khi khởi ý định muốn có nhiều thời gian tu tập, ít bận rộn việc vặt, vị Đại trưởng lão liền bảo người khác gấp chõng lại. Ngài không dùng oai nghi nằm, không chỉ là không ngủ, mà đến cả việc ngả lưng cho giãn nương cũng không làm, ngài chỉ luân chuyển giữa ba oai nghi đi, đứng, ngồi, nỗ lực tu tập quán chiếu liên tục ngày đêm không ngừng nghỉ.

Dù nỗ lực tinh tấn lớn lao như vậy, nhưng ròng rã suốt 29 năm trôi qua, ngài vẫn chưa đắc được pháp đặc thù Đạo Quả nào cả. Suốt 29 năm, cứ mỗi khi đến ngày 1 tháng 9 âm lịch (sau rằm tháng Tháp-tự-di - Thadingyut), vào ngày lễ Tự tứ (Pavāraṇā), ngài lại rơi lệ.

Việc suốt 30 năm không chỉ không ngủ mà đến cả việc ngả lưng, nằm nghỉ cũng không làm, đó chính là thực hành hạnh đầu đà **Nippajjaka-dhutaṅga** (Hạnh không nằm). Hàng cư sĩ cũng có thể thực hành hạnh này.

Việc sống không nằm không ngủ tưởng chừng là một việc làm cực kỳ khó khăn và khắc nghiệt, nhưng trên thực tế không khó như tưởng tượng. Đây không gọi là Khổ hạnh áp chế thân (Attakilamatha), mà chính là Thánh đạo **Chánh tinh tấn** (Sammā-vāyāma).

Nghỉ ngơi hay ngủ nghỉ vốn là để cho thân (danh sắc) vốn đã nóng nảy, xao động suốt cả ngày được nghỉ ngơi, tiếp thêm sự mát mẻ. Giống như xe cộ hay máy móc vận hành nhiều dặm, nhiều giờ cần phải được nghỉ ngơi để hạ nhiệt vậy.

Con người từ khi mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn, toàn thân luôn phải chịu sự thiêu đốt. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý không có lấy một chút nghỉ ngơi. Luôn bị các ngoại trần nóng bỏng cọ xát và thiêu đốt liên tục. “Cakkhusmiṃ ādittaṃ = Mắt bị thiêu đốt... sabbasmiṃ ādittaṃ = toàn thân bị thiêu đốt.”

Mọi người thường nghĩ rằng nhìn ngắm hay nghe ngóng là lạc thú nên suốt ngày mải mê lao theo các cảnh trần tầm thường. Họ không biết đó là sự nóng nảy. Với những người đó, chẳng mấy chốc sẽ cần đến sự mát mẻ, cần phải ngủ nghỉ. Nếu không được tiếp sự mát mẻ, họ có thể bị thiêu rụi mà chết. Còn đối với các hành giả, suốt 24 giờ họ luôn sống trong sự mát mẻ của **Phỉ** (Pīti), **Lạc** (Sukha), **Khinh an** (Passaddhi). Vì đã tràn đầy sự mát mẻ nên họ không còn cần nghỉ ngơi, hạ nhiệt hay ngủ nghỉ nữa.

## PAGE 305

Dù mọi người có nghĩ theo cách mình muốn như: “Sẽ khổ đấy, sẽ bệnh đấy, hay liệu có chết không?”, nhưng điều Đức Phật dạy chỉ thuần túy là để đưa đến an lạc.

Đại trưởng lão Mahāsīva đã nỗ lực tu tập ngày đêm với hạnh **Nippajjaka-dhutaṅga**, cho đến năm thứ 30, vào ngày lễ Tự tứ, ngài vẫn chưa đắc được pháp đặc thù nào...

Ngài lại suy nghĩ: “Ôi... ta tu tập đã tròn 30 năm rồi. Thật sự vẫn chưa đắc được **Quả A-la-hán** sao, thật là khó khăn quá. Nếu nỗ lực đến mức xả bỏ cả mạng sống thế này mà vẫn chưa được, thì có lẽ kiếp này ta không còn hy vọng đắc Đạo Quả nữa. Ta sẽ không thể cùng chư vị đồng phạm hạnh thực hiện một lễ Tự tứ thanh tịnh với tư cách là một vị A-la-hán nữa rồi.” Nghĩ vậy, lần thứ 30, ngài lại rơi vào nỗi đau buồn cùng cực và khóc nức nở.

### Vị Thiên nữ khóc cùng Đại trưởng lão

Cách nơi Đại trưởng lão ở không xa, bên cạnh một hang núi, có một vị thiên nữ cũng đang đứng khóc giống như Đại trưởng lão Mahāsīva vậy. Nghe thấy tiếng khóc đó, ngài hỏi:

Trưởng lão: Này... ai đang khóc ở gần đây thế?

Thiên nữ: Bạch Ngài, con là một thiên nữ ạ.

Trưởng lão: Tại sao nhà ngươi lại đến đây khóc vậy?

Thiên nữ: Bạch Ngài, con thấy Ngài khóc nên con nghĩ rằng nếu khóc mà cũng đắc được Đạo Quả thì con cũng khóc để mong đắc được hai hay ba tầng Đạo Quả gì đó ạ.

Lúc đó, Đại trưởng lão vừa hổ thẹn, vừa tỉnh ngộ:

“Này Mahāsīva, hãy xem kìa... ngay cả thiên nữ cũng đang chế giễu ông. Ông hãy tự xét xem hành vi này có xứng đáng với ông không?” Ngài liền buông xả tâm tư, đoạn trừ nỗi đau buồn và sự khổ tâm (**Nirāmisa-dukkha** - Khổ không liên hệ đến dục, **Nekkhammasita-domanassa** - Ưu phiền liên hệ đến ly dục).

## PAGE 306

၂၆၃

Đó là đêm mồng 1 tháng 9 âm lịch, vào lúc canh đầu, ánh trăng sáng tỏ khiến lòng người cảm thấy thư thái, an tịnh. Ngài đưa mắt nhìn lên vầng trăng tròn đầy đang tỏa sáng rạng ngời giữa bầu trời trong vắt, không một gợn mây hay bụi bặm, phía trên hang núi nơi ngài tu tập.

Ngài thầm so sánh trong tâm: “Ôi... giữa vầng trăng này và giới hạnh của ta, cái nào sẽ trong sạch và rạng rỡ hơn?”

Ngài quán xét: “Vầng trăng dù tỏa sáng diệu kỳ nhưng vẫn còn vết thỏ đen mờ ảo. Còn **Tứ thanh tịnh giới** (Catupārisuddhi-sīla) của ta, kể từ khi xuất gia cho đến tận hôm nay, thật sự trọn vẹn, không tỳ vết, không hoen ố, hoàn hảo và trắng trong vô cùng.” Vừa quán xét như vậy, các tâm **Phỉ** (Pīti) và **Hỷ** (Somanassa) liền phát khởi mãnh liệt, dồn dập trong lòng.

Với tư cách là một vị Đại trưởng lão lãnh đạo Tăng-già (Saṅghanāyaka) có trí tuệ chín muồi, ngài đã gạt bỏ niềm hỷ lạc vừa phát sinh đó để tập trung quán chiếu bản chất sinh diệt của các danh sắc ngay nơi tự thân. Và ngay trong đêm đó, ngài đã đắc quả A-la-hán cùng với bốn pháp **Phân tích đạo** (Paṭisambhidā). (Chú giải Trường Bộ Kinh 2, 288 - mở đầu kinh **Sakkapañha-sutta**; Chú giải Tăng Chi Kinh 1, 31).

Vì đã đoạn giảm phiền não bằng 13 hạnh đầu đà nên ngài từng nghĩ rằng: “Ngày hôm nay mình sẽ đắc **Quả A-la-hán**”. Tuy nhiên, vì ngài là một vị Đại trưởng lão có kiến thức học thuật (Pariyatti) uyên thâm (giống như ngài **Sāriputtarā**), nên ngài đã quán chiếu và xem xét một cách rất rộng rãi và chi tiết, vì thế dù giới hạnh đã viên mãn nhưng vẫn chưa thể đắc pháp ngay được.

(Câu chuyện này trong Chú giải Tăng Chi Kinh được dùng làm ví dụ cho việc đoạn trừ phiền não **Năm triền cái** (Nīvaraṇa) nhờ vào hạnh đầu đà. Những suy nghĩ như “Có lẽ kiếp này mình không đắc được pháp đặc thù nữa” thường dẫn đến sự khổ tâm và thất vọng liên quan đến tu tập. Điều này được gọi là “**Nirāmisa-dukkha**” hay “**Nekkhammasita-domanassa**”. Còn trong Chú giải kinh **Sakkapañha-sutta**, câu chuyện này được đưa ra làm ví dụ minh chứng cho loại khổ và ưu phiền đó.)

Đại trưởng lão đã trải qua suốt ba mươi năm chỉ sống với ba oai nghi: ngồi, đứng và đặc biệt là đi kinh hành, nên bàn chân của ngài có lớp da chai sần, nứt nẻ trông rất xót xa.

## PAGE 307

Khi đi ngủ, vị ấy phải rửa chân. Khi rửa chân, người ta thường có thói quen dùng mảnh chậu đất nung để kỳ cọ, nhưng vị đại trưởng lão thì không ngủ, cũng không rửa chân; ngài thực hành để các mối bận tâm và gánh nặng giảm bớt đến mức tối thiểu, đặc biệt là đôi bàn chân là nơi chịu đựng gian khổ của công hạnh thiền định nhiều nhất.

Thậm chí, ngay cả những đứa trẻ từ ngôi làng khất thực (gocara-gāma) gần chùa khi trêu đùa nhau thường thào đầu, nguyền rủa rằng: "Cầu cho đôi chân của mày sẽ trở nên giống như chân của đại trưởng lão **Mahāsīva** vậy."

### Thiên chủ Sakka đến rửa chân

Vào canh đầu đêm đại lễ **Pavāraṇā** (Tự tứ) năm thứ ba mươi, sau khi đại trưởng lão đã hoàn tất phận sự Sa-môn cùng với bốn Trí phân tích (**Paṭisambhidā**), vì tuổi đã cao và tâm nguyện đã viên mãn, ngài nghĩ rằng: "Ta hãy duỗi lưng nghỉ ngơi một chút", rồi ngài trải chiếc giường thấp vốn đã được gấp lại và cất đi suốt ba mươi năm qua.

Vì muốn rửa đôi chân chưa từng được rửa một lần nào trong suốt ba mươi năm, ngài đi đến đứng ở đầu hành lang nơi có bệ rửa chân. Lúc bấy giờ, các vị đại đệ tử A-la-hán khắp đảo Lankā cũng quán xét xem thầy của mình là đại trưởng lão **Mahāsīva** đã hoàn tất phận sự Sa-môn hay chưa, và họ thấy ngài đã xong phận sự, đang chuẩn bị rửa chân.

"Dù có các đại đệ tử cận tùng như chúng ta ở đây, nhưng để thầy mình tự mình rửa chân là điều không nên. Ta phải đi rửa chân cho thầy mới được", nghĩ vậy, ba mươi ngàn vị đại trưởng lão A-la-hán đệ tử từ trên không trung đồng loạt tề tựu đến ngay lập tức. Khi đến nơi, họ xin phép được rửa chân nhưng ngài không cho phép. Ngài phán bảo rằng đích thân ngài sẽ tự làm.

Lúc đó, Thiên chủ Sakka cũng có cùng ý định với các vị đại trưởng lão A-la-hán và cùng lúc đến nơi, thấy ngài đang từ chối không cho phép rửa chân, ông gọi nàng Sujātā đi cùng và đến ngay lập tức. Do có ba mươi ngàn vị đại trưởng lão tụ họp nên việc tiến lại gần đại trưởng lão **Mahāsīva** là không dễ dàng, vì vậy ông để Sujātā đi trước và nói:

## PAGE 308

"Xin chư Quý ngài hãy nhường đường, lánh sang một bên... vì ở đây có nữ nhân (mātugāma)", nhờ mưu kế đó ông tiến được vào bên trong, và khi đến gần đại trưởng lão, ông ngồi xổm xuống khẩn khoản xin được rửa chân.

"Này đạo hữu Sakka, chân của ta đã ba mươi năm nay chưa hề tẩy rửa. Chư thiên các ông vốn dĩ không chịu nổi mùi người, thường ghê tởm. Thậm chí đứng cách xa một trăm do-tuần mà các ông vẫn cảm thấy hôi thối như bị xác chó chết treo vào cổ... Vậy nên thôi đi, đừng rửa nữa, ta sẽ tự mình rửa." Khi ngài phán như vậy, Thiên chủ Sakka thưa rằng:

"Bạch Ngài, mùi của con người không đáng kể đâu ạ. Hiện nay, hương thơm giới hạnh của Quý ngài đã bay vượt qua cả sáu tầng trời nồng nặc đến tận đỉnh **Hữu Đỉnh** (bhavagga). Trong thế gian này không có mùi hương nào thơm ngát và bay xa hơn hương giới hạnh. Chính vì hương giới hạnh thơm ngát này mà bần đạo mới tìm đến đây." Nói rồi, ông dùng tay trái nắm lấy cổ chân, tay phải nghiêng lòng bàn chân của đại trưởng lão và kỳ cọ.

Đôi bàn chân của đại trưởng lão **Mahāsīva** bỗng trở nên mềm mại và êm ái như chân của một đứa trẻ nhỏ vậy.

### Có phải lòng bàn chân của mọi vị A-la-hán đều mềm mại?

Có một lần tại vùng thượng (Myanmar), người viết bài này cùng với người bạn đạo cư sĩ U Myo Myint, biên tập viên soạn thảo từ điển Pāli của Vụ Tôn giáo, đã đến đảnh lễ một vị Hòa thượng nổi tiếng là bậc A-la-hán. Nhờ phước duyên, chúng tôi được lưu lại một đêm và cùng với các đệ tử khác có cơ hội được hầu hạ (bóp chân) cho ngài.

Vì ngài đắp y che kín đến tận chân, và để không chạm trực tiếp vào thân thể ngài, chúng tôi phải trải những chiếc khăn tắm dài lên trên để hành lễ. Lúc đó U Myo Myint chợt nhớ đến chuyện về đôi bàn chân của đại trưởng lão **Mahāsīva**, với hiểu biết rằng "chân của các bậc A-la-hán mềm mại như trẻ nhỏ", nên đã nảy sinh ý định muốn nắm thử lòng bàn chân của Hòa thượng xem sao.

## PAGE 309

May mắn thay, ngài khẽ cử động chân khiến y và khăn lệch sang một bên, tạo cơ hội cho U Myo Myint chạm vào. Khi trở về, U Myo Myint nói: "Đúng thế đấy anh Htay Hlaing à." (Sự mềm mại này tuy rất hợp lý về mặt tự nhiên nhưng có nên coi đó là một quy luật chung (dhammatā) hay không thì không thể khẳng định chắc chắn được).

## Trưởng lão Maliyadeva chứng quả A-la-hán nhờ cúng dường vật thực khi đang học đạo

Việc học tập và giảng dạy kinh điển Pháp học (Pariyatti) cũng là một pháp thực hành làm giảm nhẹ phiền não. Trong lúc phiền não đang lắng xuống, nếu quán xét về Ba pháp ấn (lakkhaṇā) thì có thể dễ dàng đắc chứng Pháp đặc biệt, điều này đã được vị Tỳ-kheo trẻ **Maliyadeva** thời Sihala chứng minh.

Trưởng lão **Maliyadeva** khi đó mới chỉ có ba tuổi hạ. Trong khi đang theo học Pháp học tại đại tự viện **Kallalallā Maṇḍalārāma**, một mặt vị ấy cũng nỗ lực tác ý vào pháp hành ở mức độ nhất định. Một ngày nọ, khi đang đi khất thực tại Kallarā với tâm niệm rải tâm Từ và chánh niệm không phóng dật, một bà thiện tín nhìn thấy phong nghi của Trưởng lão **Maliyadeva**, sanh tâm tịnh tín và dâng cúng cháo (yāgu).

Khi thọ dụng cháo, ngài cũng thọ dụng với tâm quán tưởng nên bà thiện tín càng tịnh tín hơn. Sau khi dùng xong, ngài chúc phúc:

"**Sukhī hotu** = Chúc bà thân tâm an lạc.
**Dukkhā muccatu** = Chúc bà thoát khỏi mọi khổ đau."

Với lời chúc tâm Từ đó, bà thiện tín quý mến ngài như con đẻ. Bà thỉnh ngài vào nhà và dâng cúng những món vật thực ngon lành. Sau đó ngài lại chúc phúc như thường lệ.

"Thưa sư tử, ngài đang trú ngụ tại ngôi chùa nào?"
"Sư đang học đạo tại chùa lớn **Maṇḍalārāma**."
"Ồ, quý hóa quá bạch Ngài. Trong suốt thời gian Ngài còn theo học đạo, xin hãy đến nhà bần đạo để thọ nhận vật thực khất thực." Nói rồi bà đều đặn dâng cúng vật thực tại nhà mỗi ngày.

## PAGE 310

Mặc dù cả một mùa An cư trôi qua trong việc thọ thực khất thực hằng ngày, nhưng Ngài không hề thuyết giảng bất cứ bài Pháp nào, chỉ nói rằng: "**Sukhi hotu, dukkha mucatu**" (Chúc thí chủ được hạnh phúc, thoát khỏi khổ đau) rồi trở về như thường lệ. Tuy nhiên, giữa Ngài và gia đình thí chủ không phải là thân quyến, không có bất kỳ ân nghĩa nợ nần nào trước đó, cũng không có bất kỳ mong cầu tư lợi nào; Ngài nhận thấy trách nhiệm lòng mình càng tăng thêm khi thọ nhận vật thực được dâng cúng hằng ngày với tâm tịnh tín thuần khiết đối với Giáo pháp.

Ngài quyết tâm rằng: "Ta sẽ thọ thực sao cho xứng đáng, sẽ nỗ lực hành trì để người dâng cúng nhận được quả báu lớn lao nhất."

Trong khắp thế gian này, chỉ có chư Tăng mới là những bậc có thể làm cho sự tôn kính và cúng dường của hàng cư sĩ trở nên xứng đáng và có kết quả đại phước báu. Điều này được gọi là **Sāmīcipaṭipanno** (Chánh hạnh). Bằng cách nỗ lực tu tập cho đến khi tận diệt phiền não và đắc quả A-la-hán, vị Tỳ-kheo chính là đang đền đáp ân đức vật thực, trợ giúp cho hàng cư sĩ đạt được lợi ích cao thượng. (Hãy xem thêm về trưởng lão Mahāmitta).

Vị Tỳ-kheo trẻ Maliyadeva, khi thấu hiểu đức tin của bà thí chủ dâng cơm, đã phát nguyện sẽ hỗ trợ bà hết lòng. Kể từ ngày đầu tiên nhận vật thực, một mặt Ngài chuyên tâm học tập Giáo pháp, mặt khác Ngài nỗ lực thực hành thiền quán với tâm tinh tấn mãnh liệt. Đến khi kết thúc mùa An cư và làm lễ Tự tứ (**Pavāraṇā**), Ngài đã đắc quả A-la-hán cùng với bốn tuệ phân tích (**Paṭisambhidā**).

Theo truyền thống của các bậc xuất gia, lễ Tự tứ được tổ chức vào ngày mãn hạ (tháng Thaco). Vào ngày đó, hàng cư sĩ thường mang theo phẩm vật cúng dường đến chùa để làm lễ cúng dường. Khi ấy, vị trưởng lão trụ trì chùa Maṇḍalārāma đã bảo rằng:

— "Này Hiền giả Mahādeva, hôm nay hàng cư sĩ sẽ quy tụ đông đảo tại chùa. Hiền giả hãy thuyết giảng Giáo pháp để ban phước cho họ." (Chúng ta cũng nên tịnh tín trước trí tuệ của vị trưởng lão trụ trì này).

Các vị Sa-di, trong lúc đi khất thực, đã báo tin và cung thỉnh bà thí chủ dâng cơm đến nghe vị Tỳ-kheo trẻ Maliyadeva thuyết Pháp:

— "Này bà thí chủ, hôm nay con trai của bà sẽ thuyết Pháp tại chùa. Mời bà đến chùa để thính Pháp."

## PAGE 311

— "Các chú Sa-di đừng trêu chọc tôi... Pháp không phải ai cũng có thể thuyết được. Con trai tôi đi tu tuy đã lâu, nhưng sư ấy chỉ biết nói có mỗi hai câu: '**Sukhi hotu, dukkha mucatu**' mà thôi."

— "Không phải đâu bà thí chủ, dù biết hay không biết, bà cứ cố gắng đến chùa nghe Pháp một lần xem sao."

Nghe lời báo tin và khích lệ của các vị Sa-di, bà thí chủ đã chuẩn bị hoa, hương và các phẩm vật cúng dường để đến chùa. Bà ngồi ở phía ngoài cùng của hội chúng với tâm trạng vừa hồi hộp vừa lo lắng, không biết con trai mình sẽ thuyết Pháp như thế nào.

Sau khi các vị giảng sư lần lượt thuyết giảng xong phần của mình vào buổi chiều, vị Tỳ-kheo trẻ Maliyadeva bước lên pháp tòa với phong thái trang nghiêm, thanh tịnh. Ngài cầm lấy chiếc quạt mà các vị Pháp sư thường dùng và bước lên tòa cao. Sau khi truyền Tam quy Ngũ giới như thường lệ, Ngài cân nhắc về bài Pháp sẽ giảng và quyết định thuyết về chính nội dung mà Ngài đã nói với bà thí chủ suốt cả mùa An cư.

(Lúc này mặt trời đã bắt đầu lặn. Vị trưởng lão trụ trì cùng chư Tăng, các vị Sa-di và hội chúng đã ổn định vị trí để lắng nghe và quan sát).

Lấy hai câu Pháp "**Sukhi hotu, dukkha mucatu**" làm cốt lõi, vị Tỳ-kheo trẻ Maliyadeva đã khéo léo đúc kết và khai triển rộng rãi dựa trên năm bộ Nikāya và Ba Tạng Thánh điển. Đêm càng về khuya, lời Pháp càng sâu sắc, khiến hội chúng nghe mãi không chán, không cảm thấy thời gian trôi qua.

Ngài đã trình bày về những nỗi khổ mà chúng sanh phải gánh chịu trong khắp vòng luân hồi (**Saṃsāra**), sau đó phân tích từng cấp độ hạnh phúc và sự giải thoát khỏi khổ đau của bậc Dự Lưu (**Sotāpanna**), bậc Nhất Lai (**Sakadāgāmi**), bậc Bất Lai (**Anāgāmi**). Cuối cùng, Ngài nhấn mạnh rằng khi chưa đạt đến quả vị A-la-hán (**Arahattaphala**) thì chưa thể hưởng trọn vẹn hạnh phúc và chưa thể nói là đã hoàn toàn thoát khỏi khổ đau. Ngài đã thuyết giảng một bài Pháp vĩ đại như một trận mưa lớn tưới tẩm tâm hồn người nghe.

Tất cả hội chúng đều thấu hiểu rằng hai câu "Chúc hạnh phúc, chúc thoát khổ" chính là những lời tu tập tâm Từ (**Mettā-bhāvanā**) vô cùng quan trọng, bao hàm trọn vẹn tinh hoa của Ba Tạng kinh điển.

## PAGE 312

(Chú giải Kinh Pháp Cú - tập 1, trang 333 - cũng có chép về việc Sa-di Vanavāsī Tissa đã thuyết về hai câu này suốt cả đêm. Điều này cũng đã được viết trong sách "Mettā-vāda").

Thời điểm bài Pháp kết thúc cũng vừa lúc ánh rạng đông xuất hiện ở phương Đông. Ngay khi bài Pháp vừa dứt, bà thí chủ dâng cơm cũng chứng đắc quả vị Dự Lưu.

(Về gương điển hình trong việc từ bỏ các chướng ngại đối với việc học Pháp, hãy xem thêm phần về Trưởng lão **Mahādhammarakkhita**. Thanh Tịnh Đạo - tập 1, trang 92).

### Thuyết giảng "Kinh Sáu Sáu" với kết quả thù thắng

Trong Trung Bộ Kinh, phần Uparipaṇṇāsa Pāḷi, có một bài kinh gọi là **Kinh Sáu Sáu** (Chachakka Sutta). (Majjhima Nikāya - tập 3, trang 327-335). Đức Phật đã thuyết bài kinh này cho chư Tỳ-kheo tại tu viện Jetavana.

Nội dung bài kinh thuyết về: Sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ và sáu ái.

Dựa trên câu Pāḷi: "**Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ, tiṇṇam saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā**" (Do duyên mắt và các sắc, nhãn thức sanh khởi. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái). Ngài đã thuyết giảng chi tiết về 6x6=36 pháp thực tính, chỉ rõ sự sanh diệt của chúng và vì sao không nên chấp thủ chúng là "ta" hay "của ta".

Khi bài kinh này được thuyết xong, có sáu mươi vị Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán. Khi Ngài Sāriputta thuyết bài kinh này, cũng có sáu mươi vị Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán. Khi Ngài Moggallāna thuyết bài kinh này, kết quả cũng tương tự. Ngay cả khi các vị Đại đệ tử khác trong số tám mươi vị A-la-hán thuyết về kinh này, mỗi lần đều có sáu mươi vị Tỳ-kheo chứng đắc quả vị tối hậu. Do đó, Kinh Sáu Sáu (Chachakka Sutta) là một bài kinh vô cùng đặc biệt và hy hữu trong Giáo pháp.

## PAGE 313

**၂၇၀**

Không chỉ dừng lại ở đó, vào thời kỳ Giáo Pháp hưng thịnh tại đảo quốc Srilanka (Sīhaḷa), khi Trưởng lão **Maliyadeva** (theo chú giải *Uparipaṇṇāsa* là Trưởng lão Māleyyadeva) thuyết giảng bài kinh **Chasakka Sutta** này bên dưới ngôi lầu bằng đồng (Lohapāsāda) chín tầng, đã có sáu mươi vị Tỳ-kheo chứng đắc quả vị A-la-hán.

Tại một nhà rạp lớn lợp bằng vải được dựng lên phía trước ngôi lầu bằng đồng để chư Tăng trú ngụ, khi ngài thuyết giảng bài kinh này, lại có thêm sáu mươi vị Tỳ-kheo nữa chứng đắc quả vị A-la-hán.

Trưởng lão **Maliyadeva** là bậc đại thần thông và có uy lực vô cùng to lớn. Khi ngài rời khỏi đại tự viện **Mahāvihāra** để đến trú ngụ tại núi Cetiyapabbata, ngài cũng đã thuyết giảng bài kinh này và kết quả là các vị Tỳ-kheo đều chứng đắc quả vị A-la-hán như trước.

Ngoài ra, tại các nơi như chùa **Sākiyavaṃsa**, chùa **Kūṭāli**, **Antarasobbha**, **Mutiṅgaṇa**, núi **Vātaka**, **Pācinayaraka**, **Dīghavāpi**, **Lokantara**, **Nomaṇḍalatal** (theo bản Sīmū là Gameṇḍavāla), Trưởng lão **Maliyadeva** cũng đều thuyết giảng bài kinh này, và tại mỗi nơi cũng đều có các vị Tỳ-kheo chứng đắc quả vị A-la-hán theo cách tương tự.

Khi Trưởng lão đi đến **núi Cittalapabbata**, có một vị đại Trưởng lão hơn sáu mươi hạ lạp đang trú ngụ tại chùa núi Cittalapabbata. Một ngày nọ, vị đại Trưởng lão ấy đi đến một hồ nước lớn tại núi Cittalapabbata, nơi có một bến tắm kín đáo gọi là bến **Kuruvaka** để tắm. Trưởng lão **Maliyadeva** cũng đi theo sau, khi đến gần vị đại Trưởng lão, ngài cung kính đảnh lễ và bạch rằng:

“Bạch Ngài, xin cho phép con được tắm cho Ngài.”

Vị đại Trưởng lão suy xét một lát: “Chà... người ta thường nhắc đến Trưởng lão **Maliyadeva**, không biết có phải là vị này không?” rồi ngài hỏi: “Này Hiền giả, có phải ông là vị **Trưởng lão Deva** mà mọi người hay nhắc đến không?”

“Bạch Ngài, đúng vậy ạ.”

“Này Hiền giả, ta đã hơn sáu mươi hạ lạp rồi. Dù thời gian dài như vậy, nhưng ta chưa từng cho phép bất cứ ai chạm vào thân mình, nhưng đối với Hiền giả, ta xin cho phép.” Nói rồi, ngài bước lên bờ hồ và cho phép Trưởng lão **Maliyadeva** được kỳ cọ và xoa bóp thân mình. Trưởng lão **Maliyadeva** đã hết lòng phục vụ vị đại Trưởng lão theo ý nguyện.

Ngày hôm đó vốn là ngày nghe thuyết Pháp, nên sau khi tắm rửa xong, vị đại Trưởng lão bảo rằng:

“Này Hiền giả **Deva**, hôm nay xin hãy ban cho chúng ta món quà Chánh Pháp.”

“Bạch Ngài, xin vâng.”

Sau khi nhận lời, vào lúc mặt trời lặn, chuông khánh được đánh lên theo truyền thống để thỉnh mời đại chúng đến nghe Pháp. Buổi thuyết pháp hôm ấy đặc biệt có sự tham dự của sáu mươi vị đại Trưởng lão đều trên sáu mươi hạ lạp.

Sau khi tụng phần dẫn nhập ngắn gọn, Trưởng lão **Maliyadeva** đã thuyết giảng chính bài kinh **Chasakka Sutta** này. Khi thời Pháp kết thúc, toàn bộ sáu mươi vị đại Trưởng lão ấy đều chứng đắc quả vị A-la-hán.

Tiếp đó, Trưởng lão **Maliyadeva** rời khỏi **núi Cittalapabbata** và đi đến các tự viện nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Srilanka như **Tissamahāvihāra**, **Nāgamahāvihāra**, **Kāḷakacchagāma**, **Kalyāṇīmahāvihāra**. Tại các tầng dưới và tầng trên của ngôi lầu tại các chùa Uposatha này, ngài đều lần lượt thuyết giảng bài kinh **Chasakka Sutta**. Tổng cộng tại sáu mươi sáu địa điểm ngài đi qua, cứ mỗi nơi thuyết giảng lại có sáu mươi vị Tỳ-kheo chứng đắc quả vị A-la-hán.

Ngay cả khi Trưởng lão **Tipiṭaka Cūḷanāga** tại chùa **Ambalakāla** thuyết giảng bài kinh này, hội chúng loài người trải rộng ba gāvuta (khoảng 12km), hội chúng chư Thiên trải rộng một do tuần (yojana), khi kết thúc thời Pháp, có một ngàn vị Tỳ-kheo chứng đắc quả vị A-la-hán. Trong số các chư Thiên đến từ khắp nơi, chỉ còn lại một số ít là phàm phu, còn phần lớn đều đắc chứng quả vị Thánh (Ariya).

Uy lực và sự tác động sâu sắc của bài kinh **Chasakka Sutta** thật đáng để chúng ta khởi tâm tịnh tín và ngưỡng mộ. (Chú giải kinh Trung Bộ 4, trang 246 - Phần giải thích kinh Chasakka và Phụ chú giải 3, trang 432.)

[Về câu chuyện của Trưởng lão **Maliyadeva**, có thể tìm thấy trong **Sīhaḷa Dhammavatthu** (Truyện Pháp đảo quốc Srilanka) các số 36, 46, 59. Xin hãy xem tiếp ở đó.]

## PAGE 315

## Trưởng lão Mahā Dhammarakkhita – Tấm gương về việc từ bỏ sự trì trệ trong nghiên cứu kinh điển (Ganthapalibodha)

Tại đảo quốc Srilanka, có một đại tự viện nổi tiếng tên là **Mahāvihāra**. Có một vị sư trẻ tên là Trưởng lão **Abhaya**, bậc thông suốt Tam Tạng (thường gọi là **Tipiṭaka Cūḷābhaya**). Dù chưa từng học qua các bản **Chú giải (Aṭṭhakatha)**, nhưng sau khi đã học xong các bộ Nikāya, vị này đã cho đánh trống thông báo giữa hội chúng rằng mình sẽ giải thích toàn bộ **Tam Tạng (Pīṭaka)**.

Khi ấy, các vị đại Trưởng lão trong Tăng chúng bàn tán rằng:

“Đây là phương pháp của vị thầy nào vậy? Hãy để vị ấy giảng dạy đúng theo truyền thống mà các vị thầy của chúng ta (**Mahāvihāra**) đã truyền lại. Nếu giảng dạy theo cách của các vị thầy khác (những người giải thích theo ý riêng), chúng ta không thể chấp nhận được.”

Vị Thầy tế độ (Upajjhāya) của Trưởng lão **Abhaya**, khi thấy đệ tử đến phục vụ mình, đã hỏi:

**Thầy**: “Này Hiền giả **Abhaya**, có đúng là con đã cho người đánh trống thông báo không?”
**Abhaya**: “Bạch Ngài, đúng vậy ạ.”
**Thầy**: “Để làm gì vậy?”
**Abhaya**: “Bạch Ngài, với mục đích là để giải thích rõ Tam Tạng ạ.”
**Thầy**: “Này Hiền giả **Abhaya**, các bậc thầy của chúng ta giải thích cụm từ (...) này như thế nào?”
**Abhaya**: “Bạch Ngài, các vị ấy giải thích cụm từ (...) như thế này ạ.”
**Thầy**: “Hửm...”

(Vị Thầy tế độ chỉ thốt lên “Hửm...” khiến Trưởng lão **Abhaya** phải thay đổi và trình bày theo các cách khác nhau đến ba lần, nhưng lần nào cũng chỉ nhận được sự phủ nhận “Hửm... Hửm...”. Sau đó vị thầy nói:) “Này Hiền giả **Abhaya**, chỉ có cách giải thích đầu tiên mà con nói mới đúng là truyền thống giảng dạy của các bậc thầy. Tuy nhiên, vì con không học trực tiếp từ các vị thầy nên con đã không thể đứng vững và khẳng định rằng 'Đây là cách giải thích theo truyền thống từ xưa đến nay'. Vậy nên, Hiền giả hãy đi đến chỗ các vị thầy để học tập thêm đi.”

## PAGE 316

“Bạch Ngài, con nên đi đến nơi nào và tìm bậc thầy nào ạ?”

“Phía bên kia sông Hằng, tại chùa Tulādhāra thuộc vùng Rohana, có một vị Đại trưởng lão tên là Mahā Dhammarakkhita. Ngài là bậc thông suốt và tinh thông trọn vẹn Tam Tạng Kinh Điển. Con hãy đi đến đó.”

Tuân lệnh thầy Tế độ, Trưởng lão Cūḷābhaya cùng năm trăm đệ tử lên đường. Khi đến nơi, Đại trưởng lão Mahā Dhammarakkhita hỏi mục đích đến đây, Ngài thưa rằng mình đến để nghe giảng giải về Chú giải bộ Pháp (Atthakathā Dhamma) để làm sáng tỏ Tam Tạng.

“Này hiền giả Abhaya... Đối với Kinh Trường Bộ (Dīgha Nikāya) và Trung Bộ (Mazzhima Nikāya), vì thỉnh thoảng có người hỏi han nên ta vẫn còn ghi nhớ. Riêng các bộ Nikāya còn lại, ta đã không xem lại suốt ba mươi năm qua. Tuy nhiên, hiền giả có thể đến gặp ta vào ban đêm để đọc tụng lại phần Chánh tạng (Pāḷi). Đến ban ngày, ta sẽ giảng giải phần Chú giải (Atthakathā) cho hiền giả.” Nói rồi, Ngài nhận lời dạy dỗ Trưởng lão Abhaya.

Vào ban đêm, Trưởng lão Cūḷābhaya đọc tụng các đoạn Chánh tạng cho thầy nghe; đến ban ngày, vị thầy dựa trên những phần Chánh tạng đã nghe đêm trước mà giảng giải phần Chú giải. Người dân trong vùng cũng dựng một ngôi lều lớn gần khuôn viên chùa để đến nghe Pháp hằng ngày.

Bằng cách thức này, sau khi việc dạy và học hoàn tất, Đại trưởng lão Mahā Dhammarakkhita — bậc thông suốt Tam Tạng — bước xuống khỏi tòa cao, ngồi trên một tấm chiếu trải dưới đất trước mặt đệ tử và nói:

“Này hiền giả Abhaya... Xin hiền giả hãy hướng dẫn pháp hành thiền định (Kammaṭṭhāna) cho ta.”

“Bạch Ngài... Ngài đang nói gì vậy ạ? Con chẳng phải là một học trò đang nương nhờ sự dạy dỗ của các bậc thầy như Ngài sao? Những pháp mà các Ngài còn chưa thấu triệt, thì hạng học trò như con làm sao có thể thuyết giảng cho Ngài được?” Trưởng lão Cūḷābhaya cung kính thưa lại.

“Này hiền giả Abhaya... Lối thực hành của những bậc đã tự mình tu tập và thấu đạt chân lý, tức là con đường thiền định theo lộ trình chứng ngộ, vốn là một lãnh vực riêng biệt.” (**Añño esa akkho gatakassa paṭipattigamanena gata diṭṭhasaccassa maggo nāma**)

## PAGE 317

Theo lời thỉnh cầu của thầy, Trưởng lão Cūḷābhaya đã hướng dẫn pháp thiền định cho Ngài. Ngay lúc đó, người ta nói rằng Trưởng lão Cūḷābhaya vốn đã là bậc Dự Lưu. Sau khi truyền pháp thiền cho thầy, Ngài trở về và giảng dạy Chánh tạng Tam Tạng tại Lohapāsāda (Lâu đài Đồng).

Trong lúc đang giảng dạy, nghe tin Đại trưởng lão Mahā Dhammarakkhita đã viên tịch (Parinibbāna) tại vùng Rohana, Trưởng lão Cūḷābhaya bèn yêu cầu mang đến một bộ y mới sạch sẽ ngay trước mặt các tăng sinh đang theo học. Ngài thay y, rồi chắp tay hướng về phía phương trời nơi thầy mình vừa viên tịch mà cung kính đảnh lễ:

“Này các hiền giả... Thầy của chúng ta hoàn toàn xứng đáng với Đạo quả A-la-hán. (Không còn nghi ngờ gì về việc Ngài đã hoàn tất phận sự tu hành.) Thầy chúng ta là bậc vô cùng ngay thẳng và chân thật. Ngài là một bậc Trưởng lão kiệt xuất. Ngài từng ngồi trên tấm chiếu trải dưới đất trước mặt học trò của mình để cầu xin được chỉ dạy pháp thiền định. Này các hiền giả... Thầy chúng ta đạt được Đạo quả A-la-hán là điều vô cùng xứng đáng.” Ngài đã thốt lời tán thán thầy mình như vậy.

Đây quả là một tấm gương đáng ngưỡng mộ và noi theo cho chư Tăng đang theo đuổi Pháp học (Pariyatti). Công việc Pháp học là việc không thể bỏ qua, vì đó là nền tảng cốt lõi của Pháp hành (Paṭipatti). Tuy nhiên, không nên chỉ dừng lại ở Pháp học mà tự mãn. Khi đã bước vào lộ trình Pháp hành, không nên để việc học tập và giảng dạy kinh điển làm bận lòng mãi. Vì sự lo lắng về sách vở có thể gây trở ngại cho việc hành đạo, nên gọi là “Ganthapalibodha” (Chướng ngại do kinh điển). Do đó, bậc thầy Chú giải muốn nhắn nhủ rằng: “Phải lấy tấm gương của Đại trưởng lão Mahā Dhammarakkhita làm kim chỉ nam”.

Tương tự như vậy, Ngài cũng nêu ra thêm một vài dẫn chứng khác liên quan đến việc học Pháp học.

Trưởng lão Deva, một bậc thông suốt Trung Bộ Kinh, đã đến cầu học pháp thiền định với Trưởng lão Deva đang trú ngụ tại vùng Malaya—

## PAGE 318

Trưởng lão vùng Malaya hỏi: “Này hiền giả... Trong phần Pháp học, hiền giả đã rèn luyện được những gì?”

Trưởng lão Deva đáp: “Bạch Ngài, con đã thuộc lòng bộ Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya) ạ.”

Trưởng lão vùng Malaya nói: “Này hiền giả... Trung Bộ Kinh là bộ rất khó. Lúc đang tụng phần Mūlapannāsa (Ngũ thập kinh tập sơ) thì phần Mazzhimapannāsa (Ngũ thập kinh tập trung) lại xen vào. Khi đang rối với phần Mazzhima thì phần Uparipannāsa (Ngũ thập kinh tập hậu) lại ập đến... Này hiền giả, vậy thì làm sao hiền giả có thể chuyên tâm vào thiền định cho được?”

Trưởng lão Deva thưa: “Bạch Ngài, một khi đã nhận được pháp thiền từ Ngài, con sẽ không xem lại sách vở Pháp học thêm một lần nào nữa.”

Cứ như vậy, vị Trưởng lão thông suốt Trung Bộ này đã không còn đọc tụng hay ôn tập kinh điển suốt 19 năm trời, mà chỉ tập trung tối đa vào việc hành đạo (để tránh chướng ngại Ganthapalibodha). Đến năm thứ 20, Ngài đắc quả A-la-hán.

Dù đã bỏ bế việc đọc tụng Pháp học suốt hai mươi năm, nhưng sau khi hoàn tất phận sự tu hành, theo lời thỉnh cầu của đệ tử, Ngài đã giảng dạy lại mà không hề sai sót dù chỉ một từ hay một đoạn nhỏ từ đầu chí cuối.

Cũng tương tự như thế, Trưởng lão Nāga trú tại núi Karaṇḍiya cũng đã từ bỏ Pháp học suốt 18 năm. Sau đó, khi Ngài giảng dạy bộ Chất Ngữ (Dhātukathā) cho các đệ tử, họ đã đem đối chiếu với các tăng sinh tại thành Anuradhapura và nhận thấy rằng lời dạy của Trưởng lão Nāga không hề có một sai sót nhỏ nào.

Đối với những bậc đã viên mãn Pháp học, khi bước vào lộ trình Pháp hành, dù có tạm dừng hay quên lãng sách vở trong nhiều năm, thì theo nguyên lý “Samādhi paribhāvitā paññā” (Trí tuệ được định tâm nuôi dưỡng), định lực của Pháp hành sẽ làm cho trí tuệ Pháp học trở nên sắc bén và thâm sâu hơn gấp trăm ngàn lần so với trước kia.

Như đã nêu, Trưởng lão Cūḷābhaya dù chưa từng theo học các bộ Chú giải, nhưng đã dám đánh trống vang lừng khắp nước tuyên bố rằng: “Ta sẽ giảng giải các bộ Chú giải”, ngay cả khi các bậc Đại trưởng lão thuộc tông phái Mahāvihāra vẫn còn tại thế.

## PAGE 319

Nếu xem xét về năng lực, ta có thể nhận thấy rằng **định thuộc về thực hành (paṭipatti-samādhi)** có thể giúp khai mở rất nhiều cho **tuệ thuộc về học thuật (pariyatti-paññā)**. (**Thanh Tịnh Đạo**-1, 92-3).

### **Palibodha** - Mười loại chướng ngại lớn

Đối với các hành giả đã bước vào lộ trình hành trì **Thiền mục (kammaṭṭhāna)**, có mười loại chướng ngại lớn (**mười palibodha**) có thể gây trì trệ cho công phu. Mười loại đó là:

**Ávāsō ca kulaṃ lābhō, gaṇō kammañca pañcamaṃ.**
**Addhānaṃ ñāti ābādhō, ganthō iddhīti tē dasa.**

(**Thanh Tịnh Đạo**-1, 86).

1. **Ávāsa-palibodha** = Chướng ngại về trú xứ: Phải lo lắng, chăm sóc cho nơi ở, chùa chiền.

2. **Kula-palibodha** = Chướng ngại về quyến thuộc: Lo lắng cho các thí chủ, bạn bè hữu bang.

3. **Lābha-palibodha** = Chướng ngại về lợi dưỡng: Lo lắng về việc nhận được vật phẩm. Đối với những bậc có phước báu lớn, dù tự thân không mong cầu nhưng người đến cúng dường quá đông gây cản trở việc tu tập. (Phụ nữ không thể làm phiền bậc A-la-hán, nhưng lợi lộc thì ở mức độ nào đó có thể gây phiền nhiễu).

4. **Gaṇa-palibodha** = Chướng ngại về hội chúng: Những vị có trách nhiệm trong các hội chúng, đoàn thể phải lo toan các công việc liên quan đến hội chúng đó.

5. **Kamma-palibodha** = Chướng ngại về công việc: Lo toan các công việc xây dựng mới (**navakamma**).

6. **Addhāna-palibodha** = Chướng ngại về hành trình: Lo lắng về việc phải đi đường xa (ngay cả vì mục đích Phật sự cũng không tốt cho thiền định).

7. **Ñāti-palibodha** = Chướng ngại về thân quyến: Lo lắng cho thầy tổ, đệ tử, cha mẹ, con cái hay họ hàng. (Tuy nhiên, đối với việc phục vụ thầy tổ hay cha mẹ khi đau ốm và các bổn phận oai nghi phải thực hiện thì vẫn phải làm. Đó không gọi là **palibodha**).

8. **Ābādha-palibodha** = Chướng ngại về bệnh tật: Lo lắng về bệnh tình của bản thân (Nếu có bệnh thì phải mau chóng tìm cách chữa

## PAGE 320

cho lành. Nếu là bệnh nan y dài ngày thì nên xả bỏ với tâm niệm: "Hỡi thân xác già nua đáng ghê tởm này, ta không phải nô lệ của ngươi, cũng không phải người làm thuê cho ngươi. Chỉ vì nuôi nấng ngươi mà ta đã phải chịu khổ đau dài dẳng trong vòng luân hồi không lối thoát này", rồi tinh tấn nỗ lực hành đạo).

**Nā'haṃ dāsō bhūtō tuyhaṃ, nā'haṃ pōsēmi dāni taṃ.**
**Taṃyēva pōsēntō dukkhaṃ, vajjē pattō anappakaṃ.**
(**Kệ ngôn cổ đức**)

9. **Gantha-palibodha** = Chướng ngại về kinh điển: Lo lắng về việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy hoặc nghe pháp.

10. **Iddhi-palibodha** = Chướng ngại về thần thông: Vì có thần thông nên phải lo lắng giữ gìn thần thông (Đây nói về thần thông của phàm phu. Thần thông của phàm phu giống như đứa trẻ sơ sinh hay mầm lúa non, rất khó giữ gìn. Chỉ một chút sơ suất cũng có thể bị mất. Tuy nhiên, thần thông chỉ được nói là chướng ngại đối với vị tu tập tuệ quán (vipassanā). Còn đối với định (samatha) thì không phải chướng ngại, vì phải có định mới đắc được thần thông).

Trong số các **palibodha** kể trên, nếu hành giả đối mặt với bất kỳ chướng ngại nào thì phải mau chóng giải quyết cho xong xuôi. Sau đó mới bước vào lộ trình thực hành. Nếu còn lo toan điều gì trong khi hành trì thì công phu sẽ không tiến triển.

### Các chướng ngại nhỏ

Đây là những chướng ngại lớn, ngoài ra còn có các chướng ngại nhỏ. Đó là việc cắt tỉa khi tóc, móng tay, móng chân, râu bị dài; sửa sang những thứ cần sửa như y phục, bình bát, giường chõng, v.v. Những việc lo toan nhỏ nhặt này cũng cần được hoàn tất trước khi bắt đầu hành đạo. (**Thanh Tịnh Đạo**-1, 119).

## PAGE 321

Liên quan đến những công việc xây dựng (**navakamma**) không hồi kết, các Phật sự thông thường hay các việc đời, (trong **Tạng Luật - Tiểu Phẩm**), Thái tử **Mahānāma** đã khuyên em trai là Ngài **Anuruddha** rằng: "Các việc đời không bao giờ có lúc kết thúc. Một ngày qua đi lại là công việc này, một năm qua đi vẫn là công việc này. Thuở trước cha mẹ cũng làm như vậy rồi chết đi cả thôi". Tương tự như vậy, đối với những công việc không có điểm dừng, chỉ bằng cách tự mình không làm nữa thì mới có thể kết thúc được chúng.

### Ngay cả bậc A-la-hán cũng bị chướng ngại chi phối

Nếu còn vướng bận điều gì, ngay cả những bậc **A-la-hán** cao thượng cũng có lúc không thể nhập **Thiền định (samāpatti)** được.

Có một bậc **A-la-hán** dẫn theo một đệ tử **Sa-di** cũng đã đắc quả **A-la-hán** cùng đi vào rừng. Tại đó chỉ có chỗ ở cho vị Trưởng lão. Vì người đệ tử **Sa-di** không có chỗ ở, vị Trưởng lão cứ lo lắng: "Trong khu rừng đầy thú dữ hổ báo này, phải làm thế nào để có chỗ ở cho đệ tử nhỏ của mình đây?". Do sự lo lắng này mà suốt cả mùa an cư, không có ngày nào vị Trưởng lão nhập được **Thiền định**.

Trong khi đó, vị **Sa-di** trẻ suốt cả mùa an cư đã sống trong hạnh phúc của **Thiền định**.

Khi người đệ tử hỏi: "Bạch Ngài, ở vùng rừng này có thích hợp (**sappāya**) không?", vị Trưởng lão đáp rằng không thích hợp. (**Chú giải Trung Bộ Kinh**-4, 46 - Chú giải **Kinh Gaṇaka Moggallāna**).

### Tấm gương về việc xả bỏ quyến thuộc của vị Tỳ-kheo trẻ tại làng Koraṇḍaka

Tại đảo Sri Lanka, có một ngôi làng rừng tên là **Koraṇḍaka**. Tại đại tự viện **Koraṇḍaka**, có một cặp vợ chồng người em gái đã xây dâng một ngôi chùa và người anh trai là vị trụ trì tại đó. Con trai đầu của người em gái ấy cũng xuất gia và ở cùng với ông chú. Cặp vợ chồng thí chủ đó đảm nhiệm việc dâng cúng vật thực cho cả hai vị.

## PAGE 322

Một ngày nọ, vị Tỳ-kheo cháu muốn đến vùng **Rohaṇajanapada** để học tập kinh điển, nên cả ngài Trưởng lão thúc phụ lẫn cha mẹ đều cho phép đi. Sau khi người con trai đi học xa một thời gian dài, bà mẫu thân cứ suốt ngày hỏi thăm ngài Trưởng lão về tin tức của con mình.

Thời gian trôi qua, ngài Trưởng lão bảo người em gái rằng:
"Được rồi, ta sẽ đi tìm và gọi nó về cho con." Nói rồi ngài lên đường.

Khi thời điểm an cư mùa mưa cận kề mà vẫn không thấy ngài Trưởng lão trở về, cũng chẳng thấy bóng dáng con trai, bà mẹ càng thêm sầu muộn vì nghĩ rằng có chuyện chẳng lành đã xảy ra. Tuy nhiên, vào ngày vào hạ, vị thí chủ hộ tự đi đến **chùa Koraṇḍaka** với hy vọng gặp được họ, nhưng không thấy vị Trưởng lão và người cháu đâu, chỉ thấy một vị Tỳ-kheo khách trẻ tuổi vừa mới đến.

Vị thí chủ liền đi đến gặp chư Tăng tại chùa và thưa rằng:
"Bạch Ngài, tại chùa của chúng con năm nay có vị Trưởng lão nào an cư không ạ?" Chư Tăng đáp rằng chỉ có một vị Tỳ-kheo khách trẻ tuổi vừa mới đến sẽ an cư tại đây.

Vị thí chủ cảm thấy nhẹ lòng khi có một vị sư an cư tại chùa của mình, ông liền đến gặp vị Tỳ-kheo trẻ và thưa:
"Bạch Ngài, con là thí chủ hộ trì ngôi chùa này. Chúng con có bổn phận hộ độ cho vị hành giả an cư tại đây." Vị Tỳ-kheo hỏi:
"Bổn phận đó là gì, này thí chủ?"

"Bạch Ngài, vị an cư tại chùa này sẽ thọ nhận vật thực tại nhà của chúng con trong suốt ba tháng mùa mưa. Sau khi làm lễ Tự tứ xong, nếu Ngài có ý định đi nơi khác, xin hãy báo cho chúng con được biết." Sau khi nhận được lời hứa từ vị Tỳ-kheo trẻ, vị thí chủ trở về nhà.

Ông bảo vợ: "Này bà nó, tại chùa mình năm nay có một vị Tỳ-kheo khách đến an cư, bà hãy cung kính chăm sóc và dâng cúng vật thực cho chu đáo nhé."

## PAGE 323

Bà thí chủ thưa "Dạ vâng" và chuẩn bị những món vật thực thượng hạng. Vị Tỳ-kheo khách trẻ tuổi ấy mỗi ngày đều đến nhà vị thí chủ để thọ thực trong suốt ba tháng an cư.

### Bậc tu hành không để tâm ràng buộc vào tình thân cha mẹ

Khi kết thúc mùa an cư và làm lễ Tự tứ, vị Tỳ-kheo trẻ nói: "Sư sắp đi đây." Nhưng gia đình thí chủ đã thỉnh Ngài ở lại thêm một ngày nữa. Ngày hôm sau, họ dâng cúng vật thực ngay tại nhà, cúng dường một ống dầu đầy, một cục đường thốt nốt và một xấp vải dài chín tấc. Vị Tỳ-kheo trẻ sau khi thuyết pháp chúc phúc (anumodanā) đã khởi hành trở về nơi cũ của mình.

Ngài Trưởng lão thúc phụ sau đó cũng trở về chùa và gặp vị Tỳ-kheo khách vừa rời đi. Sáng hôm sau, ngài khoác y mang bát đi đến nhà người em gái ở làng **Koraṇḍaka**. Bà mẹ thí chủ, người mỗi ngày vẫn ngóng ra đường hy vọng anh mình sẽ dẫn con trai về, khi thấy ngài Trưởng lão chỉ đi một mình thì liền nghĩ:

"Anh mình về có một mình... Trời ơi, chắc con trai tôi chết rồi!" Bà liền phủ phục dưới chân ngài Trưởng lão, gào khóc thảm thiết với bao lời than vãn. Ngài Trưởng lão thầm nghĩ:
"Chắc hẳn đứa cháu này là người ít ham muốn (thiểu dục), nên nó đã đi mà không cho biết danh tánh." Rồi ngài bảo:
"Này em gái, hãy bình tĩnh đã. Có chuyện gì mà em lại khóc lóc thảm thiết như vậy?"
"Bạch Ngài, có phải con trai của con đã chết rồi không?"

"Ồ, thật là! Chưa hỏi han gì đã lo khóc trước rồi. Lúc ta rời khỏi chùa này, nó cũng từ vùng **Rohaṇajanapada** đi về đây để thăm các con và ta. Hai bác cháu đã gặp nhau bên bờ sông **Mahāveligaṅgā**. Ta có nói với nó rằng mẹ nó đang mong đợi và ta tự thân đi đón nó. Ta nghĩ nó sẽ an cư ở đây một mùa nên đã dặn nó ở lại đây.

## PAGE 324

"Khi mùa hạ vừa dứt, ta trở về cũng gặp lại nó bên bờ sông **Gaṅgā**. Nó đã kể cho ta nghe về việc gặp gỡ gia đình, sức khỏe bình an và mọi chuyện diễn ra tốt đẹp."

Nghe ngài Trưởng lão giải thích, bà mẹ vừa mừng vừa thấy hoang mang. Một sự nghi ngờ nảy sinh trong lòng, bà không kiềm chế được liền hỏi:
"Bạch Ngài, vậy con trai của con đang ở đâu?"

"Từ từ đã, hãy nghe ta nói cho hết. Hai bác cháu đã ngồi nghỉ dưới một bóng cây mát mẻ và trò chuyện. Nó còn lấy dầu từ ống dầu ra để xoa bóp chân cho ta. Nó mời ta dùng nước pha với đường thốt nốt, và rồi (ngài mở túi bát lấy ra một vật) nó còn cúng dường cho ta xấp vải mà các con đã tặng cho nó nữa. Đây, có phải là xấp vải các con đã cúng dường không?" Khi ngài đưa xấp vải ra, bà mẹ sững sờ không nói nên lời.

"Ồ, hóa ra đó chính là con trai của con sao!" Bà vô cùng xúc động, hướng về phương mà con trai đã đi, bà phủ phục sát đất, thành kính đảnh lễ và thưa rằng:

"Đúng là con của con! Những vị Tỳ-kheo như con trai con chính là minh chứng sống động cho những pháp hành trong kinh **Rathavinīta-sutta**, về sự tri túc và niềm hỷ lạc trong thiền định mà Đức Thế Tôn đã thuyết trong pháp **Mahāariyavaṃsa**. Suốt một mùa an cư, ngày nào cũng đến ăn cơm tại nhà mẹ ruột mà không hề thốt ra một tiếng 'Mẹ ơi'. Thật là một bậc trượng phu kỳ diệu, một người con phi thường của mẹ!"

(Câu chuyện này được viết lại dựa trên tích truyện trong Thanh Tịnh Đạo - Tập 1, trang 88.)

### 4 Pháp hành của bậc tu hành xuất chúng

1. **Pháp hành trong Kinh Rathavinīta**: Đây là bài kinh trong **Mūlapaṇṇāsa** (Trung Bộ Kinh), dùng ví dụ về bảy cỗ xe để thuyết về **Thất Tịnh** (Bảy sự thanh tịnh). Điểm cốt lõi ở đây là 10 chủ đề luận bàn mà một hành giả yoga nên nói: lời nói về thiểu dục (ít ham muốn), tri túc (biết đủ), độc cư (yên tĩnh)...

## PAGE 325

Ý là chỉ nên nói những lời liên quan đến đời sống độc cư, không xen tạp với đám đông, nỗ lực tinh tấn, và các chủ đề về Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến.

1. **Hạnh Moneyya (Bậc Thánh mâu-ni)**: Đây chính là các thực hành được thuyết trong kinh **Sutta Nipāta**, phần nội dung thuyết cho Trưởng lão Nālaka. Tóm lược là: ở trong rừng, ngồi hoặc đứng dưới gốc cây, nỗ lực tinh tấn thực hành pháp. Buổi sáng đi khất thực, đi theo từng nhà. Không nhận lời mời thọ thực hoặc vật thực dư ra. Không được nói chuyện với thí chủ. Tại một ngôi làng hoặc dưới một gốc cây, chỉ khất thực một ngày và ở lại một ngày. Đây là tóm tắt về hạnh **Moneyya**.

2. **Hạnh Tuvaṭaka**: Là các thực hành trong bài kinh **Tuvaṭaka** thuộc bộ **Sutta Nipāta**. Hướng dẫn rằng không được xen tạp với người đời, không thuyết pháp để cầu lợi lộc; thuyết về việc tận diệt tận gốc rễ Tham, Mạn, Kiến và Vô minh.

3. **Hạnh Mahā-ariyavaṃsa (Đại Thánh chủng)**: Thuyết trong bộ **Aṅguttara (Tăng Chi)** - tập 1, trang 336, về việc biết tri túc trong tứ vật dụng và sự hân hoan trong việc tu tiến (bhāvanā).

**N’eva muni gāmamāgamma, kulesu sahasā care;**
**Ghāsesanaṃ chinnakatho, na vācaṃ payutaṃ bhaṇe.**

"Vị Sa-môn khi vào làng, không nên thân thiết quá mức với các gia đình thí chủ. Khi đi tìm vật thực, phải như người câm không nói, không được bàn luận hay nói lời liên quan đến việc cầu xin vật thực." (**Sutta Nipāta** - kệ 389, kinh **Nālaka**.)

## Hai anh em Trưởng lão Nāga hộ trì mẫu thân mà không để bà biết là con mình

Khi nói đến "Kula-palibodha" tức là sự bận tâm, lo lắng liên quan đến các gia đình thí chủ, ngay cả đối với những thí chủ dâng vật thực hay dâng chùa thông thường cũng đã không nên để tâm lo nghĩ, huống hồ là đối với cha mẹ mà vẫn giữ được sự không bận tâm thì thật là điều đáng chiêm bái.

Cũng giống như vị Tỳ-kheo trẻ ở làng Koraṇḍaka, còn có hai anh em khác cũng đáng làm gương mẫu. Có hai anh em tên là **Cūḷanāga** và **Mahānāga**, người thành Maheḷu. Hai vị đã cùng nhau tu hành tại núi Cittala suốt ba mươi năm.

## PAGE 326

Khi cả hai anh em đã hoàn thành phận sự của bậc Sa-môn (đắc quả A-la-hán), để hộ trì cho bà mẫu thân ở thành Maheḷu, cả hai đã cùng rời núi Cittala để đến chùa ở thành Maheḷu. Sáng ngày hôm sau, hai vị đi khất thực trước cửa nhà mẫu thân giống như các vị Tỳ-kheo khác. Bà mẫu thân cung kính sớt một vá cháo vào bát của vị Trưởng lão đang đứng khất thực. Dù không nhận ra đó là con trai mình, nhưng trong tâm bà lại khởi lên niềm tịnh tín như đối với con trai nên đã hỏi bằng giọng nghi hoặc:

"Bạch quý ngài... Ngài có phải là con trai của già này, tên là **Mahānāga** chăng?"

Trưởng lão **Mahānāga** chỉ đáp rằng: "Này thí chủ... Xin hãy hỏi vị Trưởng lão đang đi phía sau kia." Nói rồi ngài bước đi. Thế là, sau khi sớt cháo cho Trưởng lão **Cūḷanāga** đang đi phía sau một quãng, bà lại hỏi:

"Bạch ngài... Có phải ngài là con trai của già, tên là **Cūḷanāga** chăng?" Bà vừa hỏi vừa run rẩy, mắt mờ không nhìn rõ, lòng đầy phân vân. Trưởng lão **Cūḷanāga** liền đáp:

"Này thí chủ... Tại sao bà không hỏi vị Trưởng lão đã đi phía trước?" Nói rồi ngài cũng bước đi. Bà mẫu thân tội nghiệp đành tự nhủ: "Chắc là trông giống con mình thôi chứ không phải đâu."

(**Saṃyutta Aṭṭhakathā** - tập 2, trang 155.) Trong kinh **Candūpama**, chương **Kassapa Saṃyutta** thuộc bộ **Nidāna-vagga**, Đại Trưởng lão **Mahā Kassapa** không chỉ không có sự dính mắc với các gia đình thí chủ mà mỗi khi gặp họ, ngài đều giữ tâm thế như "người mới gặp lần đầu" (như người xa lạ). Ngài đã để lại bài học rằng mọi Tỳ-kheo đều nên thực hành như vậy.

## PAGE 327

## Chương (III)
## Những gương mẫu về người cho và người nhận: Thầy và Trò

### Trách nhiệm của mỗi bên

"Chúng ta tuyệt đối không bao giờ làm ngơ, không quan tâm, không tịnh tín hay không cúng dường đến chư Tăng, những bậc mà tổ tiên chúng ta đã truyền đời tôn kính. Nếu ta lỡ làm vậy, cầu cho bữa cơm này trở nên khó tiêu và như chất độc đối với ta." (Vua **Duṭṭhagāmaṇi**.)

"Các thí chủ cúng dường không phải vì hy vọng nhận được ruộng vườn, vàng bạc hay châu báu gì từ ông. Họ cũng chẳng phải bà con thân quyến. Họ cúng dường chỉ vì hy vọng có được hạnh phúc ở cõi người, cõi trời và Niết-bàn. Được rồi... vậy ông có thể trao cho họ điều họ muốn không? Với cái tâm đầy rẫy Tham, Sân, Si thế này, ông không nên ăn vật thực này nữa." (**Trưởng lão Mahāmitta**)

## PAGE 328

### Một vị Sa-di và một người đời

Tại đảo quốc Sīhaḷa (Sri Lanka), dưới triều đại của đức vua Saddhātissa (77-59 TCN) — em trai của đức vua **Duṭṭhagāmaṇi** — người trị vì đúng theo Chánh Pháp đến mức được tôn xưng là vua "Dhammika Tissa Mahārājā", đã xuất hiện một vị Sa-di bảy tuổi có đức hạnh phi thường.

Một ngày nọ, có năm trăm cỗ xe chở đầy đường thốt nốt được tiến cống lên đức vua. Vì là người hết lòng tôn kính Tam Bảo, đức vua tự nhủ:

"Những lễ vật này thật đáng ưa thích. Nếu chưa dâng cúng đến chư Tăng cao thượng thì ta không nên thọ dụng trước." Nghĩ như vậy, ngài truyền lệnh đem hai trăm năm mươi cỗ xe đến dâng cúng tại đại tự viện Mahāvihāra, nơi có đông đảo chư Tăng đang cư ngụ nhất. Sau khi dùng bữa xong, đức vua cũng đích thân đến tự viện.

Ngay khi đức vua vừa đến, vị Trưởng lão trong Tăng chúng truyền lệnh đánh trống báo hiệu, lập tức mười hai ngàn vị Tỳ-kheo và Sa-di đồng loạt vân tập đông đủ. Đức vua chọn một chỗ ngồi thích hợp rồi gọi một người hộ tăng (**kappiya**) đến và dặn dò trước:

"Này con... đây là vật thí của nhà vua, con phải múc cho đầy bát. Hãy đổ đường vào bát của chư Tăng sao cho thật đầy tràn, đừng để vơi thiếu. Trong số đó, nếu có vị nào chỉ nhận một lượng chừng mực (biết đủ) thì hãy lập tức tâu cho ta biết đó là vị nào."

Lúc bấy giờ, có một vị Đại trưởng lão từ Mahāyihāra sau khi đi chiêm bái cội Đại Bồ Đề và các bảo tháp trên núi Cetiya trở về. Khi bước vào tự viện, ngài thấy trong ngôi lầu dưới chân tòa lâu đài đồng (Lohapāsāda), chư Tăng đang xếp hàng để thọ lãnh đường thốt nốt. Vị Đại trưởng lão đi đến bên một vị Sa-di nhỏ tuổi đang đứng cuối hàng để thọ thí và bảo:

## PAGE 329

"Này hiền giả... con không cần dùng đường thốt nốt phải không?"
"Bạch Ngài, con không cần ạ."

"Vậy thì này hiền giả, ta vừa đi đường xa về mệt mỏi, ta cần một miếng đường nhỏ bằng cỡ hạt táo thôi." Nghe vậy, vị Sa-di liền cầm bát thay cho vị Trưởng lão đi vào chỗ thọ thí. Khi người hộ tăng múc đầy một bát đường định đổ vào, vị Sa-di liền giơ tay ngăn lại. Người hộ tăng nói:

"Này Sa-di nhỏ, đây là vật thí của đức vua, theo lệ thường phải nhận cho thật đầy tràn. Hãy thọ nhận cho đầy bát đi."

Sa-di đáp: "Thưa thí chủ, đúng là đức vua có tâm muốn dâng cúng thật nhiều, nhưng vì thầy **Tế độ (Upajjhāya)** của tôi chỉ cần ngần ấy thôi, nên tôi cũng chỉ nhận ngần ấy."

Đức vua nhìn thấy người thọ thí và vị Sa-di đang đứng tranh luận qua lại liền lập tức đi đến. Sau khi nghe người hộ tăng trình bày sự việc, đức vua lại thưa với vị Sa-di:

"Bạch Sa-di, xin Ngài hãy thọ nhận cho đầy bát vật thí này."

Nhưng vị Sa-di nhỏ tuổi vẫn đáp lại: "Tâu đại vương, ý muốn dâng cúng đầy bát của đại vương là điều tốt, nhưng vì thầy **Tế độ** của tôi chỉ cần bấy nhiêu thôi nên xin đại vương hãy hoan hỷ cho."

Đức vua thầm nghĩ: "Vị Sa-di này trông chỉ chừng bảy tuổi, miệng còn chưa dứt mùi sữa, vậy mà không hề có ý tích trữ cho bữa chiều hay ngày mai. Ôi... thật đáng ngưỡng mộ thay, dù tuổi nhỏ mà ngài đã có thể giữ gìn lời dạy của đức Thế Tôn một cách cao thượng đến thế!" Cảm tịnh tín sâu sắc, đức vua liền ra lệnh cho các quan đại thần:

"Này các khanh, ta nhìn vị Sa-di nhỏ này mà lòng khởi lên tịnh tín vô biên. Hãy đi lấy nốt hai trăm năm mươi cỗ xe đường thốt nốt còn lại đem đến đây dâng cúng toàn bộ lên chư Tăng cao thượng."

## PAGE 330

### Vì nhớ đến chư Tăng mà không nỡ nuốt miếng thịt đa đa

Cũng chính đức vua Tissa này, một lần nọ bị đau tai, muốn dùng thịt chim đa đa nướng để làm thuốc. Ngài tự hỏi: "Làm sao để có được loại thịt này mà không phải sát sanh (pāṃsukūla - thịt nhặt được)?" Ngài lo sợ rằng nếu mình tỏ ý muốn dùng thịt đa đa nướng, người khác sẽ đi săn bắt và làm hại loài chim này trong vòng một do-tuần (yojana). Vì vậy, ngài đã kềm chế ham muốn đó suốt ba năm trời. Những bậc thiện trí không chỉ không tự mình giết, không bảo người khác giết, mà ngay cả thịt được giết riêng cho mình (**uddisamaṃsa**) họ cũng không dùng.

Một ngày nọ, vết thương ở tai đức vua bị mưng mủ, ngài thực sự cần thịt chim đa đa để trị bệnh nên đã dùng kế để hỏi các cận thần:

"Này các khanh, trong số những người hầu cận của ta, ai là người giữ giới trang nghiêm nhất?"

"Tâu đại vương, có Tissa, con trai của một vị quan đại thần, được biết đến là người giữ gìn Ngũ giới vô cùng trong sạch, không hề khiếm khuyết."

"Được rồi, vậy hãy gọi Tissa đến trước mặt ta."

Đức vua gọi Tissa đến hỏi thăm để mọi người cùng biết mặt rồi cho về ngay. Chẳng bao lâu sau, ngài sai một thuộc hạ mang một con gà còn sống đến nhà Tissa. Ngài dặn người đó bảo Tissa hãy giết con gà rồi chế biến thành ba món: nấu, nướng và chiên để dâng lên vua. Khi người lính mang gà đến và truyền lệnh vua, Tissa đáp rằng:

"Này bạn... thật là khó cho tôi. Nếu bạn mang đến một con gà đã chết rồi thì việc tôi nấu nướng theo tài nghệ của mình để dâng lên đức vua không có gì khó khăn. Nhưng vì đây là con gà còn sống, tôi không dám phạm vào tội sát sanh (pāṇātipāta) đâu."

Người lính trở về tâu lại sự việc. Đức vua sai người đó quay lại một lần nữa, dùng tư cách bạn bè để khuyên nhủ:

"Này bạn Tissa... hãy suy nghĩ lại đi! Việc hầu hạ, tuân lệnh nhà vua là một gánh nặng rất lớn. Đừng làm như thế. Sau này bạn hoàn toàn có thể thọ trì lại giới luật được mà, cứ nấu theo đúng thánh lệnh đi!" — người quan lại khuyên lăm.

Tissa liền từ chối rằng:

"Cứ để mặc vậy đi bạn ạ... Bất kỳ chúng sinh nào trên đời cũng chẳng có thông lệ phải chết đến hai lần trong một kiếp sống. Trong một đời, người ta chỉ chết có một lần mà thôi. Quả thực tôi không dám phạm vào tội sát sinh (_Pāṇātipātā_). Bạn cứ việc tâu lại với đức vua đúng nguyên văn như thế giúp tôi."

## PAGE 331

Dù đã sai bảo đến ba lần nhưng Tissa vẫn kiên quyết từ chối. Đức vua đích thân triệu kiến và nhiều lần khuyên bảo ông nên tuân hành mệnh lệnh, nhưng Tissa vẫn không thể làm theo và luôn giữ ý định từ chối.

Đức vua bèn ra lệnh cho quân đao phủ lập tức đưa Tissa – kẻ dám kháng lệnh – ra nghĩa địa để chém đầu. Quân đao phủ đưa ông đến pháp trường, đe dọa và chuẩn bị hành quyết. Họ bắt Tissa nằm phủ phục xuống đất và đặt một con gà còn sống vào tay ông. Trong khi vừa dỗ dành vừa đe dọa để ông thực hiện theo lệnh vua, Tissa cầm con gà trên tay và nói trước mặt quân đao phủ rằng:

“Này… người anh em, tôi xin hiến dâng mạng sống của mình cho bạn. Tôi đã nhận lấy cái chết thay cho bạn để đổi lấy mạng sống cho bạn rồi. Giờ bạn hãy cứ thong dong mà đi đến nơi nào mình muốn đi”. Nói rồi ông thả con gà ra.

Con gà quá đỗi vui mừng, vỗ cánh gáy vang rồi bay lên ẩn mình trên cây đa. (Nơi thả gà phóng sanh đó hiện nay được gọi là “**Kukkuṭagīri** – Núi Gà”).

Theo mật hiệu mà đức vua đã dặn trước, quân đao phủ không giết chàng thanh niên Tissa mà quay về tâu trình lại sự việc. Khi biết rõ ngọn ngành, đức vua truyền cho Tissa mặc y phục sang trọng và vào hầu bên cạnh.

“Thật là tốt thay, này Tissa. Ta bày ra ý định này chỉ là để thử lòng ngươi thôi. Tai của ta bị mụn nhọt, muốn dùng thịt chim đa đa nướng làm vị thuốc bổ trợ mà đã hơn ba năm rồi. Ngươi có thể tìm cách dâng cho ta thịt chim đa đa đúng nghĩa là hàng ‘phấn tảo’ (không do giết hại) được không?” – Khi đức vua bày tỏ rõ sự tình như vậy…

“Việc đó chính là bổn phận của chúng tôi rồi” – Tissa tâu lại.

## PAGE 332

Con trai của vị đại thần là Tissa liền dậy sớm, đứng chờ sẵn ở một cửa thành. Thật may mắn, ông gặp được một người mang ba con chim đa đa đã chết đi vào thành, ông bèn trả hai đồng bạc (kahāpaṇa) để mua lại. Sau khi làm sạch thịt chim kỹ lưỡng, ông ướp với gừng, tiêu (pippalī) rồi nướng trên than hồng mang dâng lên đức vua.

Trong lúc đức vua đang ngự trên bảo tọa nơi điện sảnh, thịt chim đa đa nướng được dâng lên. Sau ba năm dài chờ đợi, ngài liền bẻ một miếng đưa vào miệng nhai ngay và cảm thấy hương vị vô cùng thơm ngon.

Trong khi đang ngon miệng nhai thịt chim đa đa, đức vua nhổ miếng thịt trong miệng ra tay, tính ném xuống đất thì Tissa quỳ gối tiến lại gần, há miệng đón lấy miếng thịt đó. Đây là cách ông chứng minh rằng món ăn không hề có chất độc hay nguy hiểm gì, mà lại rất tươi ngon. Tuy nhiên, đức vua không phải vì dở mà vứt bỏ, mà vì quá ngon nên mới định bỏ. Bởi lẽ khi được thưởng thức món thịt cực kỳ thơm ngon, ngài chợt nhớ đến chư Tăng.

“Đến như ta đây, một vị vua cai trị cả vùng đất này, muốn ăn thịt chim đa đa ‘phấn tảo’ mà còn phải chờ đợi suốt ba năm mới có cơ hội. Vậy thì các bậc xuất gia, những vị chỉ thọ dụng vật thực do người khác dâng cúng, làm sao có được món như thế này?”

Thấy Tissa há miệng chực chờ đón lấy miếng thịt định vứt đi, đức vua phán: “Này khanh, ta biết rõ là thịt chim này không có lỗi gì cả”, rồi ngài giải thích lý do vì sao ngài muốn từ bỏ miếng thịt ấy. Ngài cũng truyền lệnh hãy dâng cúng và cất giữ cẩn thận hai con chim còn lại.

### Người biết và người không biết giới hạn của sự thọ nhận

Sáng hôm sau, khi một vị trưởng lão thường lệ vẫn vào cung khất thực đi đến, vừa nhìn thấy ngài, Tissa liền đỡ lấy bát và thỉnh ngài vào cung. Có một vị sư mới từ rừng ra cũng đi sát ngay sau trưởng lão như thể là đệ tử tháp tùng.

## PAGE 333

Vị trưởng lão thì cứ ngỡ vị sư rừng kia là người được đức vua mời đến. Còn Tissa thì lại tưởng vị ấy là đệ tử thị giả của trưởng lão.

Khi vào đến cung, không cần hỏi han gì thêm, Tissa dâng cháo cho cả hai vị. Đến khi dâng món thịt chim đa đa nướng mà đức vua vốn rất trân quý, vị trưởng lão thọ nhận một con, vị sư rừng cũng thọ nhận một con.

“Nếu các ngài cần dùng thêm gì, xin cứ chỉ dạy” – Đức vua bạch và định dâng thêm phần nữa, nhưng vị trưởng lão đưa tay ra hiệu từ chối. Còn vị sư rừng thì lại đưa bác ra để nhận thêm. Thấy cung cách thọ dụng và sinh hoạt của vị sư rừng không được từ tốn, đức vua cảm thấy không hài lòng. Khi vị trưởng lão ra về, đức vua ôm bát đi theo sau và bạch rằng:

“Bạch Ngài… Các vị trưởng lão khi đi đến nhà thí chủ thì nên dẫn theo những đệ tử biết rõ những oai nghi pháp hạnh trong việc thọ nhận hàng cúng dường, bạch Ngài”. Đến lúc đó, trưởng lão mới biết vị sư kia không phải là người được đức vua mời.

Ngày hôm sau, khi vào cung, vị trưởng lão dẫn theo một vị Sa-di nhỏ đi cùng.

Đức vua lại tiếp tục dâng cháo và món thịt chim đa đa nướng trân quý. Trưởng lão thọ nhận một con. Khi dâng đến vị Sa-di, dù không được dặn trước, vị Sa-di đã dùng tay ra hiệu chia đôi con chim rồi mới nhận một nửa. Khi đức vua mang nửa còn lại dâng cho trưởng lão, ngài đưa tay từ chối. Đức vua lại dâng tiếp cho vị Sa-di, vị ấy cũng đưa tay từ chối.

Đức vua sau khi đã dâng được món thịt chim đa đa vô cùng ngon lành cho các bậc xuất gia mà ngài kính trọng suốt hai ngày liền, ngài cảm thấy vô cùng mãn nguyện. Ngài ngồi xuống một nơi gần đó, bẻ hai con rưỡi thịt chim đa đa nướng còn lại ra và ăn một cách ngon lành.

“Chà… Nhờ nương tựa được vào những bậc thiện trí tri hành đúng pháp hạnh mà món thịt chim đa đa ta hằng mong ước bấy nay, giờ mới được ăn một cách ngon lành thế này”. Đang lúc vừa nói vừa ăn một cách hỷ lạc thì những mủ độc từ hai cái mụn nhọt nơi tai bỗng nhiên vỡ ra và chảy sạch ra ngoài. Sau đó, ngài súc miệng sạch sẽ rồi tiến đến gần vị Sa-di trẻ tuổi và nói:

Đức vua: "Bạch Sa-di... Trẫm có đức tin trong sáng và vô cùng hoan hỷ. Trẫm xin dâng cúng đến Sa-di mỗi ngày tám phần vật thực."

## PAGE 334

Sa-di: "Tâu đại vương... Tám phần vật thực đó, bần đạo xin dâng cúng lại đến vị Thầy tế độ của mình."

Đức vua: "Bạch Ngài, nếu vậy trẫm xin dâng cúng thêm tám phần vật thực nữa."

Sa-di: "Tám phần đó, bần đạo xin dâng cúng đến vị thầy dạy giáo pháp của mình."

Đức vua: "Tâu Ngài, trẫm sẽ dâng cúng thêm tám phần nữa."

Sa-di: "Phần này bần đạo xin dâng cúng đến các vị trưởng lão có cùng hạ lạp với Thầy tế độ của bần đạo... Tâu đại vương."

Đức vua: "Bạch Ngài, trẫm xin dâng cúng thêm tám phần nữa."

Sa-di: "Tám phần này bần đạo xin dâng cúng đến chư Tăng chúng."

Đức vua: "Bạch Ngài, trẫm lại dâng cúng thêm tám phần nữa."

Sa-di giữ im lặng (ngụ ý chấp nhận).

(**Chú giải Saṃyutta Nikāya 3, 68 – Chú giải kinh Rathopama.**)

### Không biết ý tứ, ngay cả cha mẹ cũng không vui lòng

Chính đức vua Tissa ấy, khi đặt bát dâng cúng vật thực hàng ngày đến chư Tăng tại vùng núi Cetiya, vì nghe có lời bàn tán rằng: "Cữ mãi đặt bát ở một nơi này thôi sao? Tại sao không dâng cúng ở các địa điểm khác?", nên đức vua lại chuyển sang dâng cúng tại thành Anurādha.

Khi dâng cúng tại thành Anurādha, không có một vị Tỳ-kheo nào biết tiết chế độ lượng. Các vị ấy nhận phần vật thực dư dật đến mức một vị mà nhận phần bằng hai, ba vị dùng.

Ngày hôm sau, đức vua thỉnh chư Tăng đang trú ngụ tại núi Cetiya đến hoàng cung để thọ nhận sự cúng dường. Khi chư Tăng đến, đức vua muốn dâng cúng theo ý nguyện nên đã thưa rằng:

"Bạch Ngài, xin hãy đưa bình bát cho trẫm."

## PAGE 335

"Này đại vương, xin hãy kiên nhẫn (cứ để vậy), chư Tăng sẽ tự biết độ lượng của mình mà thọ nhận." Các Ngài phán dạy như vậy và không một vị nào trao bát cho đức vua. Các Ngài tự quán sát độ lượng của mình, chỉ ra dấu tay vừa đủ để thọ nhận phần tương ứng.

Sau khi đặt bát xong, đức vua thưa với các vị trưởng lão:

"Bạch các Ngài... Trong số các vị Tỳ-kheo, sao không thấy vị nào biết độ lượng cả. Như ngày hôm qua thì không còn dư lại dù chỉ một muỗng. Đến hôm nay thì thọ nhận quá ít, phần còn dư lại nhiều vô kể. Bạch các Ngài, xin hãy xem này." Đức vua vừa thưa vừa chỉ vào phần vật thực còn dư.

Dù muốn dâng cúng nhiều nhưng vì các Ngài chỉ thọ nhận vừa đủ nhu cầu nên đức vua thưa lời với tâm hoan hỷ. Đồng thời, đức vua cũng cảm thấy không vui trước việc các vị Tỳ-kheo không biết độ lượng khi dâng cúng vào ngày hôm trước nên đã trình báo như vậy.

Liên quan đến câu chuyện này, bậc thầy Chú giải cũng chỉ ra rằng: "Ngay cả người mẹ sinh thành cũng không có tịnh tín đối với vị Tỳ-kheo tham lam. Giống như đống lửa lớn không bao giờ thấy đủ củi, như đại dương nhận bao nhiêu nước cũng không thấy đầy, người có lòng tham dù được cho thật nhiều tứ sự (chở bằng xe đến) cũng không bao giờ thấy đủ, thật khó mà lấp đầy." Ngài cũng dẫn chứng bằng một câu chuyện giữa hai mẹ con.

Có một vị Tân Tỳ-kheo rất thích dùng các loại bánh trái. Người mẹ muốn thử tâm hạnh của con mình nên nghĩ rằng:

"Nếu con trai Tỳ-kheo của ta biết tiết chế trong việc thọ nhận, ta sẽ dâng cúng bánh trái suốt cả mùa an cư." Vào ngày bắt đầu an cư, bà dâng cái bánh thứ nhất. Vị ấy dùng hết nên bà dâng cái thứ hai. Vị ấy lại dùng hết nên bà dâng thêm nữa. Vị ấy không hề nói một lời "Thôi đủ rồi, này thí chủ", mà dâng bao nhiêu cũng dùng hết sạch.

"Hừm... Con trai ta đã dùng hết sạch trong một ngày số bánh mà lẽ ra ta định dâng hàng ngày suốt cả mùa an cư rồi sao?" Vì không hài lòng với thái độ đó, từ ngày hôm sau bà không dâng thêm một cái bánh nào nữa. (**Chú giải Vibhaṅga, 455 – Chú giải phần Khuddakavatthu Vibhaṅga. Chú giải Majjhima Nikāya 2, 45.**)

## PAGE 336

### Ít muốn và biết độ lượng khi thọ nhận

293

Chư Tăng nương nhờ vào tứ sự do các thí chủ dâng cúng bằng đức tin (saddhāderyya), do đó khi sử dụng phải ít muốn và biết độ lượng, cũng như khi thọ nhận cũng phải ít muốn và biết độ lượng vậy.

Khi thọ nhận, cần phải cân nhắc và quán sát ba yếu tố để biết độ lượng: (1) hoàn cảnh của thí chủ, (2) tình trạng của vật phẩm, (3) hoàn cảnh của chính mình.

1. Dù vật thí có nhiều, nhưng nếu thấy thí chủ dường như chỉ muốn dâng cúng ít, thì phải nể nang thí chủ mà chỉ thọ nhận ít.

2. Nếu thí chủ có đức tin tốt, muốn dâng cúng nhiều, nhưng vật phẩm lại ít (hoặc khi thí chủ là người nghèo), thì phải nể nang vật phẩm mà chỉ thọ nhận ít.

3. Nếu thí chủ muốn dâng nhiều và vật phẩm cũng dồi dào, vị thọ nhận cũng chỉ nên thọ nhận vừa đủ mức sử dụng của mình.

Đối với vị biết độ lượng như vậy, những lợi lộc chưa có sẽ dễ dàng phát sanh. Những lợi lộc đã có sẽ được bền vững, không bị thất thoát hay hao hụt. (**Chú giải Saṃyutta Nikāya 3, 68 và các đoạn chú giải về các từ Appicchatā, Bhojane mattaññū.**)

### Người thợ làm bát là bậc Dự Lưu có đức tin lớn nhưng vật lực kém

Vào thời đức Phật, có một người thợ làm bát tại thành Kapilavatthu đã đắc quả Dự Lưu. Ông đã thỉnh mời chư Tăng tại tự viện Nigrodhārāma để dâng cúng bát. Do một số vị Tỳ-kheo không biết ý tứ, thọ nhận quá nhiều khiến ông không thể xoay xở làm kịp bát để bán. Kết quả là cả gia đình nương nhờ vào ông đã phải lâm vào cảnh nghèo túng, khó khăn về ăn mặc.

Vì là bậc Dự Lưu nên ông không hề có sự khổ tâm, cũng không tìm kiếm lợi lộc một cách bất chính hay lừa lọc. (**Chú giải Vinaya 2, 286. Bản Pāḷi 355 – Học giới Ūnapañcabandhana.**)

## PAGE 337

**Càng không muốn lại càng nhận được nhiều**

"Có một lần, vua Udena đã khiển trách và tìm đến tinh xá bạch với ngài Ānanda rằng: 'Lẽ nào ngài lại nhận hết cả năm trăm bộ y phục thượng hạng mà trẫm đã ban tặng cho năm trăm cung phi làm phần thưởng quý giá sao?'. Khi biết được rằng các vị Tỳ-kheo đã sử dụng y phục một cách hệ thống và kỹ lưỡng, không để phung phí dù chỉ là một mẩu vụn vải, nhà vua đã hoan hỷ cúng dường thêm năm trăm bộ y phuc nữa." (Luật Tạng, Tiểu Phẩm - Brahmadaṇḍakathā - 487.)

Trong Nhị Tập - Guna Jātaka (Jā-2, 21), vua Kosala cũng hành động tương tự như vua Udena, đã từng cúng dường cho ngài Ānanda năm trăm bộ y phục, mỗi bộ trị giá một ngàn (đồng tiền).

### Đến cả ngài Moggallāna cũng không thể cam đoan về đức tin

"Vì việc cúng dường vật thực của Suppāvāsā mà ngài Moggallāna phải đến gặp người thí chủ đã thỉnh mời trước đó để xin dời ngày. Người thí chủ ấy đã đưa ra ba điều kiện yêu cầu ngài Moggallāna phải cam đoan. Ngài dạy rằng: 'Này thí chủ... trong vòng bảy ngày, ta có thể bảo đảm cho tính mạng và tài sản của ông không bị tổn thất, nhưng về đức tin của ông thì ông phải tự mình giữ gìn lấy, ta không thể cam đoan được'."

Dù là bậc đại Trưởng lão Moggallāna với thần thông biến hóa vĩ đại cũng không thể cam đoan về đức tin. Đức tin của hàng phàm phu vốn không vững bền, có thể thay đổi chỉ trong vòng một bước chân. (Udāna - Suppāvāsā Sutta - Khuddaka-96. Kinh Tăng Chi Chú Giải - 1, 131 - phần giải thích Sammukhībhāva Sutta.)

Chính vì thế mà Đức Thế Tôn đã thuyết rằng: "Dullabhā saddhāsampatti" - Sự thành tựu về đức tin là điều khó đắc. Các hàng thí chủ cần phải hết lòng thận trọng giữ gìn đức tin của mình giống như loài ong hút mật hoa vậy.

**Kẻ cầu xin và người không thể cho đều than khóc như thế nào**

Kẻ cầu xin được gọi là kẻ đang khóc. Người không vui lòng khi bị xin cũng được gọi là kẻ đang khóc trở lại. Không cho bằng tâm không trong sáng, cả hai bên đều không thoát khỏi lỗi lầm của tâm sân hận. Vì vậy, các bậc thiện trí, dù là vua xứ Bārāṇasī hay những người thí chủ thuần thành, dù đang cầm trên tay một chiếc lọng che và mang một đôi dép một lớp, tuy đang cần dùng nhưng giống như người không có miệng, trong suốt hơn mười hai năm trời vẫn không hề mở lời cầu xin. (Maghadeva.) "Yācana rodanaṃ āhu... Yo yācanaṃ paccakkhāti, tamāhu paṭirodanaṃ."
(Catukka Brahmadatta Jātaka - Jā-3, 74.)

"Khi có người xin, đừng không cho, dù chỉ là một chút cũng hãy cho. Dajjā appampi yācito." (Kinh Pháp Cú)

### Trưởng lão Piṇḍapātika Tissa, bậc A-la-hán nhờ một nắm cơm của người nghèo

Ngày hôm đó là một ngày đại lễ vô cùng náo nhiệt tại đại tự viện Tissamahāvihāra trên đảo Srilanka, chư Tăng và người dân tụ họp đông đúc như bầy ong vây quanh phấn hoa.

Bởi một sự kiện kỳ lạ, đức vua Kākavaṇṇatissa đã đích thân ngự đến với đầy đủ lễ nghi vương giả để cúng dường.

Nguyên nhân là vì có một vị Tỳ-kheo khách tăng đã tịch diệt một cách phi thường ngay giữa hội chúng Tỳ-kheo. Chư Tỳ-kheo khởi tâm kinh sợ về sự sanh tử (saṃvega), các hàng thí chủ cũng tranh nhau đến cúng dường hoa, đèn và hương thơm. Mọi người đều bàn tán và ngợi khen trong sự kinh ngạc. Đích thân đức vua đã chủ trì việc đưa kim thân của ngài lên lầu điện để cúng dường.

Sự trút bỏ gánh nặng ngũ uẩn đã phi thường, đến khi chuẩn bị hỏa táng lại càng kiến mọi người kinh ngạc hơn nữa. Sau khi đại lễ tán thán đức hạnh (sādhukīḷana) kết thúc, mọi người định khiêng kim thân đi hỏa táng nhưng sức người không tài nào nhấc lên được. Trong lúc mọi người đang lúng túng không biết phải làm sao, đức vua chợt nảy ra ý định liền đến gần vị đại Trưởng lão và bạch rằng:

"Bạch Ngài... trước khi viên tịch, vị ấy có để lại lời trăng trối đặc biệt nào không ạ?"

## PAGE 339

Vị đại Trưởng lão liền thuật lại những lời mà Trưởng lão Tissa đã trình bạch trước hội chúng Tăng-già trước khi ngài viên tịch.

Những lời mà Trưởng lão Tissa đã nói như sau:

Tại kinh đô Mahāgāma, có một người nghèo sống bằng nghề đốn củi và bán củi nên được gọi là "Dārubhaṇḍaka Mahā Tissa" (Mahā Tissa người bán củi). Một ngày nọ, Mahā Tissa nói với vợ rằng:

"Này bà nó à... đời sống kiếm ăn của chúng ta thật là cực khổ quá. Tôi nghe nói Đức Thế Tôn từng dạy rằng sự bố thí của người nghèo mang lại quả báu rất lớn lao. Chúng ta thật khó mà làm một việc cúng dường hằng ngày (nicca bhat), vậy nên hãy cùng nhau cúng dường vật thực vào ngày rằm, mùng một hoặc cúng dường bằng cách rút thăm (salāka bhat) nhé."

Người vợ đồng ý với ý định đó, nên ngay ngày hôm sau họ đã cúng dường vật thực định kỳ nửa tháng (pakkha bhat). Thời đó là lúc chư Tăng đang đầy đủ tứ sự, đến cả các Sa-di cũng được thụ hưởng vật thực hảo hạng, nên khi nhận món cúng dường của người bán củi, họ chỉ nhận cho có lệ rồi đem bỏ ở những nơi dễ thấy. Người vợ khi về kể lại cho chồng nhưng tâm cũng không hề phiền não.

**Cầm cố con gái để mua một con bò cái**

"Này bà nó... chúng ta là người nghèo nên thật khó để cúng dường được những món vật thực ngon lành cho các bậc ân đức thụ hưởng. Phải làm cách nào để các ngài được hài lòng và an lạc đây?"

"Ông Tissa à... sao ông lại nói vậy, người có được 'báu vật' con cái thì không thể gọi là nghèo được (bà chỉ tay vào đứa con gái nhỏ đang ở gần đó). Đây là con gái của tôi và ông. Hãy đem nó đến nhà người ta làm người ở, nếu nhận được khoảng mười hai đồng bạc thì hãy mua một con bò cái lấy sữa. Nếu chúng ta có thể cúng dường sữa tươi cho các bậc ân đức qua hình thức rút thăm thì chắc chắn các ngài sẽ được an lạc tâm."

## PAGE 340

Theo đúng lời khuyên của người vợ, ông gởi con gái mình vào một gia đình giàu có nọ. Nhờ phước báu của cô bé, con bò sữa trong nhà đó cho sữa nhiều đến mức đáng kinh ngạc (người ta nói rằng mỗi sáng được ba thùng, mỗi tối được ba thùng = **tīṇimāṇikā**). Họ dùng sữa đó làm váng sữa tùy mức cần dùng, còn lại đem thắng thành dầu bơ (đã lọc).

Khi đem cúng dường món cơm sữa nấu với dầu bơ theo thẻ xăm (loại thẻ bắt thăm cúng dường), các vị Tỳ-kheo và Sa-di có phước báu đã hoan hỷ thọ lãnh món cơm sữa từ nhà vợ chồng người bán củi này.

Một ngày nọ, người bán củi **Mahātissa** nảy ra một ý định và nói với vợ:

“Này bà nó, nhờ có con gái mà chúng ta không phải hổ thẹn vì thiếu hụt. Món cơm sữa của chúng ta cũng thật xứng đáng để các bậc thánh nhân thọ dụng. Bà này, tôi có việc phải đi xa một chuyến, trong lúc tôi vắng mặt, bà đừng để việc cúng dường này bị gián đoạn nhé. Tôi vẫn còn một việc phải làm để có tiền chuộc con gái về.”

Sau khi bàn bạc với vợ, ông **Mahātissa** đi đến một ngôi làng khác và xin vào làm thuê tại một xưởng ép mía nấu đường. Sau sáu tháng làm việc miệt mài, ông tích góp được 12 đồng bạc (kahāpaṇa) và quyết định: “Chừng này là đủ để chuộc con gái ta rồi”. Ông gói tiền vào chéo y (sarong) rồi lên đường trở về nhà.

Cùng lúc đó, Đại đức **Piṇḍapātiya Tissa**, vị đang tu học tại đại tự viện Ambariyā, cũng đang trên đường đi đến **Tissamahāvihāra** để chiêm bái bảo tháp, lộ trình đi ngang qua kinh thành Mahāgāma. Từ đằng xa, người bán củi đã nhìn thấy vị trưởng lão và nghĩ rằng: “Không dễ gì thường xuyên được gặp gỡ những bậc thánh nhân có giới đức thế này. Sẽ thật tốt nếu mình có thể đi cùng và nghe Ngài thuyết Pháp trên suốt quãng đường.” Nghĩ vậy, ông đi nhanh cho kịp và cung kính đảnh lễ, chào hỏi rồi cùng đi với vị trưởng lão.

### 12 đồng bạc để chuộc con

Đi được một lát, trời đã gần đến giờ ngọ (giữa trưa). Ông nghĩ: “Mình không có mang theo gói cơm, mà vị trưởng lão cũng đã đến giờ thọ thực rồi. Chẳng còn cách nào khác, khi đến đầu ngôi làng phía trước, mình phải dùng số tiền mang theo để mua vật thực cúng dường thôi.”

## PAGE 341

Trong lúc đang phân vân, ông tình cờ gặp một người hành khách mang theo gói cơm. Ông liền gọi:

“Bạch Ngài, xin hãy dừng chân đợi con một chút,” rồi ông chạy nhanh đến chỗ người hành khách kia.

“Này người bạn, hãy bán lại gói cơm này cho tôi, tôi sẽ trả anh một đồng bạc.”

Người hành khách nghĩ thầm: “Gói cơm này theo giá thị trường thậm chí không đáng một xu (pe), vậy mà anh ta sẵn sàng trả ngay một đồng bạc... chắc chắn phải có lý do gì đây.” Thế là anh ta đáp ngay:

“Này bạn, với một đồng bạc thì tôi không bán đâu.”

Người bán củi tăng giá lên hai đồng, rồi tăng dần lên cho đến khi đưa ra toàn bộ số tiền mình có. Nhưng người kia vẫn khăng khăng từ chối vì nghĩ ông vẫn còn tiền. Người bán củi bèn nói:

“Này bạn, đây là tất cả số tiền tôi có. Nếu tôi có nhiều hơn, tôi cũng sẵn lòng đưa hết cho bạn. Số cơm này không phải cho tôi, mà là cho vị trưởng lão đang đợi dưới bóng cây đằng kia, và giờ ngọ cũng sắp hết rồi. Đây cũng là phước báu của bạn đấy, xin hãy giúp tôi một lần.” Đến lúc đó, người kia mới đồng ý bán gói cơm với giá 12 đồng bạc.

Ngay sau khi mua được gói cơm, ông rửa tay sạch sẽ rồi bạch rằng: “Bạch Ngài, xin hãy đưa bình bát ra để con được cúng dường.” Vị trưởng lão lấy bình bát ra khỏi túi và mở nắp. Khi lượng cơm trong bát đã được khoảng một nửa, Ngài lấy tay che bát và đóng nắp lại.

“Bạch Ngài, phần cơm này chỉ đủ cho một người dùng, con không muốn dùng phần còn lại đâu. Nhờ phước báu của Ngài mà con mới mua được nó dễ dàng thế này. Xin Ngài hãy vì lòng bi mẫn mà thọ nhận tất cả cho con được nhờ cậy.” Ông khẩn khoản cầu xin cho đến khi vị trưởng lão nhận hết toàn bộ số cơm.

Vị trưởng lão nghĩ thầm: “Hẳn là phải có một lý do đặc biệt nào đó,” rồi Ngài thọ dụng hết phần cơm ấy. Sau khi dùng xong, người bán củi dùng vải lọc nước rồi dâng lên Ngài. Sau đó, cả hai lại tiếp tục hành trình.

