## PAGE 342

### Nỗ lực tu tập để đáp đền thí chủ

Vị trưởng lão hỏi: “Này đạo hữu, tại sao ông lại không ăn cơm?” Khi nghe kể lại toàn bộ sự việc, Ngài vô cùng xúc động và khởi tâm kinh sợ (saṃvega). Ngài liền đưa ra một quyết định sắt đá:

“Ôi! Người bán củi này đã làm một việc mà người bình thường khó lòng làm nổi. Ta đã thọ dụng món vật thực quý báu này, ta phải nỗ lực để đền đáp ơn nghĩa của vị thí chủ này. Nếu tìm được một nơi thích hợp, dù da thịt và máu có khô cạn đi chăng nữa, chừng nào chưa đắc quả A-la-hán, ta quyết sẽ không rời bỏ tư thế ngồi kiết già này.” Với ý chí dũng mãnh (sammapadhāna), Ngài quyết tâm tu tập.

Suốt dọc đường, vị trưởng lão luôn suy xét và giữ vững quyết định đó. Khi đến đại tự viện **Tissamahāvihāra**, sau khi hoàn tất các phận sự đối với khách tăng (āgantukavatta), Ngài tìm đến một nơi thanh vắng, trải chỗ ngồi và bắt đầu nỗ lực hành thiền tinh tấn. Tuy nhiên, suốt đêm đó cho đến khi trời sáng, Ngài vẫn chưa đạt được một dấu hiệu hay ánh sáng định tâm nào.

(Sáng hôm sau, Ngài suy xét rằng:

“Ta vốn không phải là bà con thân quyến của họ, họ cúng dường ta cũng chẳng mong cầu điều gì, hoàn toàn chỉ vì đức tin trong sáng đối với Giáo Pháp. Những người cư sĩ đã phải làm lụng cực khổ, vất vả bằng đủ mọi cách mới có được một miếng ăn. Vậy mà nợ vật thực của vị thí chủ có đức tin kia ta vẫn chưa trả xong, nếu ta còn tiếp tục thọ nhận thêm những món nợ mới thì thật không xứng đáng.” Với tâm chán sợ như vậy,) Ngài quyết định không đi khất thực, không ăn uống gì nữa mà dồn hết tâm lực vào việc tu tập. Ngài liên tục hành thiền với sự kiên trì và nhẫn nại phi thường.

Suốt bảy ngày đêm không hề thọ dụng bất kỳ loại vật thực nào, Ngài miệt mài hành trì. Đến rạng sáng ngày thứ bảy, Ngài đã chứng đắc quả vị tối thượng A-la-hán cùng với bốn pháp Phân tích trí (**paṭisambhidā**).

Ngài quán chiếu: “Thân xác ta nay đã quá đỗi rã rời và suy kiệt. Liệu mạng căn (jīvitindriya) của ta còn duy trì được bao lâu nữa?” Khi biết được thọ mạng của mình sắp tận, Ngài thu dọn chỗ nghỉ ngơi ngăn nắp. Sau đó, Ngài đi đến giữa sân chùa, nơi có đặt chiếc trống lớn để báo hiệu khi có việc cần — rồi khởi sự đánh trống.  Đó chính là lời mời thỉnh tất cả chư Tăng trong chùa vân tập đông đủ.

## PAGE 343

### Dấu ấn bát cơm trước khi Niết-bàn

Khi hội chúng Tăng-già đã quy tụ đông đủ, vị Trưởng lão trong Tăng chúng gặng hỏi về lý do, sự việc gì và ai là người đã đánh chuông cung thỉnh chư Tăng như vậy. Khi đó, giữa hội chúng Tăng-già, Đại đức **Tissa** cung kính chắp tay và trình bày về lý do ngài hội họp và cung thỉnh chư Tăng:

“Việc con cung thỉnh chư vị hôm nay không phải là chuyện gì khác. Thưa tất cả các bậc hiền hữu và các vị đồng tu pháp lữ. Nếu chư vị còn bất cứ điều gì hoài nghi hay thắc mắc liên quan đến bậc thiện nhân, đến Thánh Đạo, Thánh Quả và Niết-bàn, thì ngay lúc này đây xin chư vị hãy cứ hỏi.” Nghe vậy, chư Tăng đều giữ im lặng. Lúc bấy giờ, vị Trưởng lão trong Tăng chúng lên tiếng:

“Này Pháp hữu hiền giả... những bậc thiện tri thức vốn không bao giờ nói lời khoe khoang hay phô trương về những phẩm tính đức độ không thực sự có nơi tự thân mình. Vì lẽ đó, chúng tôi hoàn toàn không có chút hoài nghi nào cả.

Này Pháp hữu hiền giả... chỉ xin Pháp hữu hãy hoan hỷ thuyết giảng đôi chút cho hội chúng Tăng-già được biết về việc Pháp hữu đã khởi lên niềm kinh sợ (saṃvega) như thế nào, và nhờ vào những duyên trợ giúp ra sao mà Pháp hữu đã hoàn tất xong công việc của bậc Sa-môn?” Được lời khích lệ, Đại đức **Tissa** đã trình bày tường tận mọi sự việc (như đã kể trên), và toàn thể hội chúng đều đồng thanh tán thán “Lành thay”. Niềm tịnh tín và lòng ngưỡng mộ không ngừng dâng trào trong tâm khảm của mọi người.

Đại đức **Tissa** một lần nữa khẳng định và nêu gương minh chứng cho lời hứa của Đức Thế Tôn rằng: “Nếu thực sự nỗ lực tinh tấn trong vòng bảy ngày, chắc chắn có thể chứng đạt được đạo quả cao thượng.”

Đại đức **Tissa** trình bày chi tiết về việc ngài đã trân trọng và đền đáp ân đức của người thí chủ cúng dường vật thực như thế nào, và trong khi đang thuyết giảng, giọng nói của ngài cứ nhỏ dần, nhỏ dần rồi lịm hẳn. Ngài chắp tay, đôi mắt nhắm nghiền trong tĩnh lặng, rồi lập lời phát nguyện rằng: “Cầu mong sao cho tòa tháp linh đài, nơi đặt thi hài của con, chỉ khi nào có bàn tay của vị thí chủ cúng dường vật thực là người tiều phu Maha **Tissa** chạm vào, thì khi đó nó mới có thể cử động và di chuyển.” Sau lời phát nguyện, ngài đã xả bỏ gánh nặng uẩn thân.

## PAGE 344

311

Hội chúng đang hiện diện càng thêm phần kinh cảm sâu sắc. Tự thân đức vua Kākavaṇṇatissa đã đến để cử hành lễ cúng dường, nhưng khi định hỏa táng thi hài thì lại không tài nào di chuyển được. Vị Trưởng lão trong Tăng chúng liền suy ngẫm kỹ lại về những lời dặn dò cuối cùng của Đại đức. Khi ấy, nhà vua chợt nảy ra một ý định và lập tức truyền lệnh cho các binh lính đi tìm kiếm và triệu mời người tiều phu tên là Maha **Tissa** đến.

### Phước báu của người thí chủ: Vừa đau buồn vừa hoan hỷ

Khi người thí chủ nghèo khổ Maha **Tissa**, vốn sống bằng nghề bán củi, được dẫn đến trước mặt đức vua, vua hỏi:

“Này Maha **Tissa**, cách đây bảy ngày, ngươi có dâng cúng các gói vật thực đến một vị Tỳ-kheo là khách lữ hành đi chiêm bái Phật tích hay không?”

“Kính bạch Đại vương, dạ có, con đã từng dâng cúng.”

“Hãy tâu trình tường tận cho trẫm nghe sự việc ấy đã diễn ra như thế nào.”

Người thí chủ Maha **Tissa** liền thuật lại toàn bộ đầu đuôi câu chuyện. Nhà vua khẽ gật đầu và phán:

“À... Lành thay, lành thay! Tốt lắm, này Maha **Tissa**, thôi được rồi. Chắc hẳn nếu nhìn thấy vị Trưởng lão ấy, ngươi sẽ nhận ra ngay. Chỉ với một gói vật thực của ngươi mà đã mang lại lợi ích to lớn biết bao cho giáo pháp. Thôi nào... hãy yên tâm. Hãy khởi tâm hoan hỷ và hướng về hành động bố thí từ những đồng tiền bằng mồ hôi nước mắt của chính mình.” Sau đó, đức vua cho phép Maha **Tissa** đi vào để đảnh lễ thi hài của vị Trưởng lão.

Khi Maha **Tissa** nhìn thấy thi hài trên đài cao và nhìn rõ khuôn mặt ngài, ông vô cùng sửng sốt và đứng lặng người như pho tượng. Ông không nói được lời nào, chỉ biết cúi đầu im lặng. Một lúc sau, nước mắt trào ra không ngớt, ông vừa đấm ngực vừa than khóc, kể lể đủ điều.

Binh lính phải dìu Maha **Tissa** mỗi bên một người để vào yết kiến đức vua. Lúc này, Maha **Tissa** chẳng còn biết thẹn thùng hay sợ hãi gì nữa, ông chỉ biết khóc lóc thảm thiết: “Tâu Bệ hạ... Sư của con... Sư của con đã viên tịch rồi!” Toàn thể dân chúng chứng kiến cũng đã biết thời điểm hỏa táng cuối cùng đã đến, nhưng vì mọi người đều đã biết thi hài không thể di chuyển được nên họ bàn tán và đưa ra đủ mọi suy đoán khác nhau.

## PAGE 345

Maha **Tissa** than khóc đến lúc mệt lử, một lát sau, chính nhà vua đã lên tiếng tán dương và an ủi ông rằng: “Trong giáo pháp này, một gói vật thực của Maha **Tissa** quả thật có giá trị vô cùng to lớn và mang lại ân đức sâu dày.”

Khi niềm tịnh tín của Maha **Tissa** đã trở nên phấn chấn và hoan hỷ, nhà vua liền ban tặng cho ông những bộ y phục và trang sức dành riêng cho hoàng tộc. Nhà vua bảo ông cởi bỏ bộ quần áo nghèo khổ để thay ngay sang y phục mới rồi ân cần gọi ông là:

“Này hiền huynh Maha **Tissa**, hiền huynh hãy nhìn xem, thiện chí (cetana) và phước báu Ba-la-mật của hiền huynh chính là điều tốt đẹp và cao quý nhất trong toàn bộ hội chúng đang hiện diện nơi đây.

Bây giờ đã đến giờ làm lễ hỏa táng, củi thơm cũng đã sẵn sàng. Hiền huynh Maha **Tissa** hãy thay mặt cho toàn thể mọi người, thực hiện nghi thức cung thỉnh cuối cùng này.” Nghe lời khuyến tấn, Maha **Tissa** tiến đến đài linh linh, cúi lạy dưới chân thi hài và thưa rằng:

“Kính bạch Ngài **Piṇḍapātika Tissa** là bậc ân sư cao thượng, con là người thí chủ vật thực nghèo khổ Maha **Tissa** hiện đã đang quỳ dưới chân Ngài. Xin Ngài hãy cho phép con được thực hiện nghi thức cúng dường.” Nói đoạn, ông ghé vai nâng đài linh lên khỏi đầu, và kỳ lạ thay, tòa linh đài được nhấc lên một cách nhẹ nhàng, dễ dàng.

Hội chúng đang chen chúc chiêm bái vô cùng kinh ngạc trước sự việc chưa từng thấy này. Trong lúc mọi người còn đang trầm trồ kinh ngạc, tòa linh đài đang đặt trên đầu Maha **Tissa** bỗng nhiên bay bổng lên không trung rồi tự động hạ xuống đúng vị trí trên đống củi thơm đã được chuẩn bị sẵn.

Ngay khi thi hài vừa chạm vào đống củi, những ngọn lửa từ bốn phía của đống củi thơm bỗng tự động bùng cháy rực rỡ để thực hiện lễ hỏa táng cúng dường đến Đại đức **Tissa**. (**Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh** - Tập 1, trang 395 - Phần thuyết minh về **Viriya Sambojjhaṅga** (Nỗ lực Giác chi). Trong tác phẩm **Madhura Rasavāhinī**, câu chuyện này được gọi là **Nakula Vatthu**, truyện số 44, có một vài chi tiết hơi khác biệt).

## PAGE 346

**Trưởng lão Piṅgalabuddharakkhita**

**Ân đức to lớn của một bát cơm cúng dường**

303

Trong 9 đức tính của **Ân Đức Tăng**, đức tính **Sāmīcipaṭipanno** (Chánh hạnh) có nghĩa là thực hành đúng đắn để xứng đáng với sự cung kính, tôn trọng và sự cúng dường lễ vật mà các thí chủ đã thực hiện. Việc thực hành để đáp đền ân đức như đã nêu trên chính là ý nghĩa của đức tính này.

Trong 11 nguyên nhân làm phát sinh **Viriya-sambojjhaṅga** (Tinh Tấn Giác Chi), có điều nêu rằng: "**Dāyakānaṃ mahapphalabhāva karaṇena piṇḍapātapacāyanatā** - Cúng dường đáp lại bát cơm bằng cách làm cho phước báu của thí chủ được trở nên to lớn." Đây chính là một trong những nhân duyên thúc đẩy việc nỗ lực tinh tấn thực hành pháp.

**Kinh Mahā-assapura** thuộc **Mūlapaṇṇāsa** (Trung Bộ Kinh) là bài kinh mà Đức Thế Tôn đã đặc biệt nhắc nhở chư Tỳ-kheo về việc "**piṇḍapātapacāyanatā**" (cúng dường đáp lại bát cơm). Nguyên do là vì dân làng Assapura có đức tin trong sáng và sự tôn kính rất mực đối với Tam Bảo, nên Ngài muốn chư Tăng phải thực hành xứng đáng với sự cúng dường đó.

**Cách nuôi mạng của kẻ trọc đầu giàu có**

Vị Tỳ-kheo khi nhận bát cơm từ người đặt bát, dù đó là thí chủ của mình, cũng không được nhìn mặt họ. Nếu nhìn sẽ phạm tội **Dukkhaṭa** (Ưng đối trị). (Vi-4, 384. Chú giải 121. Vi-5-367. Chú giải 233).

Việc dùng lời nói quanh co, ẩn ý để có được vật thực được gọi là "**nimittakathā**" (gợi ý), một cách lừa dối hoặc quyến rù của bậc tu hành. (Visuddhimagga-1, 28 v.v.). Những bậc tu hành chân chính quen sống bằng hạnh khất thực thường mong mỏi rằng: "Biết đến khi nào mình mới được đi khất thực giữa trời mưa gió?" Họ xem đó là niềm tự hào. Ngay cả Đức Thế Tôn khi mới thành đạo, Ngài cũng không thọ dụng vật thực do phụ vương dâng cúng ngay tại cung điện mà dạy rằng: "**Uttiṭṭhe nappa-maj-jeyya** - Không được bỏ bê nhiệm vụ khất thực". Để ban cho bài học đó, Ngài đã đi bát khất thực rồi mới thọ dụng.

Ngược lại, cũng có những vị Tỳ-kheo thường xuyên tích trữ gạo, dầu, muối, mắm tại chùa rồi tự nấu nướng ăn uống. Những vị như vậy không thể gọi là bậc tu hành

## PAGE 347

304

chân chính. Đó gọi là "**muṇḍakuṭumbika jīvika** - Cách nuôi mạng của kẻ trọc đầu giàu có". (Dī-Chg-1, 81 - Giải về Āmisapuda). Những vị không hành theo hạnh bậc tu hành mà lại hành theo thói người đời như vậy chính là nguyên nhân làm tiêu vong giáo pháp, và bị coi là những kẻ xem thường và xúc phạm đến Giáo Pháp (Sāsana). (Pañcaka Aṅguttara + Kinh Anāgatabhaya).

Các bậc Tỳ-kheo cao quý thường luôn nỗ lực lo liệu để lợi ích và hạnh phúc của các thí chủ cúng dường tứ sự được tăng trưởng theo khả năng của mình.

Trong số những vị nỗ lực làm cho vật phẩm cúng dường trở nên thanh tịnh và mang lại phước báu to lớn, **Trưởng lão Subhūti** là vị đệ nhất (Etadagga). Khi đi khất thực, hễ dừng trước cửa một ngôi nhà, ngài liền nhập vào **Mettā-jhāna** (Thiền Từ).

Sau khi nhập **Thiền Từ** với tâm nguyện: "Cầu cho các thí chủ đặt bát cùng tất cả chúng sanh đều được hạnh phúc", ngài mới thọ nhận vật thực cúng dường từ ngôi nhà đó. Trong **Kinh Aṅguttara (Phần A-tăng-khư-da)** có dạy rằng, chỉ cần vị Tỳ-kheo tu tập tâm từ dù chỉ trong chốc lát thì cũng đã xứng đáng với bát cơm cúng dường. (Chi tiết về **Trưởng lão Subhūti** đã được viết trong phần **Mettāvāda - Giải về Phạm Trú**).

Tương tự, đại **Trưởng lão Sāriputta** cũng thường nhập **Nirodha-samāpatti** (Diệt Tận Định) ngay trước cửa nhà khất thực rồi mới nhận vật thực.

Tại hòn đảo Sri Lanka huyền thoại, vào thời vua Porāṇaka, có vị **Trưởng lão Piṅgalabuddharakkhita**. Ngài cư ngụ tại làng **Uttaragāma** (núi **Uttaravanumāna**, chùa **Ammariya**). Đó là một ngôi làng lớn với bảy trăm hộ gia đình sinh sống. Không có cửa nhà nào mà **Trưởng lão Piṅgalabuddharakkhita** không từng dừng lại nhập định. Ngài đi khắp các nhà để nhập định trước khi nhận bát. Việc thực hành này nhằm giúp cho các thí chủ có được lợi ích lớn lao, đồng thời giữ vững đạo hạnh của một bậc **Dakkhiṇeyya** (Ứng cúng) và **Sāmīcipaṭipanno** (Chánh hạnh).

Một thí chủ của ngài cũng là một vị cận sự nam mẫu mực, người có thể đánh đổi mạng sống để giữ gìn giới luật, được ghi danh trong các câu chuyện về **Viratī-vatthu** (Ma-Chg-1, 207. Saṃ-Chg-2, 139, Atthasālinī-146 v.v.).

(Ma-Chg-4, 193-4 - Giải kinh **Araṇavibhaṅga**).

## PAGE 348

**Trưởng lão Mahāmitta, người đáp đền ân đức bát cơm của kẻ nghèo**

**Trưởng lão Mahāmitta**, còn được gọi là **Ayya-mitta**, cư ngụ tại một ngôi chùa trong rừng. Tại ngôi làng nơi ngài thường đi khất thực, có hai mẹ con nghèo khó nỗ lực phụng sự ngài với lòng tôn kính như đối với con ruột.

Một buổi sáng nọ, đến giờ đi bát, Trưởng lão từ trong hang bước ra, đắp y rồi định cầm lấy bát (theo chú giải là ngài dùng thắng trí) thì chợt nghe thấy tiếng nói chuyện của hai mẹ con nọ. Ngài đứng lặng người nghe cho đến hết câu chuyện. Hai mẹ con vốn tôn kính ngài như con ruột và đang lo liệu bát cơm này đang tranh luận với nhau. Trước khi ra đồng làm việc, người mẹ dặn con gái:

"Con này... lại đây mẹ bảo, mẹ phải đi làm đây. Trong nồi ở xó bếp mẹ có chừa lại ít gạo cũ đã chọn sạch rồi. Ở cạnh đó có cả sữa và mật mía mẹ đã chuẩn bị sẵn. Khi nào người anh của con (Trưởng lão) đến khất thực, con hãy nấu nướng thật cẩn thận rồi đặt bát cho ngài. Hãy cúng dường cả sữa và mật mía nữa, phần còn lại thì con ăn. Còn mẹ thì sáng nay đã ăn cơm nguội thiêu từ hôm qua với nước muối rồi."

"Thế còn bữa trưa mẹ định ăn gì?"

"Thì nấu ít gạo vụn với nước muối, lúc sắp bắc xuống thì hái nắm rau bỏ vào, thế là hai mẹ con mình đủ xong bữa rồi."

**Trưởng lão Mahāmitta** đứng yên cầm bát, chăm chú lắng nghe từ đầu đến cuối câu chuyện rồi rơi vào trầm tư. Thực tế này hoàn toàn khác xa với những gì ngài hằng tưởng tượng, khiến ngài đứng lặng người kinh ngạc.

"Này **Mahāmitta**... ngươi có nghe thấy không? Họ thậm chí phải ăn cơm nguội thiêu với nước muối, sống cho qua bữa thôi. Còn đối với ngươi, họ lại lo lắng chuẩn bị loại gạo cũ ngon nhất cùng với sữa và mật mía để cúng dường với tất cả lòng thành kính.

## PAGE 349

“Việc cúng dường như thế này không phải vì họ mong đợi nhận lại từ ngươi ruộng vườn, đất đai hay vàng bạc đá quý gì cả. Họ cũng chẳng phải thân quyến, cũng không phải là người làm hay kẻ hầu hạ đang nương tựa vào ngươi.

“Họ mong cầu hạnh phúc trong ba cõi: Người, Trời và Niết-bàn... Được rồi, còn ngươi, liệu ngươi có thể ban cho họ hạnh phúc mà họ đang khao khát đó hay không?

“Đức Phật cũng không cho phép sử dụng những vật phẩm tốt đẹp này để rồi chỉ biết ngủ, ăn và hưởng thụ sự an nhàn ích kỷ một mình mà không lo tu tập. Chẳng phải Ngài cho phép thọ dụng tứ sự do người khác cúng dường bằng đức tin đúng pháp là để sau đó nỗ lực thực hành hạnh Sa-môn, tự mình thoát khỏi hiểm họa luân hồi, và cũng để có thể thuyết giảng, chỉ dạy, giáo giới cho các thiện nam tín nữ đó sao?

“Mahāmitta, ngươi hãy suy xét đi! Ngươi vẫn còn đầy dẫy tham, sân, si thì không còn xứng đáng thọ dụng loại vật thực này nữa. Nếu ngươi cứ tiếp tục như thế này thì tuyệt đối không nên thọ dụng. Ngươi hãy suy xét kỹ đi!”

Ngài **Mahāmitta** đang chuẩn bị đi khất thực, khi nghe được những lời của hai mẹ con người nghèo khổ thì vô cùng kinh sợ (saṃvega). Ngài liền lau sạch bát, cho vào túi bát rồi đẩy xuống dưới gầm giường. Ngài cũng cởi y đang đắp ra và vắt lên dây treo y. Ngày hôm đó, ngài không đi khất thực cũng không dùng bữa nữa, mà chỉ đi thẳng vào trong hang động **Kassaka**.

Ngài hạ quyết tâm: “Ta sẽ không bước ra khỏi hang này cho đến khi chứng đắc quả vị A-la-hán tối thượng.” Ngài nỗ lực trưởng dưỡng tinh tấn (sammappadhāna). Vì vốn dĩ đã là vị trưởng lão luôn nỗ lực thực hành tuệ quán (vipassanā) suốt ngày đêm, nên chỉ trong một khoảng thời gian ngắn trước khi mặt trời đứng bóng, ngài đã hoàn thành phận sự Sa-môn.

Với gương mặt rạng rỡ và thanh thản như hoa sen nở khi đón ánh bình minh, khi ngài bước ra khỏi hang, vị chư thiên ngự trên cây (rukkha-devatā) gần cửa hang đã thốt lên lời cảm hứng (udāna) tán dương rằng:

**Namo te purisājañña, namo te purisuttama.**
**Yassa te āsavā khīṇā, dakkhiṇeyyosi mārisa.**

“Bạch bậc thiện thệ, con xin đảnh lễ Ngài. Bạch bậc tối thượng nhân, con xin đảnh lễ Ngài. Nơi Ngài, các lậu hoặc (āsava) đã 

## PAGE 350

đoạn tận, Ngài đã trở thành bậc xứng đáng thọ nhận (dakkhiṇeyya) để giúp người cúng dường được phước báu lớn lao, bạch Ngài.”

Sau khi thốt lời tán dương (như để nhắc nhở rằng vẫn còn thời gian khất thực), vị ấy bạch tiếp: “Bạch Ngài, những thiện nam tín nữ nào được cúng dường vật thực đến bậc A-la-hán đi khất thực như Ngài, họ sẽ được thoát khỏi những hiểm họa khổ đau trong cả hiện tại lẫn luân hồi, bạch Ngài.”

Trưởng lão **Mahāmitta** nhìn thời gian thấy vẫn còn kịp giờ khất thực nên ngài đi vào trong làng. Cô con gái người nghèo theo lời mẹ dặn đã nấu nướng rất chu đáo, nhưng đến giờ vẫn chưa thấy ngài đến nên cứ đứng ngóng ra phía đường.

Vừa lúc ngài bước vào nhà, cô vui mừng đỡ lấy bát và dâng cúng món cháo sữa đặc (nỗ-ghana) được nấu với bơ tươi.

Khi ngài chúc phúc “Chúc các con được hạnh phúc” rồi rời đi, cô con gái nhìn theo cho đến khi ngài khuất bóng với niềm hân hoan (pīti) dâng trào. Ngoài việc đây là vật thí do chính tay mình nỗ lực chuẩn bị, cô còn cảm thấy thân sắc của trưởng lão **Mahāmitta** — người mà cô hằng tôn kính như anh trai — hôm nay không giống mọi khi, trông thanh tịnh và sáng chói hơn hẳn. Giọng nói chúc phúc và cử chỉ của ngài cũng trang nghiêm, thanh tịnh hơn thường ngày. Gương mặt ngài đầy vẻ phúc lạc như quả thốt nốt chín vừa mới rụng khỏi cành.

Đang lúc suy nghĩ như thế thì người mẹ đi làm rừng về đến nơi.

“Này con, anh trai con có đến khất thực không?” — Bà hỏi ngay từ trước khi vào nhà, và cô con gái đã kể lại tường tận mọi chuyện. Cô kể chi tiết việc hôm nay ngài trông trang nghiêm thanh tịnh hơn mọi ngày đúng như cô cảm nhận. Người mẹ vốn đã hiểu rõ liền nói:

“Phải rồi... chắc hẳn hôm nay con trai ta đã hoàn thành phận sự Sa-môn rồi.”

Bà nói tiếp: “Vậy là từ nay anh trai con có thể sống an vui lâu dài trong giáo pháp (Sāsana) rồi đó.” Và ngày hôm đó trở thành ngày hạnh phúc nhất của hai mẹ con người nghèo khổ ấy. (**Aṅ-a. 1, 393; Di-a. 2, 379; Ma-a. 1, 298; Saṃ-a. 3, 196**)

## PAGE 351

### Bậc Dự Lưu có hoàn tục hay không?

Đây là lời nói với ý nghĩa rằng những bậc đã chứng đắc quả vị **Bất Lai** (Anāgāmī) và **A-la-hán** (Arahant) thì sẽ không còn hoàn tục nữa.

(Hãy xem thêm trong các bản Pāḷi và Chú giải của: **Aṅguttara Nikāya - Putta Sutta, Papatika Sutta, Tika-Paṭhamasikkhā Sutta; Saṃyutta Nikāya - Kaḷāra Sutta; Vin-a. 1, 31-209; Puggalapaññatti-a. 70**. Riêng về vị Tỳ-kheo là bậc **Dự Lưu** (Sotāpanna), nếu chưa đạt đến sự độc cư (viveka) thuần thục thì vẫn có thể hoàn tục, đây là quyết định của Ngài Đại trưởng lão **Mahāsi**.)

### Trưởng lão Tissa-bhūti bị dao động khi đi khất thực

Có một vị Tỳ-kheo trẻ tên là **Tissa-bhūti** cũng tu học tạng Luật tại tu viện lớn **Kallarā Maṇḍalārāma**.

Một ngày nọ, đang khi vào làng khất thực, ngài vô tình nhìn thấy một người nữ (mātugāma) có sắc diện tương phản, từ đó tâm ái luyến bắt đầu khởi lên và thiêu đốt bên trong, ngài phải chịu đựng nỗi đau đớn dữ dội do mũi tên ái dục (taṇhā) đâm xuyên. Vì sự dao động quá mạnh mẽ khiến ngài không thể bước tiếp, ngài dừng chân định tâm, rồi trút hết phần cháo trong bát của mình sang bát của người học trò nhỏ đi cùng, rồi từ chỗ đó quay trở về chùa.

Ngài kinh hãi nghĩ: “Nếu những dục tầm (kāma-vitakka) này mà lớn mạnh thêm, chắc chắn chúng sẽ đẩy ta xuống ác đạo (apaaya) mất thôi.”

Vừa về đến chùa, ngài liền đến đảnh lễ vị thầy giáo thọ và bạch rằng:

“Bạch Thầy, con vừa bất ngờ khởi lên một căn bệnh. Con muốn nhanh chóng chữa trị nó. Nếu con chữa khỏi căn bệnh này, con sẽ quay lại với Thầy; bằng không, con sẽ không trở lại nữa. Vì vậy, xin Thầy đừng chờ con vào các buổi học trưa và chiều nay. Tuy nhiên, nếu có thể, xin Thầy hãy tạm hoãn buổi học sáng ngày mai cho con.”

## PAGE 352

“Xin phép Thầy cho con đi.” – Ngay sau khi thưa lời, vị Tỳ-kheo trẻ lập tức rời đi và tìm đến chỗ Trưởng lão Mahasaṅgharakkhita tại chùa Malaya.

Khi đến nơi, thấy vị Trưởng lão đang sắp xếp đồ đạc ngăn nắp bên trong giảng đường lợp lá của tu viện, vị Sa-môn trẻ tiến lại gần và đảnh lễ. Trưởng lão thậm chí không buồn nhìn vị Tỳ-kheo Tissabhūti đang đeo bát, vắt hai lớp y trên vai, vừa chạy đến với vẻ mặt mệt nhọc, mà chỉ phán rằng:

“Này Hiền giả, hãy đem y bát của ông đi cất giữ cho ngăn nắp đã.”

Vị ấy cung kính đáp lời: “Bạch Ngài, con đang mắc một căn bệnh trầm kha. Nếu Ngài có thể chữa trị căn bệnh này cho con, con mới có thể an tâm cất giữ y bát được.”

“Này Hiền giả, ông đã đến đúng vị thầy có thể chữa lành căn bệnh của mình rồi đó, cứ cất chúng đi.” – Nghe lời phán ấy, vị Tỳ-kheo trẻ thầm nghĩ: “Bậc Thầy này hẳn phải thông suốt mọi sự mới có thể khẳng định như vậy”, rồi vị ấy cẩn thận cất y bát, thực hiện các bổn phận nhỏ với lòng tôn kính và đến gần đảnh lễ dưới chân vị Trưởng lão.

Trưởng lão quán xét thấy: “Vị Sư trẻ này là người có dục tính (rāga-carita) mạnh mẽ”, nên Ngài đã hướng dẫn tỉ mỉ phương pháp thực hành thiền quán về sự ghê tởm của thân xác (Asubha-kammaṭṭhāna). Sau khi nhận đề mục thiền, vị Tỳ-kheo Tissabhūti không ngồi nán lại lâu mà lập tức đứng dậy, khoác y bát lên vai rồi đứng nghiêm trang đảnh lễ vị Trưởng lão nhiều lần.

“Này Hiền giả Mahābhūti, vì sao ông lại cung kính một cách thái quá như vậy?” – Trưởng lão hỏi.

“Bạch Ngài, thật là đại ân đức. (Chư Phật và các bậc Thầy chỉ là người chỉ đường, còn lại mỗi người phải tự mình nỗ lực). Khi đã biết rõ việc mình cần làm và có thể dấn thân thực hiện thì quả thật là điều tốt lành. Nếu không làm được thì thật chẳng ra gì. Xin Ngài cho phép con đi. Đây là lần cuối cùng con được chiêm bái và đảnh lễ Ngài.”

## PAGE 353

Vị Tỳ-kheo Tissabhūti vừa thưa lời xong liền quay bước ra đi. Vị Trưởng lão tán dương: “Lành thay! Lành thay! Này Hiền giả Mahābhūti, hãy lên đường đi. Với những người có lòng kiên trì và nghị lực phi thường như vậy, không có lý gì mà không đạt được Thiền định, Đạo và Quả đâu.”

Trên đường đi, vị Tỳ-kheo Tissabhūti đã nhắm đến một bụi cây yên tĩnh, râm mát và khi đến nơi, vị ấy liền bước vào trú ngụ. Khắc ghi lời dạy của Thầy vào lòng như đóng đinh lên gỗ, vị ấy trải tấm y phấn tảo ngay trong bụi rậm, ngồi kiết già và bắt đầu quán chiếu về bản chất bất tịnh, đáng ghê tởm của toàn bộ cơ thể, từ sợi tóc, sợi lông cho đến mọi bộ phận khác.

Nhờ chuyên tâm quán chiếu Asubha-kammaṭṭhāna, vị ấy đã chứng đạt từ Cận định (Upacāra-samādhi) đến An chỉ định (Appanā-samādhi). Lấy đó làm nền tảng, vị ấy tiếp tục quán xét bản chất sanh diệt của danh và sắc trong thân này suốt cả đêm, không màng đến giấc ngủ. Khi rạng đông vừa hé rạng, vị ấy đã hoàn tất phận sự của một vị Sa- môn (đạt được mục tiêu giải thoát).

Ngay khi mặt trời mọc, vị Tỳ-kheo Tissabhūti rời khỏi bụi rậm và quay trở lại chùa Maṇḍalārāma ở làng Kalla. Vị Thầy dạy đạo tại đó cũng đang chuẩn bị cho giờ học sáng, và theo lời nhắn trước đó, Ngài vẫn đang đợi Tissabhūti trở về.

Trong Chú giải Mūlapaṇṇāsa (tập 1, phần giải thích kinh Sabbāsava), có chép về “Trưởng lão Tissabhūti”. Ngài là một vị có trí tuệ sắc bén, thường dẫn đầu trong các buổi tụng đọc tập thể. Dù khi thực hành thiền định đã chứng đắc quả vị Bất Lai (Anāgāmī), nhưng Ngài không hề xao lãng việc học tập Giáo pháp (Pariyatti), vẫn kịp trở về tham dự giờ học sáng hôm sau.

Kinh Sabbāsava dạy về nhiều phương pháp khác nhau để ngăn chặn và đoạn trừ các lậu hoặc (āsava). Gương của vị Tỳ-kheo Tissabhūti cho thấy rằng, qua việc học tập, thảo luận và nương tựa bậc minh sư để nhận đề mục hành trì, hành giả có thể đạt được tuệ nhãn để phân biệt điều gì nên làm và không nên làm.

(Đây là tấm gương sáng cho các vị hành giả Pháp học noi theo.)

## PAGE 354

## Vị Tỳ-kheo khất thực không bị ràng buộc — Cūḷapiṇḍapātiya Tissa

Có một vị Trưởng lão tên là Cūḷapiṇḍapātiya Tissa. Khi Ngài đi khất thực tại ngôi làng nọ, có một nữ thí chủ với lòng tịnh tín đã phát nguyện hộ độ vật thực cho Ngài suốt 12 năm ròng rã.

Một ngày nọ, ngôi làng nơi Ngài thường khất thực xảy ra hỏa hoạn, nhà cửa và tài sản bị thiêu rụi. Những vị Tỳ-kheo thường lui tới các gia đình (được gọi là Kulūpaka Bhikkhu) — những vị thường chia sẻ nỗi buồn niềm vui với thí chủ (sahasokī, sahanandī) và sinh hoạt thân mật như người nhà — nghe tin làng cháy liền vội vã chạy đến thăm hỏi các thí chủ của mình:

“Kiṃ upāsike api kiñci bhaṇḍakaṃ arogī kātuṃ asakkhittha = Này nữ thí chủ, việc thế nào rồi? Bà có kịp cứu vãn được chút tài sản nào không?”

Vị nữ thí chủ đã cung kính hộ độ vật thực suốt 12 năm này thường được dân làng gọi thân mật là “Bà lão” với lòng kính trọng. Ngôi nhà của bà cũng bị lửa thiêu rụi, chỉ còn trơ lại những bức tường gạch.

Trong suốt 12 năm, vị nữ thí chủ này chưa bao giờ yêu cầu bất kỳ sự giúp đỡ nào từ vị Tỳ-kheo khất thực, và vị Trưởng lão cũng vậy, ngoài việc trả lời ngắn gọn một hai câu khi được hỏi về Giáo pháp, Ngài không hề có cử chỉ thân mật thái quá hay tìm cách cầu lợi. Ngài không bao giờ gợi ý bất kỳ sự cúng dường nào. Đến giờ, người dâng cúng cứ dâng, người thọ nhận cứ nhận rồi lặng lẽ rời đi như lệ thường.

Thấy vậy, những người hàng xóm — khi nhìn thấy bà lão vẫn đang chuẩn bị vật thực dưới bóng của bức tường gạch còn sót lại sau đám cháy — đã nói rằng:

## PAGE 355

31.2

"Bà cụ à... vị Thầy của bà có lẽ chỉ đến đúng giờ ăn thôi. Đến giờ ăn thì đời nào ông ấy vắng mặt, chắc chắn sẽ đến thôi" — họ vừa đoán vừa nói lời mỉa mai, trêu chọc như thế.

Đến giờ độ ngọ, vị trưởng lão ngự đến. Các vị tỳ-kheo thân hữu (kulu-paka), những vị thường lui tới từng nhà cư sĩ để hỏi thăm thân mật, sau khi thọ thực xong cũng đang ngồi lại bàn tán chuyện làng chuyện xóm.

Bà cụ chủ nhà, khi vị Thầy của mình đến, vẫn chuẩn bị và dâng cúng vật thực chu đáo như thường lệ. Vị trưởng lão chỉ nói: **"Sukhī hotu"** (Chúc thí chủ an lạc) để phúc chúc (anumo-danā) rồi rời đi ngay. Ngài không hề nói thêm lời thừa thãi hay hỏi han chuyện làng xóm chi cả. Khi ngài đã đi rồi, những người hàng xóm lại nói:

"Đấy... bà cụ thấy chưa... chúng tôi nói đâu có sai, Thầy của bà cứ đến giờ ăn là xuất hiện ngay mà." 

Lúc bấy giờ, bà cụ mới đáp lại những người hàng xóm rằng:

"Thôi được rồi... các vị Thầy của các người thì hợp với các người quá rồi, thật là 'nồi nào úp vung nấy'. Còn tôi thì tôi cũng hài lòng với vị Thầy của tôi vậy."

## Buông và Bắt

### 4 cách giao tiếp giữa tỳ-kheo và cư sĩ

Các bậc xuất gia và hàng cư sĩ là những người có mối quan hệ hỗ tương không thể tách rời. Trong việc gánh vác trách nhiệm đối với Giáo pháp (Sāsana), đôi bên nương tựa lẫn nhau như đảo và cây rừng, như vật dụng (paccaya) và chánh pháp (dhamma), như đời (loka) và đạo (lokuttara) song hành, không thể chia cắt. Tuy nhiên, không được phép vì thế mà gắn kết quá mức cần thiết.

1. **Gāha Gāhaka** = Hai bên cùng "bắt" nhau. Một số cư sĩ khi đảnh lễ, cúng nhường đến chư Tăng, lại không hướng tâm đến ân đức của bậc xứng đáng thụ lãnh vật cúng (Dakkhiṇeyya Saṅgha) — vốn là điều rất khó gặp. Họ không suy xét đến những cơ hội lớn lao như được nhận lãnh giới (sīla), định (samādhi), tuệ (paññā) từ các vị tỳ-kheo, hay việc đạt được hạnh phúc ở cõi người, cõi trời và Niết-bàn.

## PAGE 356

31.3

Họ giao tiếp với tâm lý muốn trao đổi lợi ích trước mắt. Kiểu cư sĩ này, theo cách "lợi dưỡng đổi lợi dưỡng", dùng vật chất (āmisa) đưa ra trước để lôi kéo vị tỳ-kheo phục vụ lợi ích cá nhân của mình, gọi là người "bắt" (lôi kéo).

Tiếng Pāḷi gọi là **"Gāha"**, nghĩa là dùng tham, mạn hoặc tà kiến để nắm giữ.

Ngược lại, một số tỳ-kheo cũng vậy, thay vì kết giao để trao truyền trí tuệ, hướng dẫn tu tập để giúp thí chủ được phước báu lớn, thì lại vì muốn có lợi dưỡng mà đi kết giao với cư sĩ theo kiểu thế tục để nuôi thân. Không chỉ dừng lại ở việc khất thực, họ còn đem tặng trái cây, tặng hoa, cho mượn tiền, làm việc sai vặt, can thiệp giúp đỡ các việc đời, xem bói, cho thuốc, v.v. Những hành vi này gọi là làm ô uế gia đình (kula-dūsana), làm hư hại niềm tin trong sạch (saddhā) vốn có của người cư sĩ, khiến họ đi sai đường. Đó là hạng tỳ-kheo không biết hổ thẹn (alajjī).

Cách giao tiếp theo kiểu này, từ phía vị tỳ-kheo cũng được gọi là **"Gāha"**. Do đó, **Gāha-gāhaka** nghĩa là cư sĩ cũng "bắt" (lôi kéo), tỳ-kheo cũng "bắt", một cách giao tiếp kiểu móc nối lẫn nhau.

Vị tỳ-kheo như vậy bị gọi là người phá hoại Giáo pháp, và những cư sĩ cúng dường ủng hộ cũng là người tiếp tay phá hoại Giáo pháp, khi chết dễ bị đọa vào địa ngục như đã dạy trong chú giải **"Cūḷavagga-gaṇṭhi"**.

2. **Gāha-muttaka** = Cư sĩ lôi kéo nhưng vị tỳ-kheo không để bị bắt, ngài buông xả.

3. **Mutta-gāhaka** = Cư sĩ để mặc (buông), nhưng tỳ-kheo lại tìm cách lôi kéo.

4. **Mutta-muttaka** = Cả cư sĩ và tỳ-kheo đều không lôi kéo nhau, cả hai cùng buông xả. 

Trong bốn cách giao tiếp này, chỉ có cách cuối cùng là điều Đức Phật tán thạnh (Theo chú giải bài kinh **Rathavinīta Sutta, Trung Bộ Kinh**). Có những người con của Đức Thế Tôn vì không thấy được rằng "càng không ham muốn thì lại càng nhận được nhiều", nếu sống đúng theo lời dạy của Đức Phật thì mới thực sự đạt được sự hưng thịnh và an lạc to lớn.

## PAGE 357

31.4

### Trưởng lão Tissa và hai anh em Naga: Nhờ giữ gìn tế hạnh (Sāraṇīya) mà hễ nơi đâu có cây rừng, nơi đó có vật thực

Trưởng lão Tissa, vị trú ngụ tại động núi Leṇagiri và khất thực tại làng Mahākhīragāma, là một bậc mẫu mực về việc thực hành các tế hạnh cần được ghi nhớ (Sāraṇīya). (Trong tập **D.P.N.** cũng ghi là Mahākhīragāma và Leṇagiri).

Có lần, năm mươi vị trưởng lão trên đường đi chiêm bái các thánh tích tại đảo Nāgadīpa, khi vào đến vùng Nāgadīpa đã ghé vào làng Mahākhīra này để khất thực. Vì không nhận được vật thực, các ngài đành mang bát không đi ra khỏi làng.

Đúng lúc đó, Trưởng lão Tissa cũng đang đi vào khất thực. Vừa đến cổng làng, ngài gặp các vị trưởng lão nên hỏi:

**Tissa**: "Bạch các Ngài, các Ngài đi khất thực có được gì không ạ?"
**Các vị trưởng lão**: "Này hiền giả, chúng tôi đã đi qua hết các dãy nhà rồi."

**Tissa** (Biết rõ các ngài không nhận được vật thực): "Bạch các Ngài, xin các Ngài vui lòng đợi con ở đây một lát cho đến khi con quay trở lại."

**Các vị trưởng lão**: "Này hiền giả, được thôi. Năm mươi người chúng tôi đi mà ngay cả một chút cơm dính đáy bát cũng không có nữa. Những bậc thường trú ở đây như hiền giả chắc là có khả năng. Ít nhất hiền giả cũng thông thạo các ngõ ngách đi khất thực hơn chúng tôi."

Sau khi trao đổi như vậy, Trưởng lão Tissa đi vào trong làng.

Tại ngôi nhà mà ngài vẫn thường ghé khất thực, bà cụ chủ nhà cũng đang mong đợi ngài và đã chuẩn bị sẵn các loại vật thực nấu từ sữa (nỗ-ghà-nà) để dâng cúng. Vừa thấy ngài đến trước cửa, bà cụ liền đón lấy bát và sớt cúng đầy bát vật thực ấy.

## PAGE 358

Ngài Trưởng lão khoác y mang bát, đi đến gặp năm mươi vị Trưởng lão khách đang chờ đợi ở bên ngoài hành thiền. Đầu tiên, Ngài đến gần vị Trưởng lão lớn nhất trong Tăng chúng, mở bát và cung thỉnh Ngài lấy vật thực dùng bữa. Khi vị Trưởng lão trưởng thượng nhìn thấy cơm sữa đặc (nott-ghana), Ngài kinh ngạc nhìn sang các bạn đồng tu khác. Ánh mắt như muốn nói rằng: "Chúng ta đã đi khắp các nẻo đường trong làng suốt thời gian dài mà chẳng nhận được gì. Vị này vừa đi một lát đã quay lại ngay với đầy đủ vật thực như thế này. Chuyện này là thế nào?". Nhìn thấy vậy, Ngài Tỳ-kheo Tissa bạch rằng:

— Bạch các Ngài, xin các Ngài đừng có sự nghi ngờ hay hối tiếc (kukkucca) nào cả. Vật thực này là vật thực thu nhận đúng theo Chánh Pháp và Luật (Vinaya). Kính thỉnh các Ngài thọ nhận...

Bắt đầu từ vị Trưởng lão lớn nhất, Ngài lần lượt dâng cúng theo thứ bậc hạ lạp cho đến vị cuối cùng, ai nấy đều được dùng no đủ theo ý muốn. Sau đó, chính Ngài cũng thọ thực một cách sung túc.

Khi chứng kiến toàn bộ năm mươi mốt vị Tăng chỉ với một bát vật thực mà ai nấy đều được dùng bữa no nê, vị Trưởng lão trưởng thượng hỏi Ngài Tissa:
**Trưởng lão trưởng thượng:** Này hiền giả, hiền giả đã đắc được pháp thượng nhân (lokuttara) này từ khi nào vậy?
**Tissa:** Bạch Ngài, con vẫn chưa đắc được pháp thượng nhân nào cả.
**Trưởng lão trưởng thượng:** Vậy thì chắc hiền giả là bậc đắc thiền (jhānalābhī) rồi.
**Tissa:** Bạch Ngài, con cũng chưa đắc được Thiền (jhāna) nào cả.
**Trưởng lão trưởng thượng:** Nếu nói chưa đắc được gì cả, thì đây chẳng phải là thần thông hay sao, này hiền giả?
**Tissa:** Bạch Ngài, sự thật là con đã từng thực hành trọn vẹn các bổn phận tương trợ (sāraṇīya-vatta). Kể từ khi hoàn tất các bổn phận tương trợ này, cho dù Tăng chúng có đến một trăm hay một ngàn vị, vật thực trong bát của con cũng không bao giờ cạn kiệt.
(Đây là lời trình bạch của Ngài để chư vị Trưởng lão gỡ bỏ sự nghi ngại về Luật).
**Trưởng lão trưởng thượng:** Lành thay! Lành thay! Này bậc thiện hữu, hạnh tu của hiền giả thật vô cùng tốt đẹp và đáng để noi theo.

## PAGE 359

### Nhận được vật phẩm tối thượng trong các đại lễ cúng dường

Chính Ngài Trưởng lão Tissa này, có một lần Ngài đi đến dự đại lễ cúng dường Tăng-già (Saṅghadāna) mang tên "Giribhaṇḍa Mahāpūjā" (Đại lễ thắp đèn cúng dường Phật) tại núi Cetiya. Ngài đi đến nơi trưng bày các loại vật phẩm cúng dường được sắp xếp một cách trang nghiêm để dâng lên chư Tăng và hỏi:

— Này các thí chủ, trong số này vật nào là tốt nhất?

Khi nghe trả lời rằng có hai xấp vải để may y là tốt nhất, Ngài nói:

— Hai xấp vải tốt nhất đó sẽ thuộc về bần đạo thôi.

Nói xong, Ngài rời đi. Một vị quan đại thần nghe được lời này liền đi tâu với Đức vua rằng có một vị Tỳ-kheo trẻ đã nói như vậy. Đức vua phán rằng:

— Các vị Tỳ-kheo trẻ thường là như vậy, thích đồ tốt là chuyện thường tình. Tuy nhiên, hai xấp vải mịn màng quý giá này chỉ xứng đáng với chư vị Trưởng lão trưởng thượng mà thôi.

Nói rồi, nhà vua cho đặt hai xấp vải ấy ở vị trí trang trọng nhất trên cùng.

Khi chư Tăng lần lượt tiến vào thọ nhận cúng dường theo thứ tự hạ lạp, chính Đức vua là người tận tay dâng cúng. Thế nhưng, mặc dù nhà vua có ý định dành riêng hai xấp vải trên cùng cho các vị Trưởng lão lớn, nhưng khi đưa tay ra, Ngài lại không chạm vào chúng mà chỉ cầm nhầm các vật phẩm khác.

Sau khi đã dâng cúng cho tất cả các vị Trưởng lão lớn, đến lượt vị Tỳ-kheo trẻ Tissa, Đức vua lại cầm đúng hai xấp vải ấy. Nhà vua liền dâng vào tay vị Tỳ-kheo trẻ, sau đó mỉm cười ra hiệu cho vị quan đại thần đứng gần đó và yêu cầu vị Tỳ-kheo trẻ nán lại một lát.

Sau khi đại lễ Saṅghadāna kết thúc, chư Tăng ra về. Đức vua và các quan đại thần tiếp tục dâng cúng thêm nhiều vật phẩm khác cho Ngài Tỳ-kheo Tissa, rồi cung kính ngồi xuống đảnh lễ trước mặt Ngài. Đức vua bạch rằng:

## PAGE 360

**Đức vua:** Bạch Ngài, Ngài đã đắc được pháp thượng nhân này từ khi nào vậy?

Ngài Trưởng lão, dù chỉ là dùng lời lẽ ẩn dụ, cũng tuyệt đối không nói về những đức hạnh mà mình không có hoặc thực sự chưa đắc được. Ngài đáp:

**Trưởng lão:** Tâu Đại vương, bần đạo vẫn chưa đắc được pháp thượng nhân nào cả.

Khi Ngài nói sự thật như vậy, Đức vua lại hỏi:

**Đức vua:** Bạch Ngài, vậy tại sao Ngài lại có thể khẳng định chắc chắn rằng hai xấp vải này sẽ thuộc về Ngài?

**Trưởng lão:** Tâu Đại vương, đúng là như vậy. Bần đạo có thực hành theo bổn phận tương trợ (sāraṇīya-vatta) mà Đức Thế Tôn đã giảng dạy. Kể từ khi thực hành hạnh sāraṇīya này, tại những nơi phân chia các loại vật phẩm cúng dường, bần đạo thường có duyên thọ nhận được những vật phẩm tốt đẹp nhất.

**Đức vua:** Lành thay! Bạch Ngài, lành thay, lành thay! Hạnh tu của Ngài thật cao quý thay.

Sau khi bạch lời như vậy, Đức vua và vị quan đại thần vô cùng hoan hỷ phục vụ Ngài Trưởng lão Tissa rồi xin phép ra về.

### Hai anh em Ngài Trưởng lão Nāga trong cơn quốc nạn

Có một vị Tỳ-kheo-ni tên là Nāga, vị này dẫn dắt mười hai vị Tỳ-kheo-ni đệ tử cư ngụ tại làng Bātara.

Khi nạn loạn quân Brāhmaṇa Tissa xảy ra trên đảo Sri Lanka, dân làng Bātara không kịp báo tin cho Ngài Tu nữ Nāga mà đã vội vàng bỏ làng tháo chạy ngay trong đêm để tìm nơi lánh nạn.

Đến sáng sớm hôm sau, Ngài Tu nữ bảo:

— Này các sư cô, sao cả làng im ắng quá, không nghe thấy một tiếng động nào cả. Các con hãy đi xem thử chuyện gì đã xảy ra.

Khi các vị Tỳ-kheo-ni trẻ đi xem xét thì quay về trình báo rằng toàn bộ dân làng đã di tản hết từ đêm qua.

## PAGE 361

**318**

“Các sư cô… các sư cô đừng quá lo âu, sầu muộn vì việc các thí chủ đã di tản lánh nạn. Hãy cứ nỗ lực học tập và duy trì việc hành trì giáo pháp của chính mình,” vị trưởng lão ni đã dùng những lời lẽ trấn an để khích lệ tinh thần chư ni.

Đến giờ đi khất thực, sư bà **Nāgatherī** cùng với mười hai vị tỳ-kheo-ni khác đã đắp y theo đúng nghi thức truyền thống và đi vào làng theo thứ tự hạ lạp như thường lệ. Trong khi các tỳ-kheo-ni trẻ còn đang ngập ngừng chưa biết nên đi đâu, khi đến lối vào làng, sư bà **Nāgatherī** đã dừng chân lại dưới một gốc cây đa lớn ngay cổng làng.

Vị đại vương Thiên thần hộ trì cây đa ấy đột nhiên hiện xuống và dâng cúng đầy đủ vật thực cho cả mười hai vị trưởng lão ni. Vị ấy còn cung thỉnh rằng: “Bạch các sư bà… về phần vật thực, các sư bà đừng đi đâu khác, xin hãy từ bi nhận sự cúng dường tại đây mỗi ngày.”

### Vị tỳ-kheo trẻ từ chối vật thực của chị mình

Sư bà **Nāgatherī** có một người em trai cũng là một vị trưởng lão, tên là **Nāgathera**. Vị ấy đang trú ngụ tại một thành phố khác. Một hôm, vị trưởng lão **Nāgathera** ấy nói với các đệ tử rằng:

“Này chư hiền… đất nước này hiểm họa ngày càng gia tăng. Chúng ta ở lại đây sẽ khó có đủ vật thực để duy trì mạng sống. Tốt hơn là nên di chuyển sang một quốc gia khác.” Nói rồi, vị ấy dẫn theo mười một vị đệ tử rời khỏi trú xứ. Với ý định sẽ ghé thăm chị mình là sư bà **Nāgatherī** trước khi ra đi, họ đã lên đường hướng về làng **Bhātara**.

Khi được tin người em trai cùng các vị tỳ-kheo đang đến thăm mình, sư bà đã đi ra đón tiếp và thuật lại tình hình loạn lạc của quân phiến loạn diễn ra như thế nào. Sau khi hiểu rõ mọi chuyện, sư bà thưa rằng:

“Nếu vậy, xin các sư hãy tạm nghỉ lại đây một đêm, rồi ngày mai hãy tiếp tục hành trình.” Mười hai vị trưởng lão tỳ-kheo đã nghỉ lại tại chùa đêm đó.

## PAGE 362

**319**

Sáng hôm sau, đến giờ khất thực, sư bà đi đến gốc cây đa nhận vật thực rồi mang về dâng cúng cho các vị tỳ-kheo em mình: “Bạch các đại đức, xin hãy thọ dụng vật thực này.”

“Bạch sư bà, vật thực này có hợp luật (kappiya) hay không?” (Vị trưởng lão dừng lại, chưa thọ dụng).

“Bạch các vị em của tôi… xin đừng có tâm hoài nghi hối quá (kukkucca) gì cả. Đây là vật thực có được một cách đúng pháp, xin các vị hãy thọ dụng.”

“Bạch sư bà, liệu có hợp luật chăng?”

Sư bà không giải thích thêm nữa, nhưng để minh chứng rằng đây là vật thực có được một cách chân chính, bà đã phát nguyện (adhiṭṭhāna) rồi nâng bình bát lên cao. Bình bát ấy đột nhiên lơ lửng dừng lại trên không trung. Tuy nhiên, vị trưởng lão em trai vốn là người vô cùng kính trọng Luật tạng vẫn nói rằng:

“Bạch sư bà… cho dù bình bát có lơ lửng ở độ cao bằng bảy thân cây thốt nốt đi chăng nữa, thì vật thực của tỳ-kheo-ni vẫn là vật thực của tỳ-kheo-ni. Đây không phải là vật thực có được bằng chính đôi chân đi khất thực của mình.

“Bạch sư bà, nạn nước mất nhà tan này cũng không kéo dài mãi mãi đâu. Khi đất nước thái bình, yên ổn trở lại, nếu có lúc tôi phải thuyết giảng về pháp **Ariyavaṃsa** (truyền thống của bậc Thánh) — vốn dạy rằng phải biết tri túc với bất cứ sàng tọa hay vật thực nào nhận được — mà tâm tôi lại tự hỏi rằng: ‘Này hiền giả… chẳng phải chính ông đã từng thọ dụng vật thực của tỳ-kheo-ni đó sao?’, thì khi ấy tôi sẽ rất khó để trả lời một cách kiên định. Tự tâm mình phải thấy trong sạch thì mới tốt.

“Thôi thì… mong các sư bà đừng buông lung, hãy luôn giữ chặt pháp **không phóng dật** (appamāda) và chuyên tâm hành trì giáo pháp của chính mình.”

Sau khi nói những lời ấy, vị trưởng lão cùng mười một vị tỳ-kheo khác đã lên đường mà không thọ dụng vật thực. Vị Thiên thần hộ trì cây đa ở cổng làng **Bhātara** cũng đã âm thầm quan sát và có chủ ý giúp đỡ theo cách của mình.

Vị ấy suy nghĩ: “Nếu các vị trưởng lão thọ dụng vật thực từ tay vị trưởng lão ni thì ta không cần ngăn cản. Nhưng nếu họ không thọ dụng, ta phải tìm cách mời họ dừng chân lại.” Nghĩ đoạn, khi thấy các vị trưởng lão đang chuẩn bị tiếp tục hành trình, vị Thiên thần từ trên cây xuống khẩn khoản:

## PAGE 363

**320**

“Bạch các Ngài… xin hãy từ bi cho con được hộ bát,” rồi vị ấy thỉnh các vị trưởng lão đến gốc cây đa, sắp xếp chỗ ngồi chu đáo và dâng cúng vật thực. Sau khi các vị thọ dụng xong, vị Thiên thần đã tha thiết thỉnh cầu các Ngài mỗi ngày hãy đến đây để nhận cúng dường. Suốt bảy năm dài, vị Thiên thần ấy đã đều đặn dâng cúng vật thực cho cả hai mươi bốn vị tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni (con trai và con gái của Đức Phật).

Câu chuyện về sư bà **Nāgatherī** là một minh chứng cho thấy khi một người thực hành viên mãn bổn phận **Sāraṇīya** (khả hỷ), lúc gặp khó khăn sẽ luôn được chư thiên hộ trì. (**Chú giải Trung Bộ Kinh 2, trang 295-7 — Phần giải thích kinh Kosalliya.**)

### Cách thực hành bổn phận Sāraṇīya

Có sáu pháp **Sāraṇīya** (pháp cần được ghi nhớ/đáng yêu kính). Những pháp này đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng (trong các kinh như **Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Sáu Pháp, Phẩm Sāraṇīya**; **Trung Bộ Kinh - Kinh Kosambiya, Kinh Tiểu Gosinga, Kinh Sāmagāma**; và trong **Luật Tạng - Đại Phẩm**):

“Này các tỳ-kheo… sáu pháp **Sāraṇīya** này tạo nên sự thương yêu, tạo nên sự kính trọng, dẫn đến sự tương trợ lẫn nhau, không tranh cãi, tạo nên sự hòa hợp và nhất trí giữa các bạn đồng tu (người sống chung với nhau). Sáu pháp ấy là:

1. Giữ gìn Thân nghiệp từ (Mettā-kāyakamma).
2. Giữ gìn Khẩu nghiệp từ (Mettā-vacīkamma).
3. Giữ gìn Ý nghiệp từ (Mettā-manokamma).
4. Chia sẻ các vật dụng nhận được đúng pháp với các bạn đồng tu có giới hạnh, không phân biệt, không giữ riêng (xem như của chung để cùng thọ dụng).
5. Có cùng giới hạnh (Sīla) trong sạch như nhau.
6. Có cùng tri kiến (Diṭṭhi - quan điểm) đứng đắn như nhau.”

Người muốn thực hành trọn vẹn bổn phận **Sāraṇīya** phải đầy đủ sáu chi phần này. Việc giữ gìn ba nghiệp từ ái tưởng chừng như dễ dàng nhưng thực ra lại rất khó khăn. (Phần này đã được viết chi tiết trong phần giải thích về **Mettā-bhāvanā Brahmavihāra** - Thiền Từ bi/Tứ Vô lượng tâm.)

## PAGE 364

Trong sáu pháp này, "vật phẩm thuộc sở hữu cá nhân" trước hết chính là phần vật thực khất thực nhận được. Từ phần vật thực đó trở đi, vị ấy phải có tâm niệm và cách sử dụng như là của chung, không chia rẽ, không phân biệt hay giới hạn đối với các bạn đồng phạm hạnh.

Vị ấy không được đặt ra giới hạn như: "Chỉ cho vị này, hoặc chỉ cho chừng này". Vật phẩm đó phải là **dhamma-laddha**, tức là vật phẩm đúng pháp và hợp pháp. Ngay từ khi nhận vật thực, vị ấy phải có ý định sẽ chia sẻ và sử dụng chung với Tăng chúng.

Đối với cha mẹ và thầy Tế độ (Upajjhāya), v.v., vị Tỳ-kheo có thể dâng cúng vật thực cho họ, điều này không có lỗi. Tuy nhiên, nếu thực hành **tế hạnh Sāraṇīya (Sāraṇīyavatta)** này, việc đó lại trở thành một sự bận tâm (palibodha), vì nó mang tính chất hạn định, nên vị ấy không thực hiện việc tư riêng đó.

Dù vậy, vẫn có những đối tượng mà vị ấy có thể ưu tiên cho nếu muốn. Ví dụ: Tỳ-kheo bị bệnh, Tỳ-kheo chăm sóc bệnh, Tỳ-kheo khách (āgantu), Tỳ-kheo đang đi đường, hoặc những vị Tỳ-kheo mới (tân tùng) chưa biết cách cầm giữ bát y; nếu muốn, vị ấy có thể cho những vị này.

Sau khi đã dành phần cho những người cần thiết như vậy, phần vật thực còn lại phải được dâng cúng rộng rãi cho tất cả các vị sống chung trong trú xứ, bắt đầu từ vị Đại trưởng lão bậc Thượng tọa cho đến vị Tỳ-kheo nhỏ nhất theo thứ tự hạ lạp. Đây không phải là việc dâng cúng một ít mang tính hình thức, mà phải dâng cúng theo nhu cầu của chư Tăng. Nếu không đủ hoặc không còn dư, vị ấy phải đi khất thực thêm và tiếp tục dâng cúng những phần tốt nhất cho đến vị Đại trưởng lão theo cách như trước.

Chỉ sau khi đã dâng cúng cho toàn thể Tăng chúng, phần vật thực còn sót lại vị ấy mới tự mình thọ dụng. (Tuy nhiên, đối với người phạm giới (dussīla), vị ấy có quyền không cho).

### Thời gian thực hành và lợi ích đạt được

Pháp học về **Sāraṇīya** này nếu được thực hành trong một hội chúng có trí tuệ và có giáo dưỡng thì sẽ dễ dàng hoàn thiện. Hội chúng như vậy, nếu đã nhận được vật thực từ nơi khác, họ sẽ không nhận thêm nữa. Thậm chí nếu chưa có, họ cũng biết tiết độ mà thọ nhận, không bao giờ nhận phần dư thừa.

Pháp hành này đòi hỏi nếu cần thiết, vị ấy phải đi khất thực nhiều lần để cúng dường cho chư Tăng và chỉ ăn phần còn lại. Nếu thực hành liên tục trong mười hai năm thì pháp này mới được gọi là hoàn tất trọn vẹn. Không nên thực hành ít hơn thời gian đó.

## PAGE 365

Nếu gần đủ mười hai năm, khi vị ấy đặt bát ở trai đường để đi tắm, mà chư Tăng biết đó là bát của người đang thực hành **Sāraṇīya** nên đã chia nhau dùng hết sạch; lúc đó vị ấy không được có tâm oán trách hay buồn phiền rằng: "Họ ăn sạch vật thực của mình, chẳng chừa lại chút nào". Nếu khởi tâm như vậy, tế hạnh **Sāraṇīya** sẽ bị hư hoại. Vị ấy không thể chỉ thực hành bù một ngày, mà phải bắt đầu lại từ đầu mười hai năm nữa.

Vị ấy phải thực hành với tâm hoan hỷ, không một chút oán hận trong suốt mười hai năm, với ý nghĩ rằng: "Các bạn đồng phạm hạnh dù không nói, không xin mà vẫn thọ dụng để hộ trì cho mình, thật là đại phước đức cho mình". Tâm đố kỵ (issā) và bỏn xẻn (macchera) phải hoàn toàn vắng bóng.

Nếu có thể thực hành trọn vẹn không khiếm khuyết suốt mười hai năm như vậy (theo các tấm gương đã dẫn chứng), vị ấy chắc chắn sẽ đạt được các lợi ích:

1. Được mọi người yêu mến, kính tin, không bị lòng đố kỵ hay bỏn xẻn ngăn trở.
2. Được chư thiên yêu mến và hộ trì.
3. Vật phẩm, lộc lá (lābha) đến một cách dễ dàng.
4. Chỉ với phần vật thực trong một bát mà dâng cúng không bao giờ cạn kiệt.
5. Khi phân chia vật phẩm (kể cả khi bắt thăm), vị ấy luôn nhận được vật phẩm tốt nhất.
6. Khi đất nước loạn lạc hay gặp nạn đói, chư thiên sẽ đặc biệt quan tâm trợ giúp.
(Theo **M-ṭṭh 2, 293-5, kinh Kosambiya** và **A-ṭṭh-3, 92; D-ṭṭh-2, 124**).

## PAGE 366

## CHƯƠNG (4)
### Chiếc giường Giới hạnh và những vị Trưởng lão mẫu mực về lòng Từ

Bỏ nhỏ vì lớn

**Dhānaṃ caje aṅgahetu**
**Aṅgaṃ jīvitappaccayā**
**Dhānaṃ aṅgañca jīvitaṃ**
**Sabbampi dhammappaccayā.**

Vì bảo vệ các bộ phận cơ thể (chi thể), hãy từ bỏ tài sản. Vì bảo vệ mạng sống, hãy từ bỏ các bộ phận cơ thể. Nhưng vì bảo vệ Chính Pháp, hãy sẵn sàng từ bỏ cả tài sản, thân thể và ngay cả mạng sống của chính mình. (Theo **Visuddhimagga**).

## PAGE 367

### Đại trưởng lão Mahādutta trú tại Ariyakoḷi-vāsī, bậc vượt qua hiểm họa nhờ trì giới

Đại trưởng lão Mahādutta, trú tại vùng Ariyakoṭi, trong khi đang du hành vì một công sự nọ, trên đường đi đã đến một khu rừng. Vì quá mệt mỏi do hành trình đường xa, ngài đã vào nghỉ chân dưới một cội cây lớn có bóng mát sum sê. Ngài quyết định: “Chà... Ta sẽ nghỉ ngơi ở đây một ngày, hành Pháp xong rồi mới tiếp tục hành trình”, sau đó ngài trải đại y (sanghāti) xuống gốc cây ấy và bắt đầu hành Pháp.

Khi vị trưởng lão vừa đến, những đứa con của vị thạnh hoàng Rukkhaso (vị chư thiên hộ trì cây) do luồng ân đức trì giới của ngài mà cảm thấy bồn chồn, bất an, hoảng sợ rồi khóc thét lên. Vì lý do đó, vị thạnh hoàng Rukkhaso đâm ra sân hận với vị trưởng lão và rung lắc cây dữ dội. Thế nhưng, vị trưởng lão vẫn điềm nhiên không hề dao động, tiếp tục duy trì việc quán chiếu thiền tập.

Thấy vị trưởng lão không có vẻ gì là sợ hãi hay kinh động, vị chư thiên lại liên tục phóng ra những luồng khói lửa hừng hực. Vị trưởng lão vẫn không hề nao núng. Vì không thể dùng bất cứ cách nào để hù dọa hay xua đuổi được ngài, cuối cùng vị chư thiên bèn biến hóa thành một người gia chủ (daga), đến đảnh lễ và đứng hầu bên cạnh ngài.

**Trưởng lão**: Ông là ai?
**Chư thiên**: Con là vị thạnh hoàng canh giữ cội cây này, thưa Ngài.
**Trưởng lão**: Có phải chính ông vừa thực hiện những trò hù dọa lúc nãy không?
**Chư thiên**: Dạ đúng vậy, thưa Ngài.
**Trưởng lão**: Tại sao ông lại làm như thế?
**Chư thiên**: Thưa Ngài, vì Ngài ngụ dưới cội cây này, do oai lực trì giới của Ngài mà các con của con không thể nào ở yên được, chúng cứ hoảng hãi khóc thét lên. Vì lẽ đó, con mới làm vậy để mong Ngài rời đi.
**Trưởng lão**: Này gia chủ, tốt thôi... Tuy nhiên, tại sao ngay từ đầu ông không bạch rằng: “Bạch Ngài, xin đừng ở đây, vì chúng con phải chịu cảnh khổ sở, bất an khi Ngài ngụ lại”?

## PAGE 368

Thôi... bây giờ thì chuyện đã rồi, ta cũng không muốn nói thêm làm gì nữa. Thật là điều đáng xấu hổ nếu người ta nói rằng Đại trưởng lão Mahādutta phải tháo chạy vì sự đe dọa của phi nhân (amanussa). Vì vậy, ta sẽ ở lại đây nốt ngày hôm nay. Gia quyến các ông hãy chịu khó lánh tạm đi nơi khác phù hợp trong ngày này vậy.

Sau khi nói như thế, Đại trưởng lão Mahādutta lại tiếp tục việc quán chiếu thiền tập của mình. (Theo chú giải Trung Bộ Kinh, tập 1, trang 165 - phần chú giải bài kinh Ākaṅkheyya Sutta thuộc Mūlapaṇṇāsa).

#### Trì giới chính là viên ngọc như ý (Kinh Ākaṅkheyya)

Đức Thế Tôn đã đưa ra lời đảm bảo đầy mạnh mẽ để những vị Tỳ-kheo tầm thường, kém cỏi không còn dám bào chữa rằng: “**Sace mayaṃ catūhi paccayehi nakilameyyāma, sīlādi pūretuṃ sakkuṇeyyāma**” = Nếu chúng ta không bị thiếu thốn về tài vật kinh tế thì có lẽ đã có thể tu tập các pháp như trì giới rồi; đằng này vì 'cái bụng không no nên không thể giữ giới', v.v.

“Này các Tỳ-kheo...
1. Nếu muốn được các bạn đồng phạm hạnh yêu mến, kính trọng và muốn dễ dàng thành tựu thiền định (samatha) và tuệ quán (vipassanā):
2. Nếu muốn được đầy đủ lợi lộc vật dụng:
3. Nếu muốn cho các thí chủ (chúng sanh) của mình được thoát khỏi hiểm họa, được tăng trưởng an lạc:
4. Nếu muốn gửi phước lành đến cha mẹ, ông bà đã quá vãng được sanh về thiện thú (sugati) và hưởng nhiều lợi ích:
5. Nếu muốn có được sự hân hoan trong các công hạnh của bậc thiện trí và muốn chiến thắng, vượt lên trên các dục lạc thế gian (**arati-rati-saho**):
6. Nếu muốn có khả năng chịu đựng và vượt qua mọi sự quấy nhiễu, hiểm họa hãi hùng khi ở nơi rừng núi (**bhaya-bherava-saho**):
7. Nếu không chỉ muốn đạt được các tầng thiền định thế gian mà còn muốn làm chủ chúng một cách thuần thục, thiện nghệ và sống một cách an lạc:

## PAGE 369

8. Nếu muốn từ các Thắng trí (Abhiññā) thế gian cho đến Lậu Tận Minh (Āsavakkhayañāṇa) — tức là đạt đến quả vị A-la-hán — cùng với các phẩm tính đặc biệt mà chứng đắc Niết-bàn:

“**Sīlesvevassa paripūrakārī**” = Hãy giữ gìn giới luật cho thật trọn vẹn đầy đủ. Đức Thế Tôn đã trực tiếp chỉ dạy như thế. (Đừng tu tập chỉ vì ham muốn đạt được kết quả, nhưng nếu thực hành đúng thì chắc chắn kết quả sẽ đến).

Câu chuyện về Đại trưởng lão Mahādutta ở trên chỉ là để minh họa cho việc vượt qua hiểm họa. Tóm lại, trì giới không chỉ giúp chúng ta sống an vui, đầy đủ trong phạm vi thế gian, mà còn là động lực cốt lõi to lớn để chấm dứt lậu hoặc, đạt đến các thần thông và quả vị A-la-hán trong địa hạt xuất thế gian.

### **Đại trưởng lão Ambakhādaka Mahātissa, vị chứng đắc A-la-hán nhờ quán xét giới luật khi đang** **được** **cõng** **trên** lưng người khác

Vào thời giáo pháp hưng thịnh tại đảo quốc Srilanka (Sīhaḷa), trong số những vị trưởng lão xứng đáng là tấm gương mẫu mực về trì giới, Đại trưởng lão Ambakhādaka Mahātissa trú tại vùng Ciragumma là một bậc thánh tiêu biểu như thế.

Lúc bấy giờ, khi toàn đảo Srilanka đang gặp nạn đói kém dữ dội (dubbikkha-ntara-kappa), Trưởng lão có công sự phải đi xa. Do tuổi đã cao, hành trình lại nhọc nhằn, cộng thêm việc thiếu thốn vật thực nên ngài mệt mỏi rã rời, sức lực cạn kiệt đến mức không muốn bước tiếp và phải dừng lại nghỉ giữa đường. Ngài không còn đủ sức để đi tiếp nữa.

Ngài tựa lưng nghỉ ngơi dưới gốc một cây xoài lớn có bóng mát ven đường. Trên mặt đất dưới gốc xoài, ngài nhìn thấy những quả xoài chín vàng rụng nằm rải rác. Dù đang rất đói khát và rất muốn thọ dụng, nhưng ngài đã quán xét lại giới luật của mình và kìm nén sự khao khát ấy lại.

## PAGE 370

Cách định giá đời sống và Giáo pháp

**Dhanoṃ caje aṅgahetu, aṅga jīvitpaccayā.**
**Dhanoṃ aṅgañca jīvitàṃ, sabbampi dhammappaccayā.**

“Này Hiền giả Tissa, ở thế gian này, nếu gặp phải cảnh ngộ phải hy sinh tay chân, mà nếu dùng tài sản để có thể thoát được thì vì thân thể mà ta nên sẵn lòng từ bỏ tài sản. Lại nữa, nếu tính mạng gặp nguy hiểm, phải hy sinh tay chân mới bảo toàn được sự sống thì cũng vì mạng sống mà ta phải biết hy sinh thân thể.

“Này Hiền giả Tissa, nhưng khi đứng trước sự lựa chọn giữa tài sản, thân thể, mạng sống với việc giữ gìn giáo pháp cao thượng gồm Giới, Định, Tuệ, thì này Hiền giả, ta phải sẵn sàng từ bỏ tất cả từ tài sản, thân thể đến cả mạng sống để bảo vệ Giáo pháp.” Nhìn những quả xoài chín, Ngài nén lòng ham muốn, tự chế ngự và răn dạy bản thân như vậy. (Bài kệ này được soạn lại từ Thanh Tịnh Đạo để dễ đọc tụng).

Dù Đại đức có thể tự chế ngự và răn dạy mình như thế, nhưng nếu không nhận được chút vật thực nào thì thời điểm Ngài viên tịch tại nơi đó sẽ không còn xa nữa. Ngọn đèn mạng sống đã yếu ớt, không còn sức để nhúc nhích hay ngồi dậy. Tuy nhiên, vị Đại đức đã hạ quyết tâm đánh đổi mạng sống để giữ gìn phẩm hạnh trong sạch của mình.

“Này Hiền giả Tissa, giờ đây chính là lúc phải cân nhắc giữa Giới hạnh và mạng sống. Ngươi sẽ chọn ăn xoài chín để giữ mạng sống mà làm trái lời dạy của Luật tạng, hay sẽ chọn giữ gìn Giới luật dù phải hy sinh tính mạng?

“Giới Tứ thanh tịnh (Catupārisuddhisīla) của bậc Tỳ-kheo tóm lược có 227 điều, còn về chi tiết thì lên đến chín tỷ một trăm tám mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi ngàn điều. Dẫu có sự phân định số lượng như vậy, nhưng Hiền giả đã không giới hạn rằng mình chỉ thực hành trong phạm vi

## PAGE 371

ngần này hay ngần kia. Kể từ khi xuất gia, Hiền giả cũng không quy định giới hạn theo thời gian hay lứa tuổi, mà đó là giới hạnh ‘Vô hạn’ (Apariyanta).

“Ngươi đã biết rõ lời Đức Thế Tôn dạy rằng: Nếu thọ trì Giới hạnh tinh nghiêm thì những lợi lộc, quyến thuộc, danh tiếng chưa có sẽ phát sanh, những thứ đã có sẽ càng thêm tăng trưởng... Đó còn là sự hỗ trợ tốt đẹp để cha mẹ, thân quyến đã quá vãng cũng như những người thân còn sống được an vui, không gặp hiểm họa (Kinh Ākaṅkheyya - Mūlapaṇṇāsa). Tuy nhiên, này Hiền giả, việc ngươi giữ giới không phải vì muốn lợi lộc, danh tiếng hay quyến thuộc; cũng không xen tạp mong cầu sự an vui cho bản thân hay cha mẹ, người thân; mà đây là vì ‘Sự thanh tịnh’ (Pārisuddhi) – một giới hạnh trọn vẹn và hoàn toàn trong sạch, đúng không?”

“Nếu có phải chết thì cứ chết. Để sống thêm một chút ở tuổi này mà chống lại hay làm trái giáo lệnh của Đức Phật thì thật không nên. Hãy chỉ nhất tâm hướng về Giới hạnh của mình thôi!”

Sau khi đưa ra quyết định dứt khoát như vậy, Ngài nằm nghỉ ngơi nhẹ nhàng giữa các rễ cây xoài và nhất tâm quán chiếu về giới hạnh của mình.

### Chứng quả A-la-hán trên lưng người

Nhờ oai lực của Giới hạnh, không lâu sau, có một người thiện nam đi đường đi tới. Thấy vị Đại đức đang kiệt sức, yếu ớt nằm dưới gốc cây xoài, ông liền lại gần đảnh lễ và hỏi:

“Bạch Ngài, Ngài định đi đâu? Ngài trú ngụ ở đâu ạ?” Đại đức chỉ có thể thốt lên yếu ớt: “Ciri-gū...”. Người thiện nam là người tinh tế và nhạy bén, biết Ngài đang kiệt sức vì đói nên đã nhặt những quả xoài chín, ép lấy nước và dâng cúng. Sau khi thọ dụng nước xoài, Đại đức đã hồi phục được phần nào sức lực, nhưng vẫn chưa thể tự mình đi lại được.

## PAGE 372

“Bạch Ngài... xin Ngài đừng lo lắng. Để tạo phước báu cho con, xin Ngài hãy ngự trên lưng con, con sẽ cõng Ngài đến hang Ciri-gū ạ.” Nói rồi, ông cúi xuống cõng Ngài đi.

Vị Đại đức ngự trên lưng người thiện nam, suốt dọc đường Ngài luôn quán chiếu và hỷ lạc về ân đức của Giới hạnh mình đã giữ gìn:

**Na pitā napi te mātā, na ñāti napi bandhavo.**
**Karote tādisaṃ kiccaṃ, sīlavantassa kāraṇā.**

“Ôi... người thiện nam đang cõng mình đây không phải cha mẹ, cũng chẳng phải bà con thân thuộc. Chỉ vì Giới hạnh mà mình đã đánh đổi bằng cả mạng sống, nên ông ấy mới có thể làm được việc khó làm như thế này.”

**Saṃvegaṃ janayitvāna, sammāsikkhāna yoniso.**
**Tassa piṭṭhigato santo, arahattaṃ apāpuṇi.**

“Nếu lúc nãy không thể vì mạng sống mà gìn giữ giới hạnh này, thì hẳn đã phải chịu sự tổn thất vô ích rồi.” Với tâm kinh sợ (saṃvega) ấy, Ngài lấy niềm hỷ lạc từ sự quán niệm về giới (Sīlānussati pīti) làm nền tảng, rồi quán chiếu thấu suốt bản chất sanh diệt của danh sắc và các pháp hành nơi thân tâm. Ngay khi đang ở trên lưng người thiện nam, trí tuệ của Ngài dần bừng sáng qua các tầng đạo quả, cuối cùng Ngài đã chứng đắc quả vị A-la-hán tối hậu. (Dựa trên nội dung Thanh Tịnh Đạo 1, 44 và đối chiếu chi tiết với Đại Sưu Tập Chú Giải 1, 34, 70. Tên gọi Amba-akkhādaka nghĩa là người không ăn xoài nhặt được. Về những lưu ý trọng tâm liên quan đến Giới hạnh, xin xem thêm câu chuyện về Đại đức Kandarasāla ở Chương 5).

---SOURCE_END---

## PAGE 373

**Những vị Trưởng lão đã hành trì Giới bằng cả mạng sống**

Trong một khu rừng lớn có tên là Mahāvattanī, một vị Trưởng lão ẩn danh đã bị bọn cướp trói bằng các loại dây leo (để vị ấy không thể đi báo cho người khác về chúng) và bỏ mặc nằm đó.

Vị Trưởng lão vẫn nằm yên như thế và suốt bảy ngày chỉ chuyên tâm tu tập tuệ quán. (Dường như vị ấy còn có sự phân vân rằng nếu mình cố tháo dây để chạy trốn thì sẽ không làm tròn bổn phận theo Luật đạo). Trong khi đang hành thiền, Ngài đã chứng đắc quả Bất Lai. Sau đó Ngài viên tịch ngay trong khu rừng ấy và tái sanh về cõi Phạm thiên.

Một vị Trưởng lão khác cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự, bị bọn cướp trói bằng dây mây Saṃsamana. Khi một trận hỏa hoạn lớn thiêu rụi khu rừng tràn đến, Ngài đã không cắt đứt sợi dây trói mà chỉ chuyên tâm tu tập tuệ quán. Ngay tại nơi đó, Ngài đã trở thành bậc A-la-hán theo cách Samasīsī (vừa chứng quả A-la-hán vừa kết thúc mạng sống).

[Thuật ngữ **Samasīsī** có nghĩa là: Cái đầu của vòng luân hồi khổ đau (ví như cái đầu - sīsa) là mạng căn (jīvitindriya) và cái đầu của phiền não là vô minh (avijjā) cùng chấm dứt và đoạn tận cùng một lúc, không trước không sau. Nói theo ngôn ngữ thông thường, đó là hạng A-la-hán mà thời điểm tử vong và thời điểm chứng quả A-la-hán xảy ra đồng thời. Có ba hoặc bốn loại Samasīsī, có thể tìm hiểu chi tiết trong các kinh điển.]

Vị Trưởng lão Abhaya, bậc thông suốt Trường Bộ Kinh (Dīghabhāṇaka), khi đang cùng năm trăm đệ tử lữ hành thì phát hiện thi hài của vị Trưởng lão kia trong rừng sâu. Ngài dùng thắng trí biết được vị ấy đã chứng quả A-la-hán nên đã cử hành lễ hỏa táng và xây tháp để tôn thờ.

Ví như loài chim tít-tí-tú (ṭīṭibha) bảo vệ trứng của mình mà không màng đến thân mạng; hay như loài thú có tên Camarī (một loại bò Tây Tạng), nếu chùm lông đuôi của nó bị vướng vào đâu đó, nó sẽ không tiến về phía trước mà thà chịu chết để bảo vệ chùm lông đuôi ấy;

## PAGE 374

cũng vậy, các vị Trưởng lão đã bảo vệ Trì giới bằng cách đánh đổi cả mạng sống của mình. (Thanh Tịnh Đạo-1, 34-5.)

**Pātimokkha visodhento, ava jīvitaṃ jahe.**
**Paññattaṃ lokanāthena, nabhinte sīlasaṃvaraṃ.**

Nếu muốn làm cho Biệt Giải Thoát Thuần Khiết Giới được trong sạch, dù phải hy sinh cả mạng sống cũng nên thực hành. Đừng vi phạm, đừng phá hoại sự thu thúc giới luật mà đức Phật, bậc nương tựa của ba giới, đã ban hành.

**Trì giới không đánh đổi với dục lạc chư Thiên**

Có một vị Trưởng lão lâm trọng bệnh, đến mức không thể tự tay dùng vật thực. Ngài phải nằm lăn lộn giữa những uế trế của chính mình.

Một vị Tỳ-kheo trẻ nhìn thấy vị Trưởng lão đang quằn quại như vậy thì thốt lên lời than thở: "Ôi... vì để duy trì mạng sống mà phải lo toan cực nhọc, việc sống trên đời này thật là khổ thay!" Khi đó, vị Trưởng lão nói với vị Tỳ-kheo trẻ rằng:

"Này hiền giả... nếu bây giờ tôi chết đi, việc đắc được các dục lạc chư Thiên là điều rất chắc chắn, không có gì phải nghi ngờ cả. Thế nhưng, nếu phải vứt bỏ giới hạnh Tỳ-kheo cao quý này để nhận lấy dục lạc chư Thiên thì chẳng khác nào việc phải xả giới hoàn tục vậy. (Tôi không thể đánh đổi giới này chỉ lấy bấy nhiêu lạc thú chư Thiên. Nếu tôi còn muốn đi tìm kiếm một đời sống nào khác, nghĩa là tôi đang rời bỏ giới hạnh cao quý này, phá hoại sự trong sạch của nó. Vì vậy, tôi không muốn đổi giới này để lấy bất kỳ cảnh giới nào khác). Tôi sẽ chết trong khi ôm giữ lấy giới hạnh này."

Loại giới như vậy, không bị tà kiến và khát ái ví như 'đây là tôi, đây là của tôi' nắm giữ sai lạc, là loại giới hoàn toàn thanh tịnh, được gọi là **Aparāmaṭṭhasīla** (Giới không bị tham kiến chấp thủ). Nói theo ngôn ngữ thế gian, loại giới được giữ với mục đích để được giàu sang, được tái sanh về cõi tốt đẹp như cõi trời dựa trên nền tảng tham dục thì gọi là **Taṇhāparāmaṭṭhasīla**. Loại giới thực hành sai lầm với niềm tin như hạng ngoại đạo rằng 'nhờ cách thực hành này mà thoát khỏi khổ luân hồi' thì gọi là **Giới cấm thủ** hay **Diṭṭhiparāmaṭṭhasīla**.

## PAGE 375

Giới của vị Trưởng lão này không phải là sự thực hành sai lạc hay có sự mong cầu nào, nên Ngài muốn nói rằng ngoại trừ Thánh quả A-la-hán ra thì không đánh đổi giới này với bất kỳ sự giàu sang hay hạnh phúc nào khác.

Sau khi nói xong, Trưởng lão vẫn nằm trên giường bệnh và bắt đầu quán chiếu vào cảm thọ đau đớn kịch liệt do căn bệnh hành hạ.

Trong khi quan sát và phân tích cảm thọ đó, Ngài cũng quán chiếu cả bốn uẩn còn lại trong các pháp Danh-Sắc. Ngay trên chiếc giường bệnh ấy, Ngài đã chứng đắc Thánh quả A-la-hán.

Ngài cũng đã để lại lời cảnh tỉnh cho chư Tăng qua ba bài kệ sau:

**Phuṭṭhassa me aññatarena byādhinā,**
**Rogena bāḷhaṃ dukhitassa ruppato.**
**Parisussati khippāmidaṃ kantevaraṃ,**
**Pupphaṃ yathā paṃsuni ātape kataṃ.**

Này các hiền giả... cơ thể của tôi đang bị hành hạ bởi một căn bệnh nào đó, đang chịu sự đau khổ và biến đổi kịch liệt. Cái thân xác này sẽ sớm khô héo và tàn tạ, giống như một bông hoa bị vứt trên bụi đất dưới ánh nắng mặt trời thiêu đốt.

**Aññaṃ jaññasaṅkhātaṃ, asuciṃ sucisammataṃ.**
**Nānākunapa paripūraṃ, jaññarūpaṃ apassato.**
**Dhīratthu taṃ āturaṃ pūtikāyaṃ,**
**Duggandhiyaṃ asuciṃ byādhidhammaṃ.**
**Yatt HAPPAMATTĀ adhimucchitā pajā,**
**Hāpenti maggaṃ sugatūpappattiyā.**

Những chúng sanh vì mê muội trong dục tình nơi cái xác thối này mà trở nên phóng dật, đắm say, họ đang làm suy giảm ngay cả giới hạnh có thể đưa đến thiện thú.

Dù thân thể này vốn là vật đáng gớm tiếc, gớm ghiếc, nhưng người ta lại coi đó là điều đáng yêu thích. Dù chẳng hề sạch sẽ, người ta lại coi đó là thanh sạch. Nó chứa đầy những thứ hôi hám, thối rữa cùng đủ loại phân và nước tiểu. Nó đang ngụy trang, phô diễn hình tướng hư ảo để đánh lừa biết bao chúng sinh ngu mờ không thấy được sự thật.

## PAGE 376

Các loại bệnh tật cũng hành hạ, mùi hôi thối ghê tởm nồng nặc bốc lên, không hề có chút tinh sạch hay đáng đắm say nào, chỉ còn lại sự đau đớn. Mong rằng các hiền giả có thể nhàm chán và ghê tởm cái thây thối này.” (**Thanh Tịnh Đạo**-1, 46.)

## Trưởng lão Mahāmitta, vị thu thúc lục căn đến mức có thể lập lời thề chân thật

Trong việc thu thúc lục căn, **Trưởng lão Mahāmitta** là vị được ghi danh trong lịch sử giáo pháp Sīhala (Sri Lanka) cùng với đại **Trưởng lão Cittagutta**. Ngài trú ngụ tại chùa Coraka Mahāvihāra. Ngài có một người em gái cũng xuất gia làm Tỳ-kheo-ni.

Một ngày nọ, mẫu thân của ngài bị mụn nhọt độc (áp-xe vú) gọi là **Visagaṇḍa**, đau đớn quằn quại trên giường. Bà bảo con gái Tỳ-kheo-ni rằng: “Con gái thân mến, con hãy đi đến chỗ anh trai con và thưa rằng mẹ không được khỏe. Cũng hãy xin thuốc từ anh trai con mang về đây.” Người em gái Tỳ-kheo-ni liền đi đến chỗ anh trai và thưa lại sự việc. Anh trai **Mahāmitta** nói rằng:

“Em gái à… Anh không biết cách thu thập rễ cây, vỏ cây rồi giã nát hay nấu sắc thành thuốc. Anh cũng chẳng có loại thuốc nào cả. Tuy nhiên, anh sẽ chỉ cho em loại thuốc có thể khiến bệnh của mẫu thân tiêu tan, em hãy ghi nhớ thật kỹ.” Nói rồi, ngài đưa ra lời thề chân thật (Sacca-vacana) như sau:

“Kể từ khi xuất gia đến nay, ta chưa từng để tâm tham ái thấp hèn làm hư hoại các căn như mắt, chưa từng nhìn vào đối tượng **Visabhāga** (**nữ nhân**) với tâm ô nhiễm. Do lời thề chân thật này, nguyện cho bệnh tình của mẫu thân chúng ta được thuyên giảm và an lạc.

Này em gái, hãy ghi nhớ như vậy và đến trước mặt mẫu thân mà đọc lên. Trong khi thề, em cũng hãy dùng tay mình xoa bóp cơ thể mẫu thân.”

## PAGE 377

Vị Tỳ-kheo-ni em gái sau khi đảnh lễ Trưởng lão **Mahāmitta** trở về, đã thưa lại sự việc cho mẫu thân và thực hiện lời thề cùng xoa bóp cơ thể cho bà đúng như lời ngài dặn.

Mụn nhọt của mẫu thân ngay lập tức tan biến như bọt nước. Bà không còn cảm thấy bất kỳ đau đớn nào nữa. Mẫu thân vui mừng khôn xiết, ngồi dậy và nói:

“Nếu Đức Thế Tôn còn tại thế, Ngài hẳn sẽ không thể không dùng bàn tay vàng rực rỡ với mạng lưới các tướng hảo mà xoa lên đầu của một vị Tỳ-kheo như con trai ta.” (**Thanh Tịnh Đạo**-1, 37-8.)

## Trưởng lão Cittagutta, vị chiến thắng con mắt

Đại **Trưởng lão Cittagutta**, vị nương nhờ thành phố Mahāgāma ở đảo Sīhala (Sri Lanka) để khất thực và trú ngụ tại hang động lớn Kuraṇḍaka, cũng là một bậc đại Trưởng lão được ghi danh trong **Lịch sử Giáo pháp Thực hành** về việc thu thúc lục căn.

Trên tường và trần của hang động Kuraṇḍaka ấy, người ta đã vẽ những bức bích họa tuyệt đẹp về cảnh xuất ly của bảy vị Phật quá khứ để cúng dường. Một ngày nọ, các vị Tỳ-kheo trẻ đi chiêm bái các bảo tháp và tu viện, khi đến hang động lớn này, họ đã kinh ngạc nhìn ngắm và bàn tán về những bức tranh bích họa. Khi vào đảnh lễ đại **Trưởng lão Cittagutta**, họ thưa rằng:

“Bạch Ngài… Những bức bích họa về cuộc đời Đức Phật và cảnh xuất gia trong hang động này thật là kỳ diệu và đáng tịnh tín biết bao.”

Trưởng lão đáp rằng:

**Adho dhipeyya cakkhuni, yugamattadaso siyā.**
**Vana makkaṭalola, na cittassa vasaṃ vaje.**

## PAGE 378

“Luôn hạ mắt nhìn xuống, chỉ nhìn xa tầm một vác cày. Không bao giờ chạy theo ý muốn của tâm vốn chao đảo như con khỉ trong rừng.”

Vì luôn thu thúc nhãn căn, chưa từng ngước nhìn lên tường hay trần của hang động nơi mình trú ngụ, nên Ngài nói với các vị Tỳ-kheo chiêm bái rằng:

“Ồ… Chắc hẳn là vậy. Ta đã ở trong hang động này hơn sáu mươi năm rồi mà chưa từng để ý thấy có những bức bích họa đó. Nhờ các hiền giả có mắt sáng nói cho biết nên giờ ta mới hay.”

Đại **Trưởng lão Cittagutta** không chỉ đối với hang động nơi mình ở, mà ngay tại lối vào hang có một cây Karau (cây thông/vàng anh) cao lớn, dù đã hơn sáu mươi năm trôi qua Ngài cũng chưa từng một lần ngước nhìn. Ngài thậm chí không hề hay biết sự hiện diện của nó. Chỉ mỗi năm một lần, khi hoa Karau nở và những cánh hoa, nhụy hoa rụng xuống đất, Ngài mới biết rằng có cây Karau ở đó.

## Các bà mẹ bị niêm phong bầu sữa

Vua **Kākavaṇṇatissa** sau khi nghe danh tiếng về đức hạnh của vị Trưởng lão, vì muốn được chiêm bái nên đã sai các vị đại thần ba lần thỉnh mời Ngài đến hoàng cung để thọ nhận sự cúng dường. Nhưng vị Trưởng lão đã không đến.

(Người đời hễ nghe tin tức gì lạ thường là cho rằng đó là “bậc đặc biệt” rồi đua nhau đi chiêm bái. Những điều “đặc biệt” mà người đời kinh ngạc bàn tán ấy, đối với các bậc thiện tri thức đôi khi chẳng có gì kỳ lạ, chỉ là chuyện bình thường. Dù thế nào, do những người cư sĩ không biết ý tứ, không nghĩ đến giáo pháp, chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, đã gây ra sự phiền toái lớn cho các hành giả đang trong quá trình tu tập.

Vì sự an lạc của chúng sinh mà các Ngài nỗ lực tu hành, khi thời điểm đến và sự tu tập đã viên mãn, dù không ai thỉnh mời thì tự thân các Ngài cũng sẽ tự mình quang lâm để tế độ và chấn hưng, điều này hoàn toàn không chút nghi ngờ. Bởi vậy, cần phải cẩn trọng để không làm hư hại những mầm non của giáo pháp.

## PAGE 379

Dù Đức vua đã ba lần thỉnh cầu, nhưng vì Ngài không ngự đến nên vua không được diện kiến. Để được đảnh lễ Ngài, vua đã bày ra một kế hoạch để gây sức ép với Trưởng lão.

Tại kinh đô Mahāgāma, tất cả các bà mẹ đang nuôi con nhỏ đều bị tập trung lại, ngực bị quấn chặt bằng vải và đóng dấu ấn của nhà vua lên đó. Đức vua ra lệnh rằng: "Khi nào Trưởng lão **Cittagutta** chưa ngự đến cung điện của ta, thì tất cả các bà mẹ không được cho con bú". Khắp kinh đô Mahāgāma vang lên tiếng trẻ con khóc thét vô cùng huyên náo.

Khi Trưởng lão nghe biết chuyện ấy, vì lòng bi mẫn đối với trẻ nhỏ, Ngài đã cùng các vị Tỳ-kheo đệ tử ngự về kinh đô Mahāgāma. Khi nghe tin Trưởng lão đã đến, Đức vua liền sai các quan đại thần: "Hãy mau thỉnh Trưởng lão vào cung điện để chúng ta thọ trì giới luật". Khi Ngài vào đến cung điện, Đức vua cùng Hoàng hậu đảnh lễ và dâng cúng vật thực. Sau khi dâng vật thực xong:

"Bạch Ngài, hôm nay chúng con chưa có thời gian thuận tiện để thọ giới. Xin hẹn đến ngày mai chúng con mới có thể thọ giới được." Đức vua đã khéo léo trì hoãn như vậy khiến Trưởng lão phải rời cung điện trở về. Đức vua và Hoàng hậu cung kính bê bát của Ngài đi theo tiễn chân. Bằng cách này, Ngài đã phải ngự đến cung điện liên tiếp trong suốt bảy ngày.

Mỗi khi Đức vua hay Hoàng hậu đảnh lễ, Trưởng lão chỉ ban phúc chúc lành rằng: "Chúc Đại vương được an lạc, **Sukhi hotu mahārāja**". Vì ngày nào Ngài cũng chỉ chúc như vậy, nên các vị đệ tử thưa hỏi rằng: "Bạch Ngài, tại sao khi Đức vua đảnh lễ Ngài chúc Đại vương an lạc, mà khi Hoàng hậu đảnh lễ Ngài cũng chỉ chúc Đại vương an lạc như vậy ạ?"

## PAGE 380

Ngài dạy rằng: "Này các hiền giả, ta không hề phân biệt nhìn nhận đây là Đức vua hay kia là Hoàng hậu". (Ngài không hề mở mắt nhìn xem đó là nam hay nữ; nếu có thoáng thấy thì cũng chỉ dừng lại ở cái thấy, biết rằng đó chỉ là "một chúng sanh". Đó là nhờ Ngài hằng luôn duy trì việc thực hành Niệm Xứ).

### Vị hành giả đi kinh hành kiên cố

Đức vua **Kākavaṇṇatissa** hiểu rằng "Trưởng lão đã mỏi mệt khi phải ở lại trong hang động này", nên đã để Ngài trở về. Trưởng lão **Cittagutta** được thoát khỏi sự phiền hà, quay lại hang động **Kuruṇḍaka**. Khi về đến hang, vào ban đêm, trong lúc Ngài vừa thiền quán vừa đi kinh hành, vị Thiên vương hộ trì cây Karakkho (cây vàng anh) biết rằng: "Đây là bậc thánh có giới hạnh vô cùng trong sạch", nên mỗi khi Trưởng lão đi kinh hành, vị Thiên ấy đều cầm bó đuốc đứng hầu.

(Bản thân Trưởng lão Cittagutta vốn đã nổi tiếng, nhưng giờ đây đã thoát khỏi sự làm phiền của các thí chủ, nên việc hành thiền rất thích hợp). Các bước chân kinh hành lần này không giống như mọi khi; trong từng cử chỉ dở chân, bước tới, chạm đất, Ngài đều an trú chánh niệm theo phương pháp **Iriyāpathapabba** (Mục Oai nghi). Ngài thấy rõ qua trí tuệ rằng do tâm muốn co, muốn bước, muốn hạ (Danh) mà các **Chittaja-vayo-dhatu** (Sắc Phong đại do tâm tạo) tác động làm chuyển động thân thể, đặc biệt là hai chân, diễn tiến và diệt đi từng chặng, từng chặng một.

Khi chánh niệm và trí tuệ càng lúc càng sáng tỏ, sự tỉnh giác bắt đầu từ đôi chân, từ Phong đại lan tỏa từ chân lên đến đầu, rồi từ Phong đại sang ba đại hiển nhiên khác cùng các dòng danh sắc. Ngài quán chiếu xoay vần từ chân lên đầu, trí tuệ nhận biết sự khác biệt đặc biệt theo từng thời điểm và ngày càng tiến triển.

Trí tuệ ấy không hề rời khỏi thân mình, càng lúc càng trở nên chi tiết và sáng suốt đến mức Ngài không còn nhìn thấy vị Thiên đang cầm đuốc đứng đó, cũng không còn hay biết là có ánh đuốc đang soi sáng.

## PAGE 381

Ngài chậm rãi đi kinh hành cho đến khi đêm càng về khuya, đã quá nửa đêm mà Ngài cũng không hề hay biết thời gian đã trôi qua bao lâu. Ngài thầm nghĩ: "Tại sao đêm nay việc thực hành pháp của ta lại vô cùng sáng tỏ và rõ ràng đến thế này?". (Trong lúc đang chú tâm quán chiếu như vậy, tại một điểm trên đường kinh hành, cùng với từng bước chân đang bước tới, cả tâm vương nhận biết và các pháp là đối tượng được nhận biết đều bất chợt tịch diệt và tan biến hoàn toàn).

Cả ngọn núi nơi có hang động **Kuruṇḍaka** rung chuyển dữ dội như chiếc bàn xoay của thợ gốm, vang lên những tiếng rền vang của một trận đại động đất, nhưng dường như Trưởng lão **Cittagutta** cũng không hề hay biết.

Ngài đã đắc quả **A-la-hán** vậy. (**Visuddhimagga**-1, 36-7.)

## Trưởng lão Mahā Saṅgharakkhita vì muốn gặp Đức Di-lặc nên chưa thể thành A-la-hán

Trưởng lão **Mahā Saṅgharakkhita**, người đã sáu mươi tuổi đạo (hạ lạp), cũng là một bậc mẫu mực về giới hạnh. Kể từ khi xuất gia cho đến khi trải qua hơn sáu mươi hạ, giới hạnh của Ngài không hề có một vết nhơ nào. Đó là một **Paripuṇṇa Pārisuddhi Sīla** (Tứ Thanh Tịnh Giới sung mãn), ví như lõi ngọc quý đã được mài giũa kỹ lưỡng, như vàng ròng đã được tinh luyện thuần khiết.

Mặc dù loại giới hạnh ấy là nhân gần (**Padaṭṭhāna**) để đắc quả A-la-hán, nhưng Trưởng lão vẫn chưa thể đắc chứng. Khi tuổi đã cao và sắp sửa tịch diệt, trong lúc đang nằm trên giường bệnh, chư Tăng đệ tử đã đến thưa hỏi Ngài về pháp thượng nhân.

"Này các hiền giả, ta vẫn chưa đắc được pháp siêu thế nào cả", khi Ngài trả lời như vậy, một vị Tỳ-kheo trẻ tuổi đang chăm sóc bệnh đã—

## PAGE 382

“Bạch Ngài, các thiện nam tín nữ trong vòng 12 do-tuần xung quanh đã đến tụ hội rất đông vì nghe tin vị Đại trưởng lão **Mahā Saṅgharakkhita** sắp viên tịch Niết Bàn. Bạch Ngài, nếu các Ngài cũng ra đi giống như cái chết của những phàm phu, thì tất cả những người đến đây đều là công dã tràng; họ sẽ cảm thấy vô cùng bất an và thất vọng.” — vị sư đệ chăm sóc đã đau buồn bạch như thế.

Khi ấy, vị Đại trưởng lão phán rằng:

“Này Hiền giả... ta vì còn muốn được diện kiến đức Phật **Metteyya** (Di Lặc) nên đã chưa nỗ lực đắc chứng Tuệ quán. Thôi thì hãy cứ như vậy đi, nếu đã đến mức này, hãy đỡ ta ngồi dậy và cho ta dựa vào chỗ tựa lưng. Nào... Hiền giả hãy tạm lánh ra ngoài một lát.”

Ngay khi vị sư trẻ vừa bước ra khỏi phòng, Đại trưởng lão đã đắc chứng **Quả A-la-hán** và lập tức búng tay gọi vị đệ tử vào. Sau khi biết rõ sự tình, toàn thể chư Tăng đều hết sức hoan hỷ, hội họp lại và bạch rằng:

“Bạch Ngài, việc Ngài có thể chứng đắc pháp Siêu thế ngay trong những khoảnh khắc cận kề cái chết như thế này quả thật là đã thực hiện được một điều vô cùng khó khăn.”

Đại trưởng lão phán:

“Này các Hiền giả, đó chưa phải là điều khó khăn nhất đâu. Ta còn có điều khó khăn hơn thế này muốn kể cho các ông nghe. Kể từ ngày ta xuất gia cho đến nay, ta đã xem xét kỹ lại và không thấy có một hành động sai sót nào dù là nhỏ nhất do thiếu chánh niệm hay không hiểu biết.”

Vị trưởng lão **Saṅgharakkhita** là cháu của Ngài, vào năm 50 tuổi hạ, cũng đã đắc chứng **Quả A-la-hán** theo cách tương tự. (**Visuddhimagga** - Thanh Tịnh Đạo 1, 45).

Ngay cả đối với những bậc cao thượng có Giới và Niệm đầy đủ, mạnh mẽ đến mức có thể trực tiếp đạt đến **Quả A-la-hán** như thế, mà “sự mong cầu đức Phật tương lai” vẫn có thể bám lấy họ suốt cả một đời. Vậy nên, cần phải nghiên cứu và suy xét kỹ lưỡng về quan điểm chờ đợi đức Phật tương lai và lý tưởng Bồ-tát.

## PAGE 383

### 34. Vị Trưởng lão giấu chiếc giường và vị sư tu để cầu lợi lộc (Trưởng lão Piyagāmi)

Các bậc thiện tri thức luôn giữ kín những pháp đặc biệt mà mình đã chứng đắc, cũng như đức hạnh trong việc tu hành Pháp học và Pháp hành. Các Ngài luôn lo sợ người khác sẽ biết đến mình. Nếu thấy không mang lại lợi ích đặc biệt nào, các Ngài không chỉ giấu kín với các thí chủ mà ngay cả với những pháp hữu cùng tu hành cũng không muốn cho biết. Đây được gọi là đức hạnh **Apicchatā** — Ít muốn.

Ngược lại, những kẻ xấu ác hành động trái ngược hoàn toàn với bậc thiện tri thức. Tuy không có đức hạnh nhưng họ lại giả vờ như có, thể hiện cho người khác thấy mình hiểu biết nhiều hơn thực tế; tâm địa bên trong xấu xa bao nhiêu thì thân nghiệp và khẩu nghiệp lại xảo quyệt bấy nhiêu.

Đại trưởng lão **Mahā Suma** đã thọ trì đầu-đà trú xứ nghĩa trang suốt sáu mươi năm ròng rã mà không một vị Tỳ-kheo nào biết Ngài là bậc trì giữ đầu-đà này. (Chú giải Trung Bộ 2, 46. Trong Chú giải Tăng Chi 1, 58 thì ghi là ‘Trưởng lão **Mahā Kumāra**’).

Tại núi Cetiya ở đảo Srilanka, có hai anh em cùng tu hành. Người anh là vị Trưởng lão luôn thọ trì các hạnh đầu-đà nhưng không hề để ai biết.

Một ngày nọ, người em nhận được một vài khúc mía do một thí chủ dâng cúng thêm, bèn đem đến cho người anh và bạch: “Bạch Ngài, xin hãy thọ dụng.” Lúc đó, vị Trưởng lão anh vừa thọ thực xong và đang súc miệng. Do đó, người anh phán:

“Này Hiền giả... đủ rồi... ta không có nhu cầu.”

Người em hỏi: “Bạch Ngài, tại sao vậy? Phải chăng Ngài đang thọ trì đầu-đà **Nhất tọa thực** (chỉ ăn một chỗ)?”

Vì không muốn để người em biết mình đã trì giữ hạnh **Nhất tọa thực** suốt năm mươi năm qua, nên Ngài phán:

## PAGE 384

“Thôi được rồi, nếu vậy Hiền giả hãy đưa những khúc mía đó đây.”

Nói đoạn, Ngài đã phá hạnh đầu-đà để thọ dụng khúc mía đó. Sau khi thọ dụng xong, Ngài mới súc miệng và phát nguyện thọ trì lại hạnh đầu-đà của mình. (Chú giải Trung Bộ 2, 46; Chú giải Tăng Chi 1, 59).

Lại một lần khác, vị Trưởng lão anh thọ trì đầu-đà **Nế-sắt-chi** (hạnh không nằm, chỉ ngồi), cũng không ai hay biết. Một đêm nọ, nhờ ánh chớp, người em nhìn thấy vị Trưởng lão anh không nằm trên giường mà đang ngồi thẳng lưng suốt đêm cho đến sáng.

Người em lại hỏi (điều không nên hỏi vì biết người anh không muốn để lộ): “Bạch Ngài, có phải Ngài đang thọ trì đầu-đà **Nế-sắt-chi** không?” Vị Trưởng lão anh lập tức nằm xuống giường ngay lúc đó. Sau đó Ngài mới tiếp tục thọ trì và hành trì như cũ. (Theo Đại Chú giải Thanh Tịnh Đạo 1, 91. Chú giải Tăng Chi 3, 226 có ghi: “Câu chuyện đã được kể trong **Thanh Tịnh Đạo**”, nhưng trong **Thanh Tịnh Đạo** không kể chi tiết).

### Trưởng lão Piyagāmi — Vị sư U Ywa Pyaw

Thời xưa, có một vị Trưởng lão tên là **Piyagāmi**, sống tại một thôn làng. Thấy những vị Tỳ-kheo thọ trì đầu-đà thường có nhiều lợi lộc, vị này khởi tâm: “Ta cũng sẽ hành đầu-đà để tìm cầu lợi lộc.” Thế rồi, vị này đi đến một nghĩa trang và thọ trì đầu-đà **So sāni ka** = hạnh ở nghĩa trang.

Một ngày nọ, có một con bò già không còn dùng được vào việc đồng áng nên được thả tự do. Ban ngày nó đi tìm cỏ uống nước ở bãi chăn thả, ban đêm nó đi vào bụi hoa lớn trong nghĩa trang nơi vị sư kia đang ở, cúi đầu ngủ và nhai lại suốt đêm phát ra tiếng kêu “kẹt kẹt”.

Trưởng lão **Piyagāmi** (Piyogāmo tassa = Vị sư U Ywa Pyaw - theo bản giải thích) khi đang đi kinh hành lén lút trong nghĩa trang vào ban đêm, nghe thấy tiếng nhai lại của con bò già thì suy nghĩ:

“Hừm... hẳn là vua Trời Sakka đã biết ý định ta đến ở nghĩa trang để cầu lợi lộc rồi... Chắc Ngài đến đây để quấy nhiễu ta đây... không sai vào đâu được.”

Nghĩ thế, vị sư U Ywa Pyaw bèn run rẩy đi đến trước mặt con bò già, chắp tay và nói:

## PAGE 385

“Ô này Vua Trời Sakka bậc thiện hữu, xin hãy ban cho tôi sự bình an, hãy cho tôi ở lại nốt đêm nay thôi, kể từ ngày mai tôi sẽ không làm như vậy nữa.” Ông ta cứ thế làm các động tác lễ bái, cầu khẩn con bò già cho đến khi trời sáng rõ. Thấy con bò già cứ nhai đi nhai lại và khẽ cử động, ông ta cứ ngỡ rằng Vua Trời Sakka đã hài lòng với những lời mình nói và đang nhẫn nhịn cho ông.

Đến khi trời sáng, nhìn thấy rõ ràng đó chỉ là một con bò già, ông ta liền thốt lên: “Thì ra là mày... cái thứ đã nhát ta suốt cả đêm qua... chết đi này!” Vừa lầm bầm, ông ta vừa dùng gậy đánh đuổi nó đi. (**Chú giải Đại Niệm Xứ, Kinh số 10, Trung Bộ Kinh**. Cách hành văn của Ngài Trưởng lão Mahā-Buddhaghosa thật là vô song. Ở những chỗ cần sự sâu sắc, Ngài trình bày rất thâm sâu, còn ở những đoạn kể chuyện, văn phong của Ngài lại khiến người đọc phải mỉm cười thú vị.)

### Bốn loại ít muốn (Appicchatā)

Đức tính ít muốn (Appicchatā) có bốn loại:

1. **Paccaya-appiccha**: Ít muốn trong các vật dụng (lợi lộc).
2. **Dhutaṅga-appiccha**: Ít muốn trong các hạnh đầu đà.
3. **Pariyatti-appiccha**: Ít muốn trong việc học hỏi giáo pháp (Pháp học).
4. **Adhigama-appiccha**: Ít muốn trong việc đắc chứng pháp thượng nhân (không muốn phô trương, ẩn giấu chứng đắc).

### Vị trưởng lão trú tại chùa Thūpārāma, tấm gương về việc không dính mắc trú xứ (Āvāsapalibodha)

Tại hòn đảo Sri Lanka, có hai người dân ở thành Anurādhapura cùng bàn bạc và đến chùa Thūpārāma để xuất gia. Trong hai vị tỳ-kheo đó, có một vị sau khi học thuộc lòng hai bộ giới bổn (**Dve-mātikā**), đến khi được năm hạ, sau lễ Tự tứ kết thúc mùa an cư, vị ấy đã đi đến vùng rừng núi phía Đông thành Anurādhapura (**Pācīnakhaṇḍarāji**). Vị còn lại thì vẫn tiếp tục ở lại chùa Thūpārāma.

## PAGE 386

Sau khi sống ở khu rừng đó thêm năm năm, tức là khi được mười hạ, vị ấy nghĩ rằng: “Nơi này thật thích hợp để sống độc cư tu tập, ta cũng nên đi báo cho bạn ta biết một tiếng.” Nghĩ vậy, vị ấy đi đến chùa Thūpārāma tìm gặp bạn mình. Vị trưởng lão ở chùa Thūpārāma cũng đã được mười hạ, cùng hạ tuổi với nhau. Khi thấy người bạn từ rừng trở về, vị trưởng lão ở chùa liền ra đón, đỡ lấy bát y và thực hiện các bổn phận của một vị chủ nhà (āvāsika-vatta). Sau khi vào trong chùa, vị tỳ-kheo từ rừng về nghĩ thầm vì bạn mình ở thành phố đã lâu, chắc hẳn sẽ bảo các thí chủ dâng cúng bơ tươi, mật mía hay các loại nước giải khát. Thế nhưng cho đến giờ đi ngủ, chẳng thấy có vật gì được mang đến cả. Cảm thấy mệt nhọc sau chuyến đi và đang đói, vị ấy liền đi ngủ.

Đến lúc rạng đông, vị ấy lại tưởng rằng các thí chủ phục vụ sẽ gửi cháo và các món ăn nhẹ đến. Thời gian trôi qua nhưng chẳng thấy ai gửi gì. Tuy nhiên, vị ấy lại nghĩ chắc là khi đi khất thực, dân chúng mới tập trung lại để cúng dường cho cả hai, nên vị ấy đã cùng người bạn ở chùa vào thành khất thực buổi sáng. Khi mỗi vị chỉ nhận được một vá cháo từ một ngôi nhà, vị trưởng lão ở chùa liền quay trở về, vì vậy vị tỳ-kheo ở rừng cũng đi về theo, rồi cả hai cùng dùng cháo tại nhà ăn.

Vị tỳ-kheo ở rừng lại tiếp tục nghĩ: “Chắc là không có thí chủ nào đảm nhận việc dâng cháo hàng ngày, có lẽ đến giờ ngọ họ mới mang những món ngon lành đến dâng cúng.” Khi đến giờ ngọ, nghe bạn gọi đi khất thực, vị ấy lại đi theo vào trong thành. Vẫn không thấy ai đặc biệt đứng ra cúng dường, vị ấy lại kết thúc bữa ăn với những gì nhận được trong bát. Sự khác biệt giữa kỳ vọng và thực tế khiến vị tỳ-kheo ở rừng vô cùng kinh ngạc và hỏi:

**Tỳ-kheo ở rừng**: “Bạch Ngài, thường ngày Ngài cũng chỉ sống đạm bạc với những gì nhận được như thế này thôi sao?”
**Tỳ-kheo ở chùa**: “Đúng vậy, thưa hiền giả.”
**Tỳ-kheo ở rừng**: “Nếu vậy, ở vùng rừng phía Đông Nam nơi tôi đang ở an lạc lắm. Chúng ta hãy cùng đi đến đó đi.”

Theo lời gợi ý của người bạn, vị trưởng lão ở chùa Thūpārāma liền sửa soạn để đi ra bằng cửa nam thành phố, men theo con đường dẫn đến làng của những người thợ làm gốm.

## PAGE 387

**Tỳ-kheo ở rừng**: “Bạch Ngài, Ngài định đi đâu thế?”
**Tỳ-kheo ở chùa**: “Này hiền giả, chẳng phải ông nói vùng rừng phía Đông Nam đó an lạc sao, chúng ta sẽ cùng đi đến đó.” (Vị ở rừng thấy bạn mình không mang theo nhiều đồ đạc nên hỏi).
**Tỳ-kheo ở rừng**: “Bạch Ngài, Ngài đã trú ngụ ở thành phố này lâu rồi, ngoài những thứ này ra Ngài không còn vật dụng dư thừa nào khác sao? Chỉ có chừng này thôi à?”
**Tỳ-kheo ở chùa**: “Không còn gì khác đâu hiền giả. Chỉ có chiếc giường thấp và tấm phản, nhưng đó là tài sản của giáo hội thuộc về chùa, nên trước khi đi tôi đã thu xếp dọn dẹp theo đúng phép tắc rồi.”
**Tỳ-kheo ở rừng**: “Bạch Ngài, ngay cả con khi đi đến đây cũng còn để lại một cây gậy, một ống đựng dầu và túi đựng giày ở chùa Thūpārāma của Ngài đấy.”
**Tỳ-kheo ở chùa**: (Ngạc nhiên) “Ồ, thật là lạ lùng. Chỉ đến chơi có một ngày mà ông lại mang theo và bỏ lại nhiều vật dụng đến thế sao.”

Sau khi nghe vị trưởng lão ở chùa nói vậy, vị tỳ-kheo ở rừng cảm thấy vô cùng kính ngưỡng và nể phục người bạn của mình. Ngày hôm sau, khi đã đến vùng rừng phía Đông Nam, vị tỳ-kheo ở rừng chắp tay đảnh lễ vị trưởng lão ở chùa Thūpārāma và nói:
“Bạch Ngài, những bậc như Ngài thì dù ở bất cứ nơi đâu cũng giống như đang ở rừng vậy. Đại bảo tháp Thūpārāma là nơi tôn thờ dây thắt lưng, bình lọc nước, tấm đắp và xương đòn của bốn vị Phật tổ; tại giảng đường Lohapāsāda (Lâu đài Đồng), chúng ta được nghe Pháp thường xuyên. Chúng ta cũng thường xuyên được chiêm bái Đại Bảo Tháp và các bậc Đại trưởng lão. Cảnh tượng ấy giống như thời Đức Phật còn tại thế vậy. Con xin được trở về thành Anurādhapura, xin Ngài hãy ở lại vùng rừng phía Đông Nam này tu tập thật an lạc.”

Sau khi ở lại vùng rừng phía Đông Nam chỉ một đêm, sáng hôm sau vị tỳ-kheo ở rừng mang bát đi về hướng thành Anurādhapura. Còn vị trưởng lão ở chùa Thūpārāma, dù ở bất cứ khuôn viên chùa chiền nào, từ việc tu sửa, chăm sóc chùa, các đồ đạc trong chùa, cho đến những việc liên quan đến chùa...

## PAGE 388

Ngài không để bất kỳ trách nhiệm nào làm bận tâm, là một vị Trưởng lão mẫu mực trong việc cắt đứt mọi sự chướng ngại về trú xứ (āwāsa-palibodha). (**Thanh Tịnh Đạo**-1, 87.)

(Mặc dù Trưởng lão Thūpārāma và các vị tỳ-kheo học tăng không được ghi danh là "Bậc Thánh" (Ariya), nhưng vì họ là những người đang thực hành theo con đường của bậc Thánh nên tôi xin trình bày ở đây. Việc các Ngài trở thành bậc Thánh nhờ các công hạnh như giữ giới, tu hạnh đầu đà (dhutaṅga) và có thể thực hành một cách trọn vẹn thì không có gì là lạ. Tuy nhiên, việc một bậc phàm phu với đức tin (saddhā) và tinh tấn (vīriya) mà có thể thực hành đầy đủ và trọn vẹn như thế thì thật đáng được ca ngợi.)

### Trưởng lão Visākha – Bậc mẫu mực về tu tập Tâm Từ

Sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn, tại thành Pāṭaliputta thuộc Trung Ấn (Majjhima-desa) có một vị thiện nam tên là **Visākha**. Trong khi sinh sống và buôn bán tại thành Pāṭaliputta, vị này thường xuyên nghe được những tin tốt lành về các Phật sự tại đảo Ceylon (Sīhaḷa) – nơi giáo pháp đang bắt đầu hưng thịnh.

"Đảo Ceylon, còn gọi là **Tambapaṇṇidīpa**, có các bảo tháp (cetiya) xinh đẹp như những vòng hoa rực rỡ, khiến lòng người phát khởi tịnh tín. Màu huỳnh y của chư Tăng tỏa sáng khắp nơi. Trên khắp hòn đảo, bất cứ nơi nào cũng là nơi đáng sống theo ý thích. Trú xứ không thiếu, khí hậu tốt lành. Có rất nhiều bậc đa văn để cùng thảo luận, vấn đáp về giáo pháp của Đức Phật, và cũng có nhiều bậc đạo hạnh để nương tựa. Đây là vùng đất thích hợp để học tập, lắng nghe và hành trì giáo pháp. Mọi nhu cầu thiết yếu đều có thể tìm được một cách dễ dàng..."

Thiện nam Visākha luôn lắng nghe những tin tức ấy nên tâm vô cùng hướng khởi. Cuối cùng, ông quyết định lên đường sang đảo Ceylon. Ông bàn giao toàn bộ tài sản và công việc kinh doanh cho vợ con. Về phần mình, ông chỉ mang theo duy nhất một đồng tiền (asappha), gói vào chéo y rồi rời khỏi nhà ở Pāṭaliputta. Vì không tìm được tàu quá giang sang đảo nên ông phải nán lại bến cảng khoảng một tháng.

Vốn là người có thời gian nhàn rỗi lại tinh thông việc buôn bán, nên ngay tại bến cảng, trong khi chờ tàu, ông đã dùng một đồng tiền mang theo cộng với công sức của mình để kinh doanh một cách chân chính. Chỉ trong vòng một tháng, ông đã tích lũy được một ngàn đồng tiền.

### Lễ xuất gia của Ngài Visākha và việc xả bỏ tiền bạc

Khi có tàu quá giang, ông sang đảo Ceylon và tìm đến ngay ngôi đại tự **Mahāvihāra** danh tiếng. Sau khi trình bày sự việc với các vị đại Trưởng lão tại đây và xin được xuất gia, ông đã được các Ngài chấp thuận.

Để truyền giới Tỳ-kheo cho thiện nam Visākha bằng nghi thức **Tuyên ngôn hành Tăng sự tứ nghị (Ñatticatuttha-kammavācā)**, các vị Trưởng lão đã dẫn ông đến Sīmā. Trên đường đi, bọc tiền một ngàn đồng từ trong lưng quần của Visākha đột ngột rơi xuống đất. Các vị Trưởng lão liền hỏi: "Visākha, cái gì đó? Cái gì thế?"

"Bạch Ngài, đó là một ngàn đồng tiền ạ."

"Visākha, kể từ khi xuất gia, vị Tỳ-kheo không được phép cầm giữ hay quản lý tiền bạc. Ngay từ bây giờ, con hãy xử lý số tiền này cho phù hợp đi."

Theo luật, ông có thể gởi lại cho người thân hoặc một người hộ tăng (kappiya-kāraka), nhưng Visākha đã quyết định: "Ta sẽ không để bất kỳ ai đến dự lễ xuất gia của ta phải ra về tay không". Ông đã dứt bỏ mọi sự luyến ái đối với số tiền một ngàn đồng đó và rải tặng cho toàn thể hội chúng có mặt trước khi bước vào Sīmā. Sau đó, các vị Trưởng lão đã làm lễ xuất gia truyền giới cho ông.

### Hành giả Visākha – Người lữ hành trong rừng thẳm

Sau khi xuất gia, ông được gọi là **Trưởng lão Visākha**. Trong năm hạ đầu, Ngài đã học tập Giáo pháp (Pariyatti) cùng với hai bộ Giới bổn (Dve-mātikā) từ các vị đại Trưởng lão tại **Mahāvihāra**. Khi đã đủ năm hạ, sau khi mãn mùa An cư (Vassāvāsa) và làm lễ Tự tứ (**Pavāraṇā**), Ngài đã cầu xin đề mục thiền định (kammaṭṭhāna) thích hợp từ các vị Trưởng lão rồi rời khỏi **Mahāvihāra**.

## PAGE 390

Ngài đi đến các nơi thích hợp trên khắp đảo Ceylon để nỗ lực thực hành thiền Chỉ (Samatha) và thiền Quán (Vipassanā). Ngài đặc biệt ưu tiên tu tập đề mục **Tâm từ (Mettā-bhāvanā)**.

Trong thời gian vân du tu tập khắp đảo, Trưởng lão Visākha có một phát nguyện: tại bất kỳ ngôi chùa hay trú xứ nào, Ngài cũng chỉ ở lại đúng bốn tháng. Khi hết thời hạn bốn tháng, Ngài lại dời sang một nơi ở mới.

Đặc biệt, Ngài thường lui tới những vùng rừng núi thích hợp cho các hành giả. Một ngày nọ, trên đường đi đến núi **Cittala** danh tiếng, Ngài phải đi sâu vào một khu rừng lớn tĩnh mịch, mát mẻ với nhiều khe suối. Ngài chỉ có sự định tâm trong pháp làm bạn đồng hành qua từng bước chân.

Ngài vừa đi vừa trải tâm từ đến tất cả chúng sanh, từ các vị chư thiên giữ rừng, chư thiên giữ núi cho đến các bậc thầy tổ ân nhân, cầu nguyện rằng: "Nguyện cho tất cả đều được an lạc".

Vì hành trình mệt nhọc, trong lúc dừng chân nghỉ ngơi, Ngài đã suy xét về tiến trình cuộc đời đáng kinh ngạc của mình.

Sinh ra tại kinh thành Pāṭaliputta vùng Trung Ấn, từ lúc tầm sư học đạo cho đến những khổ nhọc của đời sống gia đình, nỗi lo toan của một đại thương gia giàu có, và những khó khăn khi dấn thân tìm cầu chân lý...

Sự khổ khi đầy đủ và giàu sang trong các dục lạc thế gian; rồi nhờ phước báo mà thoát khỏi đời sống gia đình chật hẹp (**gharāvāsa-sammādha**); không chỉ có được thân phận Tỳ-kheo khó đắc mà còn giữ gìn được Tứ thanh tịnh giới (Catupārisuddhi-sīla) một cách trong sạch, khiến thân nghiệp và khẩu nghiệp được thanh tịnh; lại có cơ duyên nỗ lực tu tập thiền Chỉ và thiền Quán khiến ý nghiệp cũng được thanh tịnh. Càng suy xét đi xét lại, Ngài càng cảm thấy hoan hỷ cho cuộc đời mình và đã thốt lên lời tự nhủ. Vì quá đỗi vui mừng, Ngài đã thốt ra những lời kệ:

**Yāvatā upasampanno, yāvatā idha āgato.**
**Ettantare khalitaṃ natthi, aho lābhā te mārisa.**

## PAGE 391

“Này ông Visākha……, kể từ khi xuất gia cho đến khi bước chân vào khu rừng già hẻo lánh này, trong suốt thời gian ấy, cả ba nghiệp thân, khẩu và ý của ông không hề có một lỗi lầm hay tỳ vết nào khiến cho đức Phật và các bậc thiện trí thức phải chê trách. Này Visākha… cuộc đời ông thật là gặt hái được lợi ích lớn thay… thật là lợi ích lớn thay….”

Khi quán xét lại cuộc đời mình, Ngài Trưởng lão Visākha cảm thấy hỷ lạc trào dâng, mãn nguyện đến mức phải thốt lên lời cảm thán. Sau khi hồi hướng công đức đã tích lũy được cho các vị chư thiên hộ trì rừng núi, ngài lại tiếp tục cuộc hành trình.

Ngọn núi Cittalapabbata nổi tiếng mà ngài muốn đến đã hiện ra sừng sững trước mắt. Tuy nhiên, con đường lên núi lại chia làm hai ngả, ngài dừng lại một chút để suy xét. Đang lúc phân vân chưa biết chọn lối nào, vị đại thiên hộ trì ngọn núi đã xuất hiện, chỉ tay bảo rằng: “Bạch Ngài, lối này mới đúng là đường lên núi”. Nhờ vậy, ngài đã đến được trú xứ rừng núi Cittalapabbata một cách thuận lợi.

### Vị Visākha được chư thiên yêu mến

Trưởng lão Visākha quyết định sẽ chỉ trú ngụ tại chùa núi Cittalapabbata trong vòng bốn tháng.

Dù có ý định “chỉ ở lại bốn tháng”, nhưng trong tâm ngài chưa bao giờ khởi lên ý nghĩ “mình chỉ là khách tăng”. Tại bất cứ nơi nào đi đến, ngài đều thực hành đầy đủ các bổn phận lớn nhỏ đối với trú xứ, bảo tháp, và các vị thầy cùng bạn đồng tu như thể mình đã ở đó từ rất lâu. Từ việc dâng hoa, dâng nước cúng dường, quét dọn, cho đến việc chuẩn bị nước uống, nước dùng, ngài không hề lơ là mà luôn viên mãn các tế hạnh (samappavattavāsa).

Chính nhờ cách sống hòa hợp với các vị Trưởng lão sở tại và chư Tăng tại mỗi nơi ngài đến, nên khi hết thời hạn bốn tháng và ngài rời đi, các bạn đồng tu đều luôn thương nhớ về ngai.

Tại đại tự viện Cittalapabbata, Trưởng lão Visākha cũng hành trì trọn vẹn đời sống Sa-môn với cả hai phương diện Minh (Vijjā) và Hạnh (Caraṇa). Khi đã tròn bốn tháng, ngài suy nghĩ: “Rạng sáng ngày mai 

## PAGE 392

khi bình minh lên, mình sẽ rời khỏi đây”, rồi ngài nằm nghỉ tại trú xứ thiền hành.

Đúng lúc đó, ngài nghe như có tiếng khóc phát ra từ phía cầu thang của lối thiền hành. Ngài đứng dậy đi xem thì thấy một vị đại thiên đang ngồi khóc trên tấm ván cầu thang.

**Trưởng lão**: — Ai đang khóc đó?
**Chư thiên**: — Bạch Ngài, con là Maṇiliyā, vị thọ thần trú ngụ tại cây mận ở đầu lối thiền hành của Ngài.
**Trưởng lão**: — Tại sao ngươi lại khóc?
**Chư thiên**: — Bạch Ngài, vì Ngài sắp đi nên con mới khóc.
**Trưởng lão**: — Việc ta đi thì có liên quan gì đến ngươi? Ta ở đây thì mang lại lợi ích gì cho các ngươi?
**Chư thiên**: — Bạch Ngài, có chứ ạ…… Kể từ khi Ngài đến trú ngụ ở đây, hàng chư thiên tụi con luôn sống hòa thuận và yêu thương lẫn nhau. Nay nếu Ngài rời đi, bắt đầu từ con cho đến các vị chư thiên khác sẽ lại xảy ra tranh cãi, mâu thuẫn và xung đột. Chúng con sẽ lại dùng những lời thô tục, ác độc để nhục mạ nhau, thật không thể chịu nổi.

Vị thọ thiên vừa thưa thỉnh vừa khóc lóc thảm thiết. Nghe những lời đó, Trưởng lão Visākha dừng lại suy nghĩ giây lát rồi phán rằng: “Nếu việc ta ở lại đây mang lại sự an lạc và hòa hợp cho các ngươi… thì được rồi, ta sẽ chưa đi vội”. Nghe vậy, tất cả chư thiên đều vô cùng hoan hỷ.

Trưởng lão quyết định sắp xếp để ở lại núi Cittalapabbata thêm bốn tháng nữa. Nhưng khi kỳ hạn bốn tháng kết thúc, ngài định rời đi thì vị thần cây mận lại đến khóc lóc như trước. Cứ như thế, ngài lại phải dời ngày đi thêm bốn tháng nữa.

Ngài Trưởng lão Visākha, vị đã chứng đắc A-la-hán quả trên nền tảng của tâm từ (metta), mỗi khi định rời đi sau mỗi bốn tháng đều gặp tình cảnh tương tự, nên cuối cùng ngài chẳng đi đâu nữa. Vì lòng bi mẫn 

## PAGE 393

thương xưởng chúng sanh, ngài đã ở lại và cuối cùng đã xả bỏ ngũ uẩn, nhập Niết-bàn ngay tại ngôi chùa rừng nhỏ bé trên núi Cittalapabbata này.

[Đây là câu chuyện điển hình trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga Atthakathā, tập 1, trang 306) về việc tu tập tâm từ khiến cho chư thiên cũng đem lòng yêu mến. Một ví dụ khác về việc tâm từ có thể làm tiêu tan chất độc là câu chuyện về Trưởng lão Cūḷasiva, một vị tụng đọc Tương Ưng Bộ (Saṃyutta-bhāṇaka), tuy nhiên chi tiết câu chuyện không thấy ghi chép đầy đủ. Đối với những ai muốn tìm hiểu kỹ hơn về các ví dụ thực tế cũng như phương pháp thực hành và các quyết định chi tiết liên quan đến tâm từ, xin hãy xem trong cuốn "Thuyết minh về Tâm từ" (Mettāvāda - giải thích về Tứ Vô Lượng Tâm) mà chúng tôi đã biên soạn.]

### 11 Lợi ích của Tâm từ

Ngủ an, thức lạc, mộng lành,
Người, tiên yêu mến, hộ hành chư thiên,
Lửa, đao, chất độc chẳng hèn,
Định tâm mau chóng, diện tiền sáng tươi,
Chết không mê muội, thảnh thơi,
Phạm thiên sanh lạc, mười mốt điều lành,
Chính là quả báu tu hành tâm từ.

### Trưởng lão Assagutta, bậc đạt được Thắng trí về Tâm từ, tiền thân là Du sĩ ngoại đạo Sakuludāyī

Du sĩ ngoại đạo Sakuludāyī vốn là một đạo sĩ nổi tiếng tại thành Rājagaha (Vương Xá) với lượng đồ chúng đông đảo. Ông là vị tu viện trưởng của tu viện ngoại đạo gọi là ‘Moranivāpa’ (nơi cho công ăn), được xây dựng không xa chùa Veḷuvana (Trúc Lâm).

Vào một buổi sáng, Đức Thế Tôn đi vào thành Rājagaha để khất thực, vì vẫn còn sớm nên Ngài đã ghé vào tu viện của các du sĩ.
Du sĩ Sakuludāyī vốn là người rất mực tôn kính Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã hai lần ghé thăm tu viện này và thuyết giảng hai bài pháp cho Sakuludāyī. Những bài pháp đó bao quát toàn bộ Tam Tạng, là những bài kinh hướng dẫn thực hành chi tiết từ đầu đến cuối. Có thể gọi đó là những bài “giải đáp về các tà thuyết”.

## Câu bị đứt (chờ batch sau nối)
Không có

## PAGE 394

351

Đạo sĩ Sakuludāyī cũng đã nghiên cứu kỹ lưỡng về các giáo chủ ngoại đạo như Pūraṇa Kassapa, nên ông thường xuyên thảo luận và giảng giải cho các đệ tử nghe. Ông cũng chỉ ra những điểm yếu của các vị lãnh đạo tư tưởng cùng thời với Đức Phật cho đệ tử thấy. Riêng đối với Đức Phật, vì không tìm thấy lỗi lầm nào nên ông luôn hằng kính tin.

Một ngày nọ, khi Đức Thế Tôn hỏi vì sao có nhiều người kính tin và tôn trọng Ngài đến thế, Sakuludāyī bạch rằng ông nghĩ là do Ngài thực hành lối sống khổ hạnh về ăn mặc, ở nơi thanh vắng. Đức Phật đã phủ bác điều đó. Ngài chỉ ra rằng có nhiều vị khác còn tu tập khổ hạnh hơn Ngài nhiều.

Đức Phật thuyết giảng rằng sở dĩ có nhiều người kính tin và tôn trọng Ngài là nhờ vào các đức tính **Sīla** (Giới), **Thanh tịnh** (Định) và **Trí tuệ**, đồng thời Ngài cũng thuyết về các pháp thực hành trong Sa-di giới cùng với nền tảng của Tứ Diệu Đế.

Kinh này được gọi là kinh **Mahāsakuludāyī** thuộc phần **Majjhima Paṇṇāsa** của Trung Bộ Kinh. Một lần khác, Ngài lại đến thuyết giảng, gọi là kinh **Cūḷasakuludāyī**. Sau khi nghe pháp lần này, đạo sĩ Sakuludāyī vô cùng hoan hỷ, đã quy y Tam Bảo và xin được xuất gia. Tuy nhiên, các đệ tử của ông đã cùng nhau ngăn cản.

Họ phản đối rằng: "Thưa thầy, thầy đã là một đại sư rồi thì chớ nên làm đệ tử của Sa-môn Gotama, đừng muốn sống kiếp đệ tử nữa; một cái chum lớn đã thành hình thì không nên làm cái chén nhỏ múc nước." Do sự ngăn cản đó, Sakuludāyī không thể xuất gia và cũng không chứng đắc được pháp bảo nào.

Sở dĩ có chuyện này là vì vào thời Đức Phật Kassapa, một vị Tỳ-kheo là bạn của ông muốn hoàn tục và đã bàn bạc với ông (tiền thân của Sakuludāyī). Lúc đó, vì muốn có được bình bát và y của vị ấy, ông đã hết lời ca ngợi đời sống thế tục là tốt đẹp. Do ác nghiệp khẩu đó mà đến thời Đức Phật của chúng ta, ông đã không có cơ hội xuất gia, theo như Chú giải đã ghi lại.

Dù hiện tại Sakuludāyī không đạt được lợi ích đặc biệt nào, nhưng vì thấy rằng "vào một thời điểm nào đó, hạt giống này sẽ trổ quả" nên Đức Phật vẫn nỗ lực thuyết giảng cho ông.

## PAGE 395

Sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn, vào thời đại vua **Dhammāsoka** (A-dục) tại kinh thành Pāṭaliputta, đạo sĩ Sakuludāyī đã xuất gia và trở nên nổi tiếng với danh hiệu Đại trưởng lão **Assagutta**.

### Trung tâm thiền định rộng ba mươi do-tuần

Khi Đức Phật còn tại thế, trong dịp ban tặng các danh hiệu **Etadagga** (Bậc nhất), Ngài chưa từng ban danh hiệu Bậc nhất về việc nhập định **Mettā** (Tâm từ) cho một vị Tỳ-kheo nào cả.

Tuy nhiên, Ngài đã để lại lời tiên tri rằng: "Đạo sĩ Sakuludāyī này về sau sẽ xuất gia trong giáo pháp của Ta và sẽ trở thành bậc tối thắng trong số những vị có khả năng nhập định Tâm từ." Do đó, Đại trưởng lão Assagutta chính là vị thánh tăng đắc danh hiệu **Bậc nhất về Tâm từ**.

Đại trưởng lão Assagutta là bậc thầy giáo thọ (Ovādācariya) của toàn thể Tăng chúng trên khắp cõi Diêm-phù-đề. Ngài trú ngụ trong một khu rừng lớn rộng ba mươi do-tuần (yojana) tiếp giáp với dãy núi Viñjha, trú xứ này được gọi là chùa **Aṭṭhavito** (theo Tika; còn Chú giải gọi là **Vattani Senāsana**). Trong khu rừng rộng ba mươi do-tuần đó, có hàng ngàn Tỳ-kheo hành giả tu học dưới sự hướng dẫn của Ngài, tạo thành một trung tâm thiền định khổng lồ rộng ba mươi do-tuần. (Hãy xem bản đồ dãy núi Viñjha). Nhờ vào năng lực tâm từ của Trưởng lão mà các loài thú dữ trong phạm vi ba mươi do-tuần này cũng đều khởi tâm từ, trở nên hiền lành, không hề gây hại cho bất cứ ai.

Trưởng lão thường ngồi trên một tấm da thú giữa hư không để ban đề mục thiền định cho hàng ngàn hành giả. Một thời gian dài sau đó, Ngài không còn đi khất thực nữa mà chỉ ở tại chùa dạy thiền, nên thiện nam tín nữ từ các làng mạc dọc theo dãy núi Viñjha đã tìm đến tận nơi để dâng cúng vật thực.

Đức vua **Dhammāsoka** nghe danh về ân đức của Đại trưởng lão Assagutta, khởi tâm tịnh tín và muốn được chiêm bái Ngài, nên đã ba lần sai sứ giả đến thỉnh mời. Nhưng Đại trưởng lão đã không đi.

## PAGE 396

353

Vì e ngại công việc giảng dạy pháp học và pháp hành cho Tăng chúng bị gián đoạn, nên Ngài đã không nhận lời thỉnh mời của đức vua. (Dù đây là sự việc xảy ra vào thời kỳ sau của lịch sử Phật giáo vùng Trung Ấn, nhưng cũng được ghi lại ở đây. Chú giải Trung Bộ 3-190; phần giải thích kinh Cūḷasakuludāyī).

Đại trưởng lão Assagutta cũng là người có thần thông quảng đại. Có lần, biết được chư Tăng trong chùa chỉ dùng cơm trắng mà không có thức ăn, nên vào buổi sáng, Ngài đã biến nước trong hồ đá lớn thành vị sữa chua (nổi danh là ngon) để chư Tăng dùng. Tuy nhiên đến chiều tối, nếu múc nước lên thì nước ấy vẫn trở lại là nước bình thường như cũ. (Thanh Tịnh Đạo-2, 60; Chú giải Bộ Pháp Tụ-1, 444 - phần giải mã Ārammaṇa tika).

### Thầy của bậc vĩ nhân Nāgasena

Đại trưởng lão Assagutta chính là thầy của vị danh tăng **Nāgasena**. Câu chuyện này có thể tìm thấy trong tác phẩm **Milindapañhā** (Mi-lan-đà vấn đạo).

Tóm tắt mối liên hệ giữa Đại trưởng lão Assagutta và Ngài Nāgasena như sau:

Ngài Nāgasena khi tròn hai mươi tuổi, dưới sự hộ trợ của nhiều vị Thánh A-la-hán tại vùng Rakkhita thuộc dãy Himalaya, đã thọ đại giới Tỳ-kheo. Vị thầy tế độ (Upajjhāya) của Ngài tên là Trưởng lão **Rohana**. Lúc bấy giờ, Ngài Nāgasena đã thông suốt **Tạng Diệu Pháp** (Abhidhamma) từ vị thầy này.

Một ngày sau khi thọ giới, khi đang đi khất thực cùng thầy tế độ, Ngài Nāgasena nảy sinh ý nghĩ trách thầm thầy mình rằng: "Sao thầy chỉ dạy mình mỗi Tạng Diệu Pháp thôi nhỉ?". Biết được tâm niệm sai trái đó, Trưởng lão Rohana lập tức quở trách là không nên. Ngài Nāgasena liền nhận lỗi và xin lỗi thầy.

Trưởng lão Rohana phán rằng: "Này Nāgasena, chỉ bấy nhiêu thôi thì ta chưa thể dung thứ được. Con hãy đi đến thành **Sāgala**, hóa độ đức vua **Milinda** – người đang dùng các học thuyết ngoại đạo để bác bẻ chư Tăng – làm cho vua khởi đức tin với giáo pháp, chừng đó ta mới dung thứ cho con." Nghe vậy, Ngài Nāgasena đáp rằng dù không chỉ một vua Milinda...

## PAGE 397

35.4

Cho dù có trình lên tất cả các đức vua trên khắp cõi **Diêm-phù-đề** rằng mình có thể giải quyết, sẽ giải quyết các vấn đề giáo lý, và cầu xin đại xá cho lỗi lầm của mình, nhưng ngài vẫn phán rằng không thể dung thứ. Ngài hỏi:

"Bạch Ngài, vậy nội trong ba tháng mùa mưa này, con phải nương tựa nơi vị thầy nào?" **Trưởng lão Nāgasena** bạch như vậy. Vị Thầy Tế độ là Trưởng lão **Rohana** đã gửi ngài đến gặp Trưởng lão **Assagutta** tại chùa rừng **Vattaniya** thuộc dãy núi Viñjha. Sau khi nhắn gửi lời thăm hỏi sức khỏe và các tin tức khác, ngài đã lên đường. Trưởng lão **Assagutta** sau khi hỏi thăm **Trưởng lão Nāgasena** về tên tuổi, trú xứ, thầy dạy, v.v... đã dạy rằng:

"Này hiền giả **Nāgasena**, tốt rồi. Hãy thu xếp y bát của con đi."

Sáng hôm sau, **Trưởng lão Nāgasena** quét dọn sân chùa, chuẩn bị nước rửa mặt và tăm xỉa răng cho thầy. Tuy nhiên, Trưởng lão **Assagutta** lại quét lại đúng chỗ **Ngài Nāgasena** vừa quét. Ngài đổ nước đã được dâng cúng đi và múc nước từ nơi khác để dùng. Ngài cũng không sử dụng cây tăm xỉa răng đó.

Không chỉ không sử dụng đồ dâng cúng, trong suốt bảy ngày liền, ngài không hề nói hay hỏi han một lời nào. Đến ngày thứ bảy, ngài lại hỏi lại tên tuổi, trú xứ, thầy dạy và mục đích đến đây như trước. Ngài Nāgasena lại phải trình thưa rằng mình được thầy gửi đến và xin phép được nương tựa trong một mùa an cư. Khi đó, ngài mới được phép ở lại và bắt đầu mùa an cư dưới sự chỉ dạy của Trưởng lão **Assagutta**.

Khi mãn hạ, một nữ thí chủ lâu năm đã thỉnh mời cả hai thầy trò đến dùng bữa. Sau khi dùng bữa xong, Trưởng lão bảo **Trưởng lão Nāgasena** ở lại thuyết giảng Pháp tùy hỷ (Anumodanā), còn ngài thì đi về chùa trước.

Bà thí chủ bạch rằng: "Bạch Ngài **Nāgasena**, con đã già yếu rồi, xin Ngài từ bi thuyết giảng những giáo pháp sâu sắc về Danh và Sắc cho con được thụ hưởng." **Trưởng lão Nāgasena** đã thuyết giảng về **Vipassanā** (Tuệ quán) và **Abhidhamma** (Vi diệu pháp) - những pháp môn thoát ly thế gian, không có chúng sinh hay cá thể, mà chỉ có sự sanh diệt của Danh và Sắc.

Khi thời pháp kết thúc, bà thí chủ đắc quả Dự Lưu. Vị **Pháp sư** (Dhammakathika) **Nāgasena** lúc đó cũng đang ngồi suy xét lại chính giáo pháp mình vừa giảng, và ngay tại chỗ ngồi đó, ngài cũng chứng đắc **Quả Dự Lưu**.

## PAGE 398

Trưởng lão **Assagutta** lúc bấy giờ đang ngồi trong giảng đường tại chùa, ngài dùng tuệ giác quán sát và thấy rằng cả người giảng lẫn người nghe đều đã đắc quả Dự Lưu. Ngài thốt lên lời tán thán: "Lành thay, lành thay, này hiền giả **Nāgasena**! Chỉ với một mũi tên mà con có thể bắn xuyên qua hai thân hình."

Sau khi thuyết pháp xong, **Trưởng lão Nāgasena** trở về. Trưởng lão Assagutta dạy rằng: "Này hiền giả **Nāgasena**, con hãy đi đến thành **Pāṭaliputta** (Hoa Thị Thành). Hãy đến học thuộc lòng **Tam Tạng** (Piṭaka) với **Trưởng lão Dhammarakkhita** tại chùa **Asokārāma**." Ngài Nāgasena nghĩ đến đoạn đường xa xôi một trăm do-tuần, lo lắng về việc khất thực khó khăn nên đã trình thưa lại. Trưởng lão trấn an:

"Này hiền giả **Nāgasena**, cứ đi đi. Trên đường đi, con sẽ không thiếu gạo mà còn được cúng dường cơm gạo thơm cùng với các loại thức ăn ngon." Nghe lời khuyến khích của thầy, ngài đảnh lễ từ biệt rừng **Vattaniya** để lên đường vượt quãng đường một trăm do-tuần đến thành **Pāṭaliputta**.

### Hành trình hoằng pháp của Trưởng lão Nāgasena

Trên đường đến thành **Pāṭaliputta**, ngài gặp một vị trưởng giả thương buôn cùng với năm trăm cỗ xe cũng đang đi về hướng đó. Vị trưởng giả vì lòng thành kính đã phát tâm hộ độ vật thực cho ngài suốt dọc đường.

Vị trưởng giả hỏi: "Bạch Ngài, danh tánh của Ngài là gì?"
Trưởng lão đáp: "Này thí chủ, bần tăng tên là **Nāgasena**."

Vị trưởng giả hỏi: "Bạch Ngài, Ngài có am tường lời dạy của đức Thế Tôn (**Tam Tạng**) không?"
Trưởng lão đáp: "Này thí chủ, bần tăng chỉ mới biết về **Tạng Vi Diệu Pháp** (**Abhidhamma** Piṭaka) thôi."

Vị trưởng giả thưa: "Bạch Ngài, chúng con thật là đại phước đức, thật là may mắn được thân người. Con cũng đang thọ trì **Tạng Vi Diệu Pháp**, và Ngài cũng là bậc thọ trì tạng ấy. Xin Ngài từ bi tụng đọc và thuyết giảng **Tạng Vi Diệu Pháp** cho con được nghe."

**Trưởng lão Nāgasena** đã thuyết giảng cho vị trưởng giả thương buôn về **Tạng Vi Diệu Pháp**. Sau khi nghe xong, vị trưởng giả liền đắc được pháp nhãn **Dự Lưu** với trí tuệ nhận biết rằng: "Tất cả những pháp gì có bản chất sanh khởi,

## PAGE 399

đều có bản chất hoại diệt." Khi đến gần thành **Pāṭaliputta**, vị trưởng giả chỉ đường cho **Trưởng lão Nāgasena** hướng về chùa **Asokārāma**, đồng thời dâng cúng một tấm thảm quý báu vô cùng tinh xảo, dài 16 hắc tay và rộng 8 hắc tay.

Tại chùa **Asokārāma**, dưới sự hướng dẫn của Trưởng lão **Dhammarakkhita**, **Trưởng lão Nāgasena** đã học thuộc lòng toàn bộ **Tam Tạng** Thánh điển cùng với phần văn phạm Pāḷi chỉ trong vòng ba tháng. Sau đó, ngài dành tiếp ba tháng nữa để tư duy và quán xét sâu sắc về ý nghĩa của giáo pháp. Một ngày nọ, vị Trưởng lão dạy **Trưởng lão Nāgasena** rằng:

"Này hiền giả **Nāgasena**, giống như một người chăn bò chỉ biết chăm sóc đàn bò mà không được thưởng thức hương vị của sữa, còn người khác mới là người được dùng vậy; cũng vậy, dù con có thông thạo và thuộc lòng lời dạy của đức Thế Tôn là **Tam Tạng** Thánh điển, nhưng con vẫn chưa đạt được phần Đạo Quả nào." Nghe vậy, ngài bạch:

"Bạch Ngài, xin hãy dừng tại đó, như vậy là đủ rồi. Con đã hiểu ý Ngài rồi." Nói xong, ngài liền nỗ lực hành trì **Tuệ quán** (Vipassanā), và chỉ trong vòng một ngày hôm đó, ngài đã chứng đắc quả vị A-la-hán cùng với bốn trí **Phân tích** (Paṭisambhidā).

Khi đó, chư Thiên đồng thanh tán thán "Sa-thu, Sa-thu". Đất trời chuyển động dữ dội. Phạm thiên vỗ tay reo mừng. Mưa hoa trời rơi xuống rải rác khắp nơi.

Trên đỉnh núi **Rakkhita** ở **Hy-mã-lạp sơn**, hàng trăm vị Thánh A-la-hán đã hội họp và cử sứ giả đến thỉnh mời **Trưởng lão Nāgasena** đến đó. Khi ngài đến nơi, các vị A-la-hán thưa rằng:

"Này hiền giả **Nāgasena**, đức vua **Milinda** đang dùng các vấn nạn để chất vấn và làm khó chư Tỳ-khưu Tăng. Chư Tăng giao trọng trách này cho hiền giả, hãy đi đến kinh thành **Sāgala** để nhiếp phục vua."

Ngài đáp rằng: "Bạch các Ngài, đừng nói chi chỉ một mình vua **Milinda**, cho dù tất cả các đức vua trên khắp cõi **Diêm-phù-đề** có đến chất vấn, con cũng có thể giải đáp và nhiếp phục một cách hoàn hảo. Xin các Ngài đừng lo lắng hay sợ hãi, hãy cùng con tiến về kinh thành **Sāgala**."

## PAGE 400

Khi đó, chư Tăng mới lên đường đến thành Sāgala. Các vị Trưởng lão hộ trì Giáo pháp luôn chăm sóc những bậc có phước đức ba-la-mật có khả năng phụng sự Giáo pháp theo cách như vậy. Trong số các bậc Trưởng lão đã chăm sóc và dạy dỗ bậc vĩ nhân **Nāgasena**, Trưởng lão **Assagutta** cũng là một trong những vị tiêu biểu.

## Ngài Upagutta mà hệ phái Mahāyāna tôn kính

Về câu chuyện của ngài Upagutta, có vẻ như một số vị hộ trì Giáo pháp thời xưa cũng thường xuyên phải giải đáp do các hàng cư sĩ hay thưa hỏi. Trong bộ sách "Samantacakkhudīpanī", Ngài Trưởng lão Jetavana ở Monywe đã giải thích rằng cái tên này xuất hiện như một thuật ngữ trong các bộ sách ngữ pháp và cũng có mặt trong bộ **Milindapañhā** (Mi-lan-đà vấn đạo).

Tuy nhiên, trong nguyên bản Pāli của bộ **Milindapañhā**, hoàn toàn không có tên vị này. Có người nói rằng tên ngài có thể xuất hiện trong bản của Thái Lan. Cuối cùng, Ngài Trưởng lão Jetavana đã đưa ra phán quyết rằng: "Chưa từng tìm thấy bộ kinh điển nào đủ độ tin cậy và xác đáng (**daḷhīkammañāpaka**) để ghi nhận về tiểu sử và các sự tích của ngài Upagutta".
(Ghi chú: Kinh điển ở đây ý chỉ những bộ kinh sách được các bậc thầy truyền thừa qua các kỳ Kết tập Giáo pháp công nhận.)

### Những điều cần suy xét về chú giải Vajirabuddhi-ṭīka

Trong hơn một trăm bộ chú giải và phụ chú giải Pāli, không có bất kỳ nơi nào đề cập dù chỉ là một gợi ý nhỏ về ngài Upagutta, ngoại trừ trong bộ phụ chú giải Luật là **Vajirabuddhi** (phần kết thúc chương 63 - **Verañjā**). Điều này gây ra sự ngạc nhiên lớn. Có lý do để nghi ngờ rằng: "Liệu đây có thực sự là nguyên tác của tác giả bộ phụ chú giải hay không?". Bởi lẽ các bậc Trưởng lão thông tuệ kinh điển như Ngài Jetavana ở Monywe khó lòng bỏ qua nếu điều đó xuất hiện trong một bộ sách nổi tiếng như vậy.

Hơn nữa, phần giải thích trong bộ phụ chú giải này chỉ xuất hiện ở cuối chương **Verañjā** theo lối giải thích tự do (không bám sát bản gốc - **pālimuttaka**). Ý nghĩa của phần giải thích đó là: Khi Đức Thế Tôn an cư tại thành **Verañjā**, Ngài không có khả năng tiêu trừ sự quấy nhiễu của Ma vương hay sao? Ngài có khả năng đó. Tuy nhiên, vì sau này vào thời ngài Upagutta,

## PAGE 401

có duyên sự giúp cho Giáo pháp được tịnh tín nên Ngài đã giữ lòng kham nhẫn". Lời giải thích này thực sự rất khiên cưỡng và không mấy liên quan.

Ngay tại trang 31 của chính bộ phụ chú giải đó, khi trình bày các lý do Đức Thế Tôn an cư tại thành **Verañjā**, tác giả đã nêu ra các lý do như: để hiển thị thần thông của ngài **Moggallāna**, để ngài **Sāriputta** có ý định thưa thỉnh việc ban hành học giới, để tế độ vị Bà-la-môn **Verañjā**, và để tạo bài học về lòng kham nhẫn đối với vật thực cho các thế hệ tu hành sau này. Việc đưa thêm câu chuyện Ma vương và ngài Upagutta vào sau đó làm giảm đi giá trị của những lý do xác đáng đã nêu trước đó. Nếu thực sự muốn giải thích về Ma vương, tác giả nên giải thích ngay từ phần trước. Việc đợi đến khi kết thúc mới quay lại đề cập là một điểm đáng lưu tâm.

Khi đối chiếu với bộ **Chú giải Pārājika** (1-147) vốn là nền tảng của bộ phụ chú giải này, chính vị tác giả chú giải đã đặt câu hỏi rằng: "Khi Đức Thế Tôn ngự đến an cư tại thành **Verañjā**, Ngài không biết Ma vương sẽ quấy nhiễu hay sao?". Câu trả lời là: "Không phải Ngài không biết, mà vào thời điểm đó Ma vương đang nuôi lòng oán hận cực độ, dù Đức Thế Tôn có ngự đến cung trời **Tāvatiṃsā** (Đạo Lợi) để an cư thì hắn vẫn sẽ quấy nhiễu mà thôi". So sánh hai cách giải thích này, lời của tác giả bộ phụ chú giải càng bộc lộ nhiều điểm cần phải xem xét lại.

Thực tế là vào năm an cư đó, Đức Thế Tôn dự định ban hành các học giới luật tạng để Giáo pháp được trường tồn lâu dài, nên Ma vương đã quấy nhiễu khiến Ngài phải thọ dụng lúa mạch thô dành cho ngựa suốt cả mùa an cư.

Nếu thực sự ngài Upagutta là một vị Thánh A-la-hán có đại thần thông xuất hiện vào thời kỳ kết tập Giáo pháp lần thứ ba như lời tác giả bộ phụ chú giải nói, hoặc như niềm tin phổ biến của nhiều người hiện nay; nếu ngài thực sự là một bậc **Khīṇāsava** (Bậc đã đoạn tận lậu hoặc) và **Iddhimanta** (Bậc có thần thông) mẫu mực trong hệ phái Thera-vāda, thì chắc chắn các bậc tác giả chú giải đã phải đề cập đến ngài ở một nơi nào đó.

Đặc biệt là trong phần về kỳ Kết tập Giáo pháp lần thứ ba, không thể nào không nhắc đến ngài. Hơn nữa, khi nêu gương các bậc có đại thần thông, kinh điển còn nhắc đến cả những bậc vĩ nhân thời cổ đại ở Sīhala (Sri Lanka), nên không có lý do gì để lãng quên hay bỏ sót ngài Upagutta. Nếu lời trong bộ **Vajirabuddhi-ṭīka** là nguyên tác, thì tác giả này dường như đã đi quá xa so với các bậc thầy chú giải tiền bối.

## PAGE 402

## Bộ sử Hmannan và sử Mahāvaṃsa

Thực tế, tên ngài Upagutta không xuất hiện trong các bộ kinh điển được các thế hệ Trưởng lão hộ trì Giáo pháp công nhận. Ngược lại, tên ngài xuất hiện trong bộ "Lokapaññatti", một bộ sách tuy viết bằng ngôn ngữ Pāli nhưng chứa đựng nhiều quan điểm trái nghịch với Giáo pháp và không được các bậc thầy truyền thừa tin dùng.

Các sử gia soạn thảo bộ Đại Sử (Rājavaṃsa) và Ngài Trưởng lão Kyithel Layhtat đã không xem xét kỹ lưỡng ý nghĩa sâu xa này. Với mục đích chỉ là để làm tăng thêm đức tin, họ đã trích dẫn từ bộ **Lokapaññatti** (vốn không được các bậc thầy công nhận) để đưa vào bộ **Sử Hmannan**, sách **Jinattha-pakāsanī** và các câu chuyện trong bộ **Mahāvaṃsa**. Thậm chí, trong cuốn sách "Vimatocchedanī" (trang 93) xuất bản năm 1921, Ngài Trưởng lão Kyithel còn trích dẫn một mẩu tin trên báo năm 1864 nói về việc "các nhà khoa học Anh nhìn thấy một lâu đài bằng đồng dưới biển". Kể từ đó, trong giới Phật tử Thera-vāda tại Miến Điện, từ việc dựng rạp làm lễ, ngài Upagutta bắt đầu được dâng một khay lễ cúng dường.

Vì đây là những bộ sách được sử dụng rộng rãi, nên nhiều người đã lầm tưởng rằng câu chuyện này có trong bộ sử **Mahāvaṃsa** nguyên bản hoặc xuất phát từ các bộ Chú giải Pāli.

Ngày xưa, các vị soạn giả kinh sách cũng đã đưa đoạn 'Đức Phật tế độ vua Jambupati' (vốn không có trong kinh điển Thera-vāda) vào các bộ sách như "Maṇikuṇḍala" và **Tathāgat-udāna-dīpanī**. Hệ quả là ngày nay, hầu hết các pho tượng Phật trong hệ phái Thera-vāda đều được tạc với các chi tiết trang trí nhọn và trang sức của một vị vua, chỉ thiếu mỗi việc không cầm vũ khí mà thôi. Thật đáng để khởi tâm kinh sợ (**saṃvega**). Đây chính là bài học quý giá cho những bậc trí giả sau này khi biên soạn các kinh sách về Phật giáo thuần khiết.

"Giáo pháp của Đức Phật (**Piṭaka**) cũng giống như mặt trăng và mặt trời, chỉ khi được hiển lộ, làm cho sáng tỏ mới mang lại lợi ích; nếu che giấu đi thì không có lợi ích gì. Ngược lại, những tà kiến, tà thuật và các vấn đề về nữ nhân thì che giấu đi mới có lợi ích, không nên hiển lộ ra". Đó là lời Đức Thế Tôn đã dạy trong **Tăng Chi Bộ Kinh** (**A.i, 286 - Paṭicchanna Sutta**).

---SOURCE_END---

## PAGE 403

**Tại Đại hội Kết tập Tam Tạng lần thứ III**, liệu Trưởng lão Upagutta (ရှင်ဥပဂုတ်) có phải là nhân vật chủ chốt?

Trong các đại chú giải sư và ngay cả trong các bộ văn bản biên niên sử như Mahāvaṃsa (Đại Sử) — vốn được xem là chuẩn mực dù không trực tiếp ghi chép về cuộc Kết tập — hay thậm chí là trong cuốn "Từ điển các danh từ riêng trong Pāḷi" do Tiến sĩ Malalasekera biên soạn tại Srilanka gần đây, đều không thấy đề cập hay giới thiệu về Trưởng lão Upagutta. Việc Trưởng lão Upagutta được mô tả và viết lại như một nhân vật lãnh đạo tối cao trong thời kỳ **Kết tập lần thứ III** là một vấn đề rất đáng để suy ngẫm kỹ lưỡng. Đây là một cách viết mang trách nhiệm vô cùng nặng nề.

Điều tồi tệ hơn là, ngay cả các bậc Trưởng lão như ngài **Indagutta** và ngài **Assagutta** (vị được nói là tiền thân của du sĩ Sakuludāyī), vốn là các bậc thầy đồng hành trong công cuộc hoằng pháp của vua Asoka, cũng bị cho là những tên gọi khác của Upagutta chỉ vì có hậu tố "Gutta". Việc viết rằng "Trưởng lão Upagutta chính là Trưởng lão **Indagutta**, cũng chính là Trưởng lão **Assagutta**" lại càng là những lời khẳng định mang tính trách nhiệm nặng nề hơn nữa.

Ngoài ra, nếu những người đó đọc về các vị chứng đắc thần thông thắng trí đã được nêu trong tập này, như vị Sa-di Saṅgharakkhita, vị thúc phụ là Trưởng lão **Mahānāga** (vị trú ngụ giữa đại dương), hay vị Trưởng lão đã ngăn chặn trận mưa than hồng của Ma vương, thì họ có thể dễ dàng lầm tưởng rằng đó chính là "Trưởng lão Upagutta".

Thực tế, ngay cả khi ngài Upagutta không phải là nhân vật chủ chốt trong cuộc **Kết tập lần thứ III** (vốn là buổi làm sáng tỏ để loại bỏ các quan điểm **Đại thừa**), nhưng nếu ngài có đảm nhận một phần trách nhiệm nào đó, thì việc những người theo khuynh hướng **Đại thừa** tôn kính ngài như một vị lãnh đạo cũng là điều khó lòng lý giải nổi.

### Upagutta — Vị được cho là có khả năng tạo ra luồng sinh lực chiến thắng

Khi đọc các cuốn sách như "Phật Quốc" (trang 490) của Ngài Sayadaw chùa Cakkara Yaung Aung ở thị xã Pyapon; cuốn "Cách cúng dường A-la-hán Upagutta và các bài kinh Paritta" do một người tên là "Sayādaw Jāgaru" viết và được Pháp sư **U Khin Maung Lin** hiệu đính; hay cuốn "Phật giáo Thuần khiết" của Ngài Paññindābhivaṃsa (vị thủ khoa Sakyashīha, BA) ở thị xã Mogok, thì những nghi vấn về Upagutta đã phần nào được sáng tỏ.

## PAGE 404

Trong đó, cuốn sách của Ngài **Paññindābhivaṃsa** viết rằng Upagutta vốn thuộc về truyền thống **Đại thừa**, sau đó bị pha tạp vào Thượng tọa bộ (Theravāda), hay nói cách khác, đây là một "vết nhơ" trong Phật giáo thuần khiết. Cuốn sách này mang lại lợi ích rất lớn cho giáo pháp Thượng tọa bộ.

Trong cuốn "Phật Quốc" (Buddha Nanda) cũng trình bày rằng, theo các ghi chép của Phật giáo **Đại thừa**, vào thời vua Asoka, có vị Trưởng lão **Upagutta** trú tại núi Gurumunda trong rừng Natabhāsika gần vùng Madhurā; ngài vốn chỉ là một vị Trưởng lão thuộc phái **Đại thừa**.

Trong cuốn "Cách cúng dường A-la-hán Upagutta và các bài kinh Paritta", không chỉ mô tả ngài là một vị A-la-hán, mà còn khẳng định các đại Trưởng lão **Indagutta**, **Assagutta** cũng chính là ngài Upagutta, điều này gây nên sự nhầm lẫn rất lớn. Tuy nhiên, nhờ được đọc tiểu sử ngài Upagutta từ bộ **Divyāvadāna** (Thí dụ kinh) thuộc văn học Phạn ngữ của hệ phái **Đại thừa**, ở một phương diện nào đó, chúng ta cũng nên cảm ơn tác giả của bộ kinh ấy.

Cuốn sách đó lấy nền tảng từ lịch sử truyền thừa **Đại thừa** trong bộ **Divyāvadāna**, kết hợp với các nghiên cứu và nhận định (bằng tiếng Phạn, Hindi, Anh ngữ) của các học giả Ấn Độ giáo và giới trí thức như Giám mục Caldwell của Cơ đốc giáo.

Từ việc tường thuật chi tiết Upagutta là con trai út của ông **Gutta**, chủ một công ty hương liệu ở kinh thành Madhurā, cho đến hình ảnh Upagutta như một "vị Phật không tướng" (không có các đại nhân hình tướng), rồi việc ngài soạn thảo các bộ kinh như **Asatyasaṃhitā**, **Asatyagītā**, **Satala Adikāra**; hay việc ngài là bậc đắc **Thần túc thông**, có khả năng điều khiển các vị thần toán học, các vì sao trên trời, chòm sao Bảo Bình, cũng như hiện tượng nhật thực, nguyệt thực — tất cả đều có thể đọc thấy tường tận.

Chính những điểm này đã làm tan biến sự hoài nghi về việc Upagutta thực sự là người như thế nào. Trình thế gian này, thậm chí có những kẻ tự xưng "Ta là **Buddhaghosa**" rồi dùng các trò giả thần giả quỷ để hiển thị quyền năng; thế nên việc người ta thờ phụng, cúng tế vì mục đích lợi lộc, tiền tài, quyền lực, chức vụ thế gian là điều không cần bàn cãi, họ chỉ đang thờ phụng theo niềm tin riêng của mình. Hiệu quả hay không cũng chẳng cần xét tới. Tuy nhiên, việc đánh đồng và viết lại hai bản chất khác biệt như Đông với Tây là điều cần phải xem xét lại.

## PAGE 405

### Góc nhìn từ phương diện cốt lõi

Trong thế gian, hai tư tưởng Nam truyền và Bắc truyền vốn có sự khác biệt, nên những quan điểm cho rằng "Văn bản này vững chắc, văn bản kia không vững chắc; chỉ có ghi chép của chúng tôi là đúng, ghi chép của họ là sai" là điều ai cũng có thể nói theo phe phái của mình.

Tuy nhiên, bất kỳ tôn giáo hay hệ tư tưởng nào cũng đều có "đá thử vàng" để kiểm chứng giá trị cốt lõi. Dù cái gì đó có vẻ giống vàng đến đâu, hay ngay cả khi nó là vàng thật, thì khi đưa lên đá thử, kết quả sẽ rạch ròi. Trong **Kinh Tương Ưng**, bài **Kinh Thaddhamma-ppatirūpaka** (Chánh pháp tượng giáo), Đức Thế Tôn đã thuyết về việc chánh pháp thật sự có thể bị lu mờ bởi chánh pháp giả, giáo điển giả và kinh văn giả.

Ở đây, tôi chỉ muốn nêu ra một ý nhỏ: Trong Phật giáo **Thượng tọa bộ** (Theravāda), dù phương cách thực hành Bố thí, Trì giới hay Tu thiền có thể có những điểm khác biệt tùy nơi, nhưng cốt lõi phải tương đồng. Cái cốt lõi đó không nhất thiết phải có một quy định cố định trong mọi trường hợp, nhưng những người thợ làm vàng bạc đá quý chỉ cần nhìn sơ qua là có thể định giá được.

Về các tình tiết trong câu chuyện Upagutta:

(1) Tại đại lễ dâng cúng tu viện của vua Asoka, có nói rằng vua đã quấn bông tẩm dầu quanh thân mình rồi đốt lửa để cúng dường bảo tháp nhằm tạo ra thiện sự tối thượng. Liệu các bậc đại Thánh A-la-hán có cho phép loại hình bố thí như vậy không? Và liệu Đức Phật có chấp nhận loại bố thí đó không?

(2) Các cách nói như khi Upagutta ôm bát ngước nhìn lên thì "mặt trời sẽ không bao giờ đứng bóng" (để ngài kịp thọ thực), hay khi thi thố thần thông với Ma vương, hai bên đã biến hóa đấu nhau qua các hình dạng đại bàng, hổ, quỷ Dạ-xoa... Những việc phô trương thần thông (**vikuubbana-iddhi**) như vậy đã bị Đức Thế Tôn khiển trách và cấm đoán. Liệu các bậc Thánh A-la-hán có phạm vào lời dạy của Đức Phật (chỉ để thể hiện năng lực trong những việc tầm thường) hay không?

## PAGE 406

(3) Có thuyết nói rằng tại Nam Hải, chùa Lohapāsāda (Lâu Đài Đồng) hiện nay vẫn còn tồn tại. Những bậc A-la-hán cao thượng, khi đã nhìn thấu gánh nặng của ngũ uẩn và khổ của hành (saṅkhāra-dukkha), các ngài thường có thái độ rằng: "Ta không ưa thích cái chết, cũng không nồng nhiệt với sự sống", nên các ngài vô cùng hoan hỷ khi nhập Niết-bàn. Như vậy, liệu các ngài có còn ham thích sống lâu chăng? Và trong Phật giáo, liệu có sự ưu tiên cho việc kéo dài mạng sống hay không?

(4) Lại có chuyện rằng khi Ma vương biến hóa ra thân Phật cho ngài đại trưởng lão A-la-hán Upagutta xem, vị trưởng lão này đã đảnh lễ Ma vương. Điều này liệu có hợp lý chăng?

Có rất nhiều điểm cần phải suy xét như vậy.

(5) Trong câu chuyện về ngài Upagutta — dù là do hệ phái Đại thừa sáng tác ra hay dựa trên một sự kiện có thật nào đó — chúng ta thấy có một điểm mấu chốt cuối cùng.

Đó chính là những lời cuối cùng mà Ma vương nói với ngài Upagutta khi bị quàng xác chó thối vào cổ. Những lời này cho thấy rõ ràng câu chuyện này là một tác phẩm mang đậm tư tưởng Đại thừa. (Hãy lưu ý nguyên tắc căn bản này: những người theo Mahāyāna thường xem nhẹ bậc A-la-hán và chỉ tôn sùng quả vị Phật).

Ma vương than thở: "Trước kia, ta đã nhiều lần nghịch phá đức Thế Tôn, nhưng Ngài chẳng hề gây một lỗi lầm nào với ta. Nay vị đệ tử (ngài Upagutta) này lại không có lòng bi mẫn, cứ hành hạ áp bức ta". Hắn vừa than vừa đi quanh các thung lũng. Rồi hắn lại khởi lên ý nghĩ: "Trong những kiếp quá khứ, ta cũng đã từng tích lũy vô số công đức để có thể thành bậc Thánh A-la-hán. Nhờ năng lực của các phước báu này, ta nguyện về sau sẽ đắc quả vị Phật.

Ta không muốn trở thành một vị Thanh văn (Thāvakā) thiếu lòng bi mẫn đối với chúng sanh." (Trích Mahāvaṃsa - 105).

Dù câu chuyện này được lồng ghép khéo léo vào bối cảnh cuộc Kết tập Tam tạng lần thứ ba, nhưng rõ ràng ngài Upagutta không phải là một nhân vật thuộc Thượng tọa bộ (Theravāda). Qua đó, chúng ta có thể thấy câu chuyện này chứa đựng bao nhiêu tình tiết thêu dệt.

## PAGE 407

## Chương (5) Những vị trưởng lão là tấm gương về lòng kiên trì và sự nhẫn nại

### Có nhẫn nại mới đến được Niết-bàn

Kẻ tu tập theo tà đạo, nếu ít tinh tấn thì khỏe, nhưng nếu nỗ lực nhiều thì chỉ chuốc lấy khổ đau. Ngược lại, người tu hành đúng chánh đạo, nếu thiếu tinh tấn sẽ gặp khổ, chỉ có người đầy đủ nghị lực mới đạt được an lạc.

(**Kinh Tăng Chi - Chương Một Pháp**)

Trong giáo pháp, việc nỗ lực thực hành Bát Chánh Đạo để thoát khỏi luân hồi, dù có làm cho thân xác hao mòn, da bọc xương đi nữa, thì cũng không gọi là "khổ hạnh ép xác" (attakilamatha). Đó chính là "Chánh tinh tấn" (Sammā-vāyāma). (**Chú giải Kinh Devadaha, Trung Bộ III**).

**Khantī paramaṃ tapo titikkhā** = "Nhẫn nại là pháp thiêu phong khổ hạnh tối thượng" — đây là lời giáo giới của chư Phật.

## PAGE 408

### Trưởng lão Milakkhatissa: Từ người thợ săn thành bậc A-la-hán nhờ phục vụ Tăng chúng

Tại hòn đảo Sri Lanka, vùng Rohana, trong đại tự viện Gāmeṇḍavāla, có vị trưởng lão tên là Cūḷapiṇḍapātika Tissa cư ngụ. Tại ngôi làng nơi vị trưởng lão thường đi khất thực, có một người thợ săn tên là Milakkha sinh sống.

Để nuôi sống vợ con, mỗi ngày người thợ săn này đều mang theo cả trăm loại bẫy thắt, bẫy sập, bẫy lao, lê lết khắp rừng sâu để săn bắn, tạo ra vô số ác nghiệp. Mỗi khi rời nhà, ông ta đều mang theo lửa và muối để nướng thịt ăn ngay tại chỗ.

Một ngày nọ, sau khi nướng thịt ăn xong, ông thấy khát nước khô cổ nên đi vào chùa Gāmeṇḍavāla. Dù trong chùa có giàn nước để sẵn khoảng mười lu, nhưng ông chẳng tìm được lấy một giọt nước nào để giải khát.

Ông ta buông lời nhục mạ chư Tăng: "Ở nơi các tu sĩ ở thế này mà không có lấy một giọt nước cho người lữ hành khát mệt, chẳng biết đường gánh nước đổ vào lu sao? Thật là lười biếng, chỉ biết ăn của đàn na tín thí rồi nằm ngủ thôi". Nghe thấy tiếng động, vị trưởng lão đi ra xem giàn nước thì thấy tất cả mười lu đều đầy ắp nước. Ngài thầm nghĩ: "Hẳn người này dù là người nhưng lại đang chịu nghiệp báo của loài ngạ quỷ".

Ngài nói: "Này thí chủ, nếu khát thì đây, hãy uống đi", rồi ngài bảo ông ta đưa tay ra làm gàu, đích thân ngài múc nước đổ vào. Như nước đổ vào chảo gang đang nóng đỏ, mười lu nước đầy lần lượt cạn sạch mà ông ta vẫn không hết khát. Ác nghiệp đã hiển hiện kết quả ngay trong hiện tại.

Vị trưởng lão bảo: "Này thí chủ, những ác nghiệp mà ông đã làm thật đáng kinh sợ đến rợn tóc gáy. Ngay lúc này đây ông đã như một con ngạ quỷ rồi. Những thống khổ mà ông phải chịu trong vòng luân hồi bắt đầu từ kiếp sau còn đáng sợ đến dường nào nữa... Hãy tự mình suy xét lấy đi".

## PAGE 409

**Gã thợ săn** nghe lời đại đức nói thì vô cùng kinh hãi. Sau khi đảnh lễ vị đại đức và trở về, ông đã phá hủy toàn bộ các bẫy sập, thòng lọng, lưới, xiên và những thứ khác đã đặt trong rừng. Ông nhanh chóng trở về nhà, thưa chuyện với vợ con và xin phép đi tu. Ông phá bỏ các vũ khí săn bắn và thả tự do cho những con chim tịnh nhàn (chim sẻ) đang bị giam cầm.

Ông đến chùa xin đại đức cho phép xuất gia:

“Này thí chủ, đời sống xuất gia rất khó khăn, làm sao ông có thể tu hành được?”

“Bạch ngài, ngay trong kiếp này đã tận mắt chứng kiến quả báo ác nghiệp lớn lao như vậy thì con không thể không đi tu, bạch ngài.”

Đại đức cuối cùng cũng cho ông xuất gia sau khi truyền dạy **thiền mục thân hành** với năm tiểu mục: **“tóc, lông, móng, răng, da”**. Vị ấy được gọi là **Đại đức Milakkha**. Đại đức Milakkha rất tận tâm thực hiện các phận sự lớn nhỏ và việc phục vụ. Vị ấy cũng chuyên tâm học tập và lắng nghe kinh điển Phật giáo.

Khi thực hành thiền định, những hình ảnh về việc giết hại hươu nai, heo rừng thời còn làm thợ săn hiện lên trong tâm trí. Toàn thân vị ấy trằn trọc, nóng nảy. Vị ấy không thể ngồi thiền được nữa. Nghĩ rằng “sống đời sa-môn mà thế này thì chẳng có lợi ích gì”, vị ấy đi đến vị thầy tế độ xin hoàn tục. Vị thầy đã chỉ cho vị ấy thấy nỗi kinh sợ của đại địa ngục Avici để khởi tâm kinh sợ. (Saṃ-ṭṭh-2, 252.)

Một ngày nọ... vị thầy cho vị ấy học và nghe **kinh Thiên Sứ (Devadūta Sutta)**, nói về những người dù có được thân người nhưng lại dể duôi trong việc làm thiện, làm ác qua thân, khẩu, ý nên phải sa vào địa ngục; bị cai ngục dẫn đến trước Diêm vương để xét hỏi, cuối cùng bị hành hình bằng đủ mọi cách và bị quăng vào vạc dầu địa ngục rực lửa. (Kinh này có trong **Tăng Chi Bộ Kinh, Tập Ba** và **Trung Bộ Kinh, Phần Hậu Bán**.)

“Bạch ngài, sau khi chịu những khổ cảnh như vậy, họ lại bị quăng vào vạc dầu địa ngục Avici. Sự kinh sợ của ác đạo địa ngục thật là ghê gớm thay, bạch ngài.”

“Đúng vậy, này hiền giả. Nếu ông hoàn tục, ông sẽ phải chịu khổ hình tại đại địa ngục Avici đó.”

“Bạch ngài, con có thể nhìn thấy cõi địa ngục đó không?”

## PAGE 410

“Không thể thấy trực tiếp được, này hiền giả, nhưng có một cách để làm cho thấy giống như địa ngục vậy, ta sẽ cho ông xem”. Nói rồi, đại đức bảo các Sa-di mang củi tươi đến chất đống trên một phiến đá lớn. Trong khi đang ngồi, đại đức dùng thần thông lấy từ đại địa ngục Avici một tàn lửa chỉ nhỏ bằng con đom đóm. Trong khi đại đức Milakkha đang quan sát tàn lửa nhỏ như đom đóm đó, vị đại đức ném nó vào đống củi tươi. Ngay khi tàn lửa vừa rơi xuống, toàn bộ đống củi tươi lớn lập tức cháy thành tro trong tiếng xèo xèo. Chứng kiến cảnh đó, đại đức Milakkha vô cùng kinh ngạc:

“Bạch ngài... giáo pháp của Đức Thế Tôn thật sự có thể giúp thoát khỏi khổ đau luân hồi phải không, bạch ngài?”

“Đúng vậy, này hiền giả.”

“Nếu thế, con sẽ nỗ lực để thoát khỏi nỗi khổ này, bạch ngài. Trong giáo pháp của Đức Phật, có bao nhiêu phận sự (**dhura**) mà một vị Tỳ-kheo phải làm?”

“Này hiền giả, chỉ có hai loại: học tập kinh điển (**pháp học**) và thực hành giáo pháp (**pháp hành**).”

“Bạch ngài, việc học tập kinh điển dành cho những người có khả năng. Còn con là người vì thấy khổ mới đi tu khi đã lớn tuổi. Con chỉ muốn thực hành tuệ quán. Xin ngài hãy hướng dẫn thiền mục cho con.”

Vị đại đức biết rằng đại đức Milakkha là người đầy đủ các tế hạnh lớn nhỏ nên đã hướng dẫn cách thực hành thiền quán ngay trong khi đang thực hiện các phận sự. Đại đức Milakkha vừa nỗ lực thực hành pháp, vừa hoàn thành các bổn phận như **quét dọn sân bảo tháp**, **quét dọn sân cây Bồ-đề**, **dọn dẹp trú xứ**, **phục vụ thầy tế độ**. Vị ấy không chỉ làm các việc tại **chùa Gāmekkhavāla** nơi mình ở, mà còn luân phiên mỗi ngày đến phục vụ tại các đại tự viện trên **núi Cittalata** và các chùa ở làng khất thực lân cận. Trong khi làm việc phục vụ, vị ấy vẫn luôn duy trì sự tỉnh giác về các **sắc pháp**.

Đôi khi, đại đức Milakkha bị tâm **hôn trầm thụy miên** tấn công làm cho lười biếng, trì trệ. Lo sợ sẽ bỏ bê bổn phận, vị ấy bèn bện một vòng rơm lớn, nhúng nước rồi đội lên đầu. Vị ấy còn ngâm chân vào nước khi ngồi thiền.

## PAGE 411

### 7 cách loại bỏ hôn trầm thụy miên

(Theo Saṃ-ṭṭh-3, 289 và Chú giải Tăng Chi Bộ, chương Triển khai về Triền cái 38): Khi các hành giả bị **hôn trầm thụy miên** xâm chiếm, có 6 cách để xua đuổi. Cần áp dụng một trong các cách sau để loại bỏ:

1. Ăn ít lại (bớt đi khoảng bốn năm miếng ăn, thay bằng việc uống một ly nước).
2. Thay đổi oai nghi.
3. Tác ý đến ánh sáng.
4. Ở nơi trống trải (không ở trong phòng kín).
5. Sống cùng bậc **thiện tri thức** đã chế ngự được hôn trầm.
6. Chỉ nói những lời liên quan đến việc khích lệ tinh tấn, liên quan đến **đầu-đà**. (Nếu có thể, hãy thọ trì **hạnh đầu-đà không nằm**. Xem thêm “Cách tạo ra tinh tấn” ở phần trước.)

(Trong **Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Bảy Pháp, kinh Pacalāyama (Kinh Ngủ Gật)** 461 lại dạy):
1. Từ bỏ tưởng dẫn đến buồn ngủ.
2. Suy xét về giáo pháp.
3. Đọc tụng giáo pháp.
4. Kéo hai tai, dùng tay xoa bóp thân mình.
5. Rửa mặt rồi nhìn xung quanh, ngước nhìn các vì sao.
6. Tác ý đến ấn tướng ánh sáng.
7. Loại bỏ hôn trầm bằng cách đi kinh hành.

Một ngày nọ, tại đại tự viện trên **núi Cittalata**, đại đức Milakkha thực hiện phận sự dọn dẹp trú xứ suốt đêm cho đến quá nửa đêm trong khi vẫn duy trì chánh niệm. Khi gần đến lúc rạng đông, hôn trầm tấn công dữ dội, vị ấy bèn đội vòng rơm đẫm nước lên đầu, đặt một bình nước thỉnh thoảng nhỏ từng giọt lên đùi và tiếp tục hành thiền.

Trong đêm tối tĩnh mịch, vị ấy nghe rõ tiếng đọc tụng kinh điển vang lên từ ngôi chùa phía thung lũng hướng Đông của một vị Sa-di.

## PAGE 412

(Bài Pháp mà chú Sa-di đang đọc tụng chính là kinh **Arunavatī** (Kinh Arunavatī), được Ngài Tôn giả Abhibhū — vị Thượng thủ Thinh văn đệ nhất về trí tuệ dưới thời Đức Phật Sikhī — đứng từ cõi Phạm thiên, dùng thần thông thuyết giảng cho một ngàn thế giới cùng nghe. Trích từ **Kinh Tương Ưng, Phẩm Có Kệ**.)

**Ārabbhatha nikkhamatha, yuñjatha buddhasāsane.**
**Dhunātha maccuno senaṃ, naḷāgāraṃva kuñjaro.**

“Hãy nỗ lực lên, hãy tinh tấn lên, hãy dấn thân vào giáo pháp của Đức Thế Tôn. Hãy đánh tan đội quân của tử thần Ma vương, như thớt voi dũng mãnh dẫm nát ngôi nhà bằng lau sậy.”

**Yo imasmiṃ dhammavinaye, appamatto vihassati.**
**Pahāya jāti saṃsāraṃ, dukkhassantaṃ karissati.**

“Người nào trong **Pháp Luật** này, vị hành giả nào có chánh niệm **tỉnh giác**, người đó sẽ vượt khỏi vòng luân hồi sanh tử và chấm dứt mọi khổ đau.” (Trong **Chú giải Kinh Tương Ưng** có bài kệ **Uṭṭhānavato satimato**.)

Trưởng lão Milakkha khi vừa nghe âm vang chánh pháp ấy, mọi sự uể oải, lười biếng liền tan biến — Ngài tự khích lệ: “Hẳn là bài kinh này được thuyết giảng nhắm đến một vị Tỳ-kheo đang nỗ lực không ngừng nghỉ như ta đây”. Với lòng phấn chấn, những luồng hỷ lạc và định từ các tầng thiền liên tục phát khởi. Trong trạng thái hân hoan không dứt, Ngài lấy định đó làm nền tảng, quán xét các trạng thái Vô thường, Khổ, Vô ngã trên thân, và đắc chứng đến tầng thánh Bất Lai.

Tiếp tục tu tập trau dồi, Ngài đã chứng đắc quả vị A-la-hán cùng với bốn trí **Phân tích đạo**.

Khi Trưởng lão Milakkha sắp nhập Niết-bàn, Ngài đã thuyết lại bài kệ sau đây như một liều thuốc trợ lực cho các thế hệ hành giả mai sau:

## PAGE 413

**Allapalālapuñjahaṃ, sīsenādāya caṅkamiṃ.**
**Pattomhi tatiyaṃ ṭhānaṃ, dhattha me natthi saṃsayo.**

“Này các hiền giả, tôi đã đội trên đầu đống kẹo rơm ướt át mà đi kinh hành nhiều lần. Nhờ đó, tôi đã đạt đến tầng thánh thứ ba một cách thẳng tiến, không hề quanh co. Tại nơi đây, tôi không còn chút nghi ngờ nào nữa.”

### 6 việc làm giúp tách rời phiền não

Đây là một câu chuyện minh chứng cho việc dùng sự thực hành đạo hạnh để đoạn trừ phiền não, từ đó chứng đắc **Thánh quả A-la-hán**. Vì vậy, các bậc thầy xưa đã dạy rằng: “Không tròn tế hạnh thì giới chẳng đầy, không có giới thì định chẳng vững, định chẳng vững thì tuệ chẳng sanh, không có tuệ thì chẳng thấy Niết-bàn, chẳng thấy Niết-bàn thì không thoát khỏi khổ đau”.

Có những phương cách để đoạn trừ phiền não bằng hình thức **Đè nén đoạn trừ** (Vikkhambhanapahāna), những phương cách đó bao gồm:
1. Làm các công việc phục vụ (**Veyyāvacca**).
2. Học tập, nghiên cứu và ôn tụng kinh điển.
3. Thực hành **Hạnh đầu đà**.
4. Nhập vào các tầng **Thiền định**.
5. Thực hành thiền **Tuệ quán**.
6. Quản lý việc xây dựng tự viện (**Navakamma**).

Điều này có ý nghĩa rằng, trong khi các phiền não đang tạm rời xa bằng một phương cách nào đó, nếu hành giả tiếp tục nỗ lực tu tập thiền định thì sẽ nhanh chóng đạt được thành tựu.

Kính mời các vị tiếp tục tìm đọc và noi theo những gương sáng về các vị Tỳ-kheo đã hoàn tất phận sự, đắc quả **A-la-hán** trong khi đang làm việc phục vụ, đang dạy học kinh điển, hay đang quản lý xây dựng tự viện. (Trích **Chú giải Tăng Chi Bộ**-1, **Chương Đoạn trừ triền cái**, từ đoạn 27 đến 35. Trong **Chú giải Tương Ưng**, tập 2, trang 251, vị này tên là Mikatissa.)

## PAGE 414

### 11 cách tạo ra tinh tấn

Trên bước đường tìm cầu và thực hành chánh pháp, chỉ những ai hội đủ ít nhất ba yếu tố là **Đức tin** (Saddhā), **Ước muốn** (Chanda - khát khao đạt được) và các cấp độ tinh tấn như **Khởi điểm**, **Vượt thoát**, **Kiên trì** (Nỗ lực mạnh mẽ, không cam chịu thất bại, có ý chí sắt đá) thì mới có thể đi đến đích.

Để phát khởi **Đức tin và Ước muốn**, cần phải nghiên cứu sâu rộng về Tam Bảo và giáo pháp, chỉ nên thân cận với những người có **Đức tin và Ước muốn**, và tránh xa những người thiếu hụt các đức tính này. Đồng thời, phải thường xuyên suy xét, quán tưởng về ân đức của Tam Bảo.

Một khi đã quyết định việc đó là tốt với đức tin và sự khao khát, phải bắt tay vào làm cho bằng được. Khi một công việc đã bắt đầu thì phải thực hiện cho đến cùng, đó gọi là “**Khởi điểm tinh tấn**” (Ārambhadhātu).

Nếu trong lúc làm mà nảy sinh tâm lý thối lui, lười biếng, phải tìm cách nỗ lực mới để vượt qua sự lười biếng đó, gọi là “**Vượt thoát tinh tấn**” (Nikkamadhātu). Phải chiến thắng và đập tan tám nguyên nhân gây lười biếng (**Kosajjavatthu**), như viện cớ còn sớm, hay trời đã tối...

Không chỉ dừng lại ở việc chiến thắng, mà còn phải làm cho năng lực vượt thoát đó tăng trưởng không ngừng, gọi là “**Kiên trì tinh tấn**” (Parakkamadhātu).

Tất cả những điều trên đều được gọi chung là “**Tinh tấn**” (Viriya). Khi sử dụng sự tinh tấn này, cần tránh bốn lỗi: thối thất chậm chạp (**Atilīna**), nỗ lực quá mức gây căng thẳng (**Atipaggahita**), tâm thu lại bên trong không thể hiện được ra ngoài (**Ajjhattasaṅkhitta**), và tâm phóng dật tán loạn ra bên ngoài không thể kiểm soát (**Bahiddhāvikkhitta**). Tốt nhất là phải có chánh niệm đi kèm trong mọi hoạt động để giữ sự quân bình.

### Bốn chi phần của tinh tấn

1. **Kāmaṃ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upasussatu maṃsalohitaṃ, yaṃ taṃ purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṃ, na taṃ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṃ bhavissati.**

Dẫu cho thịt héo huyết khô, dẫu cho chỉ còn da, gân và xương, nếu chưa đạt được những gì có thể đạt được bằng sức mạnh, sự tinh tấn và lòng kiên trì của bậc trượng phu, thì sự tinh tấn này sẽ không bao giờ dừng lại.

2. Với nghị lực của bậc nam nhi, ta quyết không từ bỏ, làm cho đến khi thành tựu mới thôi.

## PAGE 415

Sự nỗ lực thực hiện các công việc bằng thân thể được gọi là '**Thân Tinh Tấn**' (Kāyika-vīriya). Còn việc quyết tâm sắt đá, bền bỉ đặt trọn tâm trí rằng: "Nếu chưa đắc quả A-la-hán, ta sẽ không rời khỏi chỗ này, sẽ không tháo bỏ tư thế kiết già này", thì được gọi là '**Tâm Tinh Tấn**' (Cetasika-vīriya).

Chỉ khi có sự nỗ lực tinh tấn mãnh liệt (Tinh Tấn Chánh Cần) với tâm nguyện rằng: "Dẫu cho máu thịt đều khô cạn, chỉ còn lại da bọc xương và gân cốt đi chăng nữa [ta cũng không lùi bước]", thì mới có thể khiến cho các triền cái phiền não như hôn trầm thụy miên bị xua tan và tiêu biến.

### Tích trữ tinh tấn để làm gì?

Đối với hành giả, có 11 phương pháp tác ý (cách tạo ra tinh tấn) để làm khởi dậy các yếu tố tinh tấn (**Tinh Tấn Thất Giác Chi**) trong tâm mình. Cần phải suy xét sao cho phù hợp để gia tăng, nâng đỡ và thúc đẩy sự nỗ lực. 11 phương pháp đó là:

1. Suy xét về những hiểm họa phải gánh chịu trong bốn ác đạo và khổ cảnh luân hồi.

2. Suy xét về lợi ích của tinh tấn: "Người lười biếng không thể đắc được chín pháp siêu thế đặc biệt, chỉ người nỗ lực mãnh liệt mới có thể đạt được".

3. Suy xét về con đường tu hành: "Ta nên đi theo đúng con đường mà Đức Phật, các bậc Độc Giác Phật và các bậc Đại Thống Văn đã đi; con đường đó người lười biếng không thể đi được".

4. Đáp đền sự cúng dường vật thực bằng cách thực hành sao cho phước báu của các thí chủ được lớn lao.

5. Suy xét về sự cao thượng của Đức Phật: "Bậc Đạo Sư Thế Tôn của ta luôn tán thảy và khuyến khích công đức của sự tinh tấn. Ta không nên làm trái lời dạy của Ngài. Đức Thế Tôn thật là bậc đại ân đức đối với chúng ta. Ân đức ấy không thể đền đáp xứng đáng bằng cách cúng dường vật chất (tài thí), chỉ có đền đáp bằng cách thực hành giáo pháp (pháp thí) mới thực sự là sự cúng dường cao thượng".

## PAGE 416

6. Suy xét về sự cao quý của di sản giáo pháp: "Ta phải nhận được di sản giáo pháp của các bậc thiện trí thức; di sản đó người lười biếng, hời hợt không thể nhận được".

7. Xua tan hôn trầm thụy miên bằng cách tác ý lại ánh sáng đã từng thấy, thay đổi oai nghi, ở ngoài trời quang đãng, v.v. (Xem lại phần về Trưởng lão Milakkhatissa. Trong các Chú giải khác ngoài Thanh Tịnh Đạo quyển 1, trang 128, có dạy rằng nên suy xét về dòng giống cao quý của mình: "Ta là con của Phật, thuộc dòng dõi **Sākya** (Thích-ca), không nên sống lười biếng").

8. Không thân cận, không nương nhờ những người lười biếng thiếu tinh tấn.

9. Thân cận, nương nhờ những người có sự tinh tấn kiên trì và bền bỉ.

10. Suy xét về lợi ích của **Chánh Cần** (Thắng Tinh Tấn). Trong các Chú giải khác, dạy rằng nên suy xét về sự cao thượng của các bạn đồng tu như Ngài **Sāriputta** (Xá-lợi-phất).

11. Luôn hướng tâm về **Tinh Tấn Thất Giác Chi**. (Tham khảo: Thanh Tịnh Đạo-1, 128; Chú giải Trường Bộ-2, 378; Chú giải Trung Bộ-1, 297; Chú giải Tương Ưng Bộ-3, 195; Chú giải Tăng Chi Bộ-1, 392; Chú giải Phân Tích, 265).

Nên áp dụng những phương pháp tốt đẹp làm tăng trưởng sự tinh tấn đã nêu trên để nỗ lực hết mình thực hành giáo pháp với ý chí không thối chuyển. (Nếu xem phần giải thích về ân đức quy y Tam Bảo "Không hề sút giảm ý chí, không hề sút giảm tinh tấn" mà chúng tôi đã viết, hành giả cũng có thể có thêm động lực).

Bậc ân sư, Ngài Thiền sư Webu Sayadaw thường dạy rằng: "Tinh tấn vẫn còn đó. Các ông còn để dành làm gì nữa vậy?".

"Này các Tỳ-kheo..., Niết-bàn là nơi giải thoát khỏi mọi khổ đau, không thể đạt được bằng sự nỗ lực lỏng lẻo hay chỉ bằng một chút sức lực ít ỏi". (Tương Ưng Bộ-1, 466 – Tương Ưng Nhân Duyên – Kinh Nava).

## PAGE 417

"Này các Tỳ-kheo..., hành giả làm việc lỏng lẻo thì chỉ càng thêm rối rắm mà thôi". (Kinh Pháp Cú).

### Tám nền tảng của tinh tấn (Vīriyārambha-vatthu)

Đức Thế Tôn cũng đã thuyết về tám cách giữ tâm để khởi dậy sự tinh tấn (Kinh Thập Tụng - Trường Bộ-3, 212; Tăng Chi Bộ-3, 147; Đại Chú giải-2, 141) như sau:

1. Liên quan đến việc sắp làm: "Ta sắp có một công việc mới phát sinh. Nếu việc đó đến thì công hành thiền này sẽ không hoàn thành được. Tốt hơn là ta nên nỗ lực làm cho xong ngay từ bây giờ", tác ý như vậy rồi thực hành.

2. Liên quan đến việc vừa làm xong: "Vì có một việc mới phát sinh nên công việc tu tập hàng ngày của ta đã bị gián đoạn. Nay việc xen ngang đó đã xong rồi, ta phải càng nỗ lực hơn nữa", tác ý như vậy để tập trung làm công việc hàng ngày.

3. Liên quan đến việc sắp đi đường: "Ta sắp phải đi xa, khi đi thì công việc này sẽ bị hỏng mất, ta phải nỗ lực thực hành ngay từ bây giờ".

4. Liên quan đến việc vừa đi đường về: "Ta vừa kết thúc chuyến đi, việc tu tập đã bị bỏ lỡ nhiều, ta phải nỗ lực thực hành bù lại".

5. Liên quan đến bệnh đang khởi phát: "Ta bắt đầu cảm thấy không được khỏe. Nếu bệnh nặng hơn thì sẽ không thể làm việc này được nữa. Cố gắng ngay từ bây giờ là tốt nhất", tác ý như vậy rồi thực hành.

6. Liên quan đến tình trạng vừa hồi phục sức khỏe: "Ta vừa mới khỏe lại, lúc đau yếu việc tu tập đã bị gián đoạn. Nay phải nỗ lực thêm nữa", suy xét như vậy rồi thực hành.

## PAGE 418

7. Dựa vào sự đầy đủ của vật thực khất thực mà khích lệ tinh thần: "Nay ta có đầy đủ vật thực, đang lúc có được vật thực thích hợp (bhojana-sappāya) như thế này, ta phải cố gắng nỗ lực."

8. Nếu vật thực khất thực không đầy đủ, vị ấy lại suy xét: "Tuy ta không có nhiều vật thực nhưng vì thân thể nhẹ nhàng, hoạt bát (nếu chưa thích hợp hơn nữa có lẽ sẽ khó khăn), ta nên nỗ lực thêm nữa." Nhờ suy xét như vậy, vị ấy nỗ lực thực hiện công việc chính yếu là pháp hành (**Thiền định**) và các phận sự khác.

### Trong Phật sự không có việc gọi là tự hành khổ thân

Các bậc trưởng lão như Milakkhathissa, Gāmantarapabbāravāsī Mahāsīva, Pītamalla, v.v... đã sử dụng thân tinh tấn (kāyika-vīriya). Các bậc trưởng lão như Kummiyatissa, v.v... đã sử dụng tâm tinh tấn (cetasika-vīriya). Riêng Trưởng lão Uccāvālukavāsī Mahānāga đã sử dụng cả hai loại tinh tấn.

Trong đó, Trưởng lão Mahānāga đã nỗ lực tu tập trong bốn oai nghi: kinh hành 7 ngày, ngồi 7 ngày, đứng 7 ngày và nằm 7 ngày; vị ấy không hề cảm thấy không khỏe hay không thích hợp. Bằng cách nỗ lực như vậy, trong vòng 4 tuần (28 ngày), vị ấy đã tu tập **Tuệ quán** và chứng đắc **Quả A-la-hán**. Lịch sử nỗ lực tinh tấn của vị ấy đã được ghi chép lại như thế.

Trong Giáo pháp, công việc thực hành **Bát Thánh Đạo** để thoát khỏi luân hồi, dù có nỗ lực đến mức da bọc xương cũng không được gọi là "tự hành khổ thân" (atta-kilamatha). Điều đó chỉ được gọi là "**Chánh Tinh Tấn**" (Sammā-vāyāma).

**Ye pana sāsane pabbajitā āraññakāvā honti, rukkhamūlikā dayovā, te dukkhena na addhabhāventi (abhibhavanti) nāma. Niyyānika sāsanassmiṃ hi vīriyaṃ sammāvāyāmo nāma hoti.** (Chú giải kinh Devadaha, Trung Bộ Kinh - ma-ṭṭha-4, 7.)

## PAGE 419

Khi thực hành sai đường, người ít tinh tấn sẽ cảm thấy nhẹ nhàng, còn người tinh tấn nhiều lại gặp khổ cực. Nhưng khi thực hành đúng lộ trình, người ít tinh tấn sẽ gặp khổ cực, còn người tinh tấn nhiều mới có cơ hội đạt được an lạc; điều này đã được Đức Thế Tôn dạy trong Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Một Pháp.

### Trưởng lão Kandarasāla bị nhà vua xem thường vì không kham nhẫn được thọ khổ

Tại tu viện Kandarasāla (bản Sīhaḷa là Kantakasāra), có một vị trưởng lão 60 hạ lạp đang lâm trọng bệnh sắp viên tịch. Khi đó, vua Tissa (bản Sīhaḷa là vua Vasabha) đã đến tu viện để đảnh lễ vị trưởng lão.

Vừa đến cửa tu viện, nhà vua nghe thấy tiếng rên rỉ đau đớn. Vua hỏi: "Tiếng gì vậy?", khi biết vị trưởng lão vì không chịu nổi đau đớn mà rên rỉ, vua suy nghĩ:

"Thật đáng tiếc, là một tu sĩ, lại đã hơn 60 hạ lạp mà không có sự quán chiếu để có thể nhiếp phục được thọ khổ bệnh tật... Ta cũng sẽ không đảnh lễ nữa." Nghĩ vậy, nhà vua không vào trong nữa mà quay về đảnh lễ cây Đại Bồ-đề.

Một vị Sa-di đệ tử của trưởng lão biết chuyện đã cảm thấy rất buồn cho thầy mình, liền lập tức vào thưa với trưởng lão:

"Bạch Ngài, tại sao Ngài lại để chúng con phải hổ thẹn như vậy? Vừa rồi đức vua, người vốn rất tịnh tín với Giáo pháp và Ngài, đã không đảnh lễ và thất vọng quay về ngay từ cổng tu viện."

"Này Sa-di, hãy nói đi, có chuyện gì vậy?"
"Bạch Ngài, không có chuyện gì khác ngoài việc tiếng rên rỉ của Ngài nghe rõ tận bên ngoài khuôn viên tu viện."

## PAGE 420

"Ồ, ra là vậy sao? Này con, vậy thì hãy ra ngoài một lát, đừng để ai vào đây cả."

Vị trưởng lão phát sinh tâm kinh sợ (saṃvega), lập tức tìm sự tĩnh lặng để hành pháp. Ngài quên đi nỗi đau đớn kinh khủng của cái chết đang cận kề, nỗ lực quán chiếu sự sinh diệt của danh sắc trong thân và quán chiếu ngay trên thọ ấy. Với sự nỗ lực mãnh liệt, chỉ trong chốc lát, Ngài đã đoạn tận các lậu hoặc và chứng đắc quả A-la-hán. (Trong Chú giải ghi là "với việc nhiếp phục thọ khổ" - **vedanaṃ vikkhambhitvā**).

Ngay lập tức, Ngài gọi vị đệ tử đang ở bên ngoài vào và bảo: "Này con, hãy đi nói với đức vua rằng: Bây giờ hãy đến gặp ta." Vị Sa-di trẻ liền đi báo tin cho đức vua theo lời thầy dặn.

Nhà vua mặc trang phục trang trọng hình lưỡi cá sấu đến đảnh lễ vị trưởng lão:

"Bạch Ngài, giờ đây con đảnh lễ không phải chỉ vì phẩm hạnh A-la-hán của Ngài. Con đảnh lễ vì lòng tôn kính đối với **Tứ Thanh Tịnh Giới** (catupārisuddhi-sīla) mà Ngài đã giữ gìn thanh tịnh từ thời còn là phàm phu, chính nền tảng thanh tịnh sẵn có đó đã giúp Ngài dễ dàng chứng đắc **Quả A-la-hán** như vậy."

### Không nên quá lo lắng về giới luật hơn mức cần thiết

Như vậy, giới luật có thể tẩy sạch và làm hiển lộ trí tuệ Đạo và Quả. Đối với người không có "Giới không bị chấp thủ" (aparāmaṭṭha-sīla) trong nội tâm thì làm sao trí tuệ Đạo Quả có thể phát sinh được?

Tuy nhiên, đối với những bậc **Hữu duyên chứng ngộ nhanh** (ugghāṭitaññū) vốn đã có sẵn đầy đủ phước báu ba-la-mật tiềm ẩn như vị quan Santati, dù giới luật chưa kịp chuẩn bị thanh tịnh từ trước, nhưng chỉ cần nghe một bài kệ, giới luật được thiết lập ngay tức khắc, và với trí tuệ Đạo, giới luật ấy...

Cũng có trường hợp nhờ vào tuệ của Đạo mà giới trở nên rực rỡ hơn. (Chú giải Trường Bộ Kinh 1, 260 - Chú giải bài kinh Soṇadaṇḍa về cụm từ **Sīlaparithotā paññā**).

So với giới được bảo vệ an toàn nhờ sự kiểm soát của Thánh Đạo, thì giới mà hàng phàm phu phải nỗ lực hộ trì cho được tròn đủ trong đời sống bình thường lại khó khăn và gian khổ hơn nhiều. Tuy không thể nói là cao thượng hơn nhưng đó là điều đáng được tán dương và sùng kính khôn cùng. Vì vậy, lời thưa thỉnh của vua Tissa là một điều rất đáng ghi nhớ.

Khi bàn luận hay viết lách về giới trong khuôn khổ các khóa tu tập, có những người cho rằng "giới không quan trọng lắm". Lại có những người quá lo lắng (kukkucca) hơn mức cần thiết, cứ mải mê "tẩy rửa, lau chùi" giới hạnh khiến thời gian trôi qua mà giới vẫn chưa sạch trong như ý muốn, dẫn đến việc không thể bước vào lộ trình hành thiền (bhāvanā).

Bất kể là loại giới nào, nếu chỉ khăng khăng hộ trì giới một cách đơn độc thì rất khó để giữ gìn cho thanh tịnh hoàn toàn. Đó cũng chưa thể trở thành **Tăng thượng giới** (Adhisīla). (Thời xưa, do các pháp thực hành Vipassanā bị mai một nên người ta đã tiêu tốn thời gian cả đời chỉ với các pháp đầu đà - dhutaṅga).

Nếu sau khi thọ trì giới ở mức độ phù hợp, hành giả tiến thẳng vào lộ trình tu tập thiền định (Samatha) và thiền quán (Vipassanā), thiết lập song hành các pháp này, thì giới sẽ trở nên thanh tịnh như ý. Khi đó không cần phải quá nhọc công hộ trì. Khi ấy, giới ấy trở thành **Tăng thượng giới** (giới trong giáo pháp), giới **Ariyakanta** (giới được bậc Thánh ái kính), giới **Bhujissa** (giới đưa đến tự do, thoát khỏi luân hồi) = tức là loại giới có khả năng giúp đắc chứng Đạo Quả.

Bởi vì trong mỗi sát-na đề mục được quán chiếu, ba chi phần của Giới uẩn trong Bát Chánh Đạo (**Chánh ngữ**, **Chánh nghiệp**, **Chánh mạng**) đều tự động hiện diện. Trong mỗi niệm quán chiếu, Bát Chánh Đạo đều đang vận hành; chỉ khi tự mình thực hành người ta mới có thể thấu hiểu điều này. Đối với những ai đang quá lo lắng, hối tiếc vượt mức cần thiết, tôi khuyến khích quý vị nên đọc đi đọc lại phần về Giới trong cuốn **Phương pháp thực hành thiền quán** (Tập 1) của ngài Đại trưởng lão Mahāsi Sayādaw để nắm bắt đúng ý nghĩa. (Nếu chỉ đọc lướt qua một vài đoạn thì có thể sẽ hiểu lầm rằng "giới không quan trọng", vì vậy tôi mới dùng từ "đọc đi đọc lại").

## PAGE 422

Những loại giới nằm ngoài giáo pháp, hoặc ngay cả giới trong giáo pháp này nếu chưa đạt đến tầm mức của Tăng thượng giới (thuộc về tu tập thiền định/thiền quán), thì dù có tốt đẹp hay thanh tịnh đến đâu, nếu không có sự hỗ trợ của Định và Tuệ, nó vẫn chưa trở thành loại giới cao thượng. Nếu không đạt được loại giới cao thượng thì thật uổng phí công sức khi gặp được giáo pháp.

### Trưởng lão Lomasanāga: Vị tu sĩ kham nhẫn nóng lạnh để hành thiền

#### Bảy cách đoạn trừ phiền não

Trong bài kinh **Sabbāsava (Kinh Tất Cả Lậu Hoặc)** thuộc **Mūlapaṇṇāsa (Phần Căn Bản - Trung Bộ Kinh)**, Đức Thế Tôn đã thuyết giảng chi tiết về các phương pháp ngăn chặn và vượt qua các lậu hoặc phiền não (āsava).

1. Đoạn trừ bằng cách tri kiến: Suy xét điều gì nên, điều gì không nên dựa trên kinh điển (Pariyatti) đã học để đạt được tuệ giác có khả năng đoạn trừ phiền não. (Giống như trường hợp Trưởng lão Tissabhūti đã trình bày ở trước).

2. Đoạn trừ bằng cách thu thúc các căn (khép kín các căn môn).

3. Đoạn trừ bằng cách thọ dụng (sử dụng tứ vật dụng với sự quán xét - paccavekkhā; ví dụ quán xét để không khởi lên tham ái với dục lạc - kāmasava, hay tà kiến chấp ngã - diṭṭhāsava đối với vật phẩm nhận được).

4. Đoạn trừ bằng cách kham nhẫn: Chịu đựng sự nóng lạnh, ruồi, muỗi, gió, nắng, các loài côn trùng, cũng như những lời thỉnh cầu, mắng nhiếc, phỉ báng, v.v. (Ý nghĩa của phần này rất rộng).

5. Đoạn trừ bằng cách tránh né: Không đi đến những nơi có thú dữ, gai góc, chướng ngại hay bạn xấu; nhờ sự tránh né mà lậu hoặc không phát sinh.

6. Đoạn trừ bằng cách từ bỏ (xua tan): Xua tan và loại bỏ các tư duy về dục (kāma-vitakka), v.v. bằng cách không chú tâm hoặc đuổi chúng đi.

## PAGE 423

7. Đoạn trừ bằng cách tu tập: Suy xét điều đúng sai và tu tập bảy chi phần giác ngộ (Thất Giác Chi - Bojjhaṅga). Đây là những phương pháp mà hành giả thiền đức nên áp dụng thường xuyên tùy theo điều kiện thực tế.

Các bậc Thánh nhân từ đời này sang đời khác đã áp dụng các phương pháp trên để đạt đến giải thoát. Ngài Đại trưởng lão Mahābuddhaghosa cũng đã đưa ra những tấm gương về các vị hành giả thời Sīhaḷa (Srilanka) để làm "liều thuốc" tiếp thêm sức mạnh cho các hành giả sau này.

Trưởng lão Lomasanāga được đưa ra làm tấm gương điển hình trong việc chiến đấu với phiền não thông qua sự kham nhẫn nóng và lạnh.

Thông thường, các hành giả luôn phải đối mặt với sự thay đổi của thời tiết, nóng và lạnh theo tự nhiên, thường viện cớ rằng "vì nóng quá" hay "vì lạnh quá" mà tâm và thân trở nên thối chuyển, dao động, thậm chí là bỏ bê việc hành thiền.

Trưởng lão Lomasanāga thì không như vậy. Ngài không dao động trước nóng hay lạnh, không bỏ bê hành thiền mà ngược lại còn nỗ lực tinh tấn hơn.

Có một lần, khi vị Trưởng lão này đang trú tại thiền đường trong hang Piyaṅga ở núi Cetiyapabbata, ngài đã thực hành pháp đầu đà **Abbhokāsika** (ở ngoài trời) ngay trong mùa lạnh nhất (**Antaraṭṭhaka**) - cụ thể là vào khoảng 8 ngày giữa tháng Giêng và tháng Hai (Tabodwe và Tabaung), khi những đợt sương giá rơi liên tục. Ngài ngồi hành thiền giữa bãi đất trống trên đỉnh núi, không màng đến cái lạnh thấu xương.

Ngài tự nhủ: "Này Nāga, cái lạnh mà ngươi đang chịu lúc này có thấm thía gì so với nỗi khổ của chúng sanh trong địa ngục Loka-antarika (Địa ngục biệt lập giữa các thế giới)? Ngươi đã từng phải chịu đựng cái lạnh kinh khiếp trong địa ngục ấy nhiều rồi. Nếu không muốn phải quay lại đó lần nữa thì hãy cố gắng lên!"

Vào mùa hè nóng nực, đỉnh núi Cetiyapabbata lại càng trở nên thiêu đốt. Sau khi dùng bữa xong, Trưởng lão thường ngồi hành thiền ngay trên lối kinh hành bên ngoài hang động. Mồ hôi tuôn ra từ nách và khắp cơ thể, thấm đẫm các lớp y đến mức có thể vắt ra nước. Tuy nhiên, dù nóng nực đến mức nào, ngài vẫn không bao giờ buông bỏ đề mục thiền quán.

## PAGE 424

38.1.

Tuy nhiên, đây không phải là lối tu khổ hạnh **Attakilamatha** chịu nóng chịu lạnh như những tu sĩ ngoại đạo ngoài giáo pháp, mà chính là đạo hạnh cao thượng **Majjhimapaṭipadā** (Trung Đạo) không rời bỏ niệm đề mục thiền định.

Khi ấy, một vị đệ tử không đành lòng nhìn thấy vị trưởng lão ngồi giữa phiến đá trống trải dưới cái nắng gay gắt với những giọt mồ hôi đầm đìa, đã tiến lại gần trưởng lão và thưa rằng:

“Bạch Ngài... xin Ngài hãy dời bước đến nghỉ ngơi ở phía đằng kia, ở đó sẽ đỡ nóng hơn ạ.”

Vị trưởng lão đáp rằng:

“Này hiền giả, chúng ta đang ngồi đây với cái nóng lớn lao này, nhưng trong đại địa ngục Avīci, cái nóng còn khủng khiếp gấp bội phần, không gì có thể so sánh được. Chúng ta đã từng phải rơi vào đó nhiều lần rồi. Cái nóng hiện tại này vẫn còn nhẹ nhàng lắm.” Nói rồi, Ngài vẫn tiếp tục ngồi yên vị như cũ.

Tương tự như vậy, những bậc hành giả cao thượng dù phải nhịn đói nhịn khát hai, ba bữa vẫn không hề dao động. Các Ngài suy xét về cảnh giới của chúng sanh ngạ quỷ mà không rời bỏ đề mục thiền, trái lại càng nỗ lực hành thiền tinh tấn hơn nữa.

Khi phải đối mặt với ruồi, muỗi, gió hay nắng gắt, các Ngài lại suy xét về kiếp sống của loài bàng sanh mà nhẫn nại tiếp tục chịu đựng. Ngay cả khi bị các loài bò sát như rắn, rết cắn, các Ngài cũng suy xét về những lần mình từng bị rơi vào miệng và bị nhai ngấu nghiến bởi sư tử, báo, cọp trong quá khứ, từ đó vẫn giữ lòng nhẫn nại như thường, nỗ lực chiến thắng phiền não.

Chư Phật trong quá khứ cũng không thuyết giảng hay đặt ra luật tạng, tạng kinh nào khác ngoài việc dạy rằng: **Khantī paramaṃ tapo titikkhā** — Nhẫn hạnh là pháp khổ hạnh tối thượng. Chỉ có nhẫn nại mới có thể đạt được Niết Bàn. (Chú giải Trung Bộ Kinh 1, 81 — Chú giải bài kinh Sabbaāsava).

Yếu nghĩa của sự nhẫn nại vốn rất rộng lớn. Vị hành giả phải nhẫn nại trong mọi việc từ ăn ở, đi đứng, lời ăn tiếng nói, cho đến những cảm thọ tốt hay xấu, và cuối cùng là sự nhẫn nại ngay cả khi việc ghi nhận đề mục thiền có tiến triển tốt hay không tốt. Nếu ghi nhận tốt thì cũng chỉ tính là một niệm. Nếu gặp khó khăn trong việc ghi nhận thì cũng không buông lơi, vẫn tính là một niệm. (Chi tiết về đức nhẫn đã được viết nhiều trong tác phẩm “Các bậc A-la-hán và những bậc đặc biệt”).

## PAGE 425

38.2.

### Trưởng lão Padhāniya đắc quả A-la-hán nhờ bị rắn cắn

Trưởng lão Padhāniya trú ngụ tại một ngôi chùa nhỏ có tên là Mahālekhānapabba, thuộc tu viện Khaṇḍacela.

Trong lúc trưởng lão đang lắng nghe một vị trưởng lão khác trong tu viện thuyết giảng về pháp **Ariyavaṃsa** (Thánh chủng), Ngài đã bị một con rắn độc cắn. Dù biết mình bị rắn cắn, nhưng vì quá đắm mình và hoan hỷ trong giáo pháp **Ariyavaṃsa**, Ngài đã không ngưng việc nghe Pháp mà vẫn tiếp tục chăm chú lắng nghe.

Pháp **Ariyavaṃsa** gồm có bốn điều: Biết tri túc với y phục, vật thực, trú xứ và ưa thích trong việc tu tập thiền định. Nếu ai có đủ bốn điều này thì dù ở bất cứ nơi đâu cũng đều có được sự an lạc, được chư Thiên và Phạm thiên yêu mến, kính trọng. (Tăng Chi Bộ Kinh 1, 336; Trường Bộ Kinh 3, 188).

Dần dần, chất độc trở nên cực mạnh và lan tỏa nhanh chóng khắp cơ thể. Theo đúng nếp sống của các bậc Thánh cao thượng, Ngài bắt đầu quán xét lại giới hạnh của mình kể từ khi xuất gia. Khi thấy rằng giới hạnh mình đã giữ gìn hoàn toàn thanh tịnh, không một vết nhơ hay tỳ vết nào, thay vì cảm giác đau đớn do nọc độc, tâm phỉ lạc (pīti) bỗng chốc phát sanh dạt dào. Ngay khi tâm phỉ lạc hoan hỷ lan tỏa khắp thân mình, những nọc độc đang tràn lan cũng dần dần tan biến, rồi từ vết thương bị cắn, toàn bộ chất độc tuôn ra ngoài và thấm sâu vào lòng đất.

Trưởng lão quán chiếu rằng: “**Pītimanassa kāyo passambhati**” = Khi tâm phỉ lạc phát sanh thì toàn thân trở nên an tịnh, và khi sự an tịnh (**passaddhi**) trở nên mạnh mẽ thì định tâm (**samādhi**) cũng theo đó mà cực kỳ sâu sắc. Ngay tại nơi bị rắn cắn đó, Ngài tiếp tục tu tập thiền quán và chứng đắc quả vị A-la-hán. (Chú giải Trung Bộ Kinh 1, 82 — Chú giải bài kinh Sabbaāsava).

## PAGE 426

### Trưởng lão Piṇḍapātika chứng quả Bất Lai nhờ bị rắn cắn

Tại vùng Gaṅgāvanavāli Aṅgaṇa (bản Sri Lanka chép là Gavaravāḷa Aṅgaṇa) thuộc đảo quốc Sri Lanka, có 30 vị trưởng lão nhập hạ tại đây thường cùng nhau thuyết giảng và lắng nghe bốn pháp “**Ariyavaṃsa**” vào mỗi ngày rằm và 30 hàng tháng.

Trong một buổi thuyết pháp vào đêm không trăng, có một vị trưởng lão Piṇḍapātika (nếu không biết pháp danh thì gọi là trưởng lão Piṇḍapātika — vị tỳ-kheo khất thực; tên gọi này nhằm tôn vinh hạnh khất thực của Ngài) vì đến muộn nên phải ngồi nghe Pháp ở một góc khuất, tối tăm phía ngoài cùng của hội chúng.

Đang khi nghe Pháp, một con rắn đã cắn vào bắp chân của Ngài. Để không làm gián đoạn buổi thuyết pháp và ảnh hưởng đến việc nghe Pháp của mọi người, vị trưởng lão đã tóm lấy con rắn, bỏ vào chiếc túi mang theo, buộc chặt lại rồi đem đặt ở một nơi cách đó không xa.

Ngài nén đau đớn từ vết cắn và tiếp tục chăm chú lắng nghe Pháp. Dù nọc độc bắt đầu lan nhanh, Ngài vẫn nắm giữ lấy yếu chỉ của pháp **Ariyavaṃsa** đang được thuyết giảng là “phải giữ tâm kiên định trong việc tu thiền”, và Ngài tiếp tục nghe Pháp với tâm hướng nội sâu sắc.

Buổi thuyết pháp kéo dài suốt đêm theo truyền thống của Sri Lanka và chỉ kết thúc khi rạng đông. Khi bình minh ló rạng cũng là lúc buổi thuyết pháp hoàn mãn, toàn bộ nọc độc trong người vị trưởng lão Piṇḍapātika, nhờ vào năng lực thiền định, đã tuôn ngược ra từ vết thương và thấm xuống đất. Cùng với ánh rạng đông, Ngài đã chứng đắc quả vị **Bất Lai (Anāgāmi)**.

Sau khi buổi lễ kết thúc, Ngài nói với các bạn đồng tu rằng:

“Này các hiền giả... xin hãy nhìn vào đây. Có một tên trộm đã đến phá rối buổi nghe Pháp nên tôi đã bắt giữ lại.” Nói rồi Ngài mở chiếc túi đã buộc từ đầu đêm và thả con rắn ra.

“Bạch Ngài... Ngài bị cắn từ khi nào vậy ạ?”

“Vào khoảng đầu đêm qua thôi.”

“Trời đất ơi... thật kinh khủng, tai họa lớn như vậy sao Ngài lại có thể giữ im lặng được hay vậy bạch Ngài?”

## PAGE 427

“Thưa các hiền giả… điều các hiền giả nói cũng đúng vậy. Tuy nhiên, nếu tôi nói rõ là bị rắn cắn thì cả tôi và các ngài đều sẽ không nhận được những lợi ích pháp như thế này, vì vậy tôi mới trì nhẫn như vậy suốt cả đêm.” Họ trao đổi qua lại với nhau như thế, tự mình chứng nghiệm ân đức của giáo pháp và càng thêm lòng tịnh tín, tôn kính. (**Chú giải Tăng Chi Bộ 2, 134 - Giải thích kinh Ti-thā-na. Câu chuyện minh họa lợi ích của việc nghe pháp.**)

## Đại đức Dīghabhāṇaka Abhaya, bậc thuyết pháp hay và có khả năng nhẫn nhịn lời thóa mạ

Đại đức **Dīghabhāṇaka Abhaya** nổi tiếng, vào một ngày nọ, ngài đã đến dự một pháp hội và thuyết pháp vào ban đêm. Thời pháp ngài giảng về bài kinh **Mahā-ariyavaṃsa** (Đại Thánh Chủng), dạy về sự biết đủ trong các vật dụng và kiên trì trong việc hành thiền. Rất đông thính chúng gồm cả cư sĩ và tu sĩ từ khắp nơi đã đến nghe pháp.

Trong số thính chúng đến nghe pháp, có một vị trưởng lão lớn tuổi tự nhiên nảy sinh lòng ganh tỵ và nói rằng: “Đại đức **Dīghabhāṇaka** này bảo là giảng về hạnh **Ariyavaṃsa**, mà suốt cả đêm toàn nói những điều không đâu vào đâu,” rồi vị ấy buông lời chê bai, thóa mạ.

Khi buổi thuyết pháp kết thúc và mọi người cùng trở về chùa, **Đại đức Abhaya** đi cùng đường với vị trưởng lão thóa mạ kia khoảng một gāvuta (khoảng 3,2 km). Vị trưởng lão ấy vừa đi phía trước vừa không ngừng thóa mạ Đại đức suốt dọc đường. Đi hết một gāvuta thì đến ngã rẽ, **Đại đức Abhaya** chắp tay cung kính đảnh lễ vị trưởng lão và thưa: “Bạch ngài… con đường ngài đi là phía này ạ.” Tuy nhiên, vị trưởng lão ấy tảng lờ như không biết, thậm chí không thèm quay lại nhìn mà cứ thế bước đi.

Khi **Đại đức Abhaya** về đến chùa của mình, sau khi rửa chân và đang ngồi nghỉ cho đỡ mệt, một vị sư trẻ là đệ tử cùng đi theo buổi thuyết pháp liền đến gần và thưa:

## PAGE 428

“Bạch ngài, vị trưởng lão kia suốt cả đường đã thóa mạ ngài một cách tàn nhẫn và nói những lời bất nhã như vậy, tại sao ngài không đáp lại một lời nào? E rằng lát nữa vị ấy sẽ tưởng ngài im lặng chịu đựng là vì những gì vị ấy nói là đúng mất.” 

Đại đức đáp rằng: “Này hiền giả, cứ kệ vị ấy nói. Việc nói là trách nhiệm của vị ấy, còn việc trì nhẫn là trách nhiệm của ta. Không thể không nhẫn nhịn được. Chúng ta trong từng bước chân, từng bước chân đều đang di chuyển với sự tỉnh giác, không có bước chân nào là rời xa sự tỉnh giác cả, này hiền giả.” (**Chú giải Trung Bộ 1, 81 - Giải thích kinh Tất Cả Lậu Hoặc.**)

## Ví dụ về cái cưa

“Này các Tỳ-kheo, nếu như những kẻ sát nhân, những kẻ ác độc dùng cái cưa có hai tay cầm (như răng cá mập) để cưa đứt các chi thể chân tay của các ông, mà khi ấy có vị Tỳ-kheo nào khởi tâm sân hận đối với kẻ đang cưa mình, thì vị Tỳ-kheo đó không phải là người thực hành theo lời dạy của Ta, không phải là người nghe theo lời Ta.

Này các Tỳ-kheo, trong lúc ấy các ông cần phải rèn luyện tâm như sau: ‘Tâm của ta sẽ không biến đổi, ta sẽ không thốt ra những lời thô ác. Ta sẽ sống với tâm từ bi bao trùm, mong muốn sự an lạc và tăng trưởng cho người khác mà không có sân hận. Ta sẽ sống lan tỏa tâm từ đến người đã xâm hại và thóa mạ mình. Ta sẽ sống lan tỏa tâm từ đến toàn thể thế giới chúng sanh, một tâm từ rộng lớn, cao thượng, không giới hạn, không hận thù, không khổ đau.’ Này các Tỳ-kheo, các ông cần phải tác ý rèn luyện tâm mình như thế.” (**Kinh Ví Dụ Cái Cưa, Trung Bộ 1, 181.**)

## Đại đức Padāniya ở núi Cittalapabbata đắc quả A-la-hán nhờ bệnh gió

Hành giả cũng cần phải dùng **Adhivāsana-khanti** (nguyện nhẫn) để nhẫn nại trước những cảm thọ đau đớn, khốc liệt, thậm chí có thể dẫn đến cái chết.

## PAGE 429

**Adhivāsana-khanti** có nghĩa là đặt mọi lạc khổ gặp phải lên trên đầu mình, tâm niệm rằng “không ai làm cả, đây là việc của mình” và có khả năng cam chịu, nhẫn nhịn. Có nhẫn nhịn mới có thể chứng đắc Niết Bàn.

Có một vị **Đại đức Padāniya** đang tu tập tại núi Cittalapabbata. Trong khi đang hành thiền cùng các bạn đồng tu, vào một đêm nọ, sau khi đi kinh hành rất nhiều và đến lúc vừa phải, ngài dừng lại đứng quán chiếu thì bỗng nhiên một cơn gió độc từ trong ngực đâm thắt dữ dội khiến ngài không thể đứng vững mà ngã quỵ xuống. Khi ngã xuống, ngài cũng không thể nằm yên, vì cơn đau quá kịch liệt nên ngài cứ trăn trở, oằn mình đau đớn. Vì không thể quán chiếu khống chế được cơn thọ đang phát sanh nên ngài đã thốt ra những tiếng rên rỉ.

Khi thọ nhận khổ thọ, nếu không quán chiếu để chế ngự được thì tâm sân và ưu nảo thường sẽ khởi lên chồng chất. Lúc ấy, hành giả có xu hướng tìm kiếm một đối tượng dục lạc nào đó để mong được nhẹ bớt, giống như việc bị một cái gai đâm rồi lại dùng một cái gai khác để lể ra, khiến cho cơn đau nhân lên gấp đôi, như Đức Thế Tôn đã dạy trong (**Kinh Cây Độc, Tương Ưng Thọ, Tương Ưng Bộ 2, 499**).

Thấy vị trưởng lão đang rên rỉ và trăn trở như vậy, một vị sư trẻ đang hành thiền ở đầu con đường kinh hành bên cạnh liền đi đến gần và quan sát tình hình. Thấy tình trạng không mấy thuyên giảm, vị sư trẻ muốn khuyên vị trưởng lão hãy nỗ lực quán chiếu mạnh mẽ hơn nên hỏi: “Bạch ngài, ngài đau ở chỗ nào vậy ạ?”

“Này hiền giả, không phải đau riêng biệt ở một chỗ nào cụ thể cả.”

“Bạch ngài, ngài không tập trung quán chiếu vào cái đang hiện hữu sao?”

“Ta đã quán chiếu rồi, này hiền giả. Khi ta tập trung quán chiếu vào chỗ đau, ta biết rằng bản chất của cái đau đang diễn ra theo đúng bản chất của nó mà thôi, này hiền giả.”

“Nếu đã vậy, bạch ngài, khi đã biết rằng không có ‘ta’, không có ‘của ta’ trong đó, mà chỉ có cảm thọ đang vận hành theo bản chất của nó, thì ngài chắc chắn có thể nhẫn nại được đúng không ạ? Trì nhẫn là điều cao thượng nhất. Những người xuất gia luôn phải tác ý đến **Adhivāsana-khanti** (nguyện nhẫn) vậy.”

“Lành thay, này hiền giả.”

## PAGE 430

Trưởng lão Padhāniya càng nỗ lực giữ tâm kiên định, không lay chuyển, nén chịu nỗi đau để tiếp tục quán sát.

Ngay lúc đó, một cơn gió chướng bụng như mũi dùi đâm từ thắt lưng xuyên thẳng lên vùng tim. Ngay lập tức, ruột của Ngài đang nằm co quắp trên giường liền trào ra thành từng cuộn. Dù đang chịu đựng nỗi đau đớn tột cùng, Ngài vẫn nỗ lực nhiếp phục để quán chiếu giáo pháp.

Bằng cách quán sát thọ uẩn, hoặc tạm gác lại nỗi đau để tập trung vào đối tượng thiền quán Minh sát như thường lệ, Ngài đã thiết lập vững chắc Chánh niệm, Định tĩnh và Trí tuệ. Ngay chính tại nơi đó, trong khoảnh khắc đó, Ngài đã đắc quả A-la-hán đồng thời với sự tịch diệt của thọ uẩn (Samasīsī), đạt được các trí Phân tích (Paṭisambhidā).

Nói với vị tỳ-kheo trẻ đang ngồi bên cạnh khích lệ rằng: "Này hiền giả... nhẫn nại đến mức này là đủ rồi nhỉ...", vừa dứt lời, Ngài liền nhập Niết-bàn.

Như vậy, nếu không thể nhẫn nại trước những lạc hay khổ, các lậu hoặc (āsava) sẽ tiếp tục sinh khởi và chồng chất. Khi gặp lạnh thì mong cầu nóng, khi nóng lại than rằng "tôi nóng quá", qua đó các phiền não lậu hoặc như Tham, Tà kiến, Sân và Ưu não sẽ nối tiếp nhau khuấy động và hành hạ tâm ta.

Ngoài sự nhẫn nại ra, không có gì khác có thể đem lại pháp của bậc thiện trí. (Trích chú giải bài kinh Tất Cả Lậu Hoặc - Kinh Trung Bộ 1, 82; Chú giải Phân Tích Thiền - Bộ Phân Tích 4, 271; Chú giải Trường Bộ 2, 364 - được tổng hợp lại). Do đó, khi có bệnh tật phát sinh, hãy khởi niệm rằng "vì muốn đắc Pháp", nếu bệnh càng nặng thì hãy quyết tâm "sẽ sớm đắc Pháp thôi", luôn giữ vững Chánh niệm và Tinh tấn để nắm giữ đối tượng Minh sát không buông lơi.

## Trưởng lão Kuṭumbikaputta Tissa, bậc tìm đạo bằng cách đập gãy chân mình

Tại thành Xá-vệ, có công tử Tissa con nhà trưởng giả với tài sản bốn mươi triệu, đã bàn giao toàn bộ gia sản cho em trai và em dâu để đi xuất gia. Ngài chọn sống đời độc cư nơi rừng núi, tinh tấn thực hành pháp hành của bậc tu hành.

## PAGE 431

Một ngày nọ, vợ của người em trai (em dâu) vì lo sợ rằng nếu anh chồng Tissa không còn vui thú với đời sống tu hành mà hoàn tục trở về, cô ta sẽ phải chia lại tài sản. Vì thế, cô ta đã thuê năm trăm tên cướp (chia làm năm nhóm, mỗi nhóm do một tên trùm dẫn đầu với một trăm đàn em) thay phiên nhau lùng sục khắp núi rừng nhằm sát hại Ngài Tissa để trừ hậu họa. Cô ta đã chi trả tiền công hậu hĩnh, vừa đưa trước một phần vừa hứa hẹn phần còn lại sau khi xong việc. Năm nhóm cướp này chia nhau đi tìm kiếm vị Trưởng lão.

Khi đến một hốc đá nứt dưới chân núi, thấy Trưởng lão Tissa đang ngồi thiền quán dưới một gốc cây, những tên trùm cướp cầm vũ khí tiến lại gần Ngài. Những tên đàn em cũng bao vây xung quanh để Ngài không thể tẩu thoát.

**Trưởng lão:** "Này các thiện nam, các ông đến đây có việc gì?"

**Bọn cướp:** "Nói ngắn gọn thế này, chúng tôi đến để giết ông."

**Trưởng lão:** "Ồ... ra là vậy. Nếu thế thì các thiện nam hãy cho tôi được sống thêm đêm nay nữa thôi."

**Bọn cướp:** "Không được, này nhà sư. Giết ông xong chúng tôi mới có nhiều tiền. Nếu ông bỏ chạy thì chẳng phải chúng tôi khốn đốn sao?"

**Trưởng lão:** "Về việc này các ông hãy yên tâm. Sau khi bình minh lên, các ông cứ tùy ý xử lý. Nếu không tin, tôi sẽ đưa ra vật bảo đảm."

**Bọn cướp:** "Nhà sư, không cần đâu. Trong tình cảnh này, ông còn có thể đưa ra vật bảo đảm gì nữa chứ?"

(Vừa nói xong, Trưởng lão liền dùng hết sức nâng một tảng đá lớn gần đó, duỗi thẳng hai chân ra rồi đập mạnh xuống khiến hai xương đùi nát vụn. Ngay giữa vũng máu bê bết, Ngài nói:)

**Trưởng lão:** "Đây... đây là vật bảo đảm của tôi. Hãy yên tâm, tôi không thể đi đâu được nữa rồi. Xin hãy cho tôi được sống nốt khoảng thời gian ngắn ngủi trước khi bình minh lên."

## PAGE 432

Trước lời khẩn khoản van nài của vị Trưởng lão, bọn cướp mủi lòng. Chúng lùi ra một quãng không xa, nhóm lửa sưởi ấm ở đầu đường kinh hành và thay phiên nhau ngủ để canh chừng cho đến lúc bình minh.

Đại đức Tissa đã gạt bỏ và quên đi nỗi đau đớn kinh hoàng để quán xét lại giới hạnh của mình. Kể từ khi xuất gia, Ngài đã xem xét đi xem xét lại các học giới của mình. Ngài nhận thấy giới hạnh không hề bị sứt mẻ, đứt đoạn, loang lổ hay nhơ bẩn, mà toàn bộ đều trong sạch, tinh khiết.

Ngài tự suy xét: "Này Tissa, giới hạnh của ông không phải là kiểu thực hành với tà kiến sai lạc như những kẻ ngoại đạo ngoài giáo pháp. Trong đây cũng không có sự mong cầu hay dính mắc vào bất kỳ điều gì trong 31 cõi (không có Ái). Đây chính là nền tảng vững chắc, gần kề với việc đạt được quả A-la-hán để thoát khỏi luân hồi." Càng suy xét, Ngài càng thấy hài lòng và phấn khởi. Phỉ lạc (pīti) bắt đầu khởi lên mạnh mẽ.

Nguồn hỷ lạc tuôn trào khi quán xét giới hạnh không chỉ giúp Ngài quên đi đau đớn mà còn chế ngự và đẩy lùi nỗi khổ thân xác đó. (Theo các tập chú giải).

Khi nỗi đau dần biến mất và được thay thế bằng phỉ lạc, Ngài đã quán xét chính hỷ lạc đó theo ba đặc tướng (Vô thường, Khổ, Vô ngã). Đôi khi Ngài lại tập trung thiền quán ngay trên chính nỗi đau đó (Quán Thọ). Với sự nỗ lực tinh tấn tột bậc suốt đêm thâu, tuệ Minh sát của Ngài dần trưởng dưỡng và chín muồi. Ngay khi bình minh vừa hé rạng, Ngài đã đoạn tận các lậu hoặc và đắc quả vị A-la-hán.

Bình minh lên cũng là lúc đắc Đạo quả A-la-hán, Ngài tràn ngập niềm hân hoan và thốt lên lời cảm hứng tự thuật như sau. Ngài đã bày tỏ rõ ràng ý nguyện và những gì mình đã trải qua:

"Sau khi tự đập gãy cả hai chân,
Tôi trao cho các ông vật bảo đảm này.
Tôi cảm thấy hổ thẹn và ghê tợn
Cảnh phải chết đi khi còn mang tham ái.
Tư duy như thế, tôi tiến hành quán sát
Bản chất thật sự của các pháp hữu vi.
Khi ánh bình minh vừa chạm tới,
Tôi đã chứng đạt quả vị A-la-hán tối thượng."

## PAGE 433

၃၉၀

“Này các ông trộm cướp khổ sở kia..., hãy đứng dậy và đến đây. Ta đã đánh gãy đôi chân của mình để báo cho các ông biết và bảo đảm rằng ta sẽ không trốn đi đâu cả.”

“Này các thí chủ..., lý do là vì... ta rất ghê tởm và kinh sợ việc phải chết cùng với ái dục (so với việc bị người khác giết chết). Ta cũng cảm thấy vô cùng hổ thẹn.

“Này các thí chủ..., với ý định này (sau khi đã khẩn cầu các ông), ta đã thực hành thiền quán **Vipassanā** theo đúng con đường **Thuyết Thiết Lập Niệm (Thanh Tịnh Đạo)**. Và khi ánh bình minh vừa hé rạng, ta đã chứng đắc **Quả A-la-hán** vậy.”

Cùng với ánh bình minh, lời cảm hứng tự do của vị trưởng lão Tissa vang lên giữa khu rừng tĩnh mịch thật mạnh mẽ, hân hoan và thanh tịnh. Những tên trộm cướp cũng lần lượt kéo đến từng nhóm một, rồi dần dần tiếng nói của ngài lịm tắt, họ chỉ còn trông thấy nhục thân của trưởng lão Kutambika Tissa rồi ra đi. (**Chú giải Trung Bộ 1, 238. Chú giải Trường Bộ 2, 340 - phần mở đầu kinh Đại Niệm Xứ. Thanh Tịnh Đạo 1, 46.**)

### Vị trưởng lão đắc Quả A-la-hán trong miệng cọp

Vào thời Đức Phật, có ba mươi vị tỳ-kheo cùng nhau tu tập trong rừng. Vào lúc gần sáng khi cơn buồn ngủ kéo đến, mỗi đêm lại có một vị bị cọp tha đi ăn thịt. Những vị trưởng lão bị cọp tha đi ấy, không một ai kêu cứu hay đòi giúp đỡ, mà chỉ đối mặt với cái chết bằng tâm niệm **đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna)**.

Đến kỳ lễ Uposatha vào ngày rằm và ba mươi, khi thấy số lượng chư Tăng giảm đi, các vị mới dặn dò nhau rằng từ nay về sau nếu ai bị cọp vồ thì phải lên tiếng. Đêm đó vào lúc gần sáng, một vị tỳ-kheo trẻ bị cọp vồ lấy. Chư Tăng vây quanh với gậy gộc và đuốc lửa đuổi theo, nhưng con cọp lớn đã ngậm chặt chân vị tỳ-kheo, nhảy qua một vực thẳm mà người không thể theo kịp, rồi đặt vị ấy lên một phiến đá trên đỉnh vách đá bên kia để ăn thịt.

## PAGE 434

၃၉၁

Các vị tỳ-kheo đuổi theo phía sau cũng không thể làm gì được nữa. Họ chỉ biết đứng bên này vách đá nhìn sang. Tuy nhiên, trong khi con cọp lớn đang đặt vị tỳ-kheo trên phiến đá bên kia để ăn thịt, các vị tỳ-kheo đã lớn tiếng vọng sang:

“Này hiền giả... chúng tôi không còn cách nào để cứu giúp được nữa. Đừng nản lòng, hãy thể hiện dũng lực và bản lĩnh của một hành giả, con trai của Đấng Pháp Vương. Sự thành tựu đặc biệt thường dễ đạt được chính trong những lúc cận kề nghịch cảnh khổ đau thế này, hãy cố gắng lên!” Vị tỳ-kheo trẻ bị cọp vồ cũng tự nhủ:

“Chỉ vì một phút lơ là mà ta đã bị cọp vồ. Nếu có chết vì cọp ăn thịt thì cũng đành. Dù không bị cọp ăn thịt thì tấm thân này, vốn luôn phải đối mặt với hiểm nguy bên trong và bên ngoài, cũng chắc chắn sẽ phải chết vào một ngày nào đó bởi nguyên nhân này hay nguyên nhân khác. Chết trong tâm niệm **đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna)** mới thật là cao quý.” Nghĩ đoạn, vị ấy quyết tâm gạt bỏ nỗi đau đớn khi bị cọp ăn thịt, chỉ tập trung quan sát sự sanh diệt của danh sắc gắn liền với thân thể không rời.

Con cọp bắt đầu ăn từ chân, khi nó ăn đến mắt cá chân, ngài chứng đắc quả **Dự Lưu (Sotāpanna)**. Khi ăn đến đầu gối, ngài chứng quả **Nhất Lai (Sakadāgāmi)**. Khi đến bụng, ngài chứng quả **Bất Lai (Anāgāmi)**. Vì hiểm nguy càng lớn và càng đến gần, sự tinh tấn trong thiền quán của ngài cũng càng gia tăng mạnh mẽ. Khi con cọp cắn ăn đến gần vùng tim, ngay khoảnh khắc đó, ngài đã chứng đắc quả vị **A-la-hán**. (**Chú giải Trường Bộ 2, 340. Chú giải Trung Bộ 1, 238 - phần mở đầu kinh Niệm Xứ.**) Dù đây không phải là chuyện thời đại Sīhaḷa, nhưng đoạn này được đưa ra để làm gương về sự nhẫn nại trước đau đớn.

### Vị trưởng lão Kaṇḍakaviddha đắc Pháp nhờ đạp phải gốc cây nhọn

Thuở xưa, có 12 vị tỳ-kheo hành giả cùng nhau tu tập trong rừng. Họ treo một chiếc khánh đá để báo hiệu giờ tu tập cũng như khi có việc cần thông báo.

Chiếc khánh đá này làm từ một tảng đá Cẩm thạch dài khoảng 10 đến 15 feet, chu vi ít nhất 4 feet, được buộc dây hai đầu và treo lên, dùng dùi gỗ để gõ. Người ta gọi đó là khánh đá.

## PAGE 435

Các vị tỳ-kheo hành giả thường dùng tiếng khánh đá để báo hiệu bắt đầu giờ thiền quán ngay khi mặt trời lặn. Có một vị trưởng lão nọ, khi rời khỏi đường kinh hành thường nhật để đi sang hướng khác vào ban đêm, đã vô tình đạp mạnh lên một gốc cây nhọn bị rác phủ kín. Gốc cây nhọn đâm xuyên qua cả mu bàn chân, đau đớn không xiết như bị sắt nung đỏ đâm vào.

Vị trưởng lão ngay lập tức khuỵu xuống ngồi bệt tại chỗ.

“Liệu ta nên chú tâm nhổ cái gai này ra, hay nên nỗ lực nhổ sạch cái gai phiền não đã đâm sâu từ vô lượng kiếp luân hồi? Phải rồi, cái gai hiện tại này không thể đẩy ta vào bốn ác đạo hay những hiểm nguy của luân hồi. Chỉ có cái gai phiền não mới có thể đẩy ngươi xuống địa ngục mà thôi.”

Ngay khi có quyết định này, vị trưởng lão lập tức đứng dậy và dành cả đêm để vừa đi kinh hành vừa thực hành thiền quán. Ngài không còn bận tâm đến cái chân đau nữa. (**Vị ấy xem cảm thọ ấy là không tồn tại - Vedanaṃ abbhohārikaṃ katvā.**) Ngài dồn hết tinh tấn vào **đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna)** gốc của mình (ghi nhận: giở, bước, đặt...) cho đến khi trời sáng rõ.

Đến sáng, ngài mới cất tiếng gọi một vị tỳ-kheo đồng tu ở gần đó. Vị ấy hỏi:

“Bạch ngài, có chuyện gì vậy?”

“Tôi muốn thưa với ngài rằng chân tôi bị gốc cây đâm phải.”

“Trời đất... chuyện xảy ra từ lúc nào vậy ngài?”

“Đã bị đâm từ đầu đêm rồi.”

“Ôi... sao lại như vậy được... sao lúc bị đâm ngài không báo ngay cho chúng tôi biết? Lẽ ra ngài nên lên tiếng gọi. Để chúng tôi nhổ ra rồi còn thoa dầu hỏa hay thuốc men vào chứ...”

“Đúng vậy hiền giả... nhưng lúc đó tôi nghĩ rằng mình sẽ cố gắng nhổ cho xong cái gai phiền não đã đâm sâu suốt vòng luân hồi, nên đã không báo cho các ngài biết.”

“Nếu vậy, ngài đã có thể nhổ sạch hết cái gai đó chưa?”

## PAGE 436

“Ừm... thưa Hiền giả, một phần đã có thể rút ra được rồi.” “Ừm... nếu vậy thì lành thay, bạch Ngài. Lành thay, lành thay...”. Trong **Kinh Khajjanīya** thuộc **Tương Ưng Bộ - Chương Uẩn** (**Samyutta-2, 71**), Đức Thế Tôn dạy rằng năm uẩn danh sắc này luôn luôn nhai nuốt và hành hạ chúng ta.

Sắc thân to lớn này bị biến đổi vì nóng, biến đổi vì lạnh, biến đổi vì đói khát, biến đổi vì ruồi, muỗi, gió, nắng, rết, rắn, v.v... Vị Thánh đệ tử khi nhìn thấy thân xác này luôn bị nhai nuốt và hành hạ như vậy thì trở nên nhàm chán và ghê tởm nó. Vị ấy chỉ mong muốn phá hủy nó, không còn muốn nó tăng trưởng thêm nữa, chỉ cố gắng từ bỏ, không còn luyến ái hay bám víu, mà chỉ nỗ lực để nó được diệt tận, không còn tiếp tục thổi bùng ngọn lửa sinh tử nữa.

Vị trưởng lão **Kaṇḍakaviddha** (vị bị gốc cây đâm) cũng vậy, Ngài không hề nuông chiều cái thân xác luôn chịu khổ bằng cách này hay cách khác như vậy. Ngài chỉ nỗ lực để đạt đến sự tịch diệt và cuối cùng đã chứng đắc quả vị Thánh. (**Chú giải Tương Ưng-2, 272** – Giải thích **Kinh Khajjanīya**.)

Trong việc hành thiền, giữa hai pháp danh và sắc thì sắc pháp dễ quán sát và nổi bật hơn. Trong các danh pháp, ba loại là **Phúc chạm (Phassa)**, **Tâm (Citta)** và **Thọ (Vedanā)** là nổi bật nhất. Trong số đó, **Thọ** là nổi bật hơn cả. Khi quán sát những gì dễ thấy, những gì nổi bật thì hành giả sẽ nhanh chóng đạt được Pháp thượng nhân. **Khổ thọ (Dukkha-vedanā)** không phải là điều đáng sợ.

“Pháp đặc biệt của các hành giả thường hiện khởi rõ rệt hơn chính vào những lúc gặp phải cái **Khổ**” – lời nhắn nhủ của các bạn đồng tu nói với vị trưởng lão sắp bị hổ ăn thịt thật là điều đáng ghi nhớ.

## Trưởng lão Pītamalla: Từ một võ sĩ lừng danh trở thành vị A-la-hán nhờ ngọn thương đâm xuyên ngực

Thuở xưa, có một người chuyên biểu diễn võ thuật và đấu vật, tay cầm lá cờ màu vàng, tên là **Pītamalla**. Ông thường đi khắp các quốc gia như **Paṇḍu**, **Coḷa**, **Goḷa** để thi đấu. Vì các vị vua ở đảo quốc Sīhaḷa (Sri Lanka) rất trọng đãi và khuyến khích các võ sĩ, nên **Pītamalla** đã cầm cờ vàng đến đảo quốc này.

## PAGE 437

**Pītamalla** trở thành võ sĩ phục vụ trong hoàng cung Sīhaḷa. Một ngày nọ, khi đang đi trên con đường chợ bán các loại chiếu lát vì một công việc riêng, ông bỗng nghe thấy tiếng thuyết Pháp:

“Này các Tỳ-kheo, thân xác này không phải là của các ông. Hãy từ bỏ (ái dục bám víu vào) thân xác ấy. Khi từ bỏ được như vậy, các ông sẽ có được hạnh phúc và lợi ích thật sự trong thời gian lâu dài.”

Đó là tất cả những gì **Pītamalla** chợt nghe được. Đây chính là bài Pháp trong chương **Natumhāka-vagga** của **Tương Ưng Bộ**. Khi nghe được âm thanh giáo pháp ấy, tâm ông bỗng nhiên suy ngẫm đi suy ngẫm lại một cách không ngờ: “**Neva kira rūpaṃ attano** – nghe nói thân xác này không phải của mình... **Na vedanā** – thọ nhận này cũng không phải là ta (không phải sở hữu của mình)...”.

Câu kinh ấy giống như một chiếc móc sắt đột ngột chế ngự con voi tâm hoang dại đang say sưa lầm lạc của **Pītamalla**. Cú đánh tâm linh bất ngờ từ giáo pháp ấy đã thúc đẩy **Pītamalla** tìm đến đại tự viện **Mahāvihāra**.

Ông khẩn khoản xin các vị trưởng lão ở **Mahāvihāra** cho phép xuất gia. Sau khi thọ giới và học tập **Dve-mātikā** (Luật tạng), ông cùng với ba mươi vị Tỳ-kheo đồng hành đi đến vùng **Gabalavāliya-aṅgaṇa** để nỗ lực thực hành thiền Định và thiền Quán.

Trưởng lão **Pītamalla** đặc biệt thực hành phần **Oai nghi (Iriyāpatha)** và **Tỉnh giác (Sampajañña)** trong **Tứ Niệm Xứ**, quán sát kỹ các cử động: nhấc... bước... đặt... khi đi kinh hành. Sau đó, lòng bàn chân của Ngài trở nên đau nhức và nóng rát đến mức hoàn toàn không thể tiếp tục bước đi được nữa.

Vì thế, Ngài ngừng đi kinh hành mà chuyển sang ngồi để quán sát các cử động của thân và sự đau nhức của **Thọ (Vedanā)**. Khi ngồi lâu, tâm buồn ngủ lại xâm chiếm. Ngài lại quán sát tâm ấy, nhưng cuối cùng vì không thể vượt qua được sự **Hôn trầm thụy miên (Thīna-middha)**, Ngài liền đứng dậy khỏi chỗ ngồi để đi kinh hành. Ngài quán sát không bỏ sót các tiến trình từ sắc đứng đến sắc đi, nhưng vì lòng bàn chân quá đau đớn nên Ngài không thể bước tới được.

## PAGE 438

Vì vậy, với nghị lực không lay chuyển, để đẩy lùi **Hôn trầm thụy miên**, trưởng lão **Pītamalla** phải dùng hai đầu gối để di chuyển kinh hành. Trong lúc các bạn đồng tu đang mỗi người một nơi nỗ lực hành thiền, vào một đêm nọ, một người thợ săn nhìn thấy trưởng lão **Pītamalla** đang nhích từng chút bằng hai đầu gối, tưởng là thú rừng nên đã phóng lao đâm vào Ngài. Ngọn thương đâm xuyên qua ngực, khiến Ngài ngã gục ngay tại chỗ.

Ngài bảo các vị đồng tu hãy rút ngọn thương ra, rồi bảo họ lấy cỏ bện lại để bịt kín vết thương cho máu ngừng chảy. Sau đó Ngài nói:

“Thưa các Hiền giả, xin hãy đặt con lên phiến đá lớn đằng kia. Các vị hãy trở về chỗ của mình và nỗ lực hành Pháp của riêng mình. Xin hãy cho con cơ hội để được tự do quán chiếu vào lúc này.”

Sau khi xin phép như vậy, Ngài nỗ lực hết mình quán sát **Khổ thọ (Dukkha-vedanā)** đang diễn ra.

“**Rūpaṃ bhikkhave natumhākaṃ** = Này các Tỳ-kheo, thân xác này không phải là của các ông. **Taṃ pajahatha** = Hãy từ bỏ (ái dục bám víu vào) thân xác ấy.”

Trong tâm trưởng lão **Pītamalla**, âm thanh giáo pháp ấy vang lên như thể đang được nghe lại lần nữa, khiến Ngài trở nên phấn chấn đặc biệt. Ngài không màng đến thân xác, nỗ lực hành thiền Quán và cuối cùng đã chứng đắc quả vị **A-la-hán** cùng với bốn trí **Phân tích (Paṭisambhidā)**.

Ngay lúc đó, một vài bạn đồng tu đi đến gần, tắng hắng để thăm dò tình hình của Ngài. Trước mặt các vị ấy, trưởng lão **Pītamalla** đã bộc lộ đức tính của bậc **A-la-hán** và thốt lên lời cảm hứng (Udāna) để khuyến tấn:

**Bhāsitaṃ buddhaseṭṭhassa, sabbalokaggavādino.**
**Natumhākaṃ midaṃ rūpaṃ, taṃ jaheyyātha bhikkhavo.**

“Thưa các Hiền giả, lời dạy của Đức Phật tối thượng, bậc thuyết giảng cao quý nhất trong khắp thế gian, (lời dạy mà Ngài đã ban cho con là): ‘Này các Tỳ-kheo, thân xác này không phải là của các ông’...”

## PAGE 439

Quán sát như vầy—

"Hãy từ bỏ tham ái đang chấp thủ nơi sắc thân đó." Đây chính là giáo pháp vậy. **Aniccā vata saṅkhārā, uppādavaya dhamminino. Uppajjitvā nirujjhanti, tesaṃ vūpasamo sukho.**

"Này các đạo hữu, các hành pháp vốn có bản chất sanh diệt, thật không trường tồn. Các hành pháp danh sắc trong thân tôi cũng sanh lên rồi diệt đi. Đối với tôi, tất cả các hành pháp ấy, cùng tất cả các bệnh tật đang hành hạ liên miên không dứt, nay đã đoạn tận và tịch diệt, tôi đã đắc hưởng sự an lạc vô song, này các đạo hữu."

Khi ấy, các bạn đồng tu cùng vây quanh nhìn Trưởng lão Pītamalla—

"Bạch đại đức Pītamalla, nếu Đức Thế Tôn còn tại thế, Ngài chắc chắn sẽ duỗi bàn tay vàng xoa đầu đại đức, hết lời tán dương và khích lệ." Trong khi mọi người đang nói lời hoan hỷ và ngợi ca như vậy, Trưởng lão Pītamalla đã nhập Niết Bàn (Pari-Nibbāna).
(M-ṭṭh-1, 239. Dī-ṭṭh-2, 340-Chú giải và Phụ chú giải kinh Đại Niệm Xứ.)

### Cuộc cách mạng không làm nô lệ cho kẻ khác

**Nāhaṃ dāso bhaṭo tuyhaṃ, nāhaṃ posemi dāni taṃ.**
**Tvameva posento dukkhaṃ, patto vajje anappakaṃ.**

Bho = Này cái thân xác già nua hôi thối đầy hiểm nguy như hố sâu hai tầng kia. Ahaṃ = Ta. Tuyhaṃ = của ngươi. Na dāso = chẳng phải là kẻ nô lệ bị trói buộc không thể thoát ra. Na bhaṭo = cũng chẳng phải kẻ làm thuê ăn lương, một cu-li phục dịch. Idāni = Nay đã nhận được lời dạy của Đức Phật. Ahaṃ = Ta. Taṃ = đối với cái thân xác hôi thối tồi tàn là ngươi. Na posemi = không còn có thể nuôi dưỡng, chiều chuộng theo sở thích của ngươi nữa. Tvameva = Dù có chăm sóc bao nhiêu ngươi cũng chẳng thấy tốt, chỉ luôn hư hoại và tan rã, chính cái xác thối là ngươi. Posento = Vì đã lỡ nuôi dưỡng, chiều chuộng theo ý thích của ngươi. Ahaṃ = Chính ta.

## PAGE 440

Vajje = Trong vòng luân hồi khổ đau, cứ lên xuống chìm nổi không ngừng. Anappakaṃ dukkhaṃ = Đã phải chịu đựng vô vàn nỗi khổ trùng điệp, nhiều đến mức không thể đếm xuể qua bao nhiêu a-tăng-kỳ kiếp. Patto = Đã phải trải qua, đã phải nhận lấy rồi. (Theo các bậc thầy xưa.)

### Đau bệnh là điều đáng mừng, càng đau lâu càng tốt

Khi có bệnh tật đau đớn khởi lên, đừng chỉ đổ lỗi cho nghiệp quá khứ, vì dễ rơi vào tà kiến "do nghiệp cũ" (Pubbe-kata-hetu-diṭṭhi).

### Tám nguyên nhân gây bệnh

Theo Abhidhamma (A-tì-đàm), do xúc chạm mà có cảm thọ: **"Phassa-paccayā vedanā"**. Theo kinh tạng Suttanta, Đức Phật dạy trong kinh Sīvaka (S.ii, 428) và kinh Girimānanda (A.iii, 342) rằng có 8 nguyên nhân:
1. Do mật,
2. Do đàm,
3. Do gió (do một trong ba loại lỗi này),
4. Do sự kết hợp của ba loại trên (rối loạn tổng hợp),
5. Do thời tiết (utu) không điều hòa,
6. Do oai nghi, sinh hoạt không điều hòa,
7. Do sự nỗ lực của người khác (bị tấn công, thương tích),
8. Do nghiệp quả.

Người ta nói rằng do si mê, bất cẩn trong ăn uống và sinh hoạt mà dẫn đến nạn bệnh tật (Rogastarakappa). Xem xét cốt lõi vấn đề thì điều này rất đúng.

Dù tên bệnh có nhiều như cao huyết áp, tiểu đường, tê bại, hen suyễn, lao... nhưng như câu nói "xét tận gốc, rễ từ đất", nguyên nhân thực sự chỉ có một. Đó là do các phiền não như si mê (moha) mà các nỗi đau bệnh tật phát sanh. (Hãy quán sát rộng ra sự thiêu đốt của lòng tham, ngọn lửa của sự đố kỵ và bủn xỉn, ngọn lửa của sân hận hằng ngày trong lòng mọi người. Bạn sẽ nhận ra đó chính là căn bệnh phiền não.)

## PAGE 441

### Nếu chết do đau bệnh có thể sanh Thiên

Nếu có trí tuệ thì khi bệnh hoạn khởi lên lại là điều đáng mừng. Có thể nói rằng "bệnh càng kéo dài càng tốt". Trong phần giải thích về ba loại nạn (Dī-ṭṭh-3, 30-Chú giải kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống):

1. Tham (lobha) - Nạn đói kém - đọa vào cõi Ngạ quỷ,
2. Sân (dosa) - Nạn khí giới - đọa vào Địa ngục,
3. Si (moha) - Nạn bệnh tật - sanh lên cõi Trời.

Sự phân chia này mang lại niềm an ủi cho những người đang chịu đau bệnh. Nói rằng "bệnh tật mà được sanh Thiên" nghe có vẻ lạ lùng, nhưng bậc Chú giải sư đã giải thích rằng:

Đó là vì mỗi khi thọ nhận cảm thọ đau đớn, tâm từ thường phát khởi: "Cầu mong các chúng sanh đừng phải chịu đau đớn như tôi đang chịu đây, cầu mong họ được an lạc." Điều này rất phù hợp với tự nhiên.

Ngược lại, những kẻ khi bệnh tật thì sợ hãi, khổ tâm, nổi giận (sân); hạng người chỉ thích có người hỏi han, chiều chuộng (tham); hạng người mê muội không thể quán sát được cảm thọ (si), thì sẽ bị phân vào ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh.

Do đó, trong kinh Sallattha, Đức Phật dạy rằng với người có trí tuệ thì có thể đắc Pháp, còn với người thiếu trí thì giống như bị mũi tên đâm rồi lại lấy thêm mũi tên nữa đâm chồng lên vậy; do đau bệnh mà các tùy miên sân (paṭighānusayā) và tùy miên tham ái (kāmarāgānusayā) khởi lên, khiến nỗi đau thêm chồng chất, khổ càng thêm khổ. (S.ii, 409.)

Kinh Tất Cả Lậu Hoặc (Sabbāsava Sutta) cũng dạy rằng nếu không thể nhẫn nại trước lạc và khổ, bốn loại lậu hoặc phiền não sẽ quấn chặt và hành hạ chúng ta. (M.i, 8.)

### Khi Trưởng lão Girimānanda thọ bệnh

Khi Trưởng lão Girimānanda lâm trọng bệnh, Ngài Ānanda đã bạch hỏi Đức Thế Tôn về các pháp môn để giảng cho người bệnh nghe. Sau khi Ngài Ānanda ghi nhớ và thuyết lại cho Trưởng lão Girimānanda, Trưởng lão liền khỏi bệnh tức thì. Pháp môn mà người bệnh cần tác ý là:

## PAGE 442

399

Có mười phương pháp hành trì bao gồm: quán tưởng về vô thường (anicca-saññā), quán tưởng về vô ngã (anatta-saññā), quán tưởng về sự bất tịnh (asubha-saññā), quán tưởng về sự nguy hiểm (khổ não của thân - ādīnava-saññā), quán tưởng về sự đoạn tận (để từ bỏ tầm tứ tà vầy - pahāna-saññā), quán tưởng về ly tham (để hướng tâm đến hạnh phúc Niết Bàn - virāga-saññā), quán tưởng về diệt (nirodha-saññā), quán tưởng về sự không thích thú trong toàn bộ thế gian (sabba-loke anabhirata-saññā), quán tưởng về sự không ham muốn trong tất cả hành (sabba-saṅkhāresu anicchā-saññā) và tu tập niệm hơi thở (ānāpānasati).

Hành giả có thể tập trung quán chiếu sâu sắc vào một đề mục mà mình dễ dàng nhận biết, thấy rõ hoặc đề mục vẫn thường hay quán niệm, từ đó có thể hoàn tất công việc hành trì. Việc quán pháp này chính là **tu tập Thất Giác Chi (bojjhaṅga-bhāvanā)**; nhờ vào sự mát mẻ và tĩnh lặng của các trạng thái hỷ lạc sanh khởi trong lúc thiền định, tâm trí trở nên trong sáng, kéo theo sự thanh tịnh của các sắc do tâm tạo (cittaja-rūpa). Điều này dẫn đến sự biến mất của nguyên nhân gây bệnh, như đã được thuyết giảng và giải thích rõ ràng trong **Chú giải Kinh Bojjhaṅga**.

Hiện nay, đã có rất nhiều thiền sinh thực chứng được kết quả rõ rệt, khi mà những trọng bệnh mà y học không thể cứu chữa đã biến mất một cách kỳ diệu chỉ nhờ vào việc tu tập thiền định.

[Trong các cuốn sách như “**Kinh Samma Paribbajaniya**”, “Các bài giảng tại Đại học” của **Ngài Đại trưởng lão Mahasi Sayadaw** khả kính, và cuốn “**Cư sĩ Sayagyi U Thet**” do chúng tôi viết, có ghi chép rất nhiều câu chuyện thực tế về vấn đề này.]

**Đại đức Uttiya** cũng vậy, ngay khi cảm thấy không khỏe, ngài đã nỗ lực chuyên tâm quán chiếu giáo pháp, nhờ đó bệnh tình tiêu tan và ngài đã chứng đắc đạo quả.

**Ābādhe me samuppanne, sati me udapajjatha.**
**Ābādho me samuppanno, kālo me nappamajjituṃ.**

“Khi bệnh hoạn phát sanh, niềm tỉnh giác về sự không phóng dật (appamāda) trỗi dậy trong ta. Ta đang mang bệnh, không thể sống buông lung, hời hợt (hay quán chiếu lơ là) được nữa.” (**Uttiya Thera Gāthā** - **Vimānādi** - 226).

### Sự già bệnh của cư sĩ Nakulapitu

Bệnh tật và đau đớn vốn dĩ luôn hành hạ các chúng sanh, không lúc nào ngơi nghỉ. Chỉ có sự khác biệt giữa bệnh nặng và bệnh nhẹ. Mọi người đều phải chết; sở dĩ chết là vì cơn đau đạt đến mức độ khiến người ta phải lìa đời.

## PAGE 443

Đợi đến lúc gần kề cái chết thì không còn kịp để luyện tập nữa.

Thời Đức Phật, có vị cư sĩ tên là **Nakulapitu**, người từng là cha của Ngài trong năm trăm kiếp. Ông thường đến thăm Đức Phật hằng ngày, nhưng khi tuổi già xế bóng, ông không còn đến thường xuyên được nữa nên đã thỉnh cầu Đức Phật ban cho một bài pháp. Đức Phật phán rằng: “Này cư sĩ..., tấm thân này thường xuyên bị hành hạ bởi đau đớn. Nó giống như một chiếc bình gốm dễ vỡ, được bao bọc bởi lớp da mỏng manh nên rất dễ bị tổn thương (từ những nguy cơ bên ngoài). Này cư sĩ... người nào đang mang vác gánh nặng tấm thân có bản chất như vậy mà còn tự tuyên bố rằng mình hoàn toàn khỏe mạnh dù chỉ trong một khoảnh khắc, thì người đó không có lý do gì khác ngoài sự mê muội.

“Vì vậy, này cư sĩ, ông nên thực hành và phát nguyện rằng: “Dù thân ta có đau đớn, nhưng tâm ta sẽ không đau đớn””. Tiếp đó, Đức Phật thuyết giảng về việc không nên chấp thủ vào Ngũ uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) là “Ta, của Ta, Ta đang đau, cái đau này thuộc về Ta”.

Đối với các **bậc Thánh (Ariya)**, dù thân có đau đớn nhưng tâm các Ngài không bao giờ đau đớn theo thói thường của phàm phu. (**Saṃyutta Nikāya**-2, 1 - **Kinh Nakulapitu**).

Ngày nay, các phương pháp hành trì đã được phổ biến rộng rãi nên tôi không viết chi tiết thêm nữa. Việc quán chiếu giáo pháp chính là sự tiêu diệt phiền não (kilesa), và khi phiền não bị tiêu diệt thì mọi cảm giác đau đớn của bệnh tật do phiền não gây ra cũng sẽ chấm dứt. Nhiều hành giả đã tự mình chứng nghiệm điều này.

**Rakkhitopi aguttova,**
**Kāyo bhayamukhe ṭhito.**
**Tasmā kāyī anapekkkhitvā dhammaṃ careyya paṇḍito. (Nīti)**

“Tấm thân này dù được che chở bằng quần áo, trang sức, hay được thay đổi oai nghi để bảo vệ liên tục, nhưng nó cũng không bao giờ được gọi là an toàn. Nó luôn nằm kề bên miệng vực của vô số hiểm nguy. Do đó, bậc trí đức hạnh không nên luyến tiếc hay lo lắng cho tấm thân này, mà hãy giữ tâm xả ly, chỉ tập trung quán chiếu và thực hành giáo pháp của chính mình.”

## PAGE 444

## Chương (6)
### Các vị Đại đức là tấm gương mẫu mực về việc quán chiếu trong khi đi lại và làm việc

Bảo vệ đời sống

**Yathā agārī ducchannaṃ vuṭṭhi samativijjhati,**
**Evaṃ abhāvitaṃ cittaṃ rāgo samativijjhati.**

Như nước mưa có thể xuyên qua và hủy hoại một ngôi nhà không được lợp mái kỹ càng; cũng vậy, tham ái (cùng sân và si) sẽ xâm nhập, xuyên thấu và phá hoại tâm của một hành giả không thể giữ sự quán chiếu liên tục giữa các oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi).

(**Kinh Pháp Cú** - 14-5)

## PAGE 445

### **Bậc ngược dòng** = **Paṭisotagāmī**

“**Này các Tỳ-kheo**.. Trong thế gian này, có hạng người không hưởng thụ ngũ dục, cũng không vi phạm các ác hạnh du-sự-rặc (ducaita). Dù cho vì thân đau đớn, tâm sầu muộn mà khóc lóc đến mức nước mắt rơi ròng rã, người ấy vẫn không buông bỏ thiện pháp. Vị ấy nỗ lực thực hành Phạm hạnh (Brahmacariya) cho được trọn vẹn hơn, trong sạch hơn. (**Sahādukkhena, sahāpi domanassena assumukho pi rudamāno paripunnaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ carati.**) **Này các Tỳ-kheo**, hạng người như vậy được gọi là “**Bậc ngược dòng**”.”

(Tăng Chi I, 311 - Chương Bốn Pháp - Kinh Anusota)

## PAGE 446

### Trưởng lão **Phussadeva**, vị đắc quả A-la-hán nhờ niệm ân đức Phật khi đang quét sân

Thời xưa, tại một đại tự viện tên là “**Kaṭandhakāra**” ở đảo quốc Srilanka (Thế Diệu), có một vị Trưởng lão tên là “**Phussadeva**” trú ngụ.

Vị Trưởng lão ấy thường xuyên tu tập đề mục **Niệm Phật (Buddhānussati)**. Vị ấy cũng hằng ngày thực hiện các bổn phận nơi sân bảo tháp (ceṭiyaṅgaṇavatta) như quét dọn sân tháp. Trong lúc thực hiện các việc phục vụ (veyyāvacca) như quét dọn, vị ấy luôn hướng tâm suy xét đến các ân đức và công hạnh của đức Phật.

Một ngày nọ, sau khi quét sạch toàn bộ sân tháp, vị ấy vắt chéo một bên y lên vai, sửa sang y phục chỉnh tề, gọn gàng và ngay ngắn. Một tay cầm chổi, vị ấy đứng chiêm ngưỡng sân tháp phẳng phiu, sạch sẽ vừa quét xong. Vị ấy cảm thấy vô cùng hài lòng, hân hoan và tịnh tín trước phước báu của mình.

**Năm lợi ích của việc quét dọn**

Lòng người được trong sạch, lòng mình được tịnh lạc, chư Thiên yêu mến, diện mạo sáng đẹp, và khi mệnh chung được sanh về thiên giới; năm lợi ích này nên ghi nhớ là quả báu của việc quét dọn. (**Luật Tạng, bộ Parivāra**. “Diện mạo sáng đẹp” ý chỉ loại công đức khiến cho sắc thân được xinh đẹp.)

Vừa chiêm ngắm sân bảo tháp phẳng phiu như bãi cát bạc, vị ấy vừa tiếp tục hành pháp Niệm Phật như thường lệ. Niềm phỉ lạc (pīti) lan tỏa khắp tâm can và tràn ngập toàn thân. Đứng yên tại chỗ, vị ấy nhắm mắt lại và tuần tự suy xét các ân đức Phật như **Ứng Cúng (Arahaṃ)**...

## PAGE 447

“**Ứng Cúng (Arahaṃ)** = Bậc đã hoàn toàn đoạn tận mọi phiền não ô nhiễm như tham, sân, si cho đến cả tập khí (vāsanā) không còn dư sót, xứng đáng được tất cả nhân, thiên, phạm thiên và chúng sanh đồng hướng về đảnh lễ cúng dường, là đức Thế Tôn tối thượng……”

Sau khi nhiếp tâm suy niệm một lúc lâu, vị ấy quan sát bốn phương nam bắc của sân tháp thì trông thấy một cảnh tượng chẳng mấy hài lòng làm cho đề mục quán chiếu bị giảm sút. Nguyên do là có một con khỉ rừng lớn màu xám mang những miếng phân bò khô đến chà xát và rải rác khắp sân tháp. Vì phải thu dọn và làm sạch những miếng phân bò khô đó nên định lực bị giảm sút. Phía sau vừa quét xong thì phía trước lại bị bày bừa, công việc cứ thế dồn thêm và một ngày trôi qua.

Ngày hôm sau, sau khi quét dọn xong, trong lúc đang an trú trong niềm phỉ lạc của đề mục Niệm Phật, lại có một con bò già đi đến phóng uế làm bẩn sân bảo tháp, vị ấy lại phải lau dọn lần nữa. Dù đã có đầy đủ Giới và Định để có thể chứng đắc quả A-la-hán, nhưng vì sự quấy nhiễu cứ xen vào nên lại mất thêm một ngày nữa.

Tuy vậy, vị Trưởng lão vẫn chưa nhận ra đó là sự phá hoại của Ma vương (Māra).

Đến ngày thứ ba, khi đã quét dọn xong bãi cát phẳng phiu, trong lúc đang an trú vào đề mục Phật bảo như trước, vị ấy thấy một người đàn ông có đôi chân vòng kiềng, vẹo vọ đi ngang qua sân tháp. Đôi chân ấy kéo lê trên cát làm cho mặt sân vốn phẳng phiu trở nên nhấp nhô, hằn dấu, trông rất khó coi.

“Trong ngôi làng nơi ta thường khất thực (gocara-gāma) trong vòng một do-tuần xung quanh đây, không có ai có hình hài xấu xí, đáng kinh tởm như thế này cả. Có lẽ là Ma vương chăng?” Nghĩ vậy, Trưởng lão nảy sinh nghi ngờ nên hỏi rằng: “Ngươi chính là Ma vương phải không?”

Kẻ ấy bèn thú nhận: “Thưa vâng, con chính là Ma vương. Giờ đây con không còn lừa gạt Ngài được nữa rồi.”

## PAGE 448

**Đại đức** (do đang thực hành **đề mục niệm Phật** và muốn biết rõ về **Đức Phật**) đã hỏi **Ma vương**:

“Ngươi đã từng diện kiến Đức Thế Tôn chưa?” Khi Ma vương thừa nhận đã từng gặp, Đại đức khẩn cầu: “Ma vương vốn có đại thần lực. Xin hãy biến hóa ra một hình tướng giống hệt Đức Thế Tôn cho bần đạo xem thử.”

**Ma vương** thưa: “Bạch Ngài, con không thể biến hóa giống hệt Đức Thế Tôn được. Tuy nhiên, con sẽ biến hóa sao cho tương đối giống để Ngài xem.” Nói rồi, Ma vương liền biến thành hình tướng Đức Phật hiện ra trước mặt. Khi nhìn vào hình ảnh đó, Đại đức suy nghĩ:

“Ôi! Ngay cả **Ma vương** vốn còn đầy **tham, sân, si** mà hình tướng biến hóa ra còn trang nghiêm, đẹp đẽ đến thế này; huống hồ là Đức Thế Tôn, bậc vĩnh viễn không còn **tham, sân, si**, thì Ngài còn trang nghiêm, hảo tướng đến dường nào!” Nghĩ vậy, lòng tịnh tín đối với Đức Phật trong Ngài càng tăng trưởng mãnh liệt.

Ngài bắt đầu quán xét về ân đức **Ứng Cúng** (Arahaṃ), khiến hỷ lạc dâng trào liên tục. Sau khi đạt được hỷ lạc, Ngài tiếp tục quán chiếu về ba đặc tính vô thường, khổ, vô ngã (Tam tướng), và ngay tại chỗ đó, Ngài đã chứng đắc quả vị **A-la-hán**.

**Ma vương** đến với ý định lừa gạt nhưng chẳng những không lừa được mà còn phải làm theo lời sai bảo, lại còn vô tình giúp vị Tỳ-kheo đắc quả **A-la-hán**, không rõ hắn có hối hận hay không mà lại than vãn:

“Bạch Ngài, Ngài đã đánh lừa con rồi! Con đã bị Ngài lừa rồi!” Đại đức đáp lại: “Này Ma vương già kia, ta lừa ngươi thì có ích lợi gì cho ta đâu?” (Trong chú giải **Sārasaṅgaha** có chép: “Việc lừa ngươi không có gì là gánh nặng”, cách diễn đạt này có vẻ không phù hợp lắm).

Đây chính là minh chứng cho việc người quét dọn với tâm tịnh tín sẽ có được sự an lạc, từ đó có thể tiến tu đến quả vị **A-la-hán**. (Các quyết định và chi tiết về cách tu tập **đề mục niệm Phật** đã được viết rõ trong quyển sách “Ân Đức Tam Bảo”).

## PAGE 449

### Đại đức Datta và đề mục Kasina trắng

Cũng trong chú giải đó kể tiếp: “**Đại đức Datta** trú tại chùa Lokantara, sau khi quét dọn sân bảo tháp xong, tâm ngài trở nên thanh tịnh. Ngài chăm chú nhìn vào bãi cát trắng mịn, nhập vào **Kasina trắng** (O dāta). Ngài chứng đắc tám bậc **thiền định**, từ đó tiến tu **tuệ quán** và chứng đắc quả vị **Bất Lai**.”

### Nơi quét dọn và Túc Mạng Minh

Không chỉ người quét dọn đạt được pháp cao thượng, mà cả những người nhìn thấy cảnh trí sạch đẹp cũng sinh tâm hoan hỷ và đắc pháp. Các sự kiện thời Srilanka sau đây là minh chứng:

“Một vị sư trẻ tên **Tissa**, sau khi quét dọn sân bảo tháp **Jambukola**, ngài cầm giỏ rác đứng lại một lát. Lúc đó, **Đại đức Tidatta** từ bến tàu đi lên để chiêm bái bảo tháp. Nhìn thấy sân bảo tháp bằng phẳng, sạch bóng, ngài suy xét: ‘Đây hẳn là nơi được quét dọn bởi người đang thực hành **pháp hành thiền**’. Ngài liền đặt ra một ngàn câu hỏi về pháp học để thử thách và khuyến khích vị sư trẻ. Vị sư trẻ trả lời trôi chảy mọi câu hỏi. Đó chính là vị tu sĩ đã đắc pháp trong lúc quét dọn.

Tại một ngôi chùa khác, có một vị Đại đức thường xuyên quét dọn sân bảo tháp. Mỗi sáng, có bốn vị trưởng lão từ phương xa đến chiêm bái. Ngay từ cổng vào, các vị nhìn thấy sân bảo tháp sạch sẽ, trang nghiêm nên lòng tràn đầy hỷ lạc. Các vị dừng lại ở cửa để nghỉ ngơi và nhiếp tâm quán chiếu, ngay tại đó, các vị đã chứng đắc **Túc Mạng Minh**, nhớ lại được nhiều đời sống quá khứ.

Trong bốn vị đó, có vị nhớ được 8 kiếp, vị 16 kiếp, vị 20 kiếp và có vị nhớ được đến 30 kiếp trái đất.”

## PAGE 450

Tiếp nối câu chuyện đó là việc “Chư thiên hoan hỷ khi thấy cảnh quét dọn”. Một vị Tỳ-kheo quét dọn sân bảo tháp và sân cội Bồ-đề đã được các vị **Chư thiên** hiện thân đến đảnh lễ và dâng hoa: “Từ khi ngôi chùa này được xây dựng đến nay, giờ chúng con mới thấy được một người quét dọn tinh tấn như Ngài, vì quá đỗi vui mừng nên chúng con đến dâng hoa cúng dường.”

### Cuộc thi sắc đẹp giữa vị Tỳ-kheo và công tử

Liên quan đến quả báu của việc quét dọn, có một câu chuyện thú vị thời Srilanka đáng ghi nhớ như sau:

Có vị sư trẻ tên là **Abhaya** có tướng mạo rất trang nghiêm. Con trai của một vị đại thần cũng rất khôi ngô tuấn tú. Người dân tranh cãi xem giữa vị sư và vị công tử ai đẹp hơn, cuối cùng họ sắp xếp một buổi gặp mặt để phân định. (Chú giải Tăng Chi Bộ chép đó là trưởng lão **Mahāgatimpiya Abhaya** và vị công tử giữ kho).

Buổi gặp được tổ chức tại sân Đại Bảo Tháp (Mahācetiya). Thân nhân của vị công tử cho anh ta ăn mặc lộng lẫy nhất rồi đi lên từ lối phía Đông. Trong khi đó, mẫu thân của Đại đức Abhaya cũng đã may một bộ y thật đẹp gửi đến cho con mình.

Bà nhắn rằng: “Con trai, ngày mai hãy cạo tóc cho thật sạch xanh, đắp bộ y này rồi cùng chư Tăng đến chiêm bái Đại Bảo Tháp.”

Khi Đại đức cùng chư Tăng đi lên từ lối phía Nam và gặp vị công tử tại sân bảo tháp, ngài liền nói đùa:

“Này cư sĩ trẻ, khi xưa chính tay ngươi là người hốt rác mà vị trưởng lão này đã quét, vậy mà nay ngươi lại tính chuyện so đo sắc đẹp với ta, thiệt là lạ thay!”

Tương truyền ở kiếp trước, tại một bảo tháp ở làng nọ, vị trưởng lão quét dọn còn vị cư sĩ đi theo hốt rác. Nhờ phước báu đó mà kiếp này cả hai đều có sắc diện phi thường.

## PAGE 451

### Ngài Sāriputta khi lỡ quên quét dọn

Bậc sùng giải (Aṭṭhakathā) đã nêu rõ năm lợi ích của việc quét dọn. Trong đó, các câu chuyện minh chứng về việc được sanh lên cõi trời đã được trình bày hiển nhiên trong bản Pāḷi **Apadāna** cùng các bộ kinh khác, nên ngài không đưa thêm ví dụ ở đây.

Vì mọi đức Phật đều tán dương phận sự quét dọn, nên người quét dọn chính là người đang phụng sự giáo pháp, là người biết vâng lời Phật dạy (**Sattu sāsanaṃ kataṃ hoti**). Các bậc sùng giải đã kết luận điểm này qua câu chuyện của ngài Sāriputta.

Có thời nọ, đại trưởng lão Sāriputta đi đến vùng **Himavantā** (Hy-mã-lạp sơn) một mình. Ngài vào trú trong một hang động và nhập **Nirodha-samāpatti** (Thiền Diệt Thọ Tưởng) mà không quét dọn hay dọn dẹp nơi ấy. Đức Thế Tôn biết rõ sự việc, ngài đã du hành bằng thần lực trên không trung, đi đến ngay trước chỗ hành thiền của trưởng lão — nơi đầy bụi bặm chưa được quét dọn — rồi ấn dấu chân xuống đó làm dấu trước khi trở về.

Khi vị trưởng lão xả thiền, nhìn thấy dấu chân của đức Thế Tôn, ngài cảm thấy vô cùng xấu hổ và e ngại. Ngài quỳ xuống đảnh lễ và tự nghĩ: "Đức Thế Tôn đã biết ta ở đây mà không chịu dọn dẹp, tẩy tịnh trú xứ rồi. Ta phải đi đến giữa đại chúng Tăng để tự mình thú nhận mới được." Nghĩ vậy, ngài liền đi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ rồi ngồi xuống.

Đức Thế Tôn phán rằng: "Này con, con đã đi đâu vậy? Con là người cùng đi lại, cùng trú ngụ không khác gì Như Lai, vậy mà con lại ở nơi không quét dọn là điều không nên." Từ đó về sau, trưởng lão Sāriputta ngay cả khi đang đắp y, trong khoảnh khắc đứng lại để chỉnh nút thắt mép y, ngài cũng thường dùng chân gạt bỏ rác rưởi, dọn sạch chỗ đứng rồi mới dừng lại. (**Parivāra-aṭṭhakathā**-174-6.)

#### Điều hành giả cần lưu ý

Trong mười pháp **Appanā-kosalla** (Sự khéo léo trong an chỉ định - các yếu tố giúp pháp hành tiến triển) được nêu trong **Visuddhimagga Aṭṭhakathā** (Thanh Tịnh Đạo sùng giải), có một yếu tố là "**Vavatthida** = Sự sạch sẽ bên trong và bên ngoài". Điều này có nghĩa là hành giả phải giữ cho móng tay, móng chân, quần áo, trú xứ, tịnh xá và khuôn viên chùa luôn được sạch sẽ, tẩy tịnh. Khi môi trường xung quanh thanh khiết thì tâm trí cũng trở nên trong sáng, tịnh tín, và đó là một trong những nguyên nhân giúp giáo pháp được tăng trưởng.

## PAGE 452

### Lời dạy của Thiền sư Webu

Vào kỳ nghỉ lễ Songkran năm 1337 (Miến lịch), người viết (tác giả) đã có dịp tu tập dưới bóng mát từ tâm của bậc ân nhân — đại trưởng lão thiền sư **Webu** — tại thiền viện **Kammathāna** cây Ingyin, phía bắc thành phố Shwebo.

Dù tuổi cao sức yếu, chúng tôi vẫn thường xuyên được thấy ngài hàng ngày thực hiện phận sự quét dọn (tăng thượng oai nghi). Mọi hành giả cũng đều phải thực hiện các phận sự **Caraṇa** (Hạnh đức), tức là các công việc phục vụ và dọn dẹp nơi trú xứ hàng ngày. Phải làm như vậy ngài mới hài lòng.

Vì câu chuyện này có liên quan đến đại trưởng lão **Phussadeva** đã nêu bên trên, và cũng để trình bày lời dạy của ngài thiền sư Webu, tôi xin phép kể lại một trải nghiệm thực tế kỳ lạ (dù đúng hay sai cũng xin được chia sẻ).

Một ngày nọ, sau khi dùng ngọ xong, các hành giả mỗi người tự chọn cho mình một chỗ thích hợp để hành thiền. Riêng người viết đã chọn ngôi nhà **Gandhakuṭi** (Hương Thất) mới xây, phía trước bảo tháp **Tiloka Sabbaññū**. Nơi đó không có ai khác đến. Đó là nơi ngài thiền sư thường dùng trà chiều mỗi ngày, vì mới xây xong nên rất sạch sẽ và thanh tịnh. Đó là một giảng đường bằng gạch rộng lớn và thoáng đãng.

Khi vào đến bên trong hiên Hương Thất, vì tâm chỉ muốn hành thiền ngay, tôi hướng mặt về phía tây nơi có tôn trí tượng Phật, chọn một chỗ sạch sẽ nhất ở giữa bên hông Hương Thất, kiết già ngồi xuống và bắt đầu ghi nhận đề mục. Trước khi thiết lập **Parikamma** (sơ tướng) hay tu tập **Mettā** (tâm từ), tôi thậm chí còn chưa kịp đảnh lễ đức Phật.

Ngồi thiền được khoảng 10 phút, thì một mùi phân nồng nặc xộc vào mũi. Tôi mở mắt đứng dậy tìm kiếm thì thấy trên nền nhà, cách lưng tôi khoảng 5 bộ, có một đống phân người đã hơi khô. Tôi bèn dọn dẹp sạch sẽ rồi quay về chỗ cũ ngồi tiếp. Lại được khoảng 15 phút, mùi phân vẫn không hết mà còn xộc vào mạnh hơn. Tôi cúi xuống ngửi lại chỗ vừa dọn khi nãy nhưng vì nó khô nên không còn mùi, nền nhà cũng không hề bị bẩn. Khi vừa định ngồi lại chỗ cũ, tôi lại phát hiện ngay phía trước mặt mình khoảng 5 bộ có một đống phân lớn khác. Tôi lại phải đứng dậy dọn dẹp lần nữa.

Trong lúc bận rộn với các công việc phục vụ như vậy, tôi thấy mình đã đánh mất sự ghi nhận pháp hành.

"Nơi đây không có bóng người qua lại, ta cũng đã chọn kỹ mới ngồi. Vừa thấy đống phân phía sau, giờ lại thấy đống phân phía trước. Chẳng lẽ có người vào phóng uế trong Hương Thất sao?" Tôi không hề suy xét hay phân tích gì như vậy. Hễ ngồi xuống là tôi chỉ tập trung ghi nhận pháp. Sau này khi nghĩ lại, tôi thấy có rất nhiều điều đáng để suy ngẫm. Có lẽ mọi chuyện không đơn giản như tôi tưởng.

Điều đáng kinh ngạc hơn nữa là vào buổi chiều mỗi ngày, khi các vị Tăng hành giả và cư sĩ hành giả tụ họp để dâng nước giải khát (nước thốt nốt) lên ngài thiền sư, ngài thường giảng một bài **Ovāda** (giáo giới) ngắn như thường lệ.

Chính lúc đó, tôi mới thực sự sững sờ kinh ngạc.

"Thế nào các vị, các ông Tỳ-kheo, các ông thiện nam, các vị có giữ được sự ghi nhận liên tục không?

## PAGE 454

(Mỗi ngày có 24 giờ, liệu có thể ghi nhận liên tục suốt 24 giờ không ngừng nghỉ, để sự ghi nhận trước nối tiếp sự ghi nhận sau một cách liên tục hay không? Đây là câu hỏi thường hay thảo luận hàng ngày.)

Khi nghe kể về chuyện của Ngài Trưởng lão Phussadeva, tôi cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Thú thật, ngay từ lúc mới đến, nhìn thấy các hành giả làm nhiều việc phục vụ cho Thiền sư, tôi cảm thấy không hài lòng. Tôi cứ ngỡ rằng như vậy là làm hỏng thời gian tu tập. Bản thân tôi khi làm các việc phục vụ giống như mọi người, cũng thường để tâm sơ hở, thiếu sự ghi nhận.

Chỉ đến khi được nghe pháp thoại, tôi mới hiểu rằng không thể tách biệt giữa công việc và việc hành thiền. Tôi cảm thấy thỏa mãn khi biết rằng có thể hoàn thành cả hai việc cùng một lúc. Tuy nhiên, khi hồi tưởng lại chuyện hai lần đi dọn phân và chuyện về Ngài Trưởng lão Phussadeva, tâm trí tôi vẫn chưa thông suốt. Đó là thủ đoạn của Ma vương, hay là sự tác động của một bậc có thần thông nào đó? Trong tâm khảm, tôi chỉ luôn hiện ra gương mặt của Thiền sư.

### Khi việc tu hành là tối quan trọng, hãy tạm dừng các việc phục vụ

Khi tìm thấy những câu chuyện cho thấy hành giả vẫn có thể đắc chứng pháp cao thượng ngay khi đang thực hiện các việc phục vụ nếu biết duy trì sự ghi nhận và tỉnh giác, tôi càng thêm tâm đắc với lời giáo huấn của Thiền sư hộ trì. Tuy nhiên, vẫn cần phải có một ngoại trừ. Việc ghi nhận và tỉnh giác mới là điều cốt yếu, chứ không phải công việc. Nếu việc tu hành trở nên tối quan trọng, bất kể ngày hay đêm, hành giả có thể tạm dừng các công việc phục vụ. Để làm sáng tỏ điều này...

**“Yo pana accāraddha vipassako ‘ajja vā, suve vā’ti paṭivedhaṃ patthayamāno vicarati, tena upajjhāya vattādīnipi hāpetvā attano kicca-meva kātabbaṃ.”**

(Trích Chú giải Pháp Cú – Tập 2, trang 103 – Chuyện về Trưởng lão Attadattha)

Ý nghĩa của đoạn Pāḷi này là: Theo giới luật, nếu không thực hiện các bổn phận đối với thầy Tế độ hoặc các bậc trưởng thượng thì sẽ phạm tội Tác ác (Dukkaṭa). Điều này làm hỏng giới hạnh, có thể gây chướng ngại cho việc sanh thiên (sagga-antarāya) và chướng ngại Thánh đạo (magga-antarāya). Tuy nhiên, nếu một vị đang nỗ lực tinh tấn mãnh liệt với hy vọng đắc chứng pháp cao thượng ngay trong ngày hôm nay hoặc ngày mai, thì (sau khi đã xin phép thầy) vị đó có thể tạm gác các bổn phận ấy lại để tập trung hoàn toàn vào việc hành thiền. Khi đó vị ấy không phạm tội. (Đối với các hành giả cư sĩ vốn không có quy định giới luật đặc thù này thì lại càng không phải bàn, họ càng nên tận dụng để ghi nhận nhiều hơn nữa.)

## PAGE 455

Một điều cần lưu ý thêm cho các hành giả Tỳ-kheo là việc lơ là bổn phận với thầy tuy không đến mức vi phạm giới luật nghiêm trọng, nhưng những gánh nặng trách nhiệm nặng nề hơn như xây chùa, dựng tháp, quản lý tu sửa và các việc Tăng sự khác, nếu vị ấy xem việc tu hành là quan trọng nhất thì cũng có thể không làm. Nếu có quy định của luật thì chỉ cần xin phép là đủ.

Việc một số vị Tỳ-kheo coi chuyện xây tháp, dựng chùa là việc đại sự của giáo pháp, rồi bày vẽ điều động thí chủ một cách không phù hợp, mà không chú trọng đến việc xây dựng và tu bổ tòa tháp Giới (Sīla-cetiya), tháp Định (Samādhi-cetiya), tháp Tuệ (Paññā-cetiya) trong chính thâm tâm mình, lại chỉ tìm cách để nhận được nhiều lợi lộc, thì những việc đó hoàn toàn khác biệt với mục tiêu Giới - Định - Tuệ mà chúng ta đang đề cập ở đây.

## Mười đạo quân Ma vương theo chú giải của Ngài Đại sư Ledi Sayadaw

[Những bài kệ trình bày dưới đây trích từ kinh **“Padhāna”** trong bộ **Suttanipāta**, được đức Thế Tôn thuyết giảng. Vào ngày rằm tháng Tư âm lịch (vào hạ) năm 1253, Ngài Đại sư Ledi Sayadaw đã chuyển ngữ sang tiếng Myanmar.

Nội dung này phù hợp với **Chú giải Suttanipāta**, **Chú giải Tăng Chi (Tập 1)** trang 79, và các bản **Sārattha-ṭīkā (Mahāvagga Bodhikathā)**, kính mời quý vị kiên nhẫn đọc kỹ. Đối với những hành giả có khả năng, xin hãy học thuộc lòng các bài kệ cốt lõi được trích từ bản nitsaya của kinh Padhāna này. Bản kinh này ghi lại toàn bộ những lời đức Thế Tôn đã nói với Ma vương kể từ khi Ngài thực hành khổ hạnh cho đến sau khi chiến thắng dưới cội Bồ-đề.]

Dục lạc u tối, trăm đường lánh, đói khát mệt mỏi chán chường

Kệ:

**Kāmā te pathamā senā, dutiyā arati vuccati.**
**Tatiyā khuppipāsā te, catutthā tandī vuccati.**

(1) **Pāpimant** – Hỡi quân Ma vương tội lỗi, **Kāma** (dục lạc) bao gồm đời sống nhân loại, thiên giới, phạm thiên; sự giàu sang phú quý của người, trời, phạm thiên được gọi là **“Vật dục” (Vatthu-kāma)**.

## PAGE 456

Tâm tham ái say đắm trong các cõi sống và sự hưởng thụ đó gọi là **“Phiền não dục” (Kilesa-kāma)**. Hai loại dục thấp hèn này chính là **Đạo quân thứ nhất** của ngươi.

(2) **Arati** – Sự không hân hoan trong đời sống xuất gia, không hoan hỷ trong việc học Pháp (Pariyatti) và thực hành Pháp (Paṭipatti), không thích thú nơi trú xứ vắng vẻ trong rừng sâu núi thẳm, không thỏa mãn trong việc tu tập thiền Định (Samatha) hay thiền Quán (Vipassanā). Tập hợp các trạng thái chán chường, nguội lạnh đó được gọi là **Đạo quân thứ hai** của ngươi. (Trạng thái này giống như người ngóng cổ chờ đợi, uể oải, lười biếng và ngán ngẩm.)

(3) **Khuppipāsā** – Khi thực hành các hạnh đầu đà (dhutaṅga) và pháp hành (paṭipatti) quá khắc nghiệt, giống như con bò khát nước, không được ăn uống đầy đủ, chỉ dùng những vật thực trộn lẫn (missaka-bhatta) nhận được tùy duyên; khi đó sự đói khát cồn cào phát sanh khiến tâm dao động như con trùn gặp muối, tâm và các căn đều suy sụp, những tầm tứ (vitakka) thiêu đốt và lòng ham muốn vật thực trỗi dậy mãnh liệt. Sự đói khát này chính là **Đạo quân thứ ba** của ngươi.

(4) **Tandī** – Khi bụng đói cồn cào, cơ thể suy kiệt, tâm trí và thân thể đều rã rời, sức lực tiêu tan, ý chí thối lui. Hành giả không muốn tiếp cận bất kỳ công việc nào, chỉ thấy lòng nặng nề, lười biếng xâm chiếm, tinh thần không còn tươi tỉnh và mọi nguồn lực đều cạn kiệt. Trạng thái dã dượi này được gọi là **Đạo quân thứ tư** của ngươi.

Mê mờ sợ hãi, lưỡng lự sai, ngạo mạn chê bai khinh rẻ

1.

**Pañcamaṃ thīnamiddhaṃ te, chaṭṭhā bhīrū pavuccati.**
**Sattamī vicikicchā te, makkho thambo te aṭṭhamo.**

(5) **Thīnamiddhaṃ** (Hôn trầm thụy miên) – Khi công việc không tiến triển, sự lười biếng len lỏi vào, tâm trạng ủ rũ héo úa, tinh thần cạn kiệt dẫn đến ngáp ngắn ngáp dài, mơ màng mông lung. Trạng thái này khiến hành giả chỉ muốn nằm trong cốc tự viện, lăn qua lộn lại, chìm sâu vào giấc ngủ. Đây chính là **Đạo quân thứ năm** của ngươi.

## PAGE 457

(6) **Bhīrū** = Với tâm lười biếng, ngủ nhiều, không tiến bộ trong pháp, tâm không dũng mãnh, đầy rẫy ái dục, tâm hèn yếu, thì dù đi bên trái hay bên phải, đều suy nghĩ lung tung về những điều vụn vặt và trở nên hỗn loạn; thậm chí khi thấy gốc cây cũng run rẩy, hoảng sợ vì cho rằng đó là voi, hổ hay quỷ dạ xoa. Những pháp **Bhīrū** (Kinh sợ) ấy được gọi là **Tân binh đoàn thứ sáu** của ngươi, này Ma vương.

(7) **Vicikicchā** = Dù có thực hành hành trì, dũng mãnh, không sợ hãi, nỗ lực tu tập pháp hành, nhưng trên con đường thiền định (jhāna) và đạo lộ (magga), mục tiêu vẫn mờ mịt và chìm đắm; cứ phân vân do dự không biết công việc và dự định của mình có thực sự đi đúng lộ trình hay không, chính những pháp **Vicikicchā** (Hoài nghi) gây trở ngại và ngăn cản làm hỏng việc ấy là **Binh đoàn thứ bảy** của ngươi, này Ma vương.

(8) **Makkho Thambho** = Khi đã thoát khỏi sự hoài nghi và lưỡng lự, nỗ lực thực hành ngày đêm, khi các dấu hiệu (nimitta) của pháp hành hiện rõ, trí tuệ phát triển rạng rỡ, nhưng lại sinh ra tâm xem thường người khác, chà đạp danh tiếng của người, đối với những bậc cao tuổi hạ hay bậc trưởng lão có giới đức hơn mình mà lại không biết cung kính nhún nhường, trái lại còn mạn ngã kiêu căng; tập hợp những pháp **Makkha-Thambha** (Phủ nhận ân đức và Cứng cổ/Mạn ngã) ấy là **Binh đoàn thứ tám** của ngươi, này Ma vương.

Lợi dưỡng, danh vọng, sự cung kính có được, cùng với sự tà mỵ và tự cao hạ thấp người: **Lābhō silōkō sakkārō, micchālābhō ca yō yasō, yō cāttānaṃ samukkkaṃsē, parē ca avajānāti.**

(9) (Khi đó, nhờ sự đặc biệt nổi trội, khi đạt được những bước tiến đáng kể trong con đường tu học:) **Lābhō ca** = Sự tham ái và mạn ngã khởi lên khi có nhiều lợi dưỡng và phẩm vật cúng dường. **Silōkō ca** = Sự tham ái và mạn ngã khởi lên khi danh tiếng lừng lẫy khắp bốn phương. **Sakkārō ca** = Sự tham ái và mạn ngã khởi lên khi nhận được những lợi dưỡng đặc biệt, tối thượng mà người khác chưa từng có được.

## PAGE 458

**Micchā-lābhō** = Để có được lợi dưỡng ngày càng nhiều hơn, vị ấy phô diễn những pháp giả tạo, đồng hành với lòng ham muốn xấu xa (pāpiccha-taṇhā), thực hiện những điều sai trái để đạt được lợi lộc. (**Pāpiccha** = Ý muốn xấu xa.) **Yō yasō ca** = Sự tham ái và mạn ngã khởi lên trong sự tùy tùng và tiếng tăm ấy là **Binh đoàn thứ chín** của ngươi, này Ma vương.

"Chỉ có ta là thấy biết", khinh thường người khác, sự tâng bốc mình và hạ thấp người của Ma vương:

(10) **Attānaṃ yō samukkaṃsē** = Sự tự tán dương, đề cao bản thân. **Parē yō avajānāti** = Sự khinh khi, coi thường người khác. Hai điều này là **Binh đoàn thứ mười** của ngươi, này Ma vương.

Hầu như không ai tiến đến được đến Binh đoàn thứ bảy.

(Để làm sáng tỏ ý nghĩa, ta chuyển đổi cách thuyết giảng từ nhân cách hóa sang pháp học như sau: Đối với các vị Tỳ-kheo, tất cả những thứ như y áo, bát, các vật dụng, nơi ở, tự viện, khu vườn, giường chõng, đồ trải, những thứ có thể làm khởi sinh sự ưa thích do ái dục, tất cả đều là tập hợp của các vật dụng dục lạc đối với Tỳ-kheo.

Dù biết rằng **Sự xuất hiện của Đức Phật là khó gặp (Buddhuppāda dullabha)**, **Sự xuất hiện của bậc xuất gia là khó gặp (Pabbajita dullabha)**, nhưng vì không thể từ bỏ những sự hưởng thụ của thế gian, nên nhiều người vẫn kết thúc cuộc đời trong vị thế phàm phu giữa những dục lạc thế tục.

Dù khi thọ giới đã từng được nghe về **Trú xứ gốc cây (Rukkhamūla)**, **Y phấn tảo (Paṃsukūla)**, **Vật thực khất thực (Piṇḍiyālopa)**, **Nước tiểu làm thuốc (Pūtimutta)**, nhưng vì không thể từ bỏ những nơi ở, y phục, thức ăn và thuốc men do hàng gia chủ cúng dường, nên nhiều vị Tỳ-kheo vẫn qua đời trong vị thế phàm phu giữa những dục lạc dành cho bậc xuất gia.

Những người này — cả cư sĩ lẫn Tỳ-kheo — đều do dính mắc vào Binh đoàn thứ nhất là Dục lạc (Kāma) của Ma vương mà phải chịu cái chết không tốt đẹp.

Một số vị Tỳ-kheo đã thoát ra được khỏi Binh đoàn thứ nhất, vào rừng sống đời viễn ly tu tập pháp hành. Nhưng tại đó, họ lại bị bao vây bởi năm binh đoàn tiếp theo là **Arati** (Sự chán nản), **Uppipāsā** (Sự đói khát),

## PAGE 459

**Tandī** (Sự lười biếng), **Thīnamiddha** (Hôn trầm thụy miên), **Bhīrū** (Kinh sợ). Vì không thể thoát ra được, họ cũng qua đời trong thân phận phàm phu ngay trong vòng vây của các binh đoàn ấy. Thời nay, các vị Tỳ-kheo ở làng (Gāmavāsī) hầu hết bị nhấn chìm trong Binh đoàn thứ nhất. Các vị Tỳ-kheo ở rừng (Araññavāsī) thì bị nhấn chìm trong năm binh đoàn tiếp theo. Ngay cả người có thể tiến đến được Binh đoàn thứ bảy cũng hầu như không còn thấy nữa.)

### Tiếng gầm vang từ chiến trường Khổ hạnh

Chỉ khi vượt qua mười binh đoàn Ma vương mới xứng danh bậc đại trượng phu:
**Ēsā namuci tē sēnā, kaṇhassa-ābhippahārinī.**
**Na naṃ asūrō jināti, jētvā ca labhatē sukhaṃ.**

**Namuci** = Này Ma vương! Kẻ dùng sức mạnh ép buộc, không cho phép hàng hữu tình thoát khỏi vòng xoáy luân hồi khổ đau (vvaṭṭa-dukkha). **Ēsā** = Tập hợp các pháp như Dục lạc (Kāma), Sự chán nản (Arati), v.v. **Tē sēnā** = Chính là quân đội và binh đoàn rực nhuệ khí của ngươi. **Kaṇhassa** = Của kẻ có tâm tính đen tối, không một chút thiện lương, đầy rẫy tham dục là ngươi, này Ma vương. **Abhippahārinī** = Những vũ khí như súng đạn, đại bác, bom mìn ấy luôn sẵn sàng bắn hạ và tiêu diệt bất cứ vị tu sĩ hay ẩn sĩ nào mà chúng bắt gặp.

**Asūrō** = Những phàm phu thiếu thốn đức tin (saddhā), ý muốn thiện lành (chandha), tinh tấn (viriya) và trí tuệ (ñāṇa), những kẻ nhút nhát và khiếp nhược, không thể nào đẩy lui, đánh bại và thoát khỏi mười binh đoàn hùng mạnh này của ngươi. **Sūrō va** = Chỉ những bậc đại trượng phu có đức tin, ý muốn, tinh tấn và trí tuệ dũng mãnh, sẵn sàng dấn thân hy sinh, mới có năng lực để quét sạch mọi trở ngại như quét sạch cỏ rác, nhanh chóng đẩy lui và đánh bại kẻ thù để đạt đến tự do.

**Jētvā ca** = Chỉ khi đã đẩy lùi và đánh bại được chúng để thoát ra. **Sukhaṃ** = Vị ấy mới có được niềm an lạc cao thượng, thoát khỏi sự đe dọa từ gươm giáo và vũ khí của mười binh đoàn đông đảo kia. **Labhatē** = Có thể đạt được như vậy.

## PAGE 460

**Ta là chiến sĩ cảm tử, nhất định phải thắng**

*Kẻ không chịu làm nô lệ, thà hy sinh tính mạng, quyết lòng chiến đấu.*
**Esa muñca parihare dhīratthu, idha jīvitaṃ.**
**Saṅgāme me mataṃ seyyo, yañca jīve parājito.**

**Esa** = **Eso** = Đức vua Siddhattha (Sĩ-đạt-ta) này. **Muñca** = khi ra chiến trường, một bước không lui, như bậc anh hùng cầm chắc ngọn cờ chiến thắng, lấy hoa cỏ munja (cỏ sắc) trắng cài lên đầu làm biểu tượng cho lòng dũng cảm. **Parihare iti** = như một vị tướng quân cài lông chim trên đầu, biểu thị ý chí quyết tử. **Maṃ** = hãy nhớ lấy ta. (Đây là ám chỉ phong tục thời xưa, những chiến sĩ quyết tử khi ra trận thường cài cỏ munja trắng trên đầu). **Mama** = của ta, kẻ nếu phải lùi bước trên chiến trường, bại trận rồi quay về sống dưới quyền kẻ khác. **Idha** = ở thế gian này. **Jīvitaṃ** = việc sống lâu một cách như thế. **Dhīratthu** = thật là hổ thẹn ê chề, vô ích, hèn nhát, tiếng xấu đồn xa, là điều đáng ghê tởm thay.

**Saṅgāme** = nơi chiến trường, giữa trận tiền. **Mataṃ** = việc hy sinh ngã xuống. **Me** = đối với ta. **Seyyo** = là điều tốt đẹp hơn cả. **Ahaṃ** = ta. **Parājito** = nếu như phải đầu hàng vì thất thế, chịu bại trận. **Jīve** = mà vẫn tiếp tục sống. **Etaṃ** = việc sống sót trong cảnh bại trận, thất thế và hổ thẹn như vậy. **Yakkho** - là điều không cao quý vậy.

**Đừng trông chờ ngày mai, ngay hôm nay, hãy đạt cho được quyết tâm này**

(Qua câu kệ này, Đức Phật cũng hiển thị về tâm đức **Pahitatta** - tâm quyết liệt tinh tấn. Tâm **Pahitatta** đã trình bày trước đây là việc không hề tiếc thương thân thể dù thịt nát xương tan. Còn tâm **Pahitatta** hiển thị trong câu kệ này là: "Nếu công việc hành Pháp (**Kammaṭṭhāna**) hiện tại thành tựu thì tốt. Nếu không thành tựu mà phải chết trong khi đang hành đạo thì vẫn tốt hơn là sống". Đó chính là tâm **Pahitatta** sẵn sàng từ bỏ cả công việc này lẫn thân thể này để đạt đích).

Đối với người đầy đủ tâm quyết liệt **Pahitatta** như thế, họ không còn tâm lưỡng lự rằng: "Nếu kiếp này thành tựu thì tốt, còn nếu không kết quả, nếu không thông suốt, nếu không đạt đến, nếu không vững vàng...".

## PAGE 461

Bất cứ ai đang nỗ lực hành trì **Thiền định (Jhāna)**, **Thánh Đạo (Magga)**, **Thánh Quả (Phala)**, nếu không có tâm lưỡng lự, mà chỉ có tâm **Pahitatta** – sẵn sàng đánh đổi cả mạng sống cho công việc này trong kiếp này – thì mới có khả năng đạt đến, chứng đắc và thành tựu.

[Đây là phần dịch giải (Nissaya) và văn xuôi tiếng Miến của Cố Đại Trưởng lão Ledi Sayadaw].

## Những mưu chước của Ma Vương cần ghi nhớ

*Kể từ Đức Phật trở đi, có rất nhiều vị đã giành được chiến thắng.*

Trong chúng sinh, lòng ham muốn, sự không hoan hỷ trong Pháp, sự lười biếng, hôn trầm thụy miên, v.v. là những gia tài thừa kế đi kèm theo vòng luân hồi (saṃsāra). Không chỉ là những ham muốn hay buồn ngủ thông thường thuộc về bản năng tự nhiên, mà nếu chú ý kỹ ở đây sẽ thấy có những loại ham muốn đặc biệt, những sự lôi kéo đầy ẩn ý, hay đôi khi dù đã ngủ đủ giấc nhưng vẫn bị cơn buồn ngủ không thể cưỡng lại tấn công. Những trạng thái tâm lý khác cũng tương tự, luôn có hai loại: loại bình thường và loại bất thường (do ma vương tác động).

Dù là bình thường hay bất thường, ta cũng phải nỗ lực vượt qua. Ngoài ra, ma vương còn dàn dựng nhiều mưu kế như làm cho lợi lộc phát sinh, hoặc gây ra tai ương, khiến người khác hiểu lầm về mình. Chúng tìm cách khuấy động mối quan hệ giữa hành giả và môi trường xung quanh. (Vấn đề này đã được viết chi tiết trong cuốn "Các bậc A-la-hán và những nhân vật đặc biệt ở Miến Điện").

Dù chuyện gì xảy ra, ta phải xem xét hình thái và tình huống của cuộc tấn công đó để lựa chọn vũ khí phù hợp: nếu cần dùng vũ khí **Mettā** (Tâm từ) thì dùng **Mettā**, nếu cần dùng **Asubha** (Ấn tướng bất tịnh) thì dùng **Asubha**, nếu cần dùng **Anicca** (Vô thường) thì dùng quán Vô thường. Phải biết cân nhắc để sử dụng. Trong đó, **Mettā** nên được sử dụng như một vũ khí chủ lực để phòng vệ. Ma vương không bao giờ có thể thắng được Đức Thế Tôn.

Chư vị Thánh nhân từ thời Đức Phật cũng đều phải đối mặt với cả mười đạo quân ma ấy. Các Ngài đã sử dụng những vũ khí phù hợp để giành chiến thắng. Các Ngài đạt đến đích đến không phải một cách dễ dàng. Do đó, nếu chúng ta nghiên cứu cách làm và phương pháp dàn trận của các bậc tiền bối, đó sẽ là sự hỗ trợ đắc lực (viện binh) giúp ta chiến thắng dễ dàng hơn.

## PAGE 462

## Trưởng lão Maha Tissa bay lên không trung nhờ tịnh tín hỷ lạc khi niệm Phật

Trưởng lão **Maha Tissa** trú ngụ tại chùa **Puṇṇavallika**, vào một đêm trăng rằm, ngài đi đến sân bảo tháp trong chùa và thong thả ngắm nhìn ánh trăng dịu hiền.

Ngài hướng mặt về phía có ngôi **Đại Bảo Tháp (Mahācetiya)** và trong lòng khởi lên những suy nghĩ đầy hoan hỷ dưới ánh trăng:

"Trong thời khắc an lành như thế này, chắc hẳn bốn nhóm đệ tử Phật và đông đảo mọi người đang lễ bái cúng dường tại Đại Bảo Tháp."

Khi đang suy xét và vui mừng như thế, hình ảnh ngôi **Đại Bảo Tháp** mà ngài từng chiêm bái hiện ra rõ mệt trong tâm trí. Từ đó, ngài tiếp tục hướng tâm niệm tưởng đến các Ân Đức Phật như **Arahaṃ** (Ứng Cúng), v.v. Trong tâm vị Trưởng lão khởi lên các loại hỷ lạc (**Pīti**) khác nhau, ngài đắm mình trong sự định tâm ấy.

### Năm loại Hỷ (Pīti)

1. **Khuddakā pīti** — Tiểu hỷ: làm sởn gai ốc.
2. **Khaṇikā pīti** — Sát-na hỷ: cảm giác hân hoan như tia chớp hiện ra mau chóng.
3. **Okkantikā pīti** — Hải triều hỷ: cảm giác hỷ lạc tràn ngập thân thể rồi tan đi như sóng biển vỗ vào bờ.
4. **Ubbegā pīti** — Khinh hỷ: cảm giác nhẹ nhàng làm cơ thể có thể bay bổng lên cao.
5. **Pharaṇā pīti** — Sung mãn hỷ: cảm giác thấm đẫm toàn thân như bóng bơm đầy khí, như hang núi tràn ngập nước.

Trong khi niệm Ân Đức Phật, Trưởng lão **Maha Tissa** lần lượt nếm trải các vị ngọt hỷ lạc, cuối cùng **Ubbegā pīti** (Khinh hỷ) trở nên mạnh mẽ nhất, khiến thân ngài bay vọt lên không trung như một con quay được ném mạnh xuống sàn đá. Sau khi bay lên như thế, ngài tự động hạ xuống sân của ngôi **Đại Bảo Tháp** phương xa vốn đang khắc sâu trong tâm trí mình.

Chỉ khi tới nơi, ngài mới nhận ra rằng mình đã đến.

(**Thanh Tịnh Đạo**-1, 139.)

## PAGE 463

(Tương tự vậy, có một nữ thí chủ đang mang thai cũng từng xảy ra chuyện như thế, điều này đã được trình bày chi tiết.)

**Bốn loại đề mục thiền và ví dụ về lò rèn Niệm Phật thời Sīhaḷa**

Vào thời Sīhaḷa, các vị trưởng lão khi đi bất cứ đâu cũng thường xuyên tác ý đến bốn loại đề mục thiền phổ biến. Đó là **Niệm Phật (Bud-dhānussati)**, **Niệm Tâm Từ (Mettā)**, **Niệm Thể Xác Bất Tịnh (Asubha)**, và **Niệm Sự Chết (Maraṇānussati)**. (Trong **Thanh Tịnh Đạo** chỉ trình bày ba loại sau). Đây được gọi là Sabbatthaka Kammaṭṭhāna — những đề mục thiền nên tu tập trong mọi hoàn cảnh. (**Khuddasikkhā**, **Cūḷavagga Aṭṭhakathā** chương Senāsana và **Dīgha Nikāya Ṭīkā**-1, 296.)

Bảy loại Niệm (Anussati), bắt đầu bằng **Niệm Phật**, không chỉ tốt cho việc tu tập Tuệ quán (Vipassanā) như ba loại: **Niệm Hơi Thở (Ānāpāna)**, **Niệm Sự Chết**, và **Niệm Thân (Kāyagatāsati)**, mà còn rất tốt trong việc làm cho tinh thần phấn chấn và hân hoan. Cách giải thích trong (**Aṅguttara Aṭṭhakathā**-1, 366 — **Ekadhamma Pāḷi**, phẩm thứ nhất) là điều rất đáng ghi nhớ.

Ví dụ: Nếu trong khi quán sát **Bất Tịnh** mà tâm trở nên u ám, thì phải tạm dừng đề mục **Bất Tịnh** đó lại, và thay thế bằng cách tu tập **Niệm Phật**. Khi tâm đã trở nên trong sáng thì hãy tiếp tục tu tập đề mục **Bất Tịnh** như cũ. Trong Chú giải cũng đưa ra ví dụ như sau:

Giống như khi đốn một cái cây lớn để làm nhà, nếu chỉ mới chặt các cành nhánh mà lưỡi rìu đã bị cùn và mẻ, thì không nên nản lòng, mà hãy đi đến lò rèn để mài sắc lại lưỡi rìu, sau đó quay lại đốn cây thì sẽ thực hiện được một cách dễ dàng. Cũng vậy, bảy loại Niệm, bắt đầu từ **Niệm Phật**, giống như công việc của người thợ rèn giúp mài sắc lại lưỡi rìu của tâm.

**Niệm Phật — Nước mía và liều thuốc giải mỏi**

Trong phần giải thích kinh **Bhikkhunupassaya Sutta** của **Mahāvagga Saṃyutta Aṭṭhakathā** (**Saṃyutta Aṭṭhakathā**-3, 239) có đưa ra ví dụ về **Niệm Phật** còn thú vị hơn nữa. Ý nghĩa của ví dụ đó là:

## PAGE 464

Một người phải gánh những bó mía đi quãng đường xa để đem về ép lấy nước, khi thân tâm đã mệt mỏi và rã rời, người đó phải đặt gánh mía xuống để nghỉ ngơi một lát. Vị ấy cũng bẻ lấy một khúc mía đang gánh để nhai và hút lấy nước nhằm giải tỏa cơn mệt nhọc. Nếu vừa nghỉ ngơi vừa hút nước mía như vậy mà tiếp tục gánh đi, thì người đó có thể hoàn thành công việc một cách nhẹ nhàng. Cũng vậy, khi hành thiền mà thân tâm mệt mỏi rã rời, nếu nghỉ ngơi và "hút lấy nước mía" **Niệm Phật**, thì vị ấy có thể đi đến đích một cách an lạc.

**Bậc A-la-hán Tissa ở núi Cittalapabbata — Chứng quả khi đang quản lý chùa chiền**

Cách hướng dẫn pháp và cách đắc pháp của vị đại trưởng lão trú ngụ tại chùa núi Cittalapabbata ở đảo Sīhaḷa cùng vị đệ tử là **Trưởng lão Tissa** là điều rất đáng ghi nhớ.

Đại đức Tissa cho đến khi được tám hạ vẫn luôn nầy nghe lời thầy dạy, chưa từng một lần tranh luận hay phản kháng lại lời thầy, vị ấy là người đầy đủ đức tính **Dễ dạy (Sovacassatā)**. Ngay cả đối với những bạn đồng tu lớn hạ hơn mình dù chỉ một ngày, một giờ hay một phút, vị ấy cũng chưa bao giờ nói lời ngang ngược hay tranh cãi. Tuy nhiên, khi được tám hạ, tâm không hân hoan trong giáo pháp bắt đầu hành hạ vị ấy.

Vị ấy cố gắng xoa dịu tâm tư bằng những công việc phục vụ lặt vặt. Đôi khi vị ấy may, nhuộm, giặt y, nung bát, hay cạo tóc cho những vị khác. Một ngày nọ, sau khi hoàn thành các việc phục vụ, vị ấy đến đảnh lễ vị Thầy tế độ (Upajjhāya). Vị trưởng lão liền hỏi một cách trìu mến:

"Này **Mahā-Tissa** (đây là cách gọi nhằm khích lệ), trông hiền giả có vẻ như không được hân hoan cho lắm?"

"Bạch Ngài, đúng vậy ạ. Con không còn tìm thấy sự an lạc trong giáo pháp. Dù con đã cố đè nén và xua tan tâm lý này nhưng không được, con cảm thấy rất mệt mỏi." Vị ấy thưa. Vị trưởng lão quán xét căn tính và ba-la-mật của đệ tử, thấy được vị ấy có **Y chỉ (Upanissaya)** — nền tảng để có thể chứng đắc quả vị A-la-hán.

## PAGE 465

"Này Tissa, như hiền giả cũng thấy đó, ta đã già rồi. Hiền giả hãy chuẩn bị cho ta một nơi ở thích hợp được không?" Vị trưởng lão phán. Không một chút phản kháng, vị đệ tử liền vâng lời: "Bạch Ngài, vâng ạ."

"Này hiền giả, người làm công việc xây dựng (navakamma) cũng không được bỏ bê việc học và ôn tụng pháp bảo, đồng thời phải luôn giữ vững sự tác ý đến đề mục thiền. Đôi khi cũng cần phải quán sát các loại biến xứ (kasiṇa)." Ngài phán dạy một cách đầy ẩn ý. Dù Đại đức Tissa không hiểu hết thâm ý của thầy, nhưng vì không muốn làm trái lời thầy nên đã thưa:

"Bạch Ngài, vâng ạ. Con sẽ thực hiện đúng như lời Ngài dạy." Nói rồi, vị ấy bắt đầu lên kế hoạch xây dựng một hang động để thầy cư ngụ.

Để đúng với Luật tạng (Vinaya), đôi khi vị ấy nhờ sự giúp đỡ của các Sa-di đi đốn tre, gỗ và củi, nung gạch, cũng như dọn dẹp mặt bằng khu chùa. Vị ấy đã xây dựng một hang động bằng gạch và vữa để có chỗ kinh hành, có không khí trong lành và đầy đủ ánh sáng. Vị ấy làm việc không quản mệt mỏi. Tâm muốn hoàn tục không còn xuất hiện, và cũng không có bất kỳ phiền não hay triền cái (nīvaraṇa) nào có cơ hội phát sinh.

Sau khi xây xong hang động bằng gạch, vị ấy còn chuẩn bị sẵn một chiếc giường nhỏ để vị trưởng lão có thể ở một cách thoải mái và phù hợp. Khi đã hoàn thành như ý muốn, vị ấy hân hoan đến thưa với thầy. Vị trưởng lão liền đi đến xem hang động và phán:

"Ồ... Nơi này thật sự rất tuyệt vời, này hiền giả. Hiền giả đã tốn bao nhiêu công sức để làm nên hang động bằng gạch này. Lành thay, lành thay! Này hiền giả, nhưng hôm nay, hiền giả hãy thử ở lại trong hang động này xem sao."

Đại đức Tissa, người luôn thưa "Bạch Ngài, vâng ạ" trước mọi lời chỉ dạy của thầy, đã theo lời thầy mà ở lại đó một ngày một đêm. Sau khi rửa sạch chân và bước vào hang động, vị ấy ngồi kiết già trên giường và bắt đầu hồi tưởng lại những công đức phục vụ của mình. Những cảm giác mệt mỏi đều tan biến.

"Mình đã thực hiện được một công đức lớn lao khó quên cho vị ân sư của mình." Vị ấy cảm thấy vô cùng hân hoan. Sự phỉ lạc (pīti) phát sinh mạnh mẽ. Theo đúng những gì thầy đã dạy, vị ấy liền xả bỏ sự phỉ lạc đó sang một bên rồi quán chiếu sâu sắc về **Tam Tướng**, ngay tại phút giây đó, vị ấy đã chứng đắc **Quả A-la-hán**.

## PAGE 466

Dù vị ấy có nhận biết hay không, có ưa thích hay không, nhưng chính nhờ việc vâng giữ lời dạy của thầy tổ một cách trọn vẹn, không để rơi rớt xuống đất, mà đức tính **Dễ dạy (Sovacassatā)** đó đã mang lại cho vị ấy sự gặt hái quả phúc cao thượng là **Quả A-la-hán**. Khi ấy, Trưởng lão **Tissa** càng thêm phần tịnh tín và tri ân sâu sắc đối với đức độ của bậc thầy.

## Không phải cứ lo việc xây dựng chùa tháp thì đều tốt đẹp

Ghi chú: Căn cứ vào câu chuyện trong **Chú giải Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Aṭṭhakathā) tập 1, trang 324**, khi điều hành các công việc hộ trì (veyyāvacca) chùa chiền, cần phải chú tâm sao cho vừa không lơi lỏng luật tạng (Vinaya), vừa không đánh mất sự tỉnh giác (**Appamāda**). Nếu không, e rằng sẽ vướng phải lời nguyền rủa như vị Thần cây trong **Bhisajātaka**. Trong bổn sanh đó, Thái tử **Mahākañcana** cùng mười người khác cùng nhau xuất gia làm ẩn sĩ trong rừng. Một ngày nọ, những ngó sen dùng làm thực phẩm bị biến mất, từng vị đã thề rằng mình không hề lấy trộm ngó sen đó. Có vị thề rằng: "Nếu tôi lấy, xin cho tôi được làm trưởng giả giàu có, làm vua, làm đại thần, v.v.". Tuy nhiên, vị Thần cây sống gần hồ sen nơi các vị ẩn sĩ cư ngụ lại thề rằng:

"Nếu tôi là người lấy trộm ngó sen đó, xin cho tôi được làm vị trụ trì cai quản một đại tu viện tại một vùng dân cư thịnh vượng, và trở thành một vị Hòa thượng bận rộn với nhiều công việc **Xây dựng mới (Navakamma)**".

Vị Thần cây thề như vậy là vì ông rất kinh sợ hạng tu sĩ phải dành cả cuộc đời cho những công việc hộ trì chùa tháp mà thiếu đi sự tỉnh giác (**Appamāda**).

Không phải cứ có phước đức lớn, lợi lộc nhiều là tốt. Như câu nói: "Số mệnh phu phen mà tốt thì đôi vai lại càng thêm nhức mỏi".

Dù trong các công việc hộ trì chùa tháp chưa có sự tỉnh giác, nhưng nếu biết điều hành sao cho phù hợp với luật tạng thì vẫn còn là điều tốt. Tuy nhiên, những bậc thầy hay những người hộ tăng biết cách điều hành sao cho mọi việc đều trở nên hợp lẽ (kappiya) thật sự rất hiếm hoi. Có câu ngạn ngữ của chư Tăng về việc xây dựng mới (**Navakamma**) rằng: "Tội của chú tiểu trong chùa đi xem kịch vẫn chưa lớn bằng tội của một vị Thầy cả đi xây dựng chùa tháp mà không đúng pháp".

Ở ngôi chùa mà các vị Tỳ-kheo không am tường luật tạng, điều hành một cách phi pháp (akappiya), thì các bậc thiện hữu Tỳ-kheo không nên ở lại, nếu ở sẽ phạm tội. Tháp Sīhaphala (Cetiya) kiểu đó cũng không nên đảnh lễ, thậm chí

## PAGE 467

đến bóng cây do hạng Tỳ-kheo đó trồng cũng không nên nương tựa. Ngay cả những ngôi chùa, tháp đã có được một cách hợp pháp trong Giáo pháp, nếu những vị thầy và người hộ tăng không am tường giới luật mà lại đứng ra trùng tu, kiến thiết thì cũng dễ trở thành những điều phi pháp.

Bậc ân sư, Ngài Hòa thượng **Mahāsi** tôn kính, khi đảm đương trọng trách trông nom chùa chiền, Ngài luôn thực hiện để tròn đủ trách nhiệm đối với luật tạng. Vì các nhiệm vụ về Pháp học (**Pariyatti**) và Pháp hành (**Paṭipatti**) vô cùng đa đoan, nên nếu không thể từ chối, Ngài cũng chỉ nhận lãnh trong vòng bảy ngày rồi trao lại quyền sở hữu cho thí chủ. Ngài sử dụng trú xứ với tư cách là "Nhà của thí chủ (Gahapatikuṭi)" nhằm giữ gìn sự thanh tịnh. Tôi (tác giả) từng được nghe lời dạy của Ngài rằng: "Thời nay, hạng người không am tường luật tạng, cả xuất gia lẫn tại gia đều rất nhiều; các loại thuốc men, thực phẩm, vật dụng mới lạ cũng đa dạng; thí chủ lại không khéo léo trong cách hộ trì, cúng dường; vì thế, hiện nay chỉ có cách luôn luôn trú trong chánh niệm tỉnh giác thì mới có thể bảo toàn được phẩm hạnh".

Thật vậy, đối với Giáo pháp, việc giữ gìn và hộ trì những gì xưa cũ sao cho đúng pháp còn mang giá trị to lớn và ý nghĩa hơn nhiều so với việc xây dựng những cái mới nguy nga, lộng lẫy.

Thực tế, các bổn phận như **Bổn phận đối với bảo tháp (Cetiya-vatta)**, **Bổn phận đối với Tăng chúng (Saṅgha-vatta)** không nặng nề bằng **Bổn phận đối với Thầy tế độ (Upajjhāya-vatta)**. Nếu việc tu hành là quan trọng nhất, hành giả thậm chí có thể xin phép Thầy tế độ để tạm dừng các bổn phận phục dịch mà tập trung tu tập. Việc điều hành xây dựng chùa tháp mang lại phước báu lớn lao, nhưng để thực hiện đúng theo luật tạng là điều cực kỳ khó khăn. Dẫu cho phước báu có lớn và được điều hành một cách chân chánh đi chăng nữa, đó cũng không phải là công việc cốt lõi trong Giáo pháp. Thời đại Pagan, người ta đua nhau xây dựng tháp Sīhaphala, nhưng đối với công việc cốt lõi (tu hành) thì lại cho thấy những dấu hiệu sa sút. (Hãy xem câu chuyện về **Trưởng lão Attadattha** trong **Chú giải Pháp Cú tập 2, trang 103**).

## Sa-di Tissa chữa khỏi bệnh bằng ba liều thuốc quán chiếu tầm dục

Tại đại tự viện **Tissamahāvihāra**, có một vị Sa-di tên là **Tissa**, người rất mực kính sợ và tôn trọng bậc **Thầy tế độ (Upajjhāya)**, luôn hoàn thành trọn vẹn các bổn phận. Một ngày nọ, Sa-di **Tissa** không thể đoạn trừ được **Tầm dục (Kāma-vitakka)**, nên đã cung kính bạch với vị **Thầy tế độ** xin được hoàn tục.

## PAGE 468

Vị **Thầy tế độ**, vốn là một bậc **Thánh (Ariya)** cao thượng, khi quán xét đến căn tính (**Ajjhāsaya**) của đệ tử mình, Ngài phán rằng:

"Này hiền giả **Tissa**... Nếu con muốn hoàn tục thì cứ việc. Nhưng trước khi đi, hãy giúp ta một việc cuối cùng. Ta ở nơi này gặp khó khăn về nước tắm, vì vậy con hãy đưa ta đến núi **Cittala** và giúp ta an trí tại đó". Theo lời dạy, vị Sa-di đã đưa thầy mình đến núi **Cittala** và sắp xếp nơi ở cho Ngài.

Khi đến núi **Cittala**, vị thầy bảo Sa-di **Tissa** tiếp tục học và tụng đọc bộ **Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya)** mà vị ấy đang học dở. Núi **Cittala** là nơi có môi trường **Thích hợp (Sappāya)** để tu tập **Đề mục lửa (Tejo-kasiṇa)** hơn cả tu viện Tissamahāvihāra. Do đó, sau khi khuyên nhủ, vị thầy đã truyền dạy đề mục **Tejo-kasiṇa** cho Sa-di **Tissa**.

Khi vị Sa-di thực hành đề mục và thiết lập được định lực ở mức độ tương đối, vị thầy liền mở lối hướng dẫn cả phương pháp tu tập **Tuệ quán (Vipassanā)**. Sau đó, nhận thấy tình trạng của Sa-di **Tissa** vẫn chưa đủ sức để tự mình dập tắt hoàn toàn **Tầm dục**, vị thầy lại phán rằng:

"Này hiền giả **Tissa**... Các trú xứ trên núi **Cittala** này đều là của chung **Tăng chúng (Saṅghika)**, nên trách nhiệm giữ gìn và tuân thủ luật tạng rất nặng nề. Vì vậy, nếu hiền giả có thể tự mình tạo dựng một nơi ở **Riêng biệt (Puggalika)** thì sẽ tốt hơn". Tuân lời thầy, Sa-di **Tissa** đã bắt đầu đào một hang đá nhỏ tại một thung lũng dưới chân núi **Cittala** để làm nơi hành thiền.

Trong lúc đào hang, một mặt vị ấy vẫn tiếp tục học và tụng đọc bộ **Tương Ưng Bộ Kinh** từ vị thầy, mặt khác vẫn duy trì quán chiếu đề mục **Tejo-kasiṇa**. Thật trùng hợp, vào đúng ngày hang đá được hoàn thành thì việc học kinh điển cũng kết thúc. Nhờ kiên trì tu tập đề mục, vị ấy đã chứng đắc **An-chỉ Định (Appanā-jhāna)**. Sau khi hang đá hoàn tất, vị ấy hoan hỷ đến đảnh lễ vị **Thầy tế độ** và bạch rằng:

"Bạch Ngài, hiện nay hang đá đã được thực hiện xong rồi ạ". Vị thầy đích thân đi xem xét và phán rằng:

"Ồ... Hiền giả **Tissa**, nơi này thật là tốt. Con đã phải đổ rất nhiều công sức để làm được việc này. Sa-đâu... Sa-đâu (Lành thay). Hơn nữa, vì con đã nỗ lực thực hiện trọn vẹn bổn phận đối với thầy tổ (một việc vốn rất khó làm), nên ngày hôm nay, con hãy ở lại nơi này một mình đi". Ngài đã cho phép vị Sa-di như vậy.

## PAGE 469

Sa-di Tissa vào trú ngụ trong hang động mới do chính mình tạo ra. Với tâm hoan hỷ và điều kiện trú xứ thích hợp, vị ấy lấy **định từ đề mục kasina** làm nền tảng để tu tập **thiền quán**, và ngay trong ngày hôm đó đã chứng đắc **Quả A-la-hán**.

Chiến thắng được những tầm cầu dục vọng, vị ấy từ một vị Sa-di Tissa đã trở thành **Đại trưởng lão Tissa** và tiếp tục trú tại hang động đó cho đến khi **Niết-bàn** (viên tịch). Tại nơi ấy, để ghi dấu ấn trong giáo pháp, một ngôi bảo tháp mang tên "Tháp Trưởng lão Tissa" (Tissa Thera Ceti) vẫn còn tồn tại để mọi người chiêm bái cho đến tận ngày nay. (Chú giải Trung Bộ Kinh 1, 395 - Phần giải thích **Kinh An Trú Tầm**).

## Trưởng lão Pṃsukūla đảnh lễ đống rác vì bị tầm cầu về y chi phối

Có một vị **Trưởng lão Pṃsukūla** (Trưởng lão mặc y phấn tảo) thường chỉ mặc **y phấn tảo** được làm từ những mảnh vải rách người ta vứt bỏ, rồi đem về khâu nối, giặt sạch và nhuộm lại. Lúc bấy giờ, bộ y vị ấy đang mặc đã quá cũ kỹ và rách nát đến mức không còn mặc được nữa.

Vì đang cần một bộ y phấn tảo mới nên tâm vị ấy nảy sinh sự lo lắng. Một ngày nọ, vị ấy nảy ra ý nghĩ: "Ở những khu vực có nhiều chư Tăng trú ngụ, có lẽ sẽ dễ dàng tìm thấy vải rách hơn". Sau khi đi lễ bái các ngôi bảo tháp tại núi Cetiyapabbata, vị ấy đi về phía đại tu viện Mahāvihāra.

Khi đến đại tu viện, sau khi vào đảnh lễ và thưa trình với vị Trưởng lão lãnh đạo Tăng chúng, vị ấy trú lại tại một tăng xá. Sáng hôm sau, tay cầm bộ y cũ rách, vị ấy đến đảnh lễ vị **Trưởng lão lãnh đạo Tăng chúng** để xin phép:

"Bạch Ngài, con đến đảnh lễ xin phép tạm đi ra phía cổng thành một lát."

"Này hiền giả... có việc gì chăng?"

"Bạch Ngài, con muốn đi xem có mảnh vải nào không."

"Ồ, vừa khéo quá, tôi cũng đang tính đi về phía đó", vị Trưởng lão lãnh đạo nói rồi cả hai cùng đi. Vị Trưởng lão lãnh đạo thì tiếp tục đi tới, còn **Trưởng lão Pṃsukūla** khi đến cổng Mahābodhi thì xin phép dừng bước tại đó.

## PAGE 470

Vị ấy đứng tại cổng thành, đưa mắt nhìn quanh bốn hướng Đông Tây Nam Bắc và nghĩ: "Chà... nơi này là nơi của những bậc hữu phước trú ngụ, chắc hẳn sẽ có những mảnh vải thích hợp".

Nhưng rồi vị ấy bất chợt tỉnh giác: "Ôi... suy nghĩ của mình thật thấp hèn làm sao!", rồi lập tức quay trở lại Mahāvihāra. Vị ấy đã không thể tiếp tục đi với tâm hành thiền mà phải quay về.

Những ngày tiếp theo, vị ấy lần lượt đến các nơi đông người qua lại như khu vực gần Ammaṅgaṇa, rồi phía cổng Bắc của Đại Bảo Tháp để tìm vải rách. Thế nhưng mỗi khi nhận ra những **tầm** (suy nghĩ) trong tâm mình không đúng đắn, không thanh tịnh, vị ấy lại quay về chỗ nghỉ. Sự việc này diễn lại tới bốn lần.

Đến ngày thứ tư, khi vị ấy đến đảnh lễ vị **Trưởng lão lãnh đạo Tăng chúng**, vị Trưởng lão biết rằng: "Vị này đang bị những tầm cầu không thanh tịnh về y phục quấy nhiễu". Ngài bèn cầm theo một bộ y, gọi **Trưởng lão Pṃsukūla** đi cùng vào thành. Trên suốt quãng đường đi, cả hai cùng trao đổi, hỏi đáp về giáo pháp **đoạn trừ các tầm**. Khi đến lối vào thành, họ thấy một đống rác lớn đầy chất uế nhiễm, ruồi nhặng bu quanh. Trong đó có một chiếc xà-rông cũ bẩn thỉu đến mức không thể giặt sạch được nữa bị vứt bỏ.

**Trưởng lão Pṃsukūla** liền rời khỏi bên cạnh vị Trưởng lão lãnh đạo, tiến đến gần đống rác. Đối trước mảnh vải cũ bẩn thỉu, hôi thối với lũ ruồi nhặng vo ve, vị ấy chưa nhặt lên ngay mà đứng lặng yên đảnh lễ. Vị **Trưởng lão lãnh đạo** thấy vậy liền đến gần hỏi:

"Này hiền giả... tại sao ông lại đảnh lễ đống rác như vậy?"

"Bạch Ngài... con không đảnh lễ đống rác. Con đang đảnh lễ Đức Cha Lành, vị Phật Thế Tôn của chúng con."

"Tại sao lại như vậy?"

"Bạch Ngài... ngay cả Đức Cha tôn kính không ai bằng của chúng con, Ngài đã từng nhặt mảnh vải **phấn tảo** quấn quanh xác chết của người tỳ nữ Puṇṇā, tự tay phủi sạch lượng dòi bọ nhiều đến cả đấu để lấy mảnh y nơi nghĩa địa.

## PAGE 471

So với việc đó, việc con tìm thấy và nhặt lấy mảnh vải **phấn tảo** bẩn thỉu này một cách dễ dàng như hiện nay quả là một sự hy hữu và khó khăn của bậc Đại Sĩ. Con vì lòng tịnh tín, tưởng nhớ và hân hoan nên mới đảnh lễ như vậy, bạch Ngài."

Vị **Trưởng lão lãnh đạo** nghe xong liền thốt lời Sa-dhu (lành thay) và không nói gì thêm, chỉ thầm khen ngợi trong lòng rằng:

"Tầm cầu về y phục của vị **Trưởng lão Pṃsukūla** này thật thanh tịnh và cao thượng làm sao."

Nhờ vào sự **hỷ lạc khi niệm Phật** (Buddhanussati pīti) phát sinh từ những suy nghĩ thanh tịnh về y phục, vị **Trưởng lão Pṃsukūla** đã lấy đó làm nền tảng tu tập **thiền quán** và chứng đắc quả vị **Bất Lai (Anāgāmi)** ngay tại nơi đó. Sau đó, vị ấy nhặt mảnh vải cũ đó về khâu nhuộm thành y, mặc bộ y ấy rồi đi đến vùng Pācīnakhaṇḍarājī, tiếp tục nỗ lực hành đạo và chứng đắc quả vị **A-la-hán**. (Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh 2, 278 - Phần giải thích **Kinh Thánh Tộc**. Chú giải Trường Bộ Kinh 3, 193).

Việc biết hộ trì và hài lòng với những gì nhận được trong bốn món vật dụng, cùng với việc hoan hỷ trong công hạnh tu tập thiền định, đó chính là bốn pháp "**Thành Tộc (Ariyavaṃsa)**". Đây là giáo pháp bao quát cả Tam Tạng Kinh Điển. Trong thời kỳ giáo pháp hưng thịnh tại đảo quốc Srilanka (Si-ha-la), pháp này được thuyết giảng và thính nhận rất phổ biến, và nhờ vào một bài pháp này mà đã có rất nhiều người chứng đắc Niết-bàn.

### 5 phương pháp đoạn trừ các tầm

Đối với những người thực hành giáo pháp (đặc biệt là lúc mới bắt đầu), kẻ thù đầu tiên xuất hiện chính là **ba loại tầm**:

1. **Dục tầm (Kāmavitakka)** — Những suy nghĩ, ý định liên quan đến ham muốn, ưa thích đối với các chúng sinh hoặc các pháp hữu vi (sankhāra).
2. **Sân tầm (Byāpādavitakka)** — Những suy nghĩ, ý định liên quan đến sự giận dữ, thất vọng, không hài lòng, thối chí hoặc sợ hãi phát sinh do chính mình, do người khác hoặc do các yếu tố như thời tiết, vật chất; bao gồm cả ý muốn làm hại người khác.
3. **Hại tầm (Vihiṃsāvitakka)** — Những suy nghĩ, ý định muốn đàn áp hoặc gây khổ đau cho người khác.

## PAGE 472

Hành giả phải dẹp bỏ những suy nghĩ lan man đó thì pháp học mới có tiến bộ. Lúc mới bắt đầu, thường phải đấu tranh với những suy nghĩ này. Để đoạn trừ chúng, Đức Thế Tôn đã hướng dẫn phương pháp trong **Kinh Vitakkasanthāna (Kinh An trú tầm)** thuộc **Mūlapaṇṇāsa (Trung Bộ Kinh)**. Có 5 phương pháp như sau:

1. **Phương pháp thay thế (Aññanimittapabba)**: Nếu khởi lên suy nghĩ ưa thích liên quan đến chúng sanh thì hãy tác ý về sự bất tịnh (asubha); nếu liên quan đến vật chất thì tác ý về tánh vô thường (anicca). Nếu khởi lên suy nghĩ sân hận liên quan đến chúng sanh thì hãy tác ý tâm Từ (metta); nếu liên quan đến vật chất thì tác ý về tứ đại (dhātu). Nếu khởi lên do si mê (moha) thì hãy thảo luận, hỏi han.

(Hoặc nếu tập trung quán chiếu vào một đề mục thiền định (kammaṭṭhāna) nào đó một cách mạnh mẽ để đoạn trừ thì cũng có thể xóa bỏ được.)

2. **Phương pháp quán phương hại (Ādīnavapabba)**: Đối với lòng tham (lobha) trong dục tầm (kāma-vitakka), hãy quán về sự gớm ghiếc, đáng ghét; quán về lỗi lầm của thân xác và lòng tham. Đối với sân hận (dosa) trong sân tầm (vyāpāda-vitakka), hãy quán về lỗi lầm của sân hận như: "Nếu ngươi sân hận lại với người đang sân hận thì ngươi còn tệ hại hơn cả họ", v.v...

3. **Phương pháp lờ đi, tránh né (Asatipabba)**: Hãy lờ đi những suy nghĩ lan man (vitakka) và chú tâm trì tụng các bài kinh kệ, hoặc đọc các cuốn sách nhỏ ghi chép ân đức Phật, Pháp (**muṭṭhipotthaka**). Có thể làm những việc nhỏ không phạm lỗi như thu dọn đồ đạc lặt vặt (cūḷanaphā), may vá y phục... để tâm trí được thư giãn. (Tuy không nên làm những công việc lớn (navakamma) còn dang dở sau khi suy nghĩ lan man đã biến mất. Trường hợp Sa-di Tissa là do xét theo căn tánh mà cho phép, hoặc chỉ nên làm khi có thể kết hợp cả hai.)

4. **Phương pháp tìm nguồn gốc (Vitakka mūlabheda pabba)**: Hãy xem xét, truy tìm tận gốc rễ nguyên nhân khởi phát của những suy nghĩ đang hiện hành.

Giống như chuyện chú thỏ ngồi dưới gốc cây ổi (u-thyit), khi trái cây rụng xuống lại tưởng là đất sập nên hoảng sợ bỏ chạy, khiến các loài vật khác kể cả loài voi cũng chạy theo toán loạn. Khi đó, Bồ-tát 

## PAGE 473

Sư Tử vương đã an ủi chú thỏ, đưa thỏ về lại gốc cây, chỉ cho thấy chỗ thỏ nằm, trái cây rụng, cuống cây trên cành... (giải thích nguyên nhân) để xóa tan nỗi sợ hãi và suy nghĩ sai lầm về việc đất sập. Việc tìm nguyên nhân để xóa bỏ suy nghĩ lan man cũng tương tự như vậy.

5. **Phương pháp nghiến răng, đè nén (Abhiniggaṇhanapabba)**: Dù xương có tan, da có nát cũng phải dùng sức mạnh đại hùng để nghiến răng, đè nén, quyết tâm đoạn trừ cho bằng được.

Đức Bồ-tát trong thời gian tu khổ hạnh (dukkaracariyā) đã từng nghiến răng, quyết tử để đoạn trừ như thế. Tuy nhiên, nơi Bồ-tát không hề có những suy nghĩ lan man (vitakka) thô thiển. Khi từ trong am thất nhìn ra dòng sông Nerañjarā, thấy cảnh rừng núi thanh bình, hươu nai, chim chóc và làn nước xanh biếc, Ngài khởi lên ý nghĩ: "Ồ... thật là thanh tịnh đẹp đẽ thay!". Ý nghĩ nhỏ nhặt này gọi là "**Dục tầm (kāma-vitakka)**" mức độ nhẹ. Đôi khi do nóng lạnh mà tâm có chút dao động, gọi là "**Sân tầm (vyāpāda-vitakka)**" mức độ nhẹ. Hay khi thấy cảnh chúng sanh kẻ mạnh hiếp yếu quanh am thất mà khởi lòng thương xót (tâm mệt mỏi), thì gọi là "**Hại tầm (vihiṃsā-vitakka)**". Ngài không hề có những suy nghĩ lan man thô ác.

Thế nhưng, ngay cả những điều vi tế đó Ngài cũng nghiến răng đoạn trừ. (Hãy đọc bản dịch tiếng Myanmar của **Kinh Dvedhāvitakka** và **Kinh Vitakkasanthāna** thuộc **Mūlapaṇṇāsa**).

Ở thế gian, khi có những suy nghĩ như vậy, người ta lại cho đó là ý hay, trí tuệ, tư duy sắc sảo và lầm tưởng đó là trí tuệ (ñāṇa). Ngay cả sự hoài nghi (**vicikicchā**) không thể đưa ra quyết định đúng đắn "thế này hay thế kia" do những suy nghĩ đó gây ra, người ta cũng lầm tưởng đó là sự nghiên cứu khoa học.

### Lịch sử đống cát lớn ở Uruvela

"**Uruvela**" có nghĩa là "đống cát lớn vô hạn".

Sự hình thành của đống cát, bãi cát lớn này rất thú vị. Nó là minh chứng lịch sử cho sự rèn luyện tâm của con người.

## PAGE 474

Trước khi Đức Phật giáng thế, có một vạn vị đạo sĩ (rishi) đức hạnh sinh sống tại vùng này. Một ngày nọ, các vị đạo sĩ họp lại và đưa ra một quy ước chung:

"Chư hiền giả... lỗi lầm qua thân nghiệp và khẩu nghiệp thì người khác dễ thấy, dễ biết. Nhưng lỗi lầm qua ý nghiệp (manokamma) khởi lên trong tâm thì không hiển lộ, chỉ có chính chủ nhân mới biết. Do đó, nếu ai khởi lên những suy nghĩ về **Dục tầm (kāma-vitakka)**, **Sân tầm (vyāpāda-vitakka)**, **Hại tầm (vihiṃsā-vitakka)** thì những lỗi lầm ý nghiệp đó người khác không thể chỉ dạy hay quở trách được.

Vì vậy, người phạm lỗi ý nghiệp đó phải tự mình phơi bày và tự răn mình. Mỗi khi khởi lên những suy nghĩ như thế, phải dùng lá gói cát (từ sông Nerañjarā) mang về đây để chịu phạt". Do các vị đạo sĩ giữ đúng lời hứa, mỗi khi có ý nghiệp bất thiện đều tự phạt mình để ghi nhớ, nên dần dần đã tạo thành đống cát, bãi cát lớn gọi là "**Uruvela**" như ngày nay. (**Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh 2, 263 - Chú giải Kinh Uruvela**).

### Ba vị đại trưởng lão đặt giới hạn cho tâm đang phóng dật

Thuở xưa, tại một nơi trên đảo Sīhaḷa (Sri Lanka), có ba vị trưởng lão cùng nhập hạ với nhau. Các Ngài đặc biệt chuyên tâm tu tập để không cho các tầm (vitakka) bất thiện khởi lên, mà chỉ duy trì các tầm thiện như tâm Từ (mettā), v.v... Vào ngày nhập hạ, vị trưởng lão lớn nhất đã nói với hai vị còn lại rằng:

"Chư hiền giả... trong suốt ba tháng mùa mưa này, chúng ta phải giữ mình để không khởi lên các tầm bất thiện như dục tầm, v.v...". (Sau khi lập nguyện và tu hành suốt mùa hạ, đến ngày lễ Tự tứ (pavāraṇā), Ngài hỏi vị trưởng lão trẻ nhất): "Này hiền giả, mùa hạ đã mãn rồi. Trong ba tháng hạ qua, hiền giả đã để tâm mình phóng dật đi xa đến mức nào?".

## PAGE 475

**Tỳ-kheo trẻ**: Bạch Ngài... con đã giữ tâm mình không cho phép nó đi ra ngoài khuôn viên ngôi chùa này dù chỉ một chút.

**Đại trưởng lão** (quay sang vị Tỳ-kheo trung niên): Còn Hiền giả thì sao?

**Tỳ-kheo trung niên**: Bạch Ngài, con giữ tâm mình trong ngôi chùa thiền nhỏ bé nơi con ở, không để nó lọt ra ngoài.

**Hai vị Tỳ-kheo** (hỏi vị **Tăng trưởng lão**): Còn Ngài thì sao, bạch Ngài... Ngài đã cho phép tâm mình đi xa đến đâu?

**Đại trưởng lão**: Này các Hiền giả... Trong suốt mùa an cư này, ngoại trừ đề mục Minh sát trên thân tâm vốn gọi là **Niyakajjhatta** này, tôi chưa từng cho phép tâm mình chạy ra ngoài thân đến bất kỳ nơi nào khác, này các Hiền giả.

**Hai vị Tỳ-kheo**: Lành thay, bạch Ngài... Các Ngài đã có thể thực hành một cách kiên trì và khó khăn hơn nhiều. Chúng con cũng sẽ huấn luyện tâm mình để được như vậy.

(Theo chú giải Kinh **Sakkapañha**, Trường Bộ Chú Giải 2, 329.)

Luôn tỉnh giác trong lúc đi lại, bậc mẫu mực về bổn phận **Gatapaccāgata**: **Đại trưởng lão Mahāphussadeva**

Đại trưởng lão **Mahāphussadeva** trú tại chùa **Āḷindaka** là vị trưởng lão mẫu mực trong việc giữ gìn chánh niệm thiền định khi đi và đến, gọi là bổn phận **Gatapaccāgata** (đặc biệt là bổn phận đi khất thực và trở về).

**Cách thực hành bổn phận Gatapaccāgata**
Ngài đã thực hành bổn phận này suốt 21 năm. Sau khi hoàn thành các công việc hàng ngày như chăm sóc bảo tháp, cây Bồ-đề, chùa chiền và phục vụ thầy tổ, khi đi khất thực, Ngài luôn giữ chánh niệm trên đề mục thiền định đã định sẵn theo từng bước chân.

## PAGE 476

Ngài bước đi một cách tỉnh giác để không đánh mất chánh niệm. Trong khi đi từ chùa đến làng và từ làng về chùa (**Gatapaccāgata**), nếu lỡ bước đi mà không có chánh niệm, ngay khi sực nhớ ra, Ngài liền quay lại. Ngài phải đi lại từ điểm mà chánh niệm bị mất. Ngài cũng phải ghi nhớ vị trí của những con voi dữ, bò dữ, những người say rượu và tình trạng của con đường.

Vào thời gian đầu tập luyện, khi thấy vị trưởng lão cứ đi tới rồi lại quay lui như vậy, những người đang cày cấy canh tác bên đường giữa chùa và làng đã bàn tán rằng: "Vị sư này cứ đi rồi lại quay lại liên tục, không biết có phải Ngài bị lạc đường hay đánh rơi vật gì không".

Vị trưởng lão vờ như không nghe thấy, chỉ tập trung thực hành để không mất chánh niệm, và trong vòng hai mươi năm, Ngài đã đắc quả A-la-hán. Từ ngày Ngài hoàn thành phận sự của một vị sa-môn, vị đại thiện thần thọ thần ở đầu đường kinh hành của Ngài luôn thắp năm ngọn đèn dầu trên năm ngón tay để soi sáng mỗi khi Ngài kinh hành. Ngoài ra, bốn vị **Thiên vương**, Thiên chủ Sakka và Phạm thiên **Sahampati** cũng đến đảnh lễ Ngài. Ánh hào quang tỏa sáng rực rỡ.

Vào ngày hôm sau khi các vị thiên vương đến đảnh lễ, Trưởng lão **Mahātissa** trú tại **Vanavāsī** (chùa rừng) do nhìn thấy những luồng ánh sáng đó nên đã hỏi rằng: "Đêm qua tại chùa của Ngài, cả ngôi chùa đều sáng rực, đó là ánh sáng gì vậy?". Vị trưởng lão đã khéo léo trả lời tránh đi rằng: "Nói về ánh sáng thì có ánh sáng đèn dầu, cũng có ánh sáng của ngọc báu," v.v. Vị trưởng lão đã khẩn khoản xin Ngài ấy đừng nói chuyện này với bất kỳ ai, sau khi vị kia hứa sẽ giữ bí mật tuyệt đối, Ngài mới kể lại toàn bộ sự việc.

**Trưởng lão Mahānāga trú tại Kālavatthi Maṇḍapa**
Trưởng lão **Mahānāga** trú tại **Kālavatthi Maṇḍapa** cũng thực hành bổn phận **Gatapaccāgata** như trên suốt 23 năm.

## PAGE 477

Ngài quyết tâm rằng: "Bậc Thầy của chúng ta là Đức Thế Tôn đã phải thực hành khổ hạnh cực kỳ gian khổ suốt 6 năm vì chúng ta. Ta cũng sẽ cúng dường Đức Thế Tôn bằng sự thực hành giáo pháp này trong bảy năm", và Ngài bắt đầu thực hành trong bảy năm đầu tiên. Trong bảy năm đó, Ngài chỉ phát nguyện giữ hai oai nghi là đứng và đi (kinh hành) trong số bốn oai nghi. Sau khi thực hành thêm 16 năm nữa, Ngài đã đắc quả A-la-hán.

Khi đi khất thực, Ngài đi và về một cách tỉnh giác theo từng bước chân như phương pháp trước. Nếu đánh mất chánh niệm, Ngài liền lùi lại và đi lại từ đầu. Khi đến một nơi không quá xa làng (nơi người ta không thể phân biệt được đó là con bò hay vị sư), Ngài dừng lại và đắp y. Ngài lấy một ít nước từ bình nước mang sẵn bên hông, rót vào bát để tráng bát. Sau đó, Ngài ngậm một ngụm nước vừa đủ trong miệng rồi mới đi tiếp. Điều này là vì Ngài sợ rằng nếu các thí chủ không hiểu luật nghi của người tu (những người hay hỏi chuyện thừa thãi) hỏi những câu làm mất chánh niệm thiền định như "Ngài có khỏe không ạ?", thì Ngài sẽ phải trả lời.

Nếu gặp những câu hỏi không thể tránh khỏi và phù hợp với luật nghi như: "Hôm nay là ngày mấy, có bao nhiêu vị sư, pháp này nghĩa là gì?", Ngài sẽ nuốt ngụm nước đó rồi mới trả lời. Nếu không phải nói điều gì, khi ra khỏi làng, Ngài sẽ nhổ ngụm nước đó ra.

**Năm mươi vị Tỳ-kheo trú tại chùa Kalammatittha**
Năm mươi vị Tỳ-kheo trú tại chùa **Kalammatittha** cũng lập tâm nguyện và cùng nhau thực hành bổn phận này.

Từ ngày rằm tháng Sáu, các Ngài đã lập nguyện rằng: "Này các Hiền giả, chừng nào chúng ta còn chưa đắc quả A-la-hán, chúng ta sẽ không nói chuyện với nhau". Các Ngài cũng thực hành bổn phận **Gatapaccāgata** tinh tấn đến mức người dân chỉ cần nhìn vào những hố nước nhổ ra ở phía ngoài làng là biết được hôm nay có bao nhiêu vị sư đi khất thực.

## PAGE 478

Tâm nghi ngờ nảy sinh giữa các thí chủ: "Phải chăng các vị sư chỉ không nói chuyện với chúng ta, hay ngay cả giữa các vị ấy cũng không trò chuyện với nhau? Nếu giữa các vị không hề chào hỏi hay nói chuyện, chắc chắn là đang có chuyện hiềm khích xảy ra. Hãy đến đây, chúng ta hãy khuyên các vị xin lỗi, nhẫn nhịn và làm hòa với nhau." Với tâm trạng lo lắng, họ đã cùng nhau đi đến tu viện.

Khi đến nơi và quan sát, họ thấy rằng trong số năm mươi vị Tỳ-kheo, không có hai vị nào ở cùng một chỗ. Lúc đó, một người cư sĩ có trí suy xét nói rằng: "Này các bạn, không phải như chúng ta nghĩ đâu. Nơi ở của những người đang tranh cãi không phải như thế này. Hãy nhìn xem, sân bảo tháp, sân cây Bồ-đề đều được quét dọn sạch sẽ. Chổi quét cũng được sắp xếp ngăn nắp, đúng chỗ. Kìa... nước uống và nước sinh hoạt đều đã được chuẩn bị sẵn sàng." Nói rồi họ cùng nhau ra về.

Trong mùa An cư đó, năm mươi vị Tỳ-kheo đã hoàn thành phận sự của bậc tu hành và có thể tổ chức lễ Tự tứ thanh tịnh (Visuddhi Pavāraṇā) – ngày lễ mời thỉnh chỉ lỗi của các bậc thánh trí.

### Pháp thực hành tăng cường bốn loại Tỉnh giác

Khi trình bày về bổn phận đi và về (Gata Paccāgata Vatta), có bốn hạng người được nêu ra: người thực hành khi đi nhưng không thực hành khi về, người thực hành khi về nhưng không thực hành khi đi, người thực hành cả khi đi lẫn khi về, và người không thực hành cả khi đi lẫn khi về.

Trong giáo pháp này, một vị Tỳ-kheo đi khất thực mà không mang theo đề mục thiền định cả khi đi lẫn khi về là một điều đáng hổ thẹn. Thời xưa, mọi vị Tỳ-kheo đều cố gắng duy trì đề mục tối đa trong suốt lộ trình đi và về. Ít nhất trong thời đại ngày nay, vị ấy cũng nên mang theo thiền tâm từ. "Mang theo" ở đây có nghĩa là sự tỉnh giác gắn liền trong từng bước chân không rời.

Pháp thực hành này, từ trước năm 970 Phật lịch, trước cả thời đại của các bậc luận sư (Aṭṭhakathā), đã được các bậc trưởng lão A-la-hán truyền thừa tại Ấn Độ và Sri Lanka.

## PAGE 479

Đây có thể coi là một "Đại quy luật về đề mục thiền định" mà mọi vị Tỳ-kheo đều phải tuân thủ.

Các bậc tiền bối dạy rằng nếu thực hành theo bổn phận này, khi y chỉ (upanissaya) đã đầy đủ, hành giả có thể hoàn thành phận sự tu hành ngay từ thời trẻ và khiến cho các quả vị giác ngộ nhanh chóng trưởng thành. (Chi tiết xin xem trong các bản Chú giải). Thực tế, pháp thực hành "Bổn phận đi và về" này là phương pháp được thiết lập để giúp bốn loại Tỉnh giác (Sampajañña) dễ dàng phát triển.

Bốn loại Tỉnh giác gồm:

1. **Tỉnh giác về lợi ích (Sātthaka-sampajañña)**: Trí tuệ thấy rõ việc mình sắp làm có mang lại lợi ích hay không.
2. **Tỉnh giác về sự thích hợp (Sappāya-sampajañña)**: Dù là việc có lợi ích, cũng phải biết cân nhắc thời gian và hoàn cảnh có phù hợp hay không. (Ví dụ: Việc đảnh lễ Phật là có lợi ích, nhưng nên tránh vào những lúc lễ hội đông đúc).
3. **Tỉnh giác về hành xứ (Gocara-sampajañña)**: Sự tỉnh giác ghi nhớ không rời khỏi đối tượng hoặc đề mục thiền định mà mình đang nắm giữ.
4. **Tỉnh giác không si mê (Asammoha-sampajañña)**: Nhờ sự quán chiếu liên tục mà đạt được tuệ kiến biết rõ danh sắc một cách thấu đáo, không còn lầm lạc.

Hai loại đầu tiên có ích cho cả đời sống hiệp thế và siêu thế, nhưng chưa hẳn là thiền định. Chúng chỉ là sự hỗ trợ chuẩn bị cho công phu thiền định. Trong đó, "Tỉnh giác về hành xứ" là quan trọng nhất. "Hành xứ" (Gocara) ở đây nghĩa là "bãi chăn thả", tức là đối tượng hay đề mục quán chiếu.

Người quán chiếu sự phồng, xẹp ở bụng phải luôn nhận biết đối tượng đó, đặc biệt là khi đi khất thực và lúc trở về. Hoặc vị ấy phải nắm giữ và nhận biết một trong các đối tượng của Tứ Niệm Xứ như: chân trái bước, chân phải bước, sự nhấc lên, bước tới, đặt xuống, sự nghe, sự thấy, v.v.

Nếu là người quán chiếu hơi thở ra vào nơi mũi cũng tương tự như vậy; vị ấy phải quán chiếu không rời ở mọi nơi mình đi qua hay đi đến. Nếu để mất dấu đề mục, vị ấy phải coi như chưa hoàn thành và quay lại điểm cũ để

## PAGE 480

bắt đầu khởi sự quán chiếu lại từ đầu. Đây là một pháp thực hành tuyệt vời giúp cho "Tỉnh giác về hành xứ" (hay còn gọi là tâm niệm thiền định) tiến triển nhanh nhất.

Không chỉ trong lúc đi khất thực, mà ở bất cứ nơi đâu, việc tôn kính và giữ gìn "Bổn phận đi và về" do các bậc thiện trí thiết lập, luôn duy trì sự quán chiếu liên tục từ trước ra sau không đứt đoạn, chính là công việc trọng yếu của một hành giả (yogi).

Khi "Tỉnh giác về hành xứ" đã trọn vẹn (đạt đến đỉnh cao – sikhāppatta), thì "Tỉnh giác không si mê" không cần phải nỗ lực thực hiện mà sẽ tự nhiên phát khởi.

Khi nhận biết rõ bước chân, thì ngay trong chính bước chân đó, hành giả sẽ thấy rõ: tâm là nhân, yếu tố gió (phong đại) chuyển động do tâm, và nhờ sự thúc đẩy, nâng đỡ của gió mà các tiến trình nhấc chân, bước tới diễn ra. Vị ấy sẽ thấy rõ từng phần, từng giai đoạn một cách sáng sủa rằng: không có "tôi", không có "của tôi", chỉ có các bản chất danh sắc đang vận hành theo quy luật tự nhiên (Dhamma Niyāma). Đó chính là "Tỉnh giác không si mê". (Điều này được trình bày rất rộng trong các bản Chú giải, thật vô cùng tuyệt vời).

### Không có nhà ăn nào mà chưa từng có bậc A-la-hán

Nhờ vào pháp thực hành và các loại tỉnh giác này, thời xưa toàn bộ đảo Sri Lanka đã trở thành một thiền viện lớn. Người ta được đọc và khởi tâm tịnh tín qua nhiều tư liệu nói rằng: khi đứng tại cửa phía Nam của đại tự viện Mahāvihāra để chiêm bái đại bảo tháp Mahācetiya (với tâm niệm ân đức Phật), đã có ba mươi ngàn vị Tỳ-kheo chứng đắc quả vị A-la-hán. Tương tự như vậy tại các cửa phía Tây, Bắc, Đông, hay tại những nơi thích hợp như hang Mahānāga, núi Cittala, v.v., đã có vô số vị đắc chứng pháp thượng nhân.

Thời xưa, các vị Tỳ-kheo đi khất thực thường có những nhà ăn (sālā) trong mỗi ngôi làng để dừng chân nghỉ ngơi và thọ thực; đến mức trên đảo Sri Lanka, không có nhà ăn nào mà lại chưa từng có vị A-la-hán [được sinh ra hay thọ thực tại đó] (như được mô tả rộng rãi trong các bản Chú giải về tầm quan trọng của điều đạo đức này, chẳng hạn như Saṃyutta Aṭṭhakathā Vol. 3, trang 221). 

## PAGE 481

Bởi vì ngay trong lúc đang ăn cũng có thể đắc được Thắng trí, nên không được ăn một cách hời hợt mà phải luôn an trú vào đề mục Thiền định mà mình vốn đang thực hành.
### Bàn tay lỡ nhịp

Về cách giữ gìn Tỉnh giác trong khi hành giới (gocara-sampajañña), các hành giả ngày nay đều đã rõ. Vào thời Sīhaḷa, có một vị Trưởng lão nọ, trong khi đang ngồi nói chuyện với các đệ tử và vẫn duy trì sự ghi nhận tỉnh giác nhẹ nhàng vào buổi trưa để không đánh mất chánh niệm, thì bất chợt ngài lỡ ý co tay lại (giống như người đang đi khất thực mà đánh mất chánh niệm rồi ngoái nhìn lại phía sau, sau đó phải đứng lại để ghi nhận). Ngài liền duỗi tay ra rồi từ từ co lại lần nữa và niệm "co... co..." một cách chậm rãi. Các đệ tử trông thấy cảnh đó liền hỏi:

"Bạch Ngài, tại sao lúc nãy Ngài vừa co tay nhanh rồi lại duỗi ra và giờ lại co lại chậm rãi như thế ạ?"

Trưởng lão đáp: "Này các hiền giả, từ khi ta bắt đầu hướng tâm vào đề mục Thiền định đến nay, chưa từng có lần nào ta co duỗi tay mà thiếu sự ghi nhận (đánh mất chánh niệm). Vừa rồi vì đang nói chuyện với các con nên ta đã để mất chánh niệm, vì thế ta phải đưa tay về vị trí cũ rồi mới chậm rãi dùng chánh niệm để co lại lần nữa."

Các đệ tử thưa rằng: "Bạch Ngài, thật đúng vậy, bậc tu hành nên như thế mới phải đạo." (Chú giải Saṃyutta 3, 228 - phần giải thích về Satipatthāna Sutta; Chú giải Dīgha 1, 176).

### Sự phồng xẹp bắt nguồn từ đâu

Ngày nay, khi bậc Thầy khả kính Mahāsī Sayadaw khôi phục lại các trung tâm hành thiền Tứ Niệm Xứ vốn đã bị gián đoạn nhiều năm tại Myanmar, và quảng bá rộng rãi giáo pháp này ra toàn thế giới, thì phong cách đi đứng nằm ngồi của các hành giả đôi khi trông có vẻ lạ lẫm trong mắt nhiều người, khiến những người không am tường dễ phạm phải ác nghiệp về lời nói.

## PAGE 482

Thậm chí có những người còn chịu quả báo nặng nề vì cho rằng việc niệm "phồng... xẹp..." là do Sayadaw tự đặt ra, chứ không phải là đề mục Thiền định thật sự.

Thực chất, việc niệm "phồng... xẹp..." không phải là điều do Ngài sáng tạo ra một cách mới lạ. Từ thời của bậc Thầy khả kính Mula Mingun Jetawun Sayadaw và cư sĩ trưởng lão U Sann Htun, đây đã là phương pháp thực hành chắc chắn (apaṇṇaka-paṭipadā) được đúc kết từ kinh nghiệm thực tế. (Thời xưa thường dùng từ "nóng... rối..."). Do đó, đây chính là ý chỉ của đức Phật, là ý chỉ của các bản Chú giải đã được trình bày, và cũng là phương thức hành trì truyền thừa của các bậc Trưởng lão A-la-hán thời Sīhaḷa; hành giả nên trọn niềm tin tưởng để thực hành.

### Trưởng lão Godatta và Trưởng lão Kāḷadeva không cần đồng hồ nhờ Tỉnh giác không si

Đức Thế Tôn khi còn là vị Bồ-tát thượng thủ, dù mặt trời không mọc trong suốt bảy ngày, Ngài vẫn biết chính xác thời gian. Ngài đã thuyết rằng ngay cả những bậc đắc Thiền hiệp thế, thông thạo các đề mục biến xứ, nếu không có sự thuần thục về thời điểm xuất thiền (vuṭṭhāna-vasībhāva) thì cũng sẽ giống như loài chim muông bị nhầm lẫn ngày đêm.

Pháp Tỉnh giác không si (asammoha-sampajañña – sự ghi nhận liên tục) là một pháp tự nhiên mang lại lợi ích to lớn cho chúng sanh. Như người mẹ che chở cho đoàn con, pháp này bảo vệ toàn bộ thế gian, là món vũ khí thiện phẩm hộ trì chúng sanh (có thể tìm đọc và chiêm bái điều này trong Kinh Bhayabherava - Mūlapaṇṇāsa cùng các bản Chú giải và Sớ giải).

Nhờ pháp Tỉnh giác không si này, Trưởng lão Godatta trú tại chùa Kalyāṇī có thể biết thời gian một cách cực kỳ chính xác. Thời xưa, để biết thời gian, người ta dùng một tấm ván có kẻ vạch, ở giữa cắm một chiếc cọc dài gọi là "cột đồng hồ mặt trời". (Ngày nay vẫn còn dùng, cũng như có cả đồng hồ nước).

## PAGE 483

Trưởng lão Godatta ấy không bao giờ nhìn mặt trời hay đồng hồ mặt trời mà vẫn thực hiện việc đi khất thực, ăn đặt bát và hành thiền đúng giờ giấc. Nếu quy định trên đồng hồ mặt trời là lúc bóng dài hai lóng tay thì đi khất thực, bóng dài một lóng tay thì ăn cơm, thì vị Trưởng lão cũng thực hiện chính xác y như vậy. Chư Tăng trong chùa quyết định theo dõi xem vị Trưởng lão thực hiện như thế nào. Họ mang theo đồ ăn, ngồi canh bên cột đồng hồ mặt trời để quan sát lúc Trưởng lão đi khất thực và thọ thực. Kết quả là không sai lệch dù chỉ một sợi tóc. Ngay cả vào những ngày trời u ám không thấy mặt trời, vị Trưởng lão vẫn thực hiện đúng thời điểm.

Kể từ đó, tại chùa Kalyāṇī, đối với các công việc cần đúng giờ như khất thực, thọ thực hay các phận sự lớn nhỏ, chư Tăng đã đặt một chiếc trống lớn và cứ nhìn theo sinh hoạt của Trưởng lão Godatta mà đánh trống báo giờ.

### Trưởng lão Kāḷadeva

Ngoài ra, Trưởng lão Kāḷadeva ở chùa Ajagara cũng biết thời gian một cách chuẩn xác.

Suốt ba tháng mùa mưa, Trưởng lão thường xuyên đánh khánh đá báo giờ để chư Tăng cùng thực hiện các phận sự như dọn dẹp trú xứ. Trong khi các vị Trưởng lão khác phải dùng đến đồng hồ mặt trời hoặc đồng hồ nước, Trưởng lão Kāḷadeva không cần bất cứ loại đồng hồ nào. Thế nhưng, ngay khi ngài cầm dùi chuẩn bị đánh khánh báo giờ, thì các loại đồng hồ khác cũng chỉ đúng múi giờ đó một cách đồng loạt.

Vị Trưởng lão ấy suốt ba canh đêm đều an trú trong Tỉnh giác không si. Sau khi đi khất thực buổi sáng trở về chùa, ngài không ngồi chờ đông đủ chư Tăng tại nhà vãng lai mà tranh thủ chút thời gian ít ỏi đó, ôm bình bát đi đến một nơi thanh vắng thích hợp để hành thiền.

## PAGE 484

Khi tất cả các vị Tăng trong tu viện đã tập trung đông đủ để thọ thực và đến giờ độ ngọ, chư vị trưởng lão vốn có trách nhiệm trông coi đồng hồ mặt trời và đồng hồ nước, vì lo lắng cho vị đại trưởng lão, thường cử một vị Tỳ-kheo trẻ đi thỉnh Ngài. Vị Tỳ-kheo trẻ đi thỉnh thường sẽ gặp vị đại trưởng lão khi Ngài đang chuẩn bị khởi thân ngự đến hoặc đang đi giữa đường. (**Chú giải kinh Bhayabherava, bộ Majjhima Nikāya 1, trang 126.**)

**Cách thiết lập báo thức bằng tâm**

Cũng nên nhắc lại một lời dạy đáng ghi nhớ của Ngài Hòa thượng **U Sīla**, một vị cao tăng nổi tiếng tại Myanmar. Khi Ngài biết các vị Sa-di và Tỳ-kheo trẻ đi tìm gỗ trong rừng để làm mõ báo giờ, Ngài đã dạy rằng: "Các ông làm bậc tu hành mà sự tỉnh thức còn không bằng cả một con gà nữa sao?".

Đối với các hành giả, nếu thiết lập tâm niệm "**Vuṭṭhāna-saññī**" (tưởng về sự thức dậy), xác định rõ ràng và chuẩn xác trong tâm rằng: "Ta sẽ thức dậy vào giờ này", thì khi tỉnh giấc sẽ không cảm thấy dã dượi, lười biếng. Nếu giữ đúng lời hứa với lòng mình (giữ đúng kỷ luật), hành giả sẽ kinh nghiệm được sự chuẩn xác kỳ diệu như một chiếc đồng hồ ngay khi vừa thức dậy. Khi đã làm chủ được **Vuṭṭhāna-saññī** và pháp Tỉnh giác (Sampajañña), hành giả sẽ thấu triệt cách để bảo hộ cho chúng sanh.

**Hai anh em ở núi Cittalapabbata nhập Niết-bàn kỳ diệu nhờ Ānāpānasati**

Tại tu viện núi Cittalapabbata danh tiếng, có hai anh em (huynh đệ Tỳ-kheo) cùng chung sống và nỗ lực tu tập. Tên tuổi của hai Ngài không được ghi lại rõ ràng. Trong hai vị, có một vị trưởng lão vào một ngày lễ Uposatha rằm, sau khi cử hành lễ Bố-tát cùng Tăng chúng xong, Ngài trở về trú xứ của mình. Khi đang có đông đảo chư Tăng vây quanh, Ngài nhìn lên ánh trăng trên bầu trời và quán chiếu về thọ mạng của mình.

## PAGE 485

Sau khi nhìn ánh trăng và quán chiếu, Ngài quay sang các đệ tử và hỏi: "Chư hiền giả, các ông đã từng thấy ai nhập Niết-bàn (viên tịch) theo cách nào rồi?". Một số Tỳ-kheo thưa rằng: "Bạch Ngài, con từng thấy vị nhập Niết-bàn khi đang ngồi". Một số đệ tử khác lại thưa: "Con từng thấy vị nhập Niết-bàn khi đang ngồi kiết già trên hư không".

Khi đó, vị đại trưởng lão nói: "Tốt lắm chư hiền, giờ ta sẽ cho các ông thấy ta nhập Niết-bàn trong khi đang đi kinh hành". Ngài nói rồi vạch một đường mốc trên lối đi kinh hành và bảo:

"Này chư hiền, hãy nhìn xem, ta sẽ đi kinh hành từ đầu này đến đầu kia, khi quay trở lại, hễ vừa chạm tới vạch này là ta sẽ nhập Niết-bàn". Nói xong, Ngài bước đi kinh hành trước mặt các đệ tử. Chư Tăng không ai chớp mắt, đều thành kính chiêm ngưỡng những bước chân định tĩnh của Ngài từ đầu đến cuối đoạn đường.

Đúng như lời đã hứa, khi từ đầu kia quay lại, chân của Ngài vừa mới đặt xuống vạch mốc thì Ngài đã nhập Niết-bàn ngay trong tư thế đứng thẳng tại đó. (**Visuddhimagga 1, trang 284.**) Những vị trưởng lão tương tự như Ngài cũng đã được ghi nhận như: "**Trưởng lão Tissa trú tại tu viện Koṭṭhapabbata**, **Trưởng lão Mahā Tissa trú tại tu viện Mahā Karaṇḍiya**, và **các vị Trưởng lão Tissa trú tại vùng Devaputta-mahāraṭṭha chuyên hạnh khất thực**". Tuy nhiên, chi tiết về tiểu sử của các Ngài hiện không còn tìm thấy rõ ràng.

**Biết chính xác thời điểm tử vong**

**Đề mục Ānāpānasati** (Niệm hơi thở) là một đề mục thiền có năng lực và thần lực vô cùng to lớn, có thể giúp đạt đến sức mạnh tâm linh sung mãn nhất. Tác giả bộ **Thanh Tịnh Đạo** (Visuddhimagga) đã viết:

"**Idampana ānāpānassatikammaṭṭhānaṃ garukaṃ garukabhāvanaṃ buddha pacceka-buddha buddhaputtānaṃ mahāpurisānaṃyeva manasikārabhūmi bhūtaṃ, naco ittaraṃ, naca ittara-satta-samāsevitaṃ**" (**Visuddhimagga 1, trang 276.**)

## PAGE 486

"Đề mục Ānāpānasati này là một pháp hành sâu sắc, đòi hỏi sự nỗ lực kiên trì và thái độ tôn kính mới có thể thành tựu. Đây là mảnh đất dụng tâm của các bậc **Māhapurisa** (Đại nhân) đầy đủ phước báu và oai lực như các đức Phật, đức Phật Độc Giác và các bậc Thánh đệ tử. Đề mục này không phải là việc có thể làm hời hợt trong chốc lát, và cũng không phải là chỗ dành cho những chúng sanh thấp kém, thiếu phước đức."

Đức Thế Tôn cũng từng khẳng định rõ rệt rằng: "Ta không thuyết giảng, không trao pháp môn này cho người thiếu thốn niềm tin và trí tuệ" (trong **Samyutta Ānāpāna** và **Kinh Ānāpānasati thuộc bộ Majjhima Nikāya**).

Trong tất cả các đề mục thiền, sự tỉnh giác và trí tuệ đều không thể thiếu. Tuy nhiên, đối với **đề mục Ānāpānasati**, những yếu tố này đặc biệt cần thiết hơn, đó là lý do Ngài dạy như vậy. Ý của Ngài là muốn chúng ta biết rằng: "Hãy nỗ lực tu tập một cách tôn kính với chánh niệm và trí tuệ dồi dồi, kiên trì, nhất định và chuyên chú". Hiện nay tại Myanmar, người tu tập Ānāpāna rất đông, nhưng phần lớn chỉ là những hành giả tu tập theo phong trào hoặc tìm kiếm sự thoải mái. Những trung tâm thiền có sự hướng dẫn hệ thống, kiểm tra chặt chẽ và dẫn dắt nghiêm túc như thời cố Ngài Hòa thượng **Mahāsi Sayadaw** thực sự rất hiếm.

Thực tế, **đề mục Ānāpānasati** có thể đem lại những năng lực thần thông đặc biệt cho những ai đã có hạt giống Ba-la-mật từ nhiều đời trong vòng luân hồi. Đây là một đại đề mục thiền bao hàm cả định (Samatha) và tuệ (Vipassanā).

Những bậc Thánh đã thuần thục trong pháp hành **Ānāpāna** và hoàn tất phận sự Tỳ-kheo thường biết trước thời điểm mình nhập Niết-bàn chính xác đến từng phút, từng giây. Những vị chứng đắc bằng các đề mục khác thì có vị biết, có vị không biết, không chắc chắn bằng. Thực tế, không chỉ nói đến các bậc Trưởng lão A-la-hán, ngay cả những hành giả đạt được kết quả ở mức độ nhất định cũng có vô số người có thể tự mình chuẩn bị hậu sự và thông báo chính xác về sự ra đi của mình.

Đức Thế Tôn cũng đã trực tiếp dạy Ngài Rāhula về khả năng thấy biết này rằng: "**Viditā vanirujjhandi, no aviditā**" — "Hơi thở ra vào được biết rõ khi diệt đi, chứ không phải là không được biết rõ" (**Majjhima Nikāya 2, trang 89**).

Hãy tôn kính và nỗ lực tu tập.

## PAGE 487

**Các vị Trưởng lão có niệm lực thâm hậu**

Để làm minh chứng cho thời kỳ giáo pháp hưng thịnh tại đảo quốc Srilanka, các vị thầy ssoạn thảo Chú giải đã trang trọng ghi lại những câu chuyện về các vị Trưởng lão có trí nhớ và niệm lực phi thường như sau:

1. **Trưởng lão Mahāgatimba Abhaya** — Vị Trưởng lão này có trí nhớ cực kỳ tốt. Khi các đệ tử thắc mắc:
“Bạch Ngài, Ngài có thể nhớ lại các sự kiện từ khi nào ạ?”
Trưởng lão đáp:
“Này các hiền giả, ta có thể nhớ rõ từ tiếng nói lúc ta mới sinh ra được năm ngày.”
Vào ngày thứ năm sau khi chào đời, trong lễ đặt tên, Ngài thấy một con quạ định đến rỉa bát cháo sữa (nội nạp). Ngài đã phát ra âm thanh “...Hê” để xua đuổi con quạ ấy.

2. **Trưởng lão Dīghabhāṇaka Abhaya** — Vị Trưởng lão này từng trả lời câu hỏi của các đệ tử rằng Ngài có trí nhớ từ lúc mới sinh được chín ngày.
Chuyện kể rằng vào ngày thứ chín sau khi Ngài chào đời, lúc người mẹ cúi xuống để hôn đứa con đang nằm ngửa, những đóa hoa lài quấn trên tóc bà (khoảng một nắm tay) đã tuột ra cùng với làn tóc, rơi xuống ngực đứa trẻ. Ngài nói rằng mình có thể nhớ rõ sự kiện đó cho đến nay.

3. **Trưởng lão Tipitaka Cūḷābhaya** — Ngài có trí nhớ đến mức nếu tất cả người dân ở thành Anurādhapura buổi sáng đi ra qua một cổng thành duy nhất (sau khi đã đóng ba cổng kia) và mỗi người đều khai báo tên, thì đến buổi chiều khi họ quay lại, Ngài có thể đọc đúng tên của từng người một không sai sót. Trí nhớ của Ngài siêu việt đến thế. (**Chú giải Trường Bộ Kinh 2, trang 120 - phần mở rộng về kinh Đại Bát Niết Bàn.**)

Đây có thể xem là loại niệm (sati) có đặc tính ghi nhớ thông thường. Cần biết rằng đây chưa phải là Tuệ Luận (Vipassanā-ñāṇa) ghi nhớ sự sinh diệt của tâm trong từng sát-na (nhanh như một cái búng tay có đến hàng trăm tỷ tâm sinh diệt), cũng chưa phải là **Túc Mạng Minh** (Pubbenivāsa-ñāṇa) có khả năng nhớ lại vô số kiếp sống trong nhiều đại kiếp.

## PAGE 488

**Trưởng lão Mahā Tissa ở núi Cetiya đắc quả A-la-hán nhờ nụ cười của một phụ nữ**

“Này các Tỳ-kheo, thà dùng một thanh sắt nung đỏ rực, cháy sáng, nóng bỏng để đâm thủng mắt còn tốt hơn là nắm giữ các tướng chung (nimitta) hay các tướng riêng (**anubyañjana** - các chi tiết nhỏ như tay, chân, nụ cười...) của các sắc trần do mắt tiếp xúc. Việc đắm nhiễm vào hình dáng nam nữ là điều không nên làm.” (**Tương Ưng Bộ Kinh 2, trang 377 - Kinh Lửa Cháy.**)

**Trưởng lão Mahā Tissa** trú tại núi Cetiya là một tấm gương mẫu mực trong việc thu thúc lục căn.

Một buổi sáng, Trưởng lão Mahā Tissa khoác y đeo bát, an trú trong pháp hành niệm thân bất tịnh, rời núi Cetiya đi vào thành Anurādhapura để khất thực. Cùng lúc đó, có một phụ nữ trẻ vừa cãi nhau với chồng, cô một mình rời thành Anurādhapura từ sớm để về nhà cha mẹ đẻ. Cô trang điểm, diện đồ lộng lẫy và xinh đẹp như một thiên nữ.

Trên đường đi, hai người gặp nhau. Khi nhìn thấy vị Trưởng lão, tâm tham ái (**rāga**) khởi lên trong lòng người phụ nữ, cô đã phát ra tiếng cười quyến rũ cốt để Ngài nghe thấy. Trong lúc đang hành thiền, tiếng cười ấy như một mũi gai đâm vào tâm, Trưởng lão thắc mắc: “Cái gì vậy?” và liếc mắt về phía phát ra âm thanh. Đúng lúc đó, người phụ nữ đang nhìn Ngài cười tươi, khiến Ngài nhìn thấy hàm răng trắng của cô lộ ra.

Do thường xuyên tu tập **tưởng bất tịnh** và **đề mục bất tịnh**, ngay khi nhìn thấy hàm răng của cô, **quang tướng (paṭibhāga-nimitta)** của một bộ hài cốt (**aṭṭhika**) hiện ra rõ rệt trong tâm vị Trưởng lão. Ngay tại khoảnh khắc đó, Ngài đắc từ Cận định lên đến **Sơ thiền**.

## PAGE 489

Dù người phụ nữ ấy có trang điểm, ăn mặc lộng lẫy đến đâu, trong mắt Trưởng lão lúc này chỉ hiện lên một bộ xương khô di động. Ngài không còn nhận ra đó là nam hay nữ nữa.

Lấy **Sơ thiền** làm nền tảng, Ngài chuyển sang quán chiếu Vipassanā. Các tầng **Tuệ quán** và **Đạo quả** lần lượt thuần thục, và Ngài chứng đắc quả vị A-la-hán ngay tại chỗ.

Sau đó, người chồng của cô gái cũng đuổi theo tìm vợ trên cùng con đường ấy. Gặp vị Trưởng lão, anh ta hỏi: “Bạch Ngài, trên đường này Ngài có thấy một người phụ nữ nào đi qua không ạ?”

Trưởng lão liền đáp: “Này đạo hữu, ta có thấy một thứ gì đó đi qua đây, nhưng là nam hay nữ thì ta không rõ, chỉ biết rằng có một 'bộ hài cốt' vừa đi qua đường này thôi.” (**Thanh Tịnh Đạo 1, trang 20-1; 187, 188. Đại Sớ Giải 1, trang 48-9.**)

Theo tập hồi ký về chuyến hoằng pháp tại Srilanka (trang 145) của Trưởng lão **Mahāsi**, địa điểm nơi Trưởng lão Mahā Tissa gặp người phụ nữ và đắc đạo ngày nay nằm ở khu vực giữa núi Cetiya (nay gọi là núi **Mihintale**) và thành Anurādhapura, nơi vốn là vườn hoa lài trước kia.

**Ngôi nhà không được che chắn**

**Yathā agāraṃ ducchannaṃ, vuṭṭhi samativijjhati.**
**Evaṃ abhāvitaṃ cittaṃ, rāgo samativijjhati.**

Như ngôi nhà lợp không kỹ, bị mưa gió thấm vào và làm hư hại. Cũng vậy, với một tâm không được tu tập, không được chánh niệm liên tục trong bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi), thì **tham ái** sẽ xâm nhập, đâm thấu và hủy hoại tâm ấy. (**Kinh Pháp Cú, câu 14-15.**)

## PAGE 490

### Đề mục Thiền 32 Thể Cực: Mẫu mực từ Trưởng lão Mallaka và Mahādeva

Trong việc thực hành **Thiền 32 Thể Cực (kōṭṭhāsa)**, các ví dụ như con khỉ nhảy chuyền từ cây thốt nốt này sang cây thốt nốt khác, từ đầu đến cuối và ngược lại một cách liên tục, được dùng để minh họa cho phương pháp quán chiếu.

Việc ghi nhớ hình dáng của **tóc (kesā)**, **lông (lomā)**, v.v., được gọi là '**Uggaha-nimitta**' (Ảnh dạng học tập). Khi sự ghê tởm, uế trược hiện rõ thì gọi là '**Paṭibhāga-nimitta**' (Ảnh dạng tương tự). Nếu tu tập nhiều lần, vị hành giả có thể đắc đến bậc An chỉ định (appanā) thuộc Sơ thiền, tương tự như các **đề mục quán tử thi (asubha)**.

Có một số vị khi đắc An chỉ định ở một **thể cực** nào đó thì dừng lại, không quán các thể cực khác. Một số vị khác sau khi đắc thiền ở một thể cực này thì tiếp tục tu tập để đắc thiền ở thể cực tiếp theo.

**Trưởng lão Mallaka** là bậc mẫu mực đã tu tập xoay vòng để đắc thiền trên cả 32 **thể cực**. Một ngày nọ, ngài nắm tay **Trưởng lão Dīghabhāṇaka Abhaya** — vị đang thọ học đề mục thiền — và nói rằng:

"Này hiền giả Abhaya, trước tiên ông hãy thử đọc thuộc lòng đoạn kinh văn này xem." Sau đó ngài kể lại kinh nghiệm của mình:

"**Trưởng lão Mallaka** đắc Sơ thiền trên cả 32 **thể cực**. Nếu mỗi ngày đêm ngài nhập định trên một thể cực thì trong nửa tháng sẽ hoàn tất cả 32 phần. Còn nếu mỗi ngày chỉ nhập định một lần cho một thể cực thì mất khoảng hơn một tháng." (**Thanh Tịnh Đạo**-1, 257.)

Thực tế, **Trưởng lão Mallaka** đã chứng đắc A-la-hán thông qua **đề mục đất (pathavī-kasina)**. Ngài không cần phải chuẩn bị một đĩa định hình (kasina) đặc biệt để nhìn, mà chỉ cần nhìn thấy một mảnh ruộng vừa được cày hay một sân đập lúa là đã đắc được nimitta với kích thước tương ứng. Ngài tiếp tục khuếch trương, chứng đắc đến Ngũ thiền, rồi lấy đó làm nền tảng chuyển sang tu **Tuệ quán (Vipassanā)** và chứng đắc thánh quả A-la-hán. Ngài cũng là vị mẫu mực trong lĩnh vực tu tập **Kasina**. (**Thanh Tịnh Đạo**-1, 120.)

## PAGE 491

### Những điều cần lưu ý về Đề mục 32 Thể Cực

Đối với người muốn thực hành **đề mục Thân hành niệm (Kāyagatāsati)** qua 32 **thể cực** này, dù là bậc thông thạo Tam Tạng Kinh Điển, trước hết cũng phải thực hành việc đọc tụng bằng miệng.

Việc đọc tụng bằng lời giúp ích cho việc quán niệm trong tâm. Chỉ khi quán niệm được như vậy, hành giả mới có thể thấy rõ Tam tướng và đạt đến Niết Bàn. **Đại Trưởng lão Mahādeva** ở vùng Malaya từng yêu cầu hai người đệ tử thọ học thiền phải đọc tụng 32 **thể cực** theo chiều xuôi và chiều ngược liên tục trong suốt bốn tháng. Nhờ sự cung kính đọc tụng, sau bốn tháng, cả hai vị đều chứng đắc quả Dự Lưu. (**Thanh Tịnh Đạo**- 1, 233.)

Vì vậy, khi thực hành **Thiền Thể Cực**, việc đọc tụng là bước nền tảng đầu tiên.

Trong **Kinh Đại Niệm Xứ**, Đức Thế Tôn thuyết về pháp này như một pháp **Thiền định (Samatha)** quán sự uế trược. Trong các kinh như **Kinh Đại Tượng Tích Dụ**, **Kinh Giáo Giới La-hầu-la**, ngài thuyết dưới dạng **Tuệ quán (Vipassanā)** thấu suốt bản chất **Chân đế (Paramattha)** của các đại hiển sắc. Riêng trong **Kinh Thân Hành Niệm**, ngài thuyết phối hợp cả hai phương pháp **Định** và **Quán**.

Người tu tập **Định và Quán** là yếu tố then chốt, và bất kỳ đề mục thiền nào cũng đều có thể dẫn dắt hành giả đi đến quả vị A-la-hán.

Đặc biệt, các đề mục **Thể cực** và **Quán tử thi** này là những đề mục mà mọi hành giả không nên bỏ qua. Khi những ấn tượng về sự xinh đẹp (subha-saññā) và các dục lạc xâm chiếm, hành giả phải dùng đề mục này để phòng hộ. Phải nỗ lực sao cho nhìn rõ suốt cả bên trong lẫn bên ngoài.

Đề mục thiền này có khả năng tiêu trừ sự dã dượi (arati - sự lười biếng, không lạc quan trong công việc) và sự tham đắm (rati - sự say mê trong ngũ dục). Đồng thời, nó mang lại lòng dũng cảm đặc biệt để chịu đựng các đối tượng đáng sợ, hay những hiểm nguy đến tính mạng như nóng lạnh, rắn rết. (Điều này được giải thích rộng rãi trong **Thanh Tịnh Đạo** cùng các chú giải **Sammōhavinōdanī**, **Mūlapaṇṇāsa**, và **Chú giải Trường Bộ**.)

## PAGE 492

### Vị Tỳ-kheo và Sa-di tu rừng chứng quả Bất Lai nhờ quán tử thi trong chốc lát

Có một vị Tỳ-kheo trẻ không rõ danh tính cùng một vị Sa-di đi vào rừng để chặt gỗ (như cây khế, cây sầu đâu) làm bàn chải đánh răng (đan-pu).

Vị Sa-di không đi theo đường mòn mà rẽ vào rừng để tìm loại cây cần thiết, tình cờ gặp một xác chết đang phân hủy trong bụi rậm.

Khi đứng nhìn xác chết gớm ghiếc ấy, vị Sa-di nhận ra các tướng trạng uế trược và lập tức chứng đắc Sơ thiền. Ngay tại đó, vị ấy ngồi xuống, lấy **thiền quán tử thi** làm nền tảng để quán sát sự sinh diệt và Tam tướng của danh sắc trong thân mình, và chứng đắc quả Bất Lai.

Trong lúc vị ấy đang tiếp tục hướng đến quả vị A-la-hán, vị Tỳ-kheo trẻ tìm không thấy nên gọi lớn: "Sa-di ơi...". Nghe tiếng gọi, vị Sa-di xả định và suy nghĩ:

"Từ khi xuất gia đến nay, ta chưa từng trái lời hay đáp lễ khiếm nhã với chư Tăng, cũng không dùng sự im lặng để gây khó chịu cho ai. Thôi thì hãy để ngày sau nỗ lực chứng các bậc Đạo Quả cao hơn." Nghĩ vậy, vị ấy đáp lời: "Bạch Ngài, con đây."

Chỉ một tiếng gọi "Sa-di, lại đây", vị ấy liền đi đến chỗ vị Tỳ-kheo trẻ và nói:

"Bạch Đại đức, xin ngài hãy bước lại phía này một chút." Vị Sa-di dẫn vị Tỳ-kheo đến và chỉ vào xác chết: "Bạch ngài, xin ngài hãy nhìn về phía kia." Chỉ trong khoảnh khắc đứng nhìn ấy, vị Tỳ-kheo trẻ cũng chứng đắc **quả Bất Lai**.

## PAGE 493

Khi quán sát tử thi như vậy, nam giới không nên nhìn thi thể nữ giới, và nữ giới không nên nhìn thi thể nam giới. Điều đó không thích hợp (asappāya). Chỉ nên quán sát những thi thể cùng giới tính với mình. (**Chú giải Trường Bộ Kinh 1, 259 - bài kinh Đại Niệm Xứ - phần giảng về Hết sức tỉnh giác thích hợp (Sappāya-sampajañña).**)

Giống như trường hợp Đại đức **Mahā Tissa** trú tại núi Cetiyapabbata (đã được đề cập), hay vị Sa-di đệ tử của Đại đức **Saṅgharakkhita** khi nhìn thấy một vị vua đang cưỡi voi, dù nhìn vào những người đang còn sống, đề mục tử thi (asubha-kammaṭṭhāna) vẫn có thể hiện khởi rõ rệt. (**Thanh Tịnh Đạo 1, 188-9. Chú giải Tương Ưng Bộ Kinh 3, 219 - phần giảng về bài kinh Niệm (Sati-sutta). Chú giải Luật tạng 1, 166**)

Dựa trên câu ngạn ngữ "Một lần đi viếng đám tang bằng mười lần đến chùa", những người đi viếng xác chết hay đi đưa tang hiện nay cần phải lưu tâm.

## PAGE 494

## CHƯƠNG (7)
### Các vị Đại đức mẫu mực về phương diện thần thông biến hóa

**Nếu làm chủ được tâm, sẽ đạt được mọi điều sở nguyện**

“Này các Tỳ-kheo... Ta không thấy một pháp nào khác khi được tu tập, khi được thực hành nhiều lần, lại trở nên mềm mại và nhu nhuyễn cho công việc như là tâm này.” (**Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Một Pháp**)

“Tâm đã trở nên nhu nhuyễn, giống như vàng đã được tôi luyện kỹ càng, sẽ kham nhẫn và thích hợp cho các việc như thần thông biến hóa (iddhividha).” (**Thanh Tịnh Đạo, chương Thần thông**)

## PAGE 495

### Đại đức Buddharakkhita - bậc bảo vệ nhanh nhất trước sự tấn công của Kim Xí Điểu

Tại núi Missaka (Cetiyapabbata) thuộc đảo Sri Lanka, có một địa danh lịch sử Phật giáo gọi là **Theramatthala**. (**Thera** = nơi các vị Trưởng lão như Ngài Mahinda, bậc truyền thừa Phật giáo sang Sri Lanka, đã đặt chân đến; **Amba** = có những cây xoài; **Thala** = gò đất/ngọn đồi). Tại vùng gò xoài nơi các vị Trưởng lão ngự trị này, có một vị Thánh A-la-hán oai đức và thần thông quảng đại tên là **Mahā Rohaṇagutta** đang cư ngụ.

Một ngày nọ, khi vị Đại đức ấy tuổi đã cao và lâm bệnh, ba mươi ngàn vị Tỳ-kheo đệ tử từ khắp nơi đã vân tập về để chăm sóc ngài. Tất cả những vị đệ tử này đều là những bậc Thánh A-la-hán đã chứng đắc các Thắng trí (abhiññā).

Trong số các vị Đại đức đó, có một vị đệ tử trẻ tuổi tên là **Buddharakkhita** mới được tám hạ. Vị Tỳ-kheo trẻ **Buddharakkhita** ngồi ở vị trí cuối hàng trong tăng chúng, đang cung kính phục vụ ở gần bên trong khi thầy mình là Đại đức **Mahā Rohaṇagutta** đang thọ dụng cháo (yāgu).

Có một thiện nam thường xuyên dâng cháo phục vụ Đại đức, vị này cũng đang cung kính đảnh lễ và ngồi gần bên Ngài. Thực chất, thiện nam đó chính là một vị Long vương (trong Chú giải chỉ nói là một vị Long vương).

Ngay lúc đó, trên không trung bỗng xuất hiện một con Kim Xí Điểu (Chim Thần Galon) đang bay lượn với tốc độ kinh khủng. Nó đến để vồ bắt và ăn thịt vị Long vương đang dâng cháo kia. Con Kim Xí Điểu lập tức lao xuống, nhưng ba mươi ngàn vị Đại đức đầy đủ thần thông (iddhipāda) tại đó đã không kịp trở tay để ngăn chặn mối nguy hiểm bất ngờ này.

(Thần thông của các vị Đại đức lúc ấy giống như một cỗ xe không thể khởi động máy ngay lập tức theo ý muốn).

Giữa lúc đó, vị Tỳ-kheo tám hạ **Buddharakkhita** đang ngồi cuối hàng tăng chúng, ngay khi nhìn thấy con Kim Xí Điểu lao xuống với tốc độ cực nhanh, ngài đã lập tức nhập vào định Thắng trí và hóa hiện ra một ngọn núi khổng lồ.

## PAGE 496

Vị trưởng lão Mahā Rohaṇagutta nắm lấy một cánh tay của thí chủ cúng dường vật thực (vốn là một vị Long vương) đang ngồi gần đó, rồi tức khắc kéo vị ấy vào trong hang núi. Đại bàng Kim Xí Điểu cũng bị va mạnh vào núi với tốc độ cao, đau đớn nên đã bay đi mất.

Khi ấy, Trưởng lão Mahā Rohaṇagutta nói rằng: "Này các hiền giả, nếu có các bậc Trưởng lão đầy đủ thần túc thông mạnh mẽ quy tụ tại đây mà không thể bảo vệ thí chủ hộ độ của mình khỏi bị Kim Xí Điểu bắt đi, thì chắc chắn chúng ta sẽ bị chê trách. Nhưng nhờ có hiền giả Rakkhita mà chúng ta mới thoát khỏi mối nguy bị chê trách này. Do đó, này các hiền giả, thứ vũ khí mà các vị phải luôn mang theo bên mình dù đi bất cứ nơi đâu, cần phải được lau chùi, mài dũa thường xuyên và luôn ở tư thế sẵn sàng."

Ý ngài muốn nói là: "Để có thể nhập vào thắng trí thần thông đã đắc theo ý muốn, vào thời điểm và địa điểm cần thiết, các vị cần phải rèn luyện ngũ tự tại (vasībhāva) cho thật thuần thục và nhuần nhuyễn." Kể từ đó, các bậc Trưởng lão đã vân tập cũng nỗ lực rèn luyện để có thể sử dụng thần thông như ý.

### Vị Trưởng lão ngăn chặn trận mưa than hồng của Ma vương

Ngoài ra, tại đảo Sīhaḷa (Sri Lanka), bắt đầu từ núi Cetiyapabba (nay gọi là Mihintale), nơi ngài Mahinda cùng các bậc Trưởng lão A-la-hán truyền giáo trú ngụ, không chỉ toàn bộ đảo Sīhaḷa mà ngay cả trên mặt biển trong phạm vi một do-tuần cũng thường tổ chức các đại lễ cúng dường đèn dầu quy mô lớn. Buổi lễ cúng dường này được gọi là lễ "Giribhaṇḍavāhana".

Có một lần, khi đại lễ cúng dường đèn dầu đang diễn ra, từ trên không trung, Ma vương đã tạo ra một trận mưa than hồng trút xuống khắp hòn đảo. Lúc đó, một vị Trưởng lão để ngăn không cho dù chỉ một tia lửa nhỏ rơi trúng người dân, đã lập tức nhập vào định phướn đất (pathavī-kasina), biến hiện ra một mặt đất rộng lớn trên không trung để ngăn chặn trận mưa ấy.

Tuy nhiên, chi tiết về câu chuyện này không còn tìm thấy trong các bản Chú giải và Sớ giải nữa. (Visuddhimagga-1, 150; sđd-2, 4.)

## PAGE 497

### Vị Sa-di Saṅgharakkhita dùng ngón chân kẹp và rung lắc lâu đài Vejayantā

Trưởng lão Mahānāga, vị trú ngụ tại vùng biển, có một người cháu cũng là đệ tử Sa-di tên là Saṅgharakkhita. Sa-di Saṅgharakkhita là vị đã chứng đắc quả vị A-la-hán ngay khoảnh khắc xuống tóc khi xuất gia. Vị ấy cũng đầy đủ các thần túc thông.

Ngay sau khi đắc quả A-la-hán, Sa-di Saṅgharakkhita đã suy nghĩ rằng: "Liệu trong quá khứ đã từng có vị sư nào chứng đắc A-la-hán ngay trong ngày xuất gia và đã từng rung lắc lâu đài Vejayantā của Thiên chủ Sakka hay chưa?" Khi biết rằng trong Giáo pháp chưa từng có vị sư nào làm như vậy, với tâm muốn thử sức, vị ấy nghĩ: "Ta sẽ rung lắc cho xem." Nói rồi, vị ấy lập tức dùng thắng trí bay lên cõi trời Tāvatiṃsa (Tam Thập Tam Thiên) và đứng trên nóc lâu đài Vejayantā.

Tuy nhiên, khi dùng chân thử rung lắc lâu đài, lâu đài vẫn không hề lay chuyển. Lúc đó, các thiên nữ tùy tùng của Thiên chủ Sakka đã chế giễu vị Sa-di trẻ Saṅgharakkhita rằng: "Sa-di Saṅgharakkhita con ơi, mùi hôi hám từ bụng mẹ trên đầu con còn chưa dứt, mà con dám lên cõi trời để rung lắc lâu đài Vejayantā sao... Làm sao mà được hả Sa-di, lâu đài Vejayantā này vô cùng kiên cố."

Khi bị các thiên nữ chế giễu, Sa-di Saṅgharakkhita nghĩ rằng do mình chưa học hỏi đầy đủ phương pháp từ thầy nên mới bị nhạo báng như thế. Vị ấy bèn quán sát nơi trú ngụ của thầy mình là Trưởng lão Sāmuddika Mahānāga, thấy ngài đang biến hiện ra một gợn sóng lớn giữa đại dương để nghỉ ngơi vào ban ngày. Vị ấy lập tức đến chỗ thầy, đảnh lễ rồi đứng sang một bên. Ngài liền phán rằng: "Này Saṅgharakkhita hiền hữu, con chưa học hỏi thấu đáo mà đã muốn xông pha trận mạc rồi sao?"

## PAGE 498

Ngài hỏi tiếp: "Này con, con đã không thể làm rung chuyển lâu đài Vejayantā đúng không?" Khi vị Sa-di thưa rằng do chưa được thầy hướng dẫn và dạy bảo nên đã không làm được, ngài liền dạy:

"Này Saṅgharakkhita, nếu người như con mà không rung lắc được thì trên thế gian này còn ai làm được nữa hả con. Này con, con có từng thấy những miếng phân bò khô nổi lềnh bềnh và trôi trên mặt nước không? Lại nữa, này con, khi người ta chiên bánh trong một cái chảo dầu lớn, con có thấy dầu sôi tạo thành một khoảng ngăn cách xung quanh mép chảo không? Chỉ cần bấy nhiêu thôi chắc con đã hiểu rồi chứ..."

Vị Sa-di thưa: "Bạch ngài, như vậy là đủ rồi ạ." Nói đoạn, vị ấy phát nguyện cho toàn bộ nền móng nơi lâu đài Vejayantā tọa lạc biến thành nước, rồi lập tức bay trở lại cõi trời Tāvatiṃsa. Khi thấy Sa-di Saṅgharakkhita quay lại, các thiên nữ lại vây quanh nhạo báng: "Đã một lần mất mặt rồi mà vẫn không biết điều sao, vị Sa-di nhỏ lại quay lại lần nữa kìa." Nhưng Thiên chủ Sakka đã ngăn lại: "Các bà đừng có tranh đua lời tiếng với con ta. Bây giờ nó đã được thầy chỉ dạy rồi. Nó sẽ rung lắc lâu đài của các bà trong nháy mắt cho xem. Đừng nói nữa."

Sa-di Saṅgharakkhita dùng ngón chân cái kẹp lấy đỉnh tháp của lâu đài Vejayantā rồi rung lắc mạnh đến mức rung chuyển dữ dội. Lúc này, những thiên nữ vừa chế giễu khi nãy mới hốt hoảng la hét và cầu xin: "Bạch ngài Sa-di, xin ngài đừng rung thêm nữa. Xin ngài dừng lại đi." Sa-di Saṅgharakkhita để lâu đài đứng yên như cũ, rồi đứng trên đỉnh tòa lâu đài mà thốt lên lời tự thán rằng:

"Hôm nay mặc y, hôm nay thành A-la-hán, và cũng chính trong ngày hôm nay ta đã có thể làm rung chuyển lâu đài Vejayantā vĩ đại! Ân đức của Đức Phật, ân đức của Giáo pháp cao thượng, và ân đức của chư Tăng thật kỳ diệu và cao thượng xiết bao!" (Chú giải Trường Bộ Kinh - 2, 148, phần mở đầu về động đất trong Kinh Đại Bát Niết-bàn. Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh - 3, 251.)

## PAGE 499

Tấm gương mẫu mực về việc nhập Diệt Thọ Tưởng Định

## Đại đức Mahānāga

Một bậc trưởng lão thời Sīhaḷa được tôn vinh làm mẫu mực trong việc nhập Diệt Thọ Tưởng Định là **Đại đức Mahānāga**.

Một ngày nọ, khi đang trên đường đi khất thực tại làng của mẹ mình (mẫu tử cư sĩ), **Đại đức Mahānāga** nhận bát cháo do mẫu thân cúng dường, rồi tạm dừng chân nghỉ ngơi tại nhà nghỉ (sala) ăn cơm trong làng. Ngay khi đang ngồi tại đó, Ngài đã nhập vào Diệt Thọ Tưởng Định.

Nhập Diệt Thọ Tưởng Định là trạng thái mà bậc Thánh vì sự nhàm chán đối với những khổ đau của hành uẩn, không còn mong muốn gì nơi thân ngũ uẩn hiện tại, nên tiến nhập vào trạng thái vắng lặng tuyệt đối (**Niết-bàn lạc**) để an trú một cách tự tại và an lạc.

### Người có khả năng nhập Diệt Thọ Tưởng Định và cách phát nguyện

Diệt Thọ Tưởng Định này chỉ có những bậc Bất Lai (Anāgāmi) và bậc A-la-hán (Arahant) có đắc các thắng trí mới có khả năng nhập định. Các Ngài có thể an trú trong trạng thái vắng lặng đó suốt bảy ngày đêm. Trước khi nhập định, vị ấy phải phát nguyện (adhiṭṭhāna) trước để các vật dụng cá nhân của mình không bị hư hại bởi lửa, gió, nước, trộm cướp hay chuột bọ. Ngoài ra, cũng cần ấn định thời gian xả định, phát nguyện để khi Đức Thế Tôn gọi (nếu còn tại thế) thì sẽ hay biết, và cũng để không bị lỡ các công việc thuộc về Tăng sự lớn nhỏ.

Trong lúc **Đại đức Mahānāga** đang nhập Diệt Thọ Tưởng Định tại nhà nghỉ, cũng có những vị Tỳ-kheo khất thực khác đang tạm nghỉ ngơi tại đó. Bất ngờ, hỏa hoạn xảy ra thiêu rụi nhà nghỉ, các vị Tỳ-kheo khác vội vã mang theo tọa cụ và bát của mình tháo chạy ra ngoài.

Khi dân làng thấy lửa cháy liền tụ họp lại cứu hỏa, họ trông thấy **Đại đức Mahānāga** vẫn đang ngồi tĩnh tọa giữa vòng vây của lửa đỏ.

## PAGE 500

Lửa đã bao vây chung quanh Ngài và thiêu rụi mọi thứ cỏ tranh, gỗ, tre nứa.

Dân làng nhìn thấy **Đại đức Mahānāga** thì cứ ngỡ Ngài đang ngủ gật nên trách móc rằng: "Vị sư này thật là lười biếng quá đỗi", rồi họ khiêng những chum nước đến dội để dập lửa. Tuy nhiên, vị trưởng lão vẫn bất động, không hề rung chuyển. Sau một thời gian, nhận thấy đức hạnh cao thượng của Ngài, họ vội vàng dọn dẹp tro bụi và than củi. Sau đó, họ trét phân bò tươi làm nền đất bóng loáng, tìm kiếm đủ loại hoa có được để trải thành một chiếc nệm hoa dâng cúng. Mọi người kéo đến chiêm bái và đảnh lễ trong sự kinh ngạc.

### Hiển thị thần thông có phải để cầu danh, cầu lợi?

Khi đến thời gian đã ấn định, **Đại đức Mahānāga** xả định đứng dậy. Thấy các cư sĩ đang đảnh lễ cúng dường mình, Ngài suy xét rằng: "Đức hạnh thiền định mà ta hằng che giấu nay đã hiển lộ rồi", và vì thấy không cần phải che giấu thêm nữa, Ngài đã từ nơi đó bay vọt lên hư không và đi đến đảo Piyangu. (**Thanh Tịnh Đạo**-2, 348.)

Chư Tỳ-kheo không được hiển thị thần thông trước các cư sĩ và Sa-di. Nếu nói thật (về pháp thượng nhân của mình) sẽ phạm tội Ưng đối trị (**Bhūtārocana**). Tuy nhiên, với các vị đồng phạm hạnh đang cùng tu tập thì có thể nói được.

"**Đại đức Assagutta** khi muốn truyền dạy pháp môn thiền định cho các đệ tử có tâm nguyện tu tập tinh tấn xả thân, Ngài đã trải một tấm da thú trên hư không, ngồi kiết già trên đó rồi mới ban bố pháp môn thiền định." – có ghi lại trong **Thanh Tịnh Đạo**-1, 95.

Nếu cần thiết cho giáo pháp, các bậc Thánh vẫn sử dụng thần thông. Khi Đề-bà-đạt-đa chia rẽ Tăng chúng, dẫn các Tỳ-kheo đi theo mình, để thu phục họ trở về, **Ngài Xá-lợi-phất** đã dùng Thuyết phục thần thông (**Āṇādesanā pāṭihāriya**) và **Ngài Mục-kiền-liên** đã dùng Biến hóa thần thông (**Iddhipāṭihāriya**) bay lên không trung để đưa họ trở lại. (**Luận giải Luật và Pháp**-1, 92 – **Chuyện Đề-bà-đạt-đa**). Ngay cả Đức Thế Tôn cũng khuyến khích **Ngài Sāgata** hiển thị thần thông, tùy theo xu hướng của người đáng được tế độ mà Ngài cho phép dùng thần thông (V-3, 266 và Luận giải, 364). Từ thời Phật, **Bà-la-môn Saṅgārava** từng bạch hỏi vì nghĩ rằng các Ngài hiển thị thần thông là để cầu vật phẩm, và Đức Phật cũng đã giải thích cặn kẽ. (**Luận giải Tăng Chi**-2, 151 – **Kinh Saṅgārava**). Các bậc Thánh không bao giờ sử dụng thần thông để cầu tài lộc. (**Luận giải Kinh tạng**-2, 237).

Tấm gương mẫu mực về việc nhập Diệt Thọ Tưởng Định

### Đại đức Cūḷasamudda dùng thần thông thỉnh mời bảy trăm vị Tỳ-kheo

Khi nạn đói (Dubbhikkhantara) xảy ra trên toàn đảo Sīhaḷa, chư Tăng, những người nương tựa vào cư sĩ để duy hành đạo pháp, lại càng gặp nhiều khó khăn gian khổ hơn.

Trong thời kỳ loạn lạc và khó khăn đó, có bảy trăm vị Tỳ-kheo đã đến tìm gặp **Đại đức Cūḷasamudda**. Vị đại đức vô cùng lo lắng về phần vật thực cho tăng chúng. Vì số lượng Tỳ-kheo tăng lên quá nhiều, Ngài dùng tuệ quán xem xét các vùng miền lân cận nhưng chẳng thấy nơi nào trên toàn đảo Sīhaḷa có đủ vật thực để cung ứng cho một đoàn Tăng đông đảo như vậy.

### Biến xa thành gần, biến nước thành đất

Thế rồi, Ngài nói với bảy trăm vị Tỳ-kheo rằng:

"Này chư Hiền... hãy đến đây, đắp y, mang bát, chúng ta đi khất thực." Nói rồi, Ngài dùng thần thông thu ngắn mặt đất, đưa đoàn Tăng từ Sīhaḷa đến thành Pāṭaliputta (Ấn Độ) để khất thực. Các vị Tỳ-kheo hết sức kinh ngạc vì đây là thành phố họ chưa từng đặt chân tới, nên đã bạch hỏi và được Ngài giải đáp như sau:

**Chư Tăng**: Bạch Ngài... đây là thành phố nào vậy?

**Đại đức**: Này chư Hiền... đây chính là thành Pāṭaliputta.

**Chư Tăng**: Bạch Ngài... kinh thành Pāṭaliputta chẳng phải ở rất xa nơi của chúng ta sao?

**Đại đức**: Này chư Hiền... các bậc trưởng lão có thể mang những thứ ở xa về làm cho gần lại được.

**Chư Tăng**: Ôi... vậy còn đại dương nằm ở đâu rồi, bạch Ngài?

