## PAGE 502

**Trưởng lão**

"Này các hiền giả... Khi đến đây, chẳng phải các vị đã băng qua một con mương nhỏ nước xanh trong vắt ở giữa đường hay sao?"

Chư Tăng đáp: "Bạch Thế Tôn, đúng vậy... chúng con đã băng qua. Tuy nhiên, bạch Ngài, đại dương quả thật là vô cùng vĩ đại."

**Trưởng lão**

"Này các hiền giả... các bậc Trưởng lão già dặn có khả năng làm cho những điều to tát trở nên nhỏ bé lại."

## Trưởng lão Tissadatta dùng thần lực chiêm bái cội Đại Bồ-đề

Tiếp nối câu chuyện về vị Đại Trưởng lão Cūḷasamudda ở trên, bậc ân sư **Mahā-Buddhaghosa** đã thuật lại câu chuyện về Trưởng lão **Tissadatta**. Vị Trưởng lão này vào một buổi chiều nọ, sau khi vừa tắm rửa xong và đắp y thượng (ekasī) một cách chỉnh tề, tâm khởi lên ý muốn chiêm bái cội **Đại Bồ-đề** tại **Aparājita-pallaṅka** thuộc **Majjhimadesa** (Trung Ấn). Ngài đã dùng thần lực thu ngắn khoảng cách biển khơi giữa Sri Lanka và Ấn Độ, khiến cho cội **Đại Bồ-đề** hiện ra ngay trước mắt để chiêm bái mà không cần phải đi đâu xa.

## Trưởng lão biến nước thành bơ trong

Thực tế, thần thông chính là khả năng biến hóa, tạo tác mọi việc theo ý muốn của bậc có thần lực. Có lần, Trưởng lão **Mahā-Anuḷa** nhìn thấy các Sa-di và Tỳ-kheo bên bờ sông **Gaṅgā** phải thọ thực cơm không mà không có món ăn kèm (canh/nước sốt). Ngài liền phát nguyện rằng: "Ước mong nước sông Gaṅgā này trở thành bơ trong (sappi)". Ngài truyền đạt tưởng tri (saññā) ấy cho các Sa-di thấy; thế là các Sa-di đã dùng bát múc bơ trong ấy dâng lên cho chư Tăng. (**Vissudhimagga**-2. 32-3.)

Tương tự, Đại Trưởng lão **Assagutta** trú tại chùa Vattanīya thuộc dãy núi **Vijjha**, khi thấy chư Tăng thọ thực cơm không vì thiếu món ăn, hằng ngày vào mỗi buổi sáng Ngài đã biến nước trong hồ đá tại chùa đó mang hương vị của sữa chua (nộ-đắm) để chư Tăng sử dụng. Tuy nhiên, đến buổi chiều nếu múc lên thì nước ấy vẫn trở lại là nước bình thường. (**Vissudhimagga**-2, 60.)

## PAGE 503

## Trưởng lão Kuṭṭha Tissa bảo vệ đức tin của đức vua trước sự hiểu lầm

"Bạch chư tôn giả... xin hãy chỉ dẫn cho trẫm một vị Trưởng lão xứng đáng để trẫm được cúng dường và hộ độ." Vào năm 407 Phật lịch, đức vua **Saddhātissa** khi lên ngôi đã thỉnh vấn chư Tăng như vậy. Chư Tăng đã chỉ dẫn cho nhà vua đến đảnh lễ Đại Trưởng lão **Kuṭṭha Tissa** đang trú ngụ tại vùng **Maṅgala**. (Trong các bản Chú giải **Sārasaṅgaha** và bản Sri Lanka ghi là "**Trưởng lão Khuñja Tissa trú tại Maṅgaṇavāsī**".)

Ngay khi nhận được tin, đức vua vì lòng khao khát được chiêm bái nên đã truyền lệnh cho các đại thần cùng đoàn tùy tùng rầm rộ khởi hành, vượt quãng đường năm do-tuần đến nơi vị Trưởng lão cư ngụ. Từ đằng xa, khi nghe thấy tiếng xe, tiếng ngựa, tiếng voi và tiếng người huyên náo, vị Trưởng lão hỏi:

"Này các hiền giả... có tiếng động gì ở phía kia vậy?" — "Bạch Ngài, đức vua cùng đoàn tùy tùng đang đến để đảnh lễ Ngài đó ạ," các đệ tử thưa. Trong tâm vị Trưởng lão khởi lên ý nghĩ:

"Ta đã già thế này rồi, còn dính dáng đến cung đình nhà vua làm gì nữa?" Vì ghê sợ sự liên đới, thân cận với vua chúa (rājavallabha), nên trước khi nhà vua kịp đến nơi, Ngài đã mau chóng đi đến nơi nghỉ trưa (nơi trú dạ tu tập), nằm nghiêng trên một chiếc giường tre nhỏ (kvoat-pyit). Khi đoàn tùy tùng của nhà vua tiến vào chùa, Ngài chẳng mảy may nhìn ngó hay đón tiếp, mà cứ nằm sấp trên giường, dùng một chiếc que dài gạch xóa lung tung dưới đất. Việc dùng que vạch đất là điều mà bậc xuất gia không được làm, không chỉ phạm tội **Pācittiya** (Ưng đối trị) mà còn là biểu hiện của người có tâm không định tĩnh.

Khi đức vua vào đến chùa, sau khi hỏi thăm chư Tăng, ngài đã vội vã đi đến nơi vị Trưởng lão đang nghỉ. Từ đằng xa, trông thấy vị Trưởng lão đang dùng que gạch xóa những đường nét vô định xuống đất, đức vua khựng lại, không tiến bước thêm nữa và suy nghĩ:

## PAGE 504

"Chà... người ta nói rằng bậc A-la-hán không bao giờ có thói quen **hathakukkucca**, **pādakukkucca** (tay chân máy động, không thu thúc). Dù thiên hạ có đồn thổi thế nào đi nữa, nhưng vị Trưởng lão này xem ra không giống bậc A-la-hán chút nào."

Với nhận định và sự hiểu biết đó, đức vua quyết định không đảnh lễ nữa mà lập tức quay lưng trở về ngay. Sau khi nhà vua rời đi, toàn thể chư Tăng trong chùa đều vô cùng kinh ngạc. Các vị đại đệ tử liền đến gặp vị Trưởng lão và thưa:

"Bạch Ngài... tại sao đối với một vị đức vua đầy lòng tịnh tín, lặn lội đường xa đến chiêm bái như vậy, Ngài lại làm cho đức vua phải phiền lòng mà ra về?"

"Này các hiền giả... việc bảo vệ đức tin của đức vua không phải là trách nhiệm của các vị. (Đó không phải việc của các vị). Đó là việc của các bậc Trưởng lão già dặn. Các bậc Trưởng lão biết cách để bảo vệ đức tin (theo cách của mình)." Các vị đại đệ tử nghe xong vẫn không hiểu rõ ý của Ngài, đành lẳng lặng lui ra. Quả thật, phong thái của bậc thiện tri thức là điều rất khó thấu hiểu, dù tận mắt chứng kiến hay tận tai nghe thấy.

Khi vị Trưởng lão đã cao tuổi, lúc sắp sửa viên tịch Niết-bàn, Ngài đã dặn dò chư đệ tử:

"Này các hiền giả... sau khi ta mất, khi đặt linh cữu lên xe tang (pyathat), hãy đặt thêm một chiếc đầu (quan tài hờ) phụ lên trên đó để cúng dường." Dù không hiểu ý nghĩa của lời dặn, nhưng với đức tính vâng lời (sovacassatā) — luôn tuân hành lời dạy của các bậc hiền trí, sau khi Ngài viên tịch, chư đệ tử đã làm theo đúng như vậy: tạo một xe tang linh cữu có thêm một phần đầu phụ đặt trên tòa sen để cúng dường.

### Linh cữu bay lên không trung

Trước khi nhập diệt, vị Trưởng lão đã phát nguyện rằng:

"Ước nguyện sao cho khi đức vua vừa nhìn thấy xe tang linh cữu của ta, nó sẽ lập tức bay lên không trung, không gì ngăn trở, rồi mới hạ xuống mặt đất tại một nơi nào đó." Sau đó, Ngài đã xả bỏ ngũ uẩn.

## PAGE 505

**Các đệ tử** khi vị trưởng lão trút bỏ thân ngũ uẩn, họ đã đặt nhục thân ngài vào trong một chiếc linh cữu trên xe lọng tháp để cúng dường. **Ngay khi** nhục thân được đưa lên xe lọng tháp, tòa tháp lớn ấy liền bay vút lên hư không. Không chỉ bay lên, tòa tháp còn hướng thẳng về phía nơi đức vua đang ở, bay trên không trung suốt quãng đường dài năm do-tuần.

Suốt dọc đường trong phạm vi năm do-tuần, trên mỗi cây cao đều có các lá cờ phướn tung bay phấp phới để cúng dường nhục thân ngài. Tất cả các cây nhỏ, bụi rậm trong tầm năm do-tuần ấy cũng đồng loạt trổ hoa kết trái trái mùa, tất cả đều hướng về và nghiêng mình cúi xuống nơi nhục thân đi qua để cúng dường. Sự kiện này đã gây chấn động khắp đảo quốc Sīhaḷa.

Đức vua **Saddhātissa** nghe những lời đồn đại rằng: "Trưởng lão **Kuṭatissa** đã Niết Bàn rồi. Xe lọng tháp chở nhục thân ngài đang từ trên trời bay đến" thì ngài không tin. Dù các quan đại thần khẳng định tin tức ấy là xác thực, đức vua vẫn không thể tin được.

Tòa tháp bay đến trên không trung, nhiễu quanh bảo tháp Thūpārāma ba vòng theo chiều bên phải để cúng dường, sau đó dừng lại ngay trên hư không tại vị trí bảo tháp đá. Khi đó, bảo tháp đá cùng với phần nền và bệ tháp cũng bay lên không trung, di chuyển đến an tọa phía trên tòa tháp tháp. Các vị Tỳ-kheo và dân chúng chưa từng thấy sự việc hy hữu nào như vậy, đều vô cùng kinh ngạc, đồng loạt kéo đến chiêm bái và cúng dường.

## Trưởng lão Mahāvyaggha bay lên hư không và Niết Bàn

Trong khi xe lọng tháp chở nhục thân đang dừng trụ trên không trung để thọ nhận sự cúng dường, thì tại tầng thứ chín của tòa lâu đài đồng (**Lohapāsāda**) gần đó, có một vị trưởng lão tên là **Mahāvyaggha** cũng đang đứng giữa đông đảo chư Tăng để ban huấn từ về các thắng sự Luật văn. Nghe thấy những âm thanh ồn ào náo nhiệt, ngài hỏi:

## PAGE 506

"Này các hiền giả... những âm thanh phía bên kia là gì vậy?". Khi các đệ tử Tỳ-kheo bạch lại rằng Trưởng lão **Piṅgalavāsī Kuṭatissa** đã Niết Bàn và xe lọng tháp đang bay đến trên không trung khiến dân chúng đang tập trung chiêm bái cúng dường, Trưởng lão **Mahāvyaggha** sau khi dứt lời giáo giới đã nói rằng:

"Này các hiền giả... Ồ... nhờ nương tựa vào những bậc đại phúc đức mà chúng ta cũng sẽ được thọ nhận sự cúng dường". Nói đoạn, ngài yêu cầu các đệ tử và chư Tăng hãy kham nhẫn lỗi lầm của ngài nếu có về thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, rồi ngài ban lời giáo huấn sau cùng.

Sau khi chào từ biệt và thuyết giảng xong, ngay từ chỗ đó, ngài bay lên không trung hướng về phía xe lọng tháp. Khi đến nơi, ngài đi vào bên trong tòa tháp, nằm vào một chiếc linh cữu còn trống và nhập Niết Bàn tại đó.

Đức vua **Saddhātissa** khi thấy sự việc chấn động phi thường như vậy mới cùng đoàn tùy tùng nghi lễ đến nơi, dùng hoa và hương thơm từ xa hướng lên hư không chiêm bái cúng dường nhục thân. Ngay khi đức vua đến cúng dường, xe lọng tháp đang dừng trụ trên hư không liền tự động hạ xuống mặt đất.

Lúc bấy giờ, đức vua mới xin sám hối về những hiểu lầm trước đây và tổ chức đại lễ cúng dường vô cùng long trọng. Sau khi lễ trà tỳ hoàn tất, ngài đã xây bảo tháp để tôn thờ xá-lợi. (**Chú giải Tăng Chi Bộ, tập 2, trang 133 - Giải thích kinh Tiṭṭhāna.**)

## Bản thể của bậc Thánh, thật khó biết, chớ vội buông lời

Ngày nay, đối với các bậc thiện trí trí, bậc Thánh, chúng ta cũng thường nghe thấy những sự hiểu lầm tương tự như đức vua **Saddhātissa**. Những lời như: "Họ nói với tôi đúng như vậy mà. Chính mắt tôi thấy rõ ràng" v.v... họ lấy những gì mình tiếp xúc ít ỏi để khẳng định, khư khư giữ lấy quan điểm cá nhân. Thậm chí những người thông thạo Pháp học còn trích dẫn sách vở này nọ để chỉ trích, phê phán các bậc thiện trí một cách không liên quan.

## PAGE 507

Việc dùng những kiến thức học được từ mắt thấy tai nghe rồi suy diễn để nói lời xúc phạm qua khẩu nghiệp là một gánh nặng nghiệp quả cực kỳ to lớn.

Oai nghi, phong thái, bản ngã và lời nói của các bậc thiện trí quả thực rất khó thấu hiểu. Cứ nhìn vào cách hành xử của vị trưởng lão này thì sẽ thấy rõ.

Có lần, người viết này đi từ Yangon đến Mandalay để đảnh lễ một vị thiền sư nổi tiếng ở miền Thượng là bậc A-la-hán vừa trút bỏ ngũ uẩn. Khi đến Mandalay, một số vị sư nói rằng:

"Ồ... nếp sống của vị sư đó đúng là đáng tịnh tín thật lạc", rồi họ bắt đầu bằng chữ "nhưng" và nói tiếp. Họ chỉ ra tin đồn nghe được rằng vị thiền sư đó có gửi hai mươi ngàn tiền vào ngân hàng.

Họ lại kết luận rằng: "Khi một vị sư viên tịch, điều đáng buồn cho giáo pháp là cứ nghe chuyện để lại bao nhiêu vàng, bao nhiêu bạc". Mặc dù chuyện tiền bạc đối với các bậc thiện trí là rất minh bạch, nhưng để giải thích thì không hề dễ dàng.

Về phần tôi, tôi chỉ có thể thưa lại một cách giản đơn rằng với những bậc đức độ như vậy, số tiền cúng dường không chỉ là hàng chục ngàn mà có thể hàng trăm ngàn, và số tiền đó được giao cho **người hộ tăng** quản lý để sử dụng cho các lợi ích của giáo pháp như thế nào.

## Có phải Tỳ-kheo hễ đào đất là phạm tội?

Khi đó, một vị khác lại nói: "Ồ... chuyện đó cũng có thể đúng, nhưng mà...", vị này kể rằng chính mắt mình đã thấy vị sư đó sai các ông lục sư (các vị sư lớn tuổi) dùng cuốc xẻng đào đất khi xây chùa, đào ao, nên ông ta cảm thấy vô cùng thất vọng. Vị này khẳng định dựa trên sự kiện mắt thấy và trích dẫn kinh điển (**Học giới về đào đất - Paṭhavīkhana-sikkhāpada**) để phản bác rằng vị kia không thể là bậc Thánh.

Như một vị sư giảng dạy, việc trả lời những điều này không hề dễ dàng. Dù bản thân tôi không ngại bị coi là người có đức tin thái quá hoặc **mù quáng** (tin sai lệch), nhưng khi nghe những lời nói có nguy cơ phạm vào đại nghiệp **xúc phạm bậc Thánh** (ariyūpavāda), tôi nhận thấy cần phải có lời nhắc nhở cảnh báo thích đáng, vì vậy về điều học đào đất...

## PAGE 508

Trong **Học giới Đào đất (Khanaṇa-sikkhāpada)**, cũng giống như có những loại đất chư Tỳ-kheo không được phép đào, thì cũng có những loại đất có thể đào được. Thậm chí đối với loại đất không được phép đào đi nữa, thay vì ra lệnh: "Hãy đào chỗ này", nếu hành giả thay đổi cách dùng từ thuật ngữ hợp pháp (**Kappiya-vohāra**) như nói rằng: "Hãy đào ao", thì vẫn có thể khiến người khác đào giúp được. (Có thể xem chi tiết tại **Học giới Pācittiya về Đào đất**).

Việc đề cập đến vị **Đại trưởng lão Kuti-Tissa** dùng gậy viết vẽ lên mặt đất ở đây cũng là vì có liên quan đến học giới nói trên. Đối với các bậc thiện trí, việc các Ngài kính trọng và giữ gìn các học giới dù phải đánh đổi bằng cả mạng sống, so với sự kính trọng của hạng phàm phu thì gấp hàng trăm hàng ngàn lần, điều này tuyệt đối không có gì phải nghi ngờ.

### Bốn phương pháp để nhận biết bậc A-la-hán

Hãy cẩn trọng đừng để phạm phải khẩu nghiệp phê phán, can thiệp vào chuyện của các bậc thiện trí vốn là việc rất khó biết, chỉ dựa trên những gì mình thấy, mình nghĩ hay mình nghe được một cách phiến diện.

Vì lý do đó, Đức Thế Tôn đã từng thuyết giảng cho **vua Kosala** rằng:

1. **Saṃvāsena sīlaṃ veditabbaṃ**: Qua việc cùng chung sống mới có thể biết được giới hạnh có hay không.
2. **Saṃvohārena soceyyaṃ veditabbaṃ**: Qua việc đàm thoại mới có thể biết được sự thanh tịnh có hay không.
3. **Āpadāsu thāmo veditabbo**: Chỉ khi gặp nghịch cảnh mới có thể biết được nghị lực trí tuệ.
4. **Sākacchāya paññā veditabbā**: Qua việc thảo luận mới có thể biết được trí tuệ (theo kinh **Sattajaṭila** thuộc **Tương Ưng Bộ** và **Kinh Tập**).

Những điều này cũng chỉ có thể được nhận biết: (1) qua thời gian dài, (2) phải có sự tác ý, quan sát, (3) và bản thân người quan sát cũng phải có trí tuệ. Những người không có mắt trí, tai trí thì không nên tin theo những lời bàn tán dựa trên việc nghe thấy thoáng qua hay hời hợt. Hãy nỗ lực xây dựng cho mình mắt trí, tai trí để có thể thấy biết đúng đắn. Nếu chưa xây dựng được thì cũng hãy cứ giữ yên đó, chớ để lời nói quá đà, lỡ miệng.

## PAGE 509

**Yaṃ passati na taṃ diṭṭhi, yaṃ diṭṭhi taṃ na passati.**
**Apassī bajjhate mūḷho, bajjhamāno na muccati.**

(Các bản **Chú giải Kinh Niệm Xứ**.)

"Cái đang thấy thì không phải là tà kiến, cái là tà kiến thì không thực sự thấy. Kẻ phàm phu mê muội do không thấy rõ nên bị trói buộc vào cái nhìn của chính mình, vì bị trói buộc nên không thể thoát khỏi khổ đau."

### Trưởng lão Tālakūṭaka yêu cầu Thiên tử Mưa làm mưa ngay lập tức

Có một Thiên tử Mưa đến đảnh lễ và đứng hầu trước một bậc Thánh A-la-hán đang trú ngụ tại vùng **Tālakūṭaka** (theo bản **Sīhaḷa** là **Himālayakūṭa**).

**Trưởng lão**: Ngươi là ai?
**Thiên tử**: Bạch Ngài, con là Thiên tử Mưa.
**Trưởng lão**: Có đúng là các ngươi có thể làm mưa rơi xuống theo ý muốn của mình không?
**Thiên tử**: Bạch Ngài, đúng là như vậy.
**Trưởng lão**: Nếu vậy, ta muốn xem thử.
**Thiên tử**: Bạch Ngài, Ngài sẽ bị mưa làm ướt mất.
**Trưởng lão**: Mây không kéo đến, tiếng sấm cũng chẳng nghe, làm sao mà bị ướt mưa được?
**Thiên tử**: Bạch Ngài... nếu tâm chúng con hướng đến thì mưa sẽ rơi xuống ngay. Nếu Ngài không tin, xin mời Ngài tạm vào trong tịnh thất nhỏ kia.
**Trưởng lão**: Ờ, được rồi — Nói rồi Ngài rửa chân rồi bước vào trong tịnh thất.

Ngay khi vị Trưởng lão vừa bước vào trong tịnh thất, Thiên tử Mưa liền hát một bài hát và giơ tay lên. Dù không thấy mây, không nghe tiếng sấm, nhưng bầu trời ngay lập tức tối sầm lại và một trận mưa lớn đổ xuống bao trùm toàn bộ khu vực rộng ba tuần diên (yojana).

Ngay cả vị Trưởng lão đã đi vào trong tịnh thất cũng không tránh khỏi, một bên thân của Ngài cũng đã bị thấm ướt. (**Chú giải Tương Ưng Bộ 2, 322 - Valaahaka Saṃyutta**).

## PAGE 510

### Tám nguyên nhân gây ra mưa

Trong bản **Chú giải** có giải thích tiếp về tám nguyên nhân khiến mưa rơi như sau:

1. Do loài Rồng (Nāga)
2. Do loài Kim Xuy Điểu (Garuḷa)
3. Do thần lực của chư Thiên
4. Do sự phát nguyện chân thật (Sacca-kiriyā)
5. Do thời tiết (Rātu-utu)
6. Do sự biến hóa của Ma vương
7. Do thần lực của các bậc thiện trí
8. Do trận mưa phá hoại (Phyak-moe)

Trong **Chú giải Tiền thân Maccha (Ekanipāta)** có chép:

Theo lệnh của Thiên chủ Sakka, Thiên tử Mưa mặc một lớp áo mây, khoác thêm một lớp khác rồi vừa hát bài ca về mưa vừa chạy thẳng về hướng Đông của thế giới. Khi đó, ở phương Đông xuất hiện một cụm mây nhỏ bằng sân đập lúa, rồi dần dần biến thành hàng ngàn đám mây. Sét đánh vang rền và mưa đổ xuống dữ dội.

Trong **Kinh Valaahaka Saṃyutta (Tương Ưng Bộ)**, Đức Phật có dạy rằng có những vị Thiên tử đảm nhận các nhiệm vụ khác nhau liên quan đến thời tiết:

1. **Sītavalāhaka**: Thiên tử của thời tiết lạnh.
2. **Uṇhavalāhaka**: Thiên tử của thời tiết nóng.
3. **Abbhavalāhaka**: Thiên tử của mây mưa.
4. **Vātavalāhaka**: Thiên tử của gió.
5. **Vassavalāhaka**: Thiên tử làm mưa.

Trong số các vị Thiên tử đó, vị **Sītavalāhaka** tạo ra tia chớp để sinh ra thời tiết lạnh. Khi tâm vị ấy muốn mưa rơi, luồng khí lạnh sẽ lan tỏa và các đám mây mưa sẽ xuất hiện và trôi dạt khắp nơi. Thiên tử **Abbhavalāhaka** thì không liên quan đến nóng hay lạnh, vị ấy chỉ tạo ra thuần túy là mây.

Điều cần lưu ý đặc biệt là: vào mùa mưa hay mùa đông, việc trời trở lạnh theo lẽ thường là do **Định luật Thời tiết (Utu-niyāma)**. Nhưng việc trời trở lạnh vào mùa hè, hoặc lạnh hơn mức bình thường vào mùa đông, thì đó là do thần lực của vị Thiên tử **Sītavalāhaka**.

## PAGE 511

468

Tương tự như vậy, việc nóng bức, gió thổi, mây mưa xảy ra theo đúng chu kỳ tự nhiên là do đặc tính của **Utu** (thời tiết). Còn việc mưa gió xảy ra vào những lúc không nên xảy ra, hoặc mưa quá tầm mức bình thường, thì được biết là do năng lực của các vị chư thiên liên quan. (Theo **Aṭṭhakathā** đó.)

### 5 nguyên nhân khiến mưa không rơi

Trong **Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Năm Pháp, Phẩm Bà-la-môn, Kinh Vassa**, Đức Thế Tôn cũng đã thuyết giảng về năm nguyên nhân khiến mưa không rơi:

1. Do yếu tố nhiệt **Tejo** (hỏa đại) trong hư không bị rối loạn.
2. Do yếu tố **Vāyo** (phong đại) bị rối loạn.
3. Do đại lực sĩ **Rāhu Asurinda** dùng bàn tay rộng ba trăm do-tuần hứng lấy nước mưa đang rơi rồi đổ xuống biển cả.
4. Do chư thiên mưa (vassa-valāhaka devaputta) mãi mê vui chơi mà quên mất phận sự.
5. Do loài người không giữ gìn giới hạnh.

Vì có năm nguyên nhân này nên ngay cả những người có tài xem điềm mưa cũng không thể đoán định chính xác và thường hay bị sai lệch.

### Con người là yếu tố chính trong việc mưa hay không

Về vấn đề thời tiết và khí tượng, khoa học của con người ngày nay đang rất phát triển và mang lại nhiều sự hỗ trợ. Mỗi người giúp ích cho nhân loại theo chuyên môn riêng của mình, điều đó là không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, theo **Phật giáo**, trong việc mưa có rơi hay không, thời tiết và mùa màng có tươi tốt hay không, thì đạo đức giới hạnh của con người chính là nguyên nhân then chốt điều khiển tất cả. Điều này đã được nêu rõ trong nhiều bản văn Pāḷi.

Trong các bản kinh như **Chuyện Tiền Thân Gāmaṇicanda (Tiểu Bộ)**, **Chuyện Tiền Thân Rājovāda**, **Chuyện Tiền Thân Tesakuṇa**, v.v., cũng đã dạy rằng khi con người không có giới hạnh, thời tiết sẽ bất thường, mùa màng không tươi tốt, các tai họa và chiến tranh xảy ra dồn dập, và dưỡng chất trong đất đai sẽ bị ẩn sâu xuống dưới lòng đất khoảng bảy thước.

## PAGE 512

### Những bậc có khả năng làm mưa rơi tại Miến Điện

Trong **Chuyện Tiền Thân Maccha**, nhờ vào lời chân thật của vua Cá Đen mà mưa đã rơi xuống, điều này ai cũng biết rõ. Tại vùng Henzada, khi toàn vùng đang đối mặt với nguy cơ mất trắng hàng ngàn mẫu ruộng vì mưa cuối mùa không đến, bậc ân đức tôn sư **Ledi Sayadaw** đã thực hiện lời chân thật và khiến mưa rơi xuống một cách kỳ diệu.

Ngài **Nyaung Lunt Taw Ya Sayadaw** cũng từng dùng giới hạnh và định lực để làm mưa rơi tại những vùng hạn hán, điều này chúng tôi đã viết trong cuốn sách "Các bậc A-la-hán và những bậc đặc biệt". (Về lệnh truyền làm mưa dựa trên giới hạnh, định lực và sự thật của ngài **Thượng tọa Subhūti**, xin xem trong sách "Chú giải Mettāvāda-Brahmavihāra").

Cách đây khoảng hai mươi năm, khi các nhà lãnh đạo đất nước đến thăm huyện Yamethin, nơi vốn là vùng khô hạn, các bậc trưởng thượng địa phương đã khẩn khoản: "Thưa các ngài, xin chính phủ giúp đào một cái hồ lớn đủ để cả thành phố nhờ cậy". Chính phủ đã hỗ trợ đào hồ đó. Tuy nhiên, trong lần viếng thăm sau, các vị Hòa thượng và cư sĩ địa phương lại nói rằng:

"Thưa các thí chủ, việc đón tiếp các ngài không thiếu sót điều gì, nhưng vì ở Yamethin mưa vẫn chưa rơi nên chúng tôi không thể làm tròn phận sự tiếp đãi bằng nước sạch được". Khi các ngài Hòa thượng khuyên nên làm theo Phật pháp để cầu mưa, họ đáp: "Chúng tôi cũng đã làm rồi, nhưng mưa vẫn không rơi". Lúc đó:

"Vậy thì tôi sẽ cử một vị thầy biết cách làm mưa đến giúp". Nói rồi, một nhóm hộ tông do cư sĩ **Mahā Paññābala U Gyi Phay** dẫn đầu đã đến Yamethin. Ngay khi vừa đến, họ lập rạp bên trong lòng hồ lớn Yamethin, tổ chức các nghi lễ theo truyền thống, thực hiện rải tâm từ đến các vị chư thiên mưa, thọ trì giới đặc biệt, hồi hướng phước báu, cùng với việc tụng đọc Lệnh truyền mưa, Kinh cầu mưa (Vassa Paritta), v.v. Kết quả là mưa đã đổ xuống một cách rõ rệt và đáng kinh ngạc.

Trong kỳ **Kết tập lần thứ sáu (Chaṭṭha Saṅgāyana)** nhân dịp Phật lịch 2500, vào một ngày quan trọng nhất, trời bỗng mưa lất phất làm buổi lễ suýt bị gián đoạn, chính vị cư sĩ này cũng đã làm cho mưa tạnh.

## PAGE 513

470

Trong buổi lễ trao tặng tước hiệu **Mahā Paññābala** cho cư sĩ **U Gyi Phay**, một nhân vật cao cấp đã dẫn chứng sự việc thực tế và tán dương ngài là: "Vị thầy có khả năng làm cho mưa rơi và cũng có thể làm cho mưa tạnh".

Đây chỉ mới là giới hạnh và định lực của một người cư sĩ bình thường. Các bậc **trí giả xuất gia và trí giả tại gia** nên dựa theo phương pháp trong **Giáo pháp của Đức Phật** mà tin tưởng thực hành, với tâm nguyện cứu giúp đời sống nhân loại một cách hiệu quả nhất, nên tôi mới nêu ra những dẫn chứng này để khuyến tấn.

Đối với những việc mà người bình thường cho là vô cùng nan giải, không cách nào xoay xở được, thì đôi khi theo phương pháp của **Phật giáo**, với niềm tin chân chánh và sự thanh tịnh cao thượng, lại có thể đạt được thành công một cách rất dễ dàng.

### Vị vua có khả năng làm mưa rơi

Vào năm 794 Phật lịch, tại đảo quốc Sri Lanka, vị vua tên là **Sirisaṅghabodhi** (vốn xuất thân là một vị tướng) cũng đã dùng giới hạnh của mình để làm mưa rơi.

Dưới thời vị vua này, toàn đảo Sri Lanka bị hạn hán trầm trọng, nạn đói **Dubbhikkhandantara** (nạn đói do mất mùa) xảy ra. Một ngày nọ, vua đi đến sân **Đại Bảo Tháp (Mahā Cetiya)**, thọ trì giới hạnh một cách chu đáo, rồi nằm ngay trên sân tháp và phát nguyện:

"Từ ngày ta lên ngôi đến nay, ta luôn giữ gìn Ngũ giới một cách hết sức trong sạch, thế mà chúng sanh vẫn không được an lạc. Chừng nào mưa lớn chưa đổ xuống đến mức cuốn trôi cơ thể ta đi, thì dù có phải chết ta cũng cam lòng. Ta quyết không rời khỏi sân tháp này". Nhà vua đã dùng giới hạnh thực hiện lời chân thật và trú trong lời phát nguyện đó.

Sau một ngày, mưa lớn đổ xuống xối xả trên toàn hòn đảo. Tuy nhiên, mưa vẫn chưa đủ lớn để cuốn trôi người đi, nên vua **Sirisaṅghabodhi** vẫn chưa chịu đứng dậy. Các vị quan đại thần phải bí mật chặn các lỗ thoát nước quanh sân tháp mà vua không hề hay biết. Chỉ đến khi nước dâng lên khiến cơ thể bắt đầu trôi nổi, nhà vua mới chịu đứng dậy. (Theo **Mahāvaṃsa**-36, 75-79.)

## PAGE 514

### Chú Tiểu Giỏi Sử Dụng Thiền Chứng

Một vị Thánh A-la-hán đại trưởng lão nọ, khi định hành hương đến cúng dường Đại bảo tháp (Mahācetiya) và cây Đại Bồ-đề (Mahābodhi) ở đảo quốc Sīhala (Sri Lanka), đã rời ngôi làng nơi mình đang cư ngụ để đến đại tự viện Mahāvihāra. Đi theo ngài có một vị Sa-di nhỏ tuổi vốn đã thành tựu thần túc thông (iddhipāda). Hai thầy trò đã tạm trú tại một ngôi chùa thích hợp trong khuôn viên đại tự viện Mahāvihāra.

Vào buổi chiều, khi thấy chư Tăng thường tập trung đông đúc đi cúng dường Đại bảo tháp, vị trưởng lão vì lòng tôn kính và nể trọng chư Tăng nên e ngại rằng mình sẽ không thể nhất tâm hướng Phật một cách trọn vẹn. Do đó, ngài quyết định không đi vào lúc đông người.

Chờ đến khi chư Tăng đi lễ bái đã trở về và các hàng cư sĩ cũng đang dùng bữa tối (được gọi là sampajañña), lúc không gian đã yên tĩnh, vào một buổi chiều nọ, vị trưởng lão đã lặng lẽ lên đường mà không báo cho chú Sa-di biết. Khi không thấy thầy mình đâu, Sa-di suy nghĩ: "Quái lạ, sao giờ này không phải lúc thường lệ mà thầy lại đi một mình? Chắc có chuyện gì đây, mình phải đi theo để xem sao", rồi chú liền bám sát theo sau dấu chân của vị trưởng lão.

Trưởng lão không hề hay biết đệ tử đang theo sau. Ngài cứ thế bước đi theo lộ trình quen thuộc, tiến lên từ cổng phía nam của Đại bảo tháp, và vị Sa-di cũng lẳng lặng bước theo từ phía sau.

Khi lên đến sân bảo tháp, vị trưởng lão ngước nhìn Đại bảo tháp một lượt rồi nhất tâm hướng Phật, ngài thành kính đảnh lễ một cách bất động và tràn đầy hỷ lạc.

Đứng từ phía sau, chú Sa-di quan sát thấy thầy mình đang thành tâm lễ bái không chút dao động thì thầm nghĩ: "Ôi, Hòa thượng Tế độ của mình đang đảnh lễ Đức Thế Tôn với lòng tôn kính sâu sắc quá. Không biết nếu có hoa, ngài có muốn dâng cúng không nhỉ?". Ngay lúc đó, vị trưởng lão vừa lạy xong liền đứng dậy.

## PAGE 515

Ngài đứng chắp tay và ngước nhìn chiêm bái Đại bảo tháp. Lúc này, chú Sa-di khẽ tằng hắng để báo hiệu sự hiện diện của mình. Vị trưởng lão quay lại phía sau hỏi: "Này hiền giả Sa-di, con đến từ lúc nào vậy?". Sa-di bạch rằng: "Bạch thầy, con đã đến từ khi thầy bắt đầu hướng tâm về Đức Thế Tôn. Con thấy thầy đảnh lễ với lòng tôn kính và thanh tịnh vô cùng. Bạch thầy, nếu có hoa để cúng dường, thầy có muốn dâng cúng lên Ngài không?".

Vị trưởng lão đáp: "Rất tốt, này Sa-di. Không nơi nào có một ngôi bảo tháp tôn thờ nhiều Xá-lợi như Đại bảo tháp này. Nếu có hoa, ai mà không muốn dâng cúng lên ngôi bảo tháp vô song và cao quý đặc biệt này chứ?".

"Bạch thầy, vậy xin thầy hãy nán đợi một chút, con sẽ đi lấy hoa về", nói đoạn, chú Sa-di nhỏ tuổi liền lập tức nhập thiền chứng (jhāna-samāpatti) rồi dùng thần thông phi hành trên không trung đến núi Tuyết Sơn (Himavanta).

Sau khi hướng tâm cúng dường ở cổng phía nam, vị trưởng lão chuyển sang phía cổng tây. Trước khi vị trưởng lão kịp bước tới cổng tây, chú Sa-di đã trở về và đặt những đóa hoa đựng trong một chiếc bình lọc nước vào tay thầy mình.

Sa-di bạch: "Bạch thầy, xin thầy hãy dùng những đóa hoa đầy đủ sắc và hương này để dâng lên cúng dường". Trưởng lão nhìn chiếc bình lọc nước nhỏ xíu chỉ chứa được một ít nước rồi nói: "Này Sa-di, hoa của con sao mà ít quá vậy?". Chú Sa-di chỉ thưa: "Bạch thầy, xin thầy cứ việc dâng cúng theo ý nguyện. Thầy chỉ cần quán chiếu và cúng dường dựa trên ân đức và lòng tri ân sâu sắc đối với Đức Thế Tôn mà thôi".

Vị trưởng lão bước lên bậc thang từ cổng tây và rải hoa cúng dường trên tầng sân phía trên, bên dưới phần bát úp (thapana) của bảo tháp. Dù đã đi đủ một vòng bảo tháp nhưng hoa trong bình vẫn không hề vơi đi. Hoa phủ kín tràn trề khắp tầng sân phía trên rồi rơi xuống cả tầng sân bên dưới. Ngài bước xuống tầng dưới để tiếp tục cúng dường thì thấy hoa ở đây cũng đã phủ kín đến tận đầu gối vòng quanh bảo tháp.

## PAGE 516

Hoa từ tầng sân dưới tiếp tục tràn xuống phủ kín khắp phần đế bảo tháp.

Khi hoa đã phủ kín từ tầng trên xuống tận chân đế, không còn chỗ nào để đặt hoa nữa, ngài bèn rải hoa ra khắp sân bảo tháp khiến cả sân rộng lớn cũng ngập tràn sắc hoa. Vậy mà hoa trong bình lọc nước vẫn không hề giảm bớt.

Trưởng lão kinh ngạc: "Này Sa-di, hoa vẫn không sao hết được!". Chú Sa-di bạch: "Bạch thầy, xin thầy hãy lật ngược miệng bình xuống rồi rũ mạnh đi ạ". Trưởng lão làm theo, lúc đó hoa mới hết. Sau khi trao lại bình lọc nước cho chú Sa-di, hai thầy trò cùng đi nhiễu quanh Đại bảo tháp ba vòng theo chiều bên phải (hữu nhiễu) để cúng dường. Họ dừng lại ngồi hướng tâm về Đức Phật tại bốn phương rồi mới rời khỏi sân bảo tháp đi xuống.

Trên đường trở về chùa, vị trưởng lão suy xét về thần túc thông của chú đệ tử: "Hừm... chú tiểu này có thần thông thật dõng mãnh, nhưng liệu chú có giữ gìn được thần thông này mãi không?". Khi quán chiếu thấy chú không thể giữ gìn được lâu dài, ngài liền bảo: "Này Sa-di, con hiện giờ có thần thông rất lớn. Nhưng rồi sẽ có ngày, con tự mình đánh mất thần thông ấy, để cuối cùng phải uống nước cháo gạo do bàn tay của một cô gái mù dệt vải nấu cho thôi".

Tuy vậy, chú Sa-di khi nghe lời dạy của vị Hòa thượng Tế độ vẫn không hề khởi tâm kinh sợ (saṃvega) hay xin học đề mục thiền quán (Vipassanā-kammaṭṭhāna). Ngược lại, chú còn tự nhủ: "Thầy đang nói cái gì vậy không biết?", rồi chú cứ vờ như không nghe thấy mà tiếp tục bước đi.

Sau khi chiêm bái Đại bảo tháp và cây Đại Bồ-đề xong, vị trưởng lão bảo Sa-di mang giúp y bát rồi hai thầy trò cùng đi đến đại tự viện Kuṭeḷitissa (theo bản Sīhala là Kuṭetissa Mahāvihāra). Mỗi khi đi khất thực, chú Sa-di tuy đi cùng với thầy nhưng lúc rời chùa lại không đi cùng bước.

Chú thường hỏi: "Bạch thầy, hôm nay thầy sẽ đi khất thực ở làng nào ạ?", rồi chú nhận lấy y bát của thầy và đi trước đến ngôi làng đó...

## PAGE 517

Khi vị trưởng lão đến trước cổng nhà, vị Sa-di mới rời khỏi tự viện, dùng thần thông bay trên hư không để đuổi theo kịp. Chỉ khi sắp vào đến làng, vị ấy mới hạ xuống để dâng bát và y.

Vị trưởng lão thường xuyên nhắc nhở rằng: “Này con, chớ nên làm như vậy. **Tấn thần túc (iddhividha-ñāṇa)** của phàm phu không hề bền vững. Khi gặp phải sắc trần không thích hợp, nó có thể bị hủy hoại và mất sạch chỉ vì một điều nhỏ mọn. Nếu các **tầng định (samāpatti)** đã chứng đắc bị suy giảm, thì việc giữ gìn giới hạnh **phạm hạnh (brahmacariya)** cho được vẹn toàn cũng sẽ trở nên khó khăn.” Dù được dạy bảo nhiều lần như thế, nhưng vị Sa-di trẻ chẳng hề hiểu những lời đó có ý nghĩa gì, chỉ vờ như không nghe thấy.

Trưởng lão bèn đưa vị Sa-di đi chiêm bái các ngôi bảo tháp lớn rồi tiến về phía tu viện Kambubindhu (theo bản Srilanka là Kupuveṇa, theo Sārasaṅgaha là Kububojjha). Trong thời gian lưu trú tại đây, vị Sa-di vẫn tiếp tục sử dụng thần thông như cũ, không màng đến lời thầy dạy, cứ làm theo ý mình.

Đến giờ đi khất thực, vị trưởng lão một mình đi trước vào ngôi làng lớn của những người thợ dệt gọi là Kambubindhu. Khi trưởng lão sắp đến cổng làng, vị Sa-di lại theo thói quen bay trên không trung đuổi theo. Giữa tu viện và ngôi làng có một hồ sen lớn, vị Sa-di phải bay ngang qua hồ sen này. Ngày hôm đó, tại hồ sen, có một cô gái thợ dệt làng Kambubindhu dung mạo cực kỳ xinh đẹp đang vừa hái sen vừa cất tiếng hát du dương.

### Ghi chép về việc vì tiếng hát cô thợ dệt mà hoại định và rơi xuống

Tiếng hát của cô thợ dệt lọt vào tai vị Sa-di đang bay phía trên hồ sen, giống như con ruồi bị dính vào tơ nhện, tâm vị ấy bị dính chặt vào đó không thể rời ra. Ngay lập tức, thần thông **thắng trí (abhññā)** biến mất. Vị ấy rơi xuống mặt đất như một con chim bị gãy cánh.

Tuy nhiên, dù bị hoại **định**, nhưng nhờ vào năng lực của **tầng định (jhāna-samāpatti)** trước đó, theo lệ thường người ấy sẽ không rơi xuống kênh rạch hay biển cả. Người ấy cũng không bị thương tổn như kẻ bị đứt dây hay ngã từ trên cao, mà hạ xuống nhẹ nhàng như một cụm bông gòn.

## PAGE 518

Vị Sa-di bị đứt “dây định” ấy từ từ rơi xuống ngay bến hồ sen. Vì thời gian đã cận kề, vị ấy liền ôm y bát của thầy tế độ, chạy bộ đến cổng làng nơi trưởng lão đang đứng để dâng lên. Vị ấy không thưa gửi nguồn cơn một lời nào, lập tức quay đầu chạy về phía hồ sen. Trưởng lão tự nhủ: “Ta đã thấy trước điều này và ngăn cản nhiều lần, nhưng nó nào có biết nghe lời đâu,” rồi ngài không hỏi han gì thêm mà đi vào làng khất thực.

Vị Sa-di vội vã quay lại hồ sen, đứng tại bến hồ (nơi cô gái để lại quần áo) và chờ đợi cô gái thợ dệt bước lên.

Cô gái thợ dệt đã nhìn thấy vị Sa-di bay qua hồ sen trên không trung, nay lại thấy vị ấy đứng chờ ở bến hồ, cô biết rằng vị ấy đã nảy sinh tình cảm với mình. Tuy nhiên, vì lúc xuống hái sen cô không mặc y phục nên rất khó để bước lên bờ. Cô nói: “Bạch thầy, xin thầy vui lòng tránh đi một lát.” Khi vị Sa-di lánh đi chỗ khác, cô mới lên bờ mặc quần áo. Sau khi mặc xong, cô tiến đến gần vị Sa-di và cung kính hỏi han sự tình.

Khi vị Sa-di bày tỏ ý định hoàn tục để sống đời đôi lứa, cô thợ dệt đã nói rất nhiều về những lỗi lầm và khổ lụy của đời sống nhân gian (**sara-vāsa**). Cô đã khuyên nhủ và van xin vị ấy hãy ở lại trong giáo pháp để hưởng những lợi ích cao quý. Nhưng vị Sa-di vẫn khăng khăng từ chối lời khuyên của cô.

Thấy không thể khuyên can được nữa, lại cảm thấy thương xót cho vị Sa-di trẻ vì mình mà đánh mất năng lực **thần túc (iddhi)** lớn lao như thế, cô gái nói: “Nếu vậy, xin thầy hãy đợi ở đây một lát.” Cô xin lỗi rồi trở về nhà thưa chuyện với cha mẹ.

## PAGE 519

Khi cha mẹ cô đến nơi, họ cũng ra sức dỗ dành, khuyên nhủ vị Sa-di nhưng vị ấy vẫn một mực từ chối và khăng khăng đòi hoàn tục. Họ bèn nói:

“Này thầy, thầy tưởng gia đình chúng tôi là bậc quyền quý sao? Chúng tôi chỉ là những kẻ nghèo khổ, cả nhà cha mẹ con cái phải dệt vải suốt ngày mới có cái ăn. Công việc cực nhọc như thế, liệu thầy có làm nổi không?”

Vị Sa-di đáp: “Này thí chủ, đã làm người thì dù là việc dệt vải hay đan phên nứa, việc gì tôi cũng phải làm được. Xin thí chủ đừng tiếc nuối mà hãy cho tôi một bộ xá-lị (y phục cư sĩ).” Vừa nói vị ấy vừa nhìn vào xấp vải mà người cha đang kẹp bên nách. Người cha thợ dệt đành phải đưa bộ đồ đó cho vị ấy. Vị Sa-di lập tức hoàn tục và theo cô gái về nhà.

Người vừa hoàn tục ấy bắt đầu học nghề dệt tại làng thợ dệt Kambubindhu, làm việc cực nhọc để mưu sinh như bao người khác. Tất cả thợ dệt trong làng từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn đều phải tập trung làm việc tại một xưởng dệt lớn ở giữa làng. Họ phải nấu cơm từ sáng để mang theo ăn trưa, hoặc các bà nội trợ sẽ mang cơm đến tận nơi.

Trong khi các thợ dệt khác đến giờ ăn đều nghỉ tay dùng bữa, thì người thanh niên này vẫn chưa được ăn vì vợ chưa mang cơm đến. Bụng đói cồn cào, anh ta vừa phải quấn chỉ vào suốt vừa chờ đợi. Khi người vợ mệt rũ rượi mang cơm đến lúc trời đã về chiều, anh ta liền quát mắng: “Sao lại đến muộn thế hả?”

Thông thường, phụ nữ dù đối với một vị **Chuyển Luân Thánh Vương (Cakkavattī)** đi chăng nữa, một khi biết người đó quá si mê mình thì họ thường coi người đó như kẻ tôi tớ. Vì thế, cô ấy liền lên tiếng đáp trả một cách giận dữ:

“Này ông… ông chỉ biết quát tháo người khác thôi. Nhà người ta thì củi, nước, gạo, muối có sẵn, lại có người phụ giúp việc này việc kia. Còn tôi thì củi hết cũng tôi, gạo hết cũng tôi, một mình tôi phải lo liệu tất cả. Ông ở nhà có cái gì, thiếu cái gì ông cũng chẳng biết, chỉ giỏi quát mắng mỗi khi không vừa ý. Đây… cơm đây, thích thì ăn, không thích thì thôi!”

## PAGE 520

Khi vị Sa-di vừa hoàn tục, đứng giữa đám đông, lòng tràn đầy hổ thẹn và không thể kiềm chế cơn giận, nghĩ rằng: "Đã trưa muộn thế này mới mang cơm đến, lại còn dám nói lời xúc phạm, nhục mạ ta sao." Trong cơn giận dữ, anh ta tìm gậy để đánh nhưng không thấy, bèn vơ lấy chiếc suốt dệt vải ném mạnh vào mặt cô gái. Cô gái dệt vải vội né tránh, nhưng trớ trêu thay, đầu suốt dệt sắc nhọn lại đâm trúng mắt cô, khiến một bên mắt bị hỏng ngay lập tức.

Cô gái dệt vải lấy tay che mắt, khóc lóc thảm thiết, máu chảy đầm đìa. Lúc bấy giờ, vị Sa-di vừa hoàn tục cảm thấy vô cùng hối hận và khóc theo. Những người bạn đồng nghiệp bên cạnh khuyên nhủ rằng:

"Này anh bạn, giờ có khóc cũng chẳng ích gì, mắt đã mù thì khóc cũng không làm nó lành lại được." Khi họ khuyên anh nên bình tâm để lo liệu việc cần làm, anh mới nghẹn ngào:

"Tôi khóc không phải vì điều đó, mà vì tôi đã không nghe lời thầy dạy." Rồi anh thuật lại toàn bộ sự việc:

"Thầy Tế độ của tôi vốn có nhãn quan sâu rộng nên đã tiên liệu rằng: 'Con sẽ phải uống nước gạo do đôi bàn tay của một cô gái mù dệt vải nhào trộn.' Chỉ vì tôi không nghe lời thầy nên mới dẫn đến nông nỗi này." Nói rồi anh than khóc, lòng tràn đầy hối hận. Qua đó thấy rằng, thần túc thông thuộc hiệp thế nếu thiếu đi sự kiểm soát của sức mạnh xuất thế sẽ dễ khiến chúng sanh rơi vào khổ cảnh.

**(M-ṭṭh-3, 171 - Chú giải kinh Mahāsakuludāyī. Chú giải Bộ Phân Tích-278.)**

Đây là câu chuyện mà dân gian thường truyền miệng rằng: "Sa-di ham chơi thiền định, cuối cùng lại cưới cô nàng mù."

## Lúc là đỉnh tháp, lúc là củi đốt: Vị đắc thiền định

Có một thời, ba mươi vị Tỳ-kheo sau khi đảnh lễ bảo tháp Kalyāṇī Mahācetiya, trên đường trở về xuyên qua rừng thì gặp một ông lão vừa đốt than xong đang gánh than về. Ông lão này cả ngày ở trong rừng làm công việc đốt than, khi trời gần sập tối, ông thu gom những thanh củi than cháy dở

## PAGE 521

để gánh về nhà. Toàn thân ông lấm lem tro than đen nhẻm. Chiếc y quấn quanh mình cũng vặn xoắn lại, trông ông không khác gì một gốc cây cháy đen. Mái tóc rối bù xỏa xuống sau lưng khiến diện mạo ông trông thật đáng sợ. Trong khi ông gánh củi than rời khỏi nơi làm việc để ra đường lớn, các vị Sa-di đi cùng các vị trưởng lão nhìn nhau rồi trêu chọc rằng:

"Này Tissa, cha của chú đang đi tới kìa."
"Ồ không, đó là ông nội của chú đấy chứ," họ cứ thế cười đùa chế nhạo.

Khi ông lão đến gần, họ hỏi: "Này ông lão, tên ông là gì?" Ông lão đốt than cảm thấy lòng trĩu nặng, khẽ hạ gánh củi than xuống và thưa:

"Bạch chư sư, xin các ngài hãy dừng chân giây lát." Nói rồi, ông chỉnh đốn lại trang phục, quấn xà-rông gọn gàng rồi thành kính đảnh lễ các vị trưởng lão. Tuy nhiên, các vị Sa-di nhỏ vẫn tiếp tục cười đùa ngay trước mặt các bậc trưởng thượng. Thấy vậy, ông lão nói:

"Này các chú Sa-di, các chú nhìn tôi rồi cười nhạo như vậy sao? Xin đừng nghĩ rằng chỉ cần khoác lên mình tấm y vàng của Đức Phật là đã đủ đầy trọn vẹn. Bản thân tôi cũng từng là một vị Tỳ-kheo như các chú vậy.

Nhìn các chú Sa-di và chư vị nay, tôi thấy dường như ngay cả một chút tâm định tĩnh các ngài cũng chưa có được. Thời tôi còn là Tỳ-kheo tu tập trong giáo pháp, tôi đã từng đắc thần túc thông vô cùng lớn lao. Tôi có thể biến hư không thành đất bằng, biến đại địa thành hư không, làm cho xa hóa gần, gần hóa xa. Thậm chí tôi có thể du hành xuyên qua cả trăm ngàn thế giới trong nháy mắt.

### Đôi bàn tay từng chạm đến mặt trăng, mặt trời nay phải đi đốt than

Bạch chư sư, xin hãy nhìn đôi bàn tay hiện tại của tôi đây. Trông chúng chẳng khác gì đôi tay của loài khỉ trong rừng sao? Nhưng thưa các ngài, đã từng có lúc chính đôi bàn tay này, khi còn ngồi trên mặt đất nhân gian, có thể chạm đến và

## PAGE 522

vuốt mâm mặt trăng, mặt trời. Chính đôi chân này cũng đã từng giẫm lên mặt trăng mặt trời nhẹ nhàng như giẫm lên mảnh gốm.

Thế nhưng, những thần túc thông vĩ đại ấy đã hoàn toàn tan biến và hủy hoại, chỉ vì tôi đã buông lung, không giữ chánh niệm và không thực hành tuệ quán, cứ thế sống luống uổng trong sự phóng dật. Chư sư đã có duyên gặp được giáo pháp, xin đừng bao giờ lơ là chánh niệm. Nếu sống phóng dật, các ngài cũng sẽ rơi vào cảnh suy tàn và khổ não như tôi vậy. Nếu các ngài sống không phóng dật trong các thiện pháp, chắc chắn các ngài sẽ thoát khỏi vòng hiểm họa luân hồi của sanh, già và chết. Xin chư sư hãy nhìn tấm gương của tôi mà giữ gìn sự không phóng dật, luôn hằng hữu chánh niệm." Ông vừa nói lời sám hối, vừa thể hiện sự hổ thẹn trước những lời trêu chọc, khiến lòng người nghe khởi lên niềm kinh sợ đối với vòng luân hồi.

Ba mươi vị Tỳ-kheo cùng các vị Sa-di sau khi nghe những lời của ông lão, lòng tràn đầy niềm kinh sợ. Họ liền nỗ lực tu tập tuệ quán ngay tại đó và tất cả đều chứng đắc quả vị A-la-hán.

**(M-ṭṭh-3, 172 - Chú giải Bộ Phân Tích-282.)**

## PAGE 523

Chương (G)

**BẢN THỂ KHÓ BIẾT CỦA BẬC THÁNH VÀ ĐẠI NGHIỆP HỦY BÁNG BẬC THÁNH**

**Tranh luận và so bình giáo pháp**

"Này **Ananda**... sự tranh cãi trong nội bộ Tăng-già có thể xảy ra ở giai đoạn **Sơ đạo** (**Định**, **Tuệ quán**, **Đạo hiệp thế**) hoặc trong quá trình thực hành, nhưng điều đó là nhỏ nhặt. (Trong **Đạo siêu thế** thì không có gì để tranh cãi.) Tuy nhiên, nếu sự tranh cãi xảy ra, sự tranh cãi đó sẽ dẫn đến bất lợi và mất hạnh phúc cho đa số chúng sanh. Nó sẽ gây ra sự hủy hoại lợi ích và đem đến điềm không may cho số đông nhân loại. Nó chỉ khiến cho hết thảy chúng sanh, từ **Chư thiên** đến **Phạm thiên**, đều phải chịu cảnh khổ cực."

(**Sāmagāma Sutta**)

## PAGE 524

**Trưởng lão Dhammadinna, bậc cao nhân thuyết pháp hiển lộ địa ngục và thiên cung**

Tại chùa Talangara ở đảo Srilanka, **Trưởng lão Dhammadinna** là một bậc A-la-hán đại đức vô cùng lẫy lừng, đầy đủ thần thông. (Theo chú giải Trung Bộ Kinh 1, 18 nói rằng ngài trú tại núi Talangaratissapabbata.) Trong khi hai vị **Đại trưởng lão Mahānāga** và **Đại trưởng lão Mahātissa** nhờ đắc **Thắng trí** và **Thiền chứng** mà các **Tập khí** **Phiền não** tạm lắng dịu, khiến hai ngài lầm tưởng rằng phận sự sa-môn đã hoàn tất, thì chính **Đại trưởng lão Dhammadinna** là người đã chỉ ra con đường đúng đắn để các ngài đạt đến đích thực sự. (Xem thêm ở phần về **Trưởng lão Mahānāga** và **Trưởng lão Mahātissa**.)

Một ngày nọ, tại sân bảo tháp của **Tissamahāvihāra**, **Trưởng lão Dhammadinna** đã thuyết giảng kinh **Apaṇṇaka Sutta**. Kinh **Apaṇṇaka** vốn là một bài kinh trong **Mūlapaṇṇāsa Pāḷi** (Kinh Trung Bộ), bắt đầu bằng lời dạy rằng: "Một vị Tỳ-kheo đầy đủ ba pháp hành được gọi là đang thực hành **Apaṇṇaka-paṭipadā** (Pháp hành chắc chắn)". (Xem trong **Mūlapaṇṇāsa**.) Khi **Trưởng lão Dhammadinna** thuyết giảng bài kinh ấy, ngài hạ chiếc quạt đang cầm trên tay hướng xuống dưới, khiến thính chúng nhìn thấy một khoảng thông suốt trải dài xuống tận địa ngục **Avīci**. Khi ngài hướng quạt lên trên, họ thấy thông suốt cả sáu cõi trời và hai mươi cõi **Phạm thiên**.

Bằng cách dùng nỗi khổ địa ngục để răn đe và dùng hỷ lạc cõi trời để khuyến khích khi thuyết pháp, các thính chúng tùy theo Ba-la-mật của mình mà đắc chứng, người thì thành bậc **Dự Lưu**, kẻ thì chứng đạt đến quả vị **A-la-hán**. (**Visuddhimagga-2, 21**)

**Thỉnh mời Đại đức thuyết pháp**

**Đại đức Dhammadinna** vốn lẫy lừng ngay từ khi mới xuất gia, khi còn là một vị Tỳ-kheo trẻ. Số lượng những người nhờ nương vào **Y chỉ** của ngài mà chứng đắc pháp thượng nhân là vô cùng nhiều.

## PAGE 525

Khi nghe được tin tức đó, chư Tăng trú tại chùa **Tissamahāvihāra** ở kinh đô **Mahāgāma** đã bàn nhau rằng:

"**Đại đức Dhammadinna** không phải là hạng thầy ban cho những **Đề mục thiền định** không phù hợp với căn cơ của hành giả, hãy mau chóng thỉnh ngài về đây."

Nói rồi họ cử các vị Tỳ-kheo đi thỉnh **Đại đức Dhammadinna**. Khi các vị Tỳ-kheo này đến gặp ngài và thưa rằng:

"Thưa Hiền giả **Dhammadinna**, chư Tăng tại chùa **Tissamahāvihāra** cử chúng tôi đến thỉnh Hiền giả về hướng dẫn giáo pháp."

Ngài liền hỏi lại: "Bạch các Ngài, các Ngài đến đây là để tìm cầu lợi ích cho người khác hay tìm cầu lợi ích cho chính mình?"

Các vị Tỳ-kheo mới trả lời rằng họ chỉ muốn tìm cầu cho chính mình. Ngài liền ban cho **Đề mục thiền định**, và tất cả các vị Tỳ-kheo đó đều chứng đắc **A-la-hán quả**. Sau đó, không một ai quay trở về nữa.

Chư Tăng tại chùa **Tissamahāvihāra** thấy những người được cử đi không quay về, nên đã cử thêm hai đợt nữa. Nhưng lần nào cũng vậy, toàn bộ các vị Tỳ-kheo đến đó đều chứng đắc **A-la-hán** như nhau.

**Vị Tỳ-kheo lớn tuổi xuất gia muộn tiếp tục đi thỉnh**

Dù đã thỉnh ba lần nhưng ngài vẫn chưa ngự đến. Bởi lẽ ngài quán thấy rằng những người cần được giáo hóa thông qua việc thỉnh mời của chư Tăng chính là ba nhóm Tỳ-kheo đã đến, và đã xong việc; ngoài ra không còn ai khác cần ngài phải đích thân đi đến đó. Vì thấy mọi việc có thể hoàn tất ngay tại trú xứ của mình nên ngài đã không đi.

(**Chú giải**)

Vì thỉnh ba lần ngài vẫn không đến, mà những người đi thỉnh cũng không thấy về, nên cuối cùng họ lại cử một vị Tỳ-kheo lớn tuổi, vốn là người xuất gia khi đã già. Vị Tỳ-kheo này khi đến nơi liền nói: "Này Hiền giả **Dhammadinna**..., chư Tăng tại **Tissamahāvihāra** đã cử người đến thỉnh Hiền giả ba lần rồi. Cho dù là bậc như Hiền giả mà lại không tôn trọng uy quyền của Tăng đoàn sao, tại sao Hiền giả không đến?”.

## PAGE 526

Khi nghe vị đại diện Tăng-già nói như vậy, ngài nghĩ: "Việc không tuân theo mệnh lệnh của Tăng-già là chuyện gì nhỉ?" (Ngài không dùng trí quán xét mà chỉ nghĩ có thể có việc gì khác chăng), nên thậm chí không quay lại thảo am lợp lá của mình, ngài bảo lấy y bát rồi lên đường ngay lập tức.

## **Trưởng lão Mahādatta ở Hiṅkanavāsī - người tưởng mình đã là A-la-hán chỉ nhờ vào thiền định**

Trên đường đi, Trưởng lão ghé vào một ngôi chùa tên là **Hák-na**. Vị Trưởng lão **Mahādatta** trụ trì ở đó đã có sáu mươi hạ lạp, do đắc được các thắng trí và thiền định nên ngài lầm tưởng rằng phận sự sa-môn của mình đã hoàn tất. (Tương tự như cách Trưởng lão Mahānāga hóa hiện con voi để sách tấn), sau khi Trưởng lão đến và chỉ dẫn đúng hướng, vị ấy mới thực sự chứng đắc quả vị A-la-hán. (Mọi chi tiết hoàn toàn giống với câu chuyện của Trưởng lão Mahānāga nên không trình bày thêm.)

## **Trưởng lão Cūḷasumana ở Nikapannakavāsī**

Sau đó, Trưởng lão tiếp tục đi đến núi Cittalata. Tại vùng **Nikapannaka** trên ngọn núi đó, cũng có một vị Trưởng lão tên là **Cūḷasumana** đang lầm tưởng mình đã đắc quả A-la-hán. (Giống như cách Trưởng lão **Mahātissa** yêu cầu hóa ra hình ảnh một thiếu nữ đang ca hát nhảy múa trên đóa hoa sen), sau khi yêu cầu hóa hiện như vậy, ngài bảo: "Bạch Ngài, xin Ngài hãy quan sát thật kỹ cô gái đó nhiều lần đi ạ." Nói xong, Trưởng lão đi vào trong bảo tháp.

Chẳng bao lâu sau, vị Trưởng lão kia cảm thấy **tập khí ái dục** (Anusaya rāga) đã ngủ ngầm suốt sáu mươi năm nay bỗng trỗi dậy. Ngài nhận ra rằng: "Ta vẫn chưa phải là bậc A-la-hán." Ngài liền đến cầu pháp nơi Trưởng lão và sau đó đã chứng đắc quả vị A-la-hán.

## PAGE 527

### **Những người chỉ hài lòng với niềm hỷ lạc khi quét dọn hay niệm Phật**

Sau đó, Trưởng lão lên đường đi đến chùa **Tissamahāvihāra** theo đúng dự định ban đầu. Lúc bấy giờ, chư Tăng trú ngụ tại chùa **Tissamahāvihāra** chỉ chú trọng vào giáo pháp về việc quét dọn sân chùa (kiểu như 'tâm người sạch, tâm mình sạch'), họ luôn quét dọn sân tháp và hằng ngày chỉ hài lòng với niềm **hỷ lạc khi hướng tâm về đức Phật** (Buddhārammaṇa pīti) như vậy. (Trích dẫn trực tiếp từ bản chú giải - Tika).

Khi Trưởng lão **Dhammadinna** đến nơi, toàn thể chư Tăng trong chùa đang quét dọn sân tháp và đang chìm đắm trong niềm hỷ lạc niệm Phật. Trong số chư Tăng đang quét dọn đó, không một ai tiến đến để tiếp đón theo đúng bổn phận của vị gia chủ (āwāsika vatta) như: "Bạch Ngài, xin hãy đặt y bát ở đây", cũng không ai hỏi han gì cả.

Tuy nhiên, có một vị Trưởng lão vì nghĩ rằng: "Có lẽ đây là ngài Dhammadinna chăng?" nên đã đến để đàm luận và chất vấn về giáo pháp. Trưởng lão đã giải đáp tất cả các câu hỏi được đặt ra một cách dứt khoát và nhanh chóng, giống như một lưỡi dao sắc bén chém đứt lìa những cọng sen vậy.

Sau khi giải đáp xong, ngài dùng ngón chân gõ nhẹ xuống đất và nói:

"Trong giáo huấn của đức Phật, ngay cả mảnh đất **Đại địa** không có linh hồn này còn biết mở đường và ghi nhớ ân đức của **Dhammadinna** nếu ngài muốn đi vào lòng đất. Vậy mà các Ngài lại không hề biết đến những nghi thức tối thiểu như lời giao ước, bổn phận của vị gia chủ hay bổn phận tiếp đón khách tăng sao?" Nói đoạn, ngài liền bay vọt lên không trung và đi về phía núi **Talangarati ssa**.

(Theo lời dạy của Trưởng lão **Mahā-Buddhaghosa** và Đại sư **Dhammapāla** khi chú giải về kinh **Sallekha Sutta**, nói rằng nếu chỉ hài lòng với thiền định thì không thể đạt đến **Thánh Đạo, Thánh Quả**. Trích Majjhima Nikāya Aṭṭhakathā 1, 188).

## PAGE 528

### **Ngài Sudhamma - bậc mẫu mực về Trí Phân Tích, cháu của Trưởng lão Dhammadinna**

Sa-di **Sudhamma**, cháu của Trưởng lão **Dhammadinna**, đã đắc quả A-la-hán ngay khi đang chuẩn bị xuống tóc để xuất gia. Trong khi ngồi nghe người chú của mình thuyết giảng và phân định về giáo pháp, vị ấy đã trở thành một bậc kỳ tài thông thạo toàn bộ **Tam Tạng**.

Giống như Trưởng lão **Nāgasena**, vị ấy là một bậc ưu tú sở hữu **Trí Phân Tích** (Paṭisambhidā) vô cùng xuất sắc. (Trích Chú giải Vibhaṅga, trang 373 - phần giải thích về Paṭisambhidā Vibhaṅga.)

[Về câu chuyện của Trưởng lão **Dhammadinna**, còn được chép trong các truyện tích 'Sīhaḷa Dhammavatthu' số 20, 37, 39. Xin hãy tiếp tục tìm đọc để tăng trưởng lòng tịnh tín.]

---

### **Trưởng lão Mahānāga - người lầm tưởng đã hoàn tất phận sự sa-môn chỉ nhờ vào thắng trí**

#### **10 loại phiền não của Tuệ quán (Vipassanupakkilesa)**

Đối với những hành giả đang tu tập, có mười loại cấu uế của tuệ quán gọi là **Vipassanupakkilesa**, khiến cho việc thăng tiến giáo pháp bị trì trệ. Chúng cũng được gọi là những tác nhân làm suy tàn giáo pháp thực hành (**Paṭipatti Sāsana**). Do người ta thường lầm tưởng mười loại này là "pháp thượng nhân" nên không thể tiến xa hơn được. Mười loại đó là:

1. **Obhāsa**: Ánh sáng hào quang xuất hiện.
2. **Ñāṇa**: Trí tuệ trở nên sắc bén.
3. **Pīti**: Niềm hỷ lạc, hưng phấn.
4. **Passaddhi**: Sự khinh an, tĩnh lặng.
5. **Sukha**: Cảm giác hạnh phúc, lạc thọ.
6. **Adhimokkha**: Đức tin và quyết tâm mãnh liệt.
7. **Paggaha**: Sự nỗ lực, tinh tấn tăng cao.
8. **Upaṭṭhāna**: Niệm lực hiện rõ.
9. **Upekkhā**: Trạng thái tâm xả, bình thản.
10. **Nikanti**: Sự dính mắc, tham ái thầm kín đối với các trạng thái trên.

## PAGE 529

48.6

Trong mười loại đó, **Nikanti** (Tham ái vi tế) là chủ yếu. Đó là bất thiện pháp. Chín loại còn lại là những năng lực **Vipassanā** (Tuệ quán) tốt đẹp đang tiến triển. Tuy nhiên, vì hành giả thường lầm tưởng những hiện trạng này là pháp đặc biệt (đắc chứng) nên không thể tiến bộ thêm, do đó chúng được gọi là những cấu uế (tùy phiền não).

Mười loại này thường chỉ phát sanh nơi những người thực sự có lòng tinh tấn nỗ lực hành trì. Phần lớn chúng xảy ra nơi những bậc tu tập cả hai pháp **Samatha** (Thiền định) và **Vipassanā** (Tuệ quán). Nếu những vị này lầm tưởng mình đã chứng bậc Thánh (Ariya) và nói ra điều đó thì không có tội; trong Luật tạng, trường hợp này được cho phép và gọi là "**Adhimāna** — bậc lầm tưởng mình đắc chứng".

1. Những bậc đã là Thánh nhân,
2. Những người đang thực hành sai lạc,
3. Những người đã ngừng việc hành thiền,
4. Những người đang hành trì một cách lười biếng,
Thì mười loại cấu uế này không phát sanh.

Đặc biệt, các hiện trạng này thường xảy ra nơi những vị đã đoạn trừ phiền não bằng **Vikkhamtthanapahāna** (Pháp đoạn trừ bằng cách đè nén). (Về các hạng người đã lìa xa các triền cái phiền não, hãy xem câu chuyện về Trưởng lão Milakkhatissa trong chương Đoạn trừ Triền cái, Chú giải Tăng Chi Bộ). Các pháp này cũng được nói là thường xảy ra hơn nơi những vị có định lực **Samatha** mạnh mẽ đến mức nhập được các thiền chứng (samāpatti), và điều này hiển hiện rõ qua câu chuyện về Đại Trưởng lão Mahātissa.

Trong chương về **Upakkilesa** (Tùy phiền não) của **Visuddhimagga** (Thanh Tịnh Đạo) có trình bày câu chuyện về Trưởng lão Mahānāga, một trường hợp gần như hoàn toàn giống với Đại Trưởng lão Mahātissa. Ngoài ra cũng có nhắc đến hai vị khác là Trưởng lão Mahādutta cư ngụ tại vùng Haṅkana và Trưởng lão Cūḷasumana cư ngụ tại vùng Nikapennaka trên núi Cittalata. (Hãy xem ở chương về Trưởng lão **Dhammadinna**). Chuyện về Trưởng lão Mahānāga như sau:

Trưởng lão **Dhammadinna** cư ngụ tại vùng Talaṅgara là một bậc A-la-hán đã đắc **Pabhinnapaṭisambhidā** (Tứ Vô Ngại Giải). Ngài có rất nhiều đệ tử. Một ngày nọ, khi Trưởng lão **Dhammadinna** đang ngồi nghỉ trưa, Ngài khởi tâm quán xét: "Không biết thầy của ta là Đại Trưởng lão **Mahānāga** ở vùng Uccavālika đã hoàn thành việc của sa-môn (đắc quả A-la-hán) hay chưa?" Ngài liền biết rằng thầy mình vẫn còn là phàm phu. Biết rằng: "Nếu ta không đi đến đó, thầy ta sẽ phải chết trong thân phận phàm phu", Ngài liền dùng thần thông bay lên không trung và hạ xuống nơi Đại Trưởng lão Mahānāga

## PAGE 530

đang nghỉ trưa, rồi đảnh lễ Trưởng lão.

Trưởng lão hỏi: "Này hiền giả **Dhammadinna**, sao ông lại đến đây vào lúc không phải thời như thế này?"

Ngài đáp: "Con đến vì có vấn đề muốn thưa hỏi." Trưởng lão bảo: "Này hiền giả, cứ hỏi đi, nếu biết thì ta sẽ trả lời." Ngài liền hỏi một ngàn câu hỏi, và câu nào Trưởng lão cũng trả lời một cách trôi chảy, không chút ngập ngừng hay vướng mắc.

**Dhamma**: "Bạch Ngài, trí tuệ của Ngài thật vô cùng nhạy bén, Ngài đắc được pháp này từ khi nào ạ?"
**Mahā**: "Này hiền giả, tính đến nay là ta đã đắc được sáu mươi năm rồi."
**Dhamma**: "Bạch Ngài, Ngài có còn sử dụng **Samādhi** (Định) nữa không ạ?"
**Mahā**: "Này hiền giả, việc sử dụng **Samādhi** không có gì khó khăn cả."
**Dhamma**: "Nếu vậy, xin Ngài hãy hóa hiện một con voi cho con xem."

(Ngay lập tức, Đại Trưởng lão **Mahānāga** dùng **Abhiññā** (Thắng trí) hóa hiện một con voi trắng muốt toàn thân cho Ngài xem.)

**Dhamma**: "Bạch Ngài, bây giờ xin Ngài hãy hóa hiện con voi đó trong bộ dạng hung tợn, tai cụp, đuôi dựng đứng, vòi đút vào miệng và phát ra tiếng kêu kinh khiếp, rồi chạy thẳng về phía Ngài." Trưởng lão hóa hiện đúng như lời yêu cầu, khi thấy con voi hung dữ như vậy, chính Trưởng lão cũng hoảng sợ và định đứng dậy bỏ chạy.

Lúc bấy giờ, Trưởng lão **Dhammadinna** nắm chéo y của thầy mình lại và thưa rằng:
"Bạch Ngài, một bậc A-la-hán mà vẫn còn sự run sợ, hãi hùng hay sao?"

**Mahā**: (Khi đó Trưởng lão mới nhận ra mình vẫn còn là phàm phu) liền nói: "Này hiền giả **Dhammadinna**, hãy là chỗ nương tựa cho ta", rồi Ngài ngồi xuống bên cạnh chân của Trưởng lão **Dhammadinna**.

**Dhamma**: "Bạch Ngài, con đến đây chính là vì mục đích muốn làm chỗ dựa cho Ngài, xin Ngài đừng lo lắng." Nói đoạn, Ngài liền ban cho thầy đề mục **Kammaṭṭhāna** (Thiền định). Đại Trưởng lão **Mahānāga** vừa thọ nhận và thực hành theo đề mục thiền mà đệ tử mình trao cho, khi vừa bước lên đoạn đường kinh hành được ba bước, Ngài đã đắc quả A-la-hán. (**Visuddhimagga**-2, 270.)

## PAGE 531

**Trưởng lão Mahātissa, vị lầm tưởng đã hoàn thành việc sa-môn nhờ tám thiền chứng.**

Sự tịnh lặng của các triền cái phiền não (**Nīvaraṇa**) nhờ vào sức mạnh của các thiện hạnh, việc hành trì giới luật, pháp học và đầu-đà (dhutaṅga) thường không làm phát sanh sự lầm tưởng mình đã đắc pháp (**Adhimāna**). Tuy nhiên, định lực của những vị tu tập **Samatha** **Samādhi** (Định), các tầng **Jhāna** (Thiền) và **Samāpatti** (Thiền chứng) hiệp thế, kết hợp với việc tu tập **Vipassanā** (Tuệ quán), có thể khiến một số người lầm tưởng rằng mình đã chứng đắc pháp đặc biệt.

**Đức Phật không tiếp những vị chưa đắc mà tưởng đã đắc**

Ngay từ thời Đức Phật, có sáu mươi vị Tỳ-kheo nỗ lực hành trì **Vipassanā** (Tuệ quán), vì lầm tưởng mình đã hoàn thành xong việc của sa-môn nên cùng nhau đến đảnh lễ Đức Phật để trình báo pháp. Đức Phật biết rõ tâm niệm của họ nên đã lánh mặt không tiếp, đồng thời Ngài nhắn lại với Ngài **Ānanda** rằng hãy bảo các vị Tỳ-kheo đó đi đến nghĩa địa để quán sát **Asubha-kammaṭṭhāna** (Đề mục thiền bất tịnh). (Chú giải Pháp Cú-2, 71 — Câu chuyện về các vị Tỳ-kheo lầm tưởng mình đắc chứng. Xem thêm phần giải thích về học giới Pārājika thứ tư liên quan đến **Adhimāna**).

Sự lìa xa phiền não trong chốc lát như ánh chớp trong đêm (**Tadaṅga-pahāna**) hay sự lìa xa do đè nén như ném đá vào giữa rừng phù thủy (**Vikkhamtthana-pahāna**), nếu trạng thái đó kéo dài, hành giả rất dễ lầm tưởng rằng mình đã đoạn tận gốc rễ phiền não như bị sét đánh (**Samuccheda-pahāna**). Sau đây xin trình bày câu chuyện về Đại Trưởng lão **Mahātissa** thời Srilanka (như được chép trong Chú giải Tăng Chi Bộ-1, 32).

Đại Trưởng lão **Mahātissa** là vị đã đắc được các thiền chứng (**Samāpatti**) khi chưa tròn một hạ lạp. Nhờ vào năng lực đè nén phiền não (**Vikkhamtthana**) của các thiền chứng, các triền cái phiền não vắng bóng suốt sáu mươi mùa hạ, khiến Ngài không bao giờ nghĩ mình còn là phàm phu, mà luôn tin chắc mình đã là bậc Thánh (Ariya).

Ngay cả khi thảo luận hay thuyết giảng, Ngài cũng thường dùng các cử chỉ và lời lẽ như một bậc Thánh. Với lòng chân thành, Ngài luôn phát ngôn dựa trên niềm tin rằng mình thực sự đã đắc quả. Ngài cũng thường xuyên ban các đề mục **Kammaṭṭhāna** (Thiền định) cho người khác.

## PAGE 532

Vào một thời nọ, các vị Tăng chúng tại tu viện Tissa Mahāvihāra ở kinh đô Mahāgāma đã gửi thư thỉnh mời Trưởng lão Dhammadinna đang trú ngụ tại vùng Talangara đến để thuyết giảng Pháp. Sau khi nhận lời thỉnh mời, vị Trưởng lão suy nghĩ rằng: "Trong giáo đoàn của chúng ta, không có vị Trưởng lão nào có hạ lạp lớn hơn Trưởng lão Mahātissa. Ngài cũng là thầy dạy đề mục thiền (kammaṭṭhāna) của ta. Nếu cung thỉnh Trưởng lão Mahātissa làm vị trưởng đoàn (Saṅghanāyaka) cùng đi thuyết giảng thì thật tốt đẹp". Nghĩ vậy, Ngài cùng các đệ tử đi đến trú xứ của Trưởng lão Mahātissa.

Trong khi đang thực hiện các bổn phận lớn nhỏ và gần gũi vị thầy, Trưởng lão Mahātissa phán rằng: "Này Hiền giả Dhammadinna, đã lâu lắm rồi con mới đến đây". Trưởng lão Dhammadinna bạch rằng: "Bạch Ngài, đúng vậy ạ... Hiện nay các vị Tăng chúng ở tu viện Tissa Mahāvihāra có thỉnh con đến hướng dẫn Pháp, nhưng con không muốn đi một mình. Nếu Ngài không cảm thấy phiền hà, con kính thỉnh Ngài đi cùng chúng con với tư cách là vị trưởng đoàn để hộ trì cho chúng con". Sau đó, Ngài đã cùng vị Trưởng lão thảo luận và thưa hỏi về những vấn đề liên quan đến giáo pháp trong một thời gian dài.

Trưởng lão Dhammadinna đã khéo léo lồng ghép vào những câu chuyện đó để đột ngột thưa hỏi vào vấn đề cốt lõi.

**Dhammadinna:** Bạch Ngài, Ngài đã chứng đắc pháp thượng nhân này từ khi nào ạ?
**Trưởng lão:** Đã lâu rồi Hiền giả, đã sáu mươi năm rồi.
**Dhammadinna:** Ngài có thường xuyên nhập Định (samāpatti) không ạ?
**Trưởng lão:** Ừ... ta vẫn thường nương tựa vào Định.
**Dhammadinna:** Bạch Ngài, ngay lúc này nếu Ngài hóa hiện một hồ nước thì có được không ạ?
**Trưởng lão:** Việc đó... không khó gì. (Ngài liền hóa hiện một hồ nước ngay phía trước. Sau đó, Trưởng lão Dhammadinna lại thỉnh Ngài hóa hiện những cụm sen và những đóa sen lớn, Ngài cũng hóa hiện cho xem).
**Dhammadinna:** Bạch Ngài, con muốn Ngài hóa hiện một thiếu nữ khoảng 16 tuổi trên đóa sen lớn trong cụm sen đó, và xin Ngài hãy quan sát kỹ vẻ đẹp duyên dáng của thiếu nữ ấy.

Khi Trưởng lão Mahātissa đang mải mê quan sát thiếu nữ do chính mình hóa hiện ra, thì tùy miên khát ái (anusaya-taṇhā) vốn đang ngủ ngầm bỗng nhiên khởi phát. Lúc bấy giờ Ngài mới tự biết mình rằng: "Ta vẫn còn là một phàm phu (puthujjana) sao?".

## PAGE 533

Ngài liền nói: "Này bậc thiện tri thức (kalyāṇamitta) lớn, giờ đây con hãy là vị thầy, là chỗ nương tựa của ta", rồi Ngài ngồi xuống bên cạnh đệ tử của mình. Trưởng lão Dhammadinna bạch rằng: "Bạch bậc đại ân nhân, chính vì lý do này mà con đã đến đây". Nói xong, Ngài hướng dẫn đề mục thiền quán tử thi (asubha-kammaṭṭhāna) cho vị thầy rồi đi ra ngoài phòng. Vị Trưởng lão có khả năng quán chiếu sâu sắc về các pháp danh và sắc, nên chỉ trong khoảng thời gian ngắn khi người đệ tử lớn Dhammadinna vừa bước ra ngoài, Ngài đã chứng đắc quả vị A-la-hán cùng với bốn trí Tuệ phân tích (paṭisambhidā).

[Ghi chú: Trong mười loại chướng ngại (palibodha), thần túc thông (iddhipād) cũng là một loại. Đối với những bậc có lòng tự tin chân thành nhưng lại hiểu lầm về sự chứng đắc của mình, chính sự chân thành đó sẽ dẫn dắt vị thầy đến với mình. Hãy xem thêm phần về Trưởng lão Dhammadinna. Do vì tăng thượng mạn (adhimāna) mà ban đầu một người lầm tưởng mình là bậc Thánh (ariya), dù không phạm tội luật nghi, nhưng đến một lúc nào đó họ sẽ nhận ra sự thật. Trong những trường hợp như vậy, nếu vì nể sợ sự cúng dường và cung kính của hàng cư sĩ mà tiếp tục giả vờ làm bậc Thánh, thì không có ai sa đọa hơn người đó.]

### Khó khăn của phàm phu trong việc nhận biết bậc Thánh – Câu chuyện vị Tỳ-kheo già trên núi Cittalata

Trên núi Cittalata có một vị Tỳ-kheo lớn tuổi (xuất gia khi đã già) đang phục vụ và gần gũi một vị đại A-la-hán. Hàng ngày, vị Tỳ-kheo này đều mang bát và y đi theo sau vị A-la-hán để khất thực. Dù chung sống và đi theo mỗi ngày như vậy, nhưng vào một ngày nọ trên đường đi khất thực về, vị Tỳ-kheo già đi phía sau đã thưa hỏi vị A-la-hán rằng: "Bạch Ngài, mọi người cứ nói 'bậc Thánh, bậc Thánh', vậy bậc Thánh là người như thế nào ạ?". Vị Trưởng lão đáp rằng: "Này Hiền giả... trên đời này có những người lớn tuổi dù đang cầm bát và y cho các bậc Thánh, thực hiện các bổn phận lớn nhỏ và đi theo sát gót phía sau, nhưng vẫn không biết đó là bậc Thánh. Bậc Thánh là những vị khó nhận biết đến mức như vậy".

## PAGE 534

Dù vị Trưởng lão đã nói như thế, nhưng vị Tỳ-kheo xuất thân từ rừng núi ấy vẫn không hề hay biết hay cảm nhận được điều gì.

### Nói con voi mà giống như cây mía

Từ "Puthujjana" được dịch sang nghĩa tiếng Việt là "người có phiền não dày đặc". Để làm rõ hơn về hạng phàm phu (puthujjana) này, các bản văn Pāli thường dùng các cụm từ như: "Ariyānaṃ adassāvī = người không có con mắt trí tuệ để nhìn thấy các bậc Thánh", v.v. Trong đó, cũng có nói rằng: "Assutavā = người có ít sự nghe biết (hoặc hoàn toàn không nghe biết gì) do không thực hành thiền quán để đạt đến dù chỉ là Tuệ sanh diệt (udayabbaya-ñāṇa)".

(M-ṭṭh-1, 23. Saṃ-ṭṭh-2, 232. Abhi-ṭṭh-1, 385. Cūḷani-ṭṭh-71.)

Ngay cả một vị phàm phu đã đắc Thiên nhãn minh (dibbacakkhu) cũng không được gọi là người có con mắt nhìn thấy được bậc Thánh. "Ai thấy Pháp là thấy Ta" (Saṃ-2, 98), dựa trên lời Đức Thế Tôn dạy Trưởng lão Vakkali, trong các công việc và địa hạt của bậc Thánh, những người mù (kẻ không thấy Pháp) chớ nên làm kẻ thông thái giống như những người mù sờ voi. Nếu làm vậy, họ sẽ dễ dàng sai lạc kiểu như nói rằng: "Con voi thì giống như cây mía vậy".

### Vị thầy của vua Asoka – Bậc A-la-hán mẫu mực về ít muốn: Trưởng lão Majjhantika

Vào thời vua Asoka hộ trì giáo pháp, có một vị đại Trưởng lão tên là Majjhantika. Ngài là vị Trưởng lão mẫu mực trong việc ít muốn (appicchatā).

Thực tế, tất cả các bậc Thánh A-la-hán đều là những bậc ít muốn. Việc ham muốn lợi lộc (lābha), sự cung kính (sakkāra), danh tiếng (siloka), muốn phô trương công đức của mình, v.v., tất cả những mong cầu đó đều là ái (taṇhā) được gọi là iccha. Các bậc đại A-la-hán đã đoạn tận hoàn toàn ái đó, nên các Ngài không có sự ham muốn về vật dụng hay ý muốn phô trương, cho người khác biết về đức hạnh mà mình đã đạt được.

## PAGE 535

Ít nhất là những câu như “vị ấy có đức tin tốt, ưa thích nơi thanh vắng” mà các Ngài cũng không muốn cho người khác biết đến, huống hồ là việc tự mình phơi bày đức hạnh; điều này được gọi là **“Appicchatā-guṇa”** (đức tính ít muốn).

Bát và cả ba lá y mà Trưởng lão **Majjhantika** ấy sử dụng chỉ có giá trị khoảng một phần tư đồng bạc (tamat).

### Sự hiểu lầm của những người phục vụ tại đại lễ của vua Asoka

Một ngày nọ, khi đức vua **Asoka**, bậc hộ pháp của giáo hội, tổ chức lễ đặt bát hỷ cúng trú xứ (**Kukkutārāma**) vô cùng huy hoàng, chư Tăng từ khắp nơi đều vân tập về, và vị Trưởng lão này cũng quang lâm. Vì y phục và đồ dùng của Ngài rất dơ bẩn và rách nát, nên khi nhìn thấy Ngài đến, những người hộ tông (kappiya) đang làm công quả đã thưa rằng:

“Bạch Ngài, xin Ngài tạm thời dừng chân ở phía bên ngoài,” rồi họ không cho Ngài vào trong. Vì thế, Ngài phải lánh sang một bên. Lúc đó, vua **Asoka** và hoàng hậu đang ở trên ngôi chùa mới, chuẩn bị dâng cúng vật thực lên chư Tăng và các vị đại Trưởng lão.

Vì không được phép vào nên Trưởng lão lánh ra một góc và suy nghĩ: “Chà... lễ cúng dường vô song (asadisadāna) của đức vua hộ pháp đại tài này, nếu một bậc đại Trưởng lão A-la-hán như ta không đến khích lệ, tán dương thì còn bậc nào sẽ làm điều đó?” Suy nghĩ xong, Ngài liền nhập định và dùng thắng trí ngay tại chỗ đó, rồi độn thổ biến mất mà không để mọi người hay biết.

Đúng lúc đức vua và hoàng hậu đang chuẩn bị dâng các món vật thực thượng vị đặc biệt dành riêng cho vị đại Trưởng lão (đến đúng vị trí đó Ngài mới từ dưới đất hiện lên) và Ngài đã thọ nhận sự cúng dường ấy.

Những người phục vụ vì không biết vị đại Trưởng lão trong đại lễ này chính là Trưởng lão **Majjhantika** nên mới ngăn cản. Về phần vị Trưởng lão, Ngài cũng không hề muốn dùng cách này hay cách khác để cho biết rằng: “Ta là bậc A-la-hán, ta chính là vị đại Trưởng lão đặc biệt trong buổi lễ này.” Ngài hoàn toàn giữ kín điều đó.

## PAGE 536

Càng ít ham muốn, lộc càng dồi dào

Đối với bậc ít ham muốn như vậy, những lợi lộc chưa có sẽ phát sinh, những lợi lộc đã có sẽ không bị thất thoát hay hư hoại, mà luôn được duy trì bền vững. Điều này cũng làm tăng thêm tịnh tín trong lòng các thí chủ; Ngài càng nhận ít, lòng tịnh tín của họ càng tăng lên, dẫn đến việc họ lại càng dâng cúng nhiều hơn nữa. (**M-ṭṭh-1, 45-7. Aṅ-ṭṭh-1, 58, v.v.**)

(Vị Trưởng lão này tuy không thuộc thời kỳ Sīhaḷa, nhưng tôi đã đưa vào theo sự gương mẫu mà các bậc thầy chú giải đã thiết lập.)

### Hai tính cách của các bậc Thánh (Ariya)

Bản tính của các bậc Thánh là vô cùng kín đáo. Khi bài kinh **Mahāsamaya Sutta** được thuyết giảng, có năm trăm vị Tỳ-kheo đã đến gặp đức Thế Tôn để trình bạch về việc hoàn tất phận sự Sa-môn của mình, nhưng họ sợ có ai đó nghe thấy trước mặt đức Thế Tôn nên đều cảm thấy hổ thẹn, không một vị nào dám thốt ra lời nào. Có hai khía cạnh đặc biệt cần ghi nhớ ở các bậc Thánh A-la-hán:

1. Các Ngài mong muốn toàn thể thế gian nhanh chóng đạt được giáo pháp mà mình đã đắc.

2. Tuy nhiên, giống như người có bình vàng quý giá, các Ngài không muốn phơi bày hay nói cho người khác biết về điều đó. (**D-ṭṭh-2, 270 — Chú giải kinh Mahāsamaya.**) Tuy nhiên—

1. Do quá đỗi hoan hỷ mà thốt lên lời cảm hứng (udāna),

2. Vì muốn thế hệ đàn em noi gương và cho thấy rằng giáo pháp của đức Thế Tôn thực sự là con đường thoát khỏi khổ đau luân hồi, nên khi cần thiết phải bày tỏ đức hạnh của mình, các Ngài vẫn bày tỏ. (**Thera-ṭṭh-1, 33. Apa-ṭṭh-2, 36. D-ṭṭh-1, 55. Vi-ṭṭh-2, 63.**)

Ngay trong bản chú giải ấy (**288**), có kể rằng tại hang động **Nāga** trên núi **Koṭṭhi** ở đảo Sīhaḷa, khi một vị Tỳ-kheo trẻ đang tụng kinh **Mahāsamaya Sutta**, thì tại hang động...

## PAGE 537

Một vị nữ thần (Rukkhaso) sống ở cây Kan-kaw nghe kinh thấy giống hệt như khi đức Phật thuyết giảng nên đã thốt lời lành (sādhu). Khi được vị Tỳ-kheo trẻ hỏi, nàng đã kể về câu chuyện của mình như sau:

### Nàng tiên Mahāsamaya

Nữ thần ấy là người đã từng được nghe bài kinh **Mahāsamaya Sutta** khi đức Thế Tôn thuyết giảng. Lúc đó, các vị chư thiên có đại thần lực đã lấp đầy khắp đại lục Jambudīpa (Ấn Độ), nàng phải sang đảo Sīhaḷa (**Tambapaṇṇi**), đứng tại bến tàu **Jambukola**; nhưng tại đó các vị chư thiên có đại lực cũng lại kéo đến, nàng phải lùi về phía bắc làng **Mahāgāma** thuộc vùng **Rohana**, đứng dưới biển để nghe. Nàng kể rằng lúc đó phải ngâm mình dưới nước biển, chỉ ló mỗi cái đầu lên để nghe kinh mà vẫn cảm thấy như đức Thế Tôn đang nhìn thẳng vào mình khi thuyết giảng vậy.

(Kinh **Mūlapaṇṇāsa-la “Mahādhammasamādāna”** cũng là bài kinh mà chư thiên rất ưa thích; tương tự như chuyện trên, khi vị Tỳ-kheo trẻ đang tụng thì vị thiên nam đã thốt lời lành.)

Khi vị Tỳ-kheo trẻ hỏi về những người và chư thiên đắc pháp lúc đó, vì số lượng Phạm thiên quá đông nên Ngài đã hỏi từng cấp độ:

“Này nữ thần, nàng là bậc A-la-hán... hay Bất Lai... hay Nhất Lai chăng?” Nàng thưa rằng không phải, rồi Ngài hỏi tiếp:

“Vậy chắc hẳn nàng là bậc Dự Lưu rồi.” Trước câu hỏi của vị Tỳ-kheo trẻ, nàng tỏ vẻ rất hổ thẹn và thưa rằng:

“**Apuccitabbaṃ pucchati ayyo** — Bạch Ngài, Ngài nỡ lòng nào hỏi điều không nên hỏi như vậy.”

### Những người không hài lòng khi đức hạnh mình bị tiết lộ

Có một lần, khi đức Thế Tôn đi đến chỗ các Ngài **Anuruddha**, **Nandiya**, và **Kimila** — những vị đang sống chung với nhau một cách hòa hợp gương mẫu trong rừng cây In-gyin. Trước khi rời đi, Ngài (dù đã biết nhưng vẫn) hỏi các vị rằng: “Các ông có đắc được pháp thượng nhân, các tầng thiền thế gian hay siêu thế nào không?” Trưởng lão **Anuruddha** đã bạch lại rằng các Ngài đã chứng đắc. Hai vị còn lại cảm thấy hổ thẹn vì sao lại trình bạch như thế, nên đã có ý trách Trưởng lão **Anuruddha**. Đó chính là đức tính ít muốn đối với sự chứng đắc (adhigama appacchā).

## PAGE 538

Vị Thiên tướng tên Dīgha cũng đến nghe pháp, khi đang đứng quan sát thì trong tâm cảm thấy không hài lòng khi nghe ba vị trưởng lão nói năng khiển trách nhau như vậy.

"Các vị trưởng lão này nương nhờ đức Thế Tôn mà có được những ân đức cao quý này, vậy mà ngay cả việc nói ra đức độ của Ngài (Đức Phật) họ cũng còn ngần ngại. Họ giữ bí mật quá mức. Từ giờ trở đi, ta sẽ đi rao giảng khắp nơi từ mặt đất cho đến cõi Phạm Thiên để không ai có thể che giấu được nữa, ta sẽ làm hiển lộ ân đức của các vị ấy." Nghĩ vậy, vị ấy đi khắp xứ Vajji, từ các vị Địa thần cho đến cõi Phạm Thiên mà loan báo khắp nơi. (**Mūlapaṇṇāsa** - **Cūḷagosingasutta**)

Đây chính là cái nhìn của bậc Thánh và sự suy xét của phàm phu.

### Có mắt bao nhiêu thì thấy bấy nhiêu

Vào thời Đức Thế Tôn, khi ngài **Revata**, em út của ngài **Sāriputtra**, đang trú ngụ tại vùng rừng già Khadiravana (rừng cây kiến cò) vô cùng hẻo lánh, Đức Thế Tôn cùng đông đảo các vị đại đệ tử đã lặn lội đến thăm. Đường xá xa xôi, rừng rậm đầy gai góc trắc trở, nhưng nhờ phước báu của ngài **Sīvali** mà đoàn đã đi đến nơi một cách an lạc.

Một số vị Tỳ-kheo lại nghĩ: "Vì ngài ấy là em trai của ngài **Sāriputtra** nên Đức Thế Tôn mới thiên vị đến thăm như vậy." Với tâm đố kỵ, họ vừa đi vừa chê bai. Khi từ rừng Khadiravana trở về Sāvatthi, đại thí chủ **Visākhā** hỏi các vị Tỳ-kheo rằng:

"Thưa các ngài, nơi ngài **Revata** ở có thực sự khả ái không ạ?"

Họ đáp: "Này nữ thí chủ... chuyện nói rằng vườn Nandavana ở cõi trời Tāvatiṃsa vui thú chỉ là lời nói suông thôi, làm sao sánh được với khu rừng Khadiravana nơi ngài **Revata** đang ở." Điều này quả thật đúng như vậy.

Ngược lại, khi bà hỏi những vị Tỳ-kheo đến sau vốn có tâm đố kỵ (do tâm bất thiện nên họ không nhìn thấy những điều kỳ diệu được biến hóa bằng thần thông), họ lại nói rằng:

"Ôi... này đại thí chủ... chẳng có gì đâu... chỉ toàn hố sâu, vực thẳm với những gốc cây kiến cò khô khốc và gai góc thôi, buồn chán lắm." Điều này cũng đúng luôn. Vì họ chỉ nhìn thấy dựa trên tâm địa bên trong và khả năng của đôi mắt mình mà thôi. (**Dhammapada**-**ṭṭha**-1, 396-**Khadiravaniya Revatavatthu**.)

## PAGE 539

### "Pháp đặc biệt" chỉ được hỏi và trả lời lúc lâm chung

Vào thời xưa, khi chưa có giáo pháp của Đức Phật, ngay cả các vị đạo sĩ cũng không muốn trực tiếp thừa nhận khi được hỏi về việc chứng đắc các pháp đặc biệt, họ chỉ thường nói một cách ẩn ý. Có năm trăm thanh niên Bà-la-môn, đứng đầu là Bồ-tát, đã xuất gia làm đạo sĩ và sống ở vùng Tuyết Sơn. Khi vị đại đệ tử (tiền thân của ngài **Sāriputtra**) dẫn một số đệ tử đi xa về phía các làng mạc để tìm các vật dụng như muối và đồ chua, thì vị đạo sĩ sư phụ (Bồ-tát) viên tịch.

Khi vị đại đệ tử trở về, hay tin sư phụ đã qua đời, vị ấy hỏi các đạo sĩ ở gần đó rằng:

"Lúc sư phụ sắp lâm chung, các ông có hỏi ngài về pháp đặc biệt mà ngài đã chứng đắc không?"

Họ trả lời: "Sư phụ chỉ nói với chúng tôi trước khi mất rằng: '**Natthi kiñci**' (Chẳng có gì cả). Sư phụ đã qua đời một cách uổng phí (không đắc gì) rồi." Vì cho rằng sư phụ chẳng chứng đắc được pháp gì nên họ đã không cử hành tang lễ một cách tôn kính. Lúc đó, vị đại đệ tử nói:

"Các ông thật không hiểu được ý nghĩa lời nói của sư phụ rồi." Nói đoạn, vị ấy giải thích rằng sư phụ đã đắc thiền **Vô Sở Hữu Xứ** (Ākiñcaññāyatana) và đã sanh về cõi trời Quang Âm (Ābhassara). Nhưng họ vẫn không tin. Dù đã giải thích nhiều lần, những người tận tai nghe lời sư phụ nói vẫn cứ khăng khăng phủ nhận lời của vị đại đệ tử.

[Kẻ ngu thường bám chặt vào những gì mình tận mắt thấy, tận tai nghe và suy luận của mình. Họ quá tự tin vào suy nghĩ cá nhân. Trong các việc liên quan đến bậc thiện trí, không phải hễ cứ bảo "chính mắt tôi thấy, chính tai tôi nghe rõ mồn một" là đã có thể tin được hoàn toàn.]

Lúc bấy giờ, vị đạo sĩ sư phụ vốn đã sanh về cõi Phạm Thiên phải tự mình hiện thân trở về để giải thích rõ đầu đuôi câu chuyện và nói rằng:

"Thà rằng có một người trí hiểu được ý nghĩa của lời nói, còn hơn là có hàng ngàn kẻ không có trí tuệ tụ tập lại rồi bàn tán, khóc lóc suốt cả trăm hai trăm năm."

## PAGE 540

(**Ekanipāta**, **Parosahajātaka**. **Parosatajātaka**. Cũng có các bản kinh khác đề cập đến việc dùng ẩn ý để nói về pháp đặc biệt như **Anangaṇajātaka**, **Candābhajātaka**, **Sarabhajātaka**. **Aṅ**-**ṭṭha**-1, 100-**Sāriputtattara**-**Etadagga**)

### Vị Tỳ-kheo trẻ chê bai bậc Thánh

Tại một ngôi làng ở đảo Srilanka, có một vị trưởng lão lớn tuổi và một vị Tỳ-kheo trẻ cùng nhau đi khất thực vào trong làng. Tại ngôi nhà đầu tiên, người ta dâng cúng cho hai vị mỗi người một muỗng cháo nóng hổi. Vị trưởng lão vốn đang bị bệnh phong (đau bụng gió) hành hạ đau đớn không chịu nổi, nên khi nhận được cháo nóng, ngài đã không thể chờ cho đến khi về tới nhà bát mà ngồi ngay xuống một khúc gỗ để làm ngưỡng cửa của ngôi nhà đó để dùng cháo. Ngài nghĩ rằng nếu được dùng nóng như vậy thì vừa là thuốc vừa là vật thực sẽ giúp làm dịu cơn đau bụng ngay.

Vị Tỳ-kheo trẻ nhìn thấy vị trưởng lão như vậy thì khinh khỉnh, bĩu môi nghĩ rằng: "Ông sư già này thật không biết hổ thẹn, đói khát quá mức rồi. Hành động này khác gì làm nhục những vị trẻ tuổi như chúng ta." Nghĩ vậy, vị ấy vừa chê bai vừa bỏ đi.

Sau khi đi khất thực xong và trở về chùa, vị trưởng lão đi đến chỗ vị Tỳ-kheo trẻ và hỏi:

"Này hiền giả... trong giáo pháp của Đức Phật này, hiền giả đã có được nơi nương tựa (chứng đắc pháp đặc biệt) nào chưa?"

Vị Tỳ-kheo trẻ thưa: "Bạch ngài, con đã chứng quả Dự Lưu (Sotāpanna) rồi ạ."

Vị trưởng lão liền nói: "Này hiền giả... nếu vậy thì hiền giả đừng tiếp tục nỗ lực cho các tầng Đạo Quả cao hơn nữa." Bởi vì những ai xúc phạm, chê bai bậc Thánh thì không thể chứng đắc các thiền định hay Thánh đạo, Thánh quả mà mình chưa đạt được. Nếu chưa phải là bậc Thánh, thậm chí họ còn không thể sanh về thiên giới hay cõi lành. Đó là lý do ngài nói như vậy. Lúc đó, vị Tỳ-kheo trẻ hỏi—

## PAGE 541

“Bạch Thầy, vì sao lại như vậy?” Khi vị ấy bạch hỏi lần nữa, vị Trưởng lão đáp: “Này Hiền giả, ông đã chỉ trích và phỉ báng một bậc A-la-hán rồi.” Nghe vậy, vị Tỳ-kheo trẻ liền tỉnh thức, tâm sanh kinh sợ luân hồi, lập tức ngồi chồm hổm, chấp tay trước mặt vị đại Trưởng lão và thưa rằng:

“Bạch Thầy, xin Thầy kham nhẫn và tha lỗi cho con. Con đã lỡ lời nói (như thế này như thế kia) với bậc Thầy cao thượng. Xin Thầy hãy tha thứ và kham nhẫn cho lỗi lầm đó của con.” Nhờ lời cầu xin đó, nghiệp trọng tội phỉ báng bậc Thánh (ariyu pavāda) mới được tiêu trừ, và vị ấy mới có thể tiến bộ trong giáo pháp. (Vissudhimagga-2, 60. Vinaya-Aṭṭhakathā-1, 134, Verañjakaṇḍa).

(Vị Trưởng lão nói như vậy không phải vì muốn khoe khoang đức hạnh của mình, mà chỉ vì muốn bảo vệ và giúp tiêu trừ nghiệp phỉ báng bậc Thánh cho vị kia. Điều đặc biệt cần lưu tâm là ngay cả một vị Dự Lưu, do tâm chê bai quá mạnh mẽ, cũng có thể không nhận ra bậc Thánh qua dáng vẻ bên ngoài. Huống gì là hạng phàm phu thông thường, thật không lời nào xiết.)

## Năm loại nghiệp lớn ngăn trở Thiền định và Đạo Quả

Trong chú giải kinh Alagaddūpama thuộc Trung Bộ Kinh, có nêu ra năm loại nghiệp lớn (hay còn gọi là năm chướng ngại lớn) khiến chúng sanh không thể sanh về cõi chư thiên, thiện thú và không thể đắc chứng Thiền định, Đạo Quả. Những người vướng vào một trong năm chướng ngại này, đừng nói đến việc đắc Thiền hay Đạo Quả, ngay cả việc sanh về cõi trời cũng không thể đạt được.

Nghiệp, Phiền não, Dị thục, Phỉ báng, Vi phạm giới.
Cõi trời, Niết-bàn, Đạo Quả, Thiền, năm chướng ngại này.
(Sư U Budh)

1. **Nghiệp chướng (Kammantarāya)** = Những người phạm vào năm loại trọng tội cực ác (Anantariya kamma) như giết mẹ, giết cha, v.v., chắc chắn sau khi chết phải đọa vào ác đạo, địa ngục. Ngoài ra còn bao gồm việc làm nhục Tỳ-kheo-ni (tuy nhiên, việc làm nhục Tỳ-kheo-ni chỉ ngăn trở Đạo Quả chứ không ngăn cản việc sanh về cõi thiện thú).

2. **Phiền não chướng (Kilesantarāya)** = Những người mang tà kiến cố định (Niyata Micchādiṭṭhi), tin rằng: “Không có thiện nghiệp hay ác nghiệp, sự an lạc hay đau khổ chỉ là tự nhiên mà có.” Những người này chắc chắn khi chết sẽ đọa vào địa ngục.

3. **Dị thục chướng (Vipākantarāya)** = Những người theo quả báo của tâm tái sanh là hạng vô nhân (ahetuka), nhị nhân (dvihetuka) như các loài bàng sanh, người ái nam ái nữ (paṇḍaka) hoặc người lưỡng tính (ubhatovyañjanaka).

## PAGE 542

4. **Phỉ báng bậc Thánh chướng (Ariyūpavādantarāya)** = Những hành vi chỉ trích, chửi bới, phỉ báng hoặc xúc phạm đến bậc Thánh (tối thiểu là một cư sĩ đã chứng Dự Lưu), dù là cố ý biết rõ hay vô tình không biết.

5. **Vi phạm giới chướng (Āṇāvītikkamantarāya)** = Việc cố ý vi phạm các học giới luật mà Đức Phật đã ban hành.

Trong 5 loại này, ba loại đầu (1, 2, 3) là không thể sửa chữa. Riêng việc phỉ báng bậc Thánh và vi phạm học giới thì vẫn còn có thể cứu vãn. Đối với việc vi phạm giới, vị ấy cần phải y theo truyền thống Luật tạng để thực hiện việc phát lộ tội (desanā), sám hối, v.v. để được thanh tịnh. (Majjhima-Aṭṭhakathā-2, 9). (Ngay cả khi phạm tội Bất cộng trụ (pārājika), nếu vị ấy thành thật hoàn tục và nỗ lực hành thiền thì vẫn có thể đạt được kết quả).

### Cách nghiệp phỉ báng bậc Thánh hình thành và phương pháp cứu chữa

Nghiệp phỉ báng bậc Thánh (Ariyūpavāda) sẽ hình thành khi một người thực hiện một trong hai cách sau: Một là cáo buộc nặng nề bằng những lời lẽ tận cùng như: “Những người này không có đời sống tu hành, không phải là bậc tu hành.” Hai là phỉ báng bằng cách phủ nhận các ân đức như: “Những người này không có Thiền định, không có Giải thoát, không có Đạo, cũng không có Quả.” Nghiệp này có thể trổ quả ngay trong hiện tại (diṭṭhadhamma). (Cariyā-Aṭṭhakathā, 156).

Dù cố ý biết rõ hay không biết mà phỉ báng thì nghiệp vẫn hình thành như nhau.

### Nghiệp sẽ tiêu tan nếu biết xin lỗi và sám hối

1. Nếu bậc Thánh bị xúc phạm vẫn còn sống, người phạm lỗi phải đích thân tìm đến vị đó để xin lỗi. Dù người phạm lỗi có tuổi đạo (hạ lạp) cao hơn, vẫn phải ngồi chồm hổm và thưa rằng: “Con đã lỡ lời nói (như thế này như thế kia) với Thầy, xin Thầy hãy kham nhẫn cho lỗi lầm đó của con.” Nếu vị bị xúc phạm là bậc nhỏ tuổi hơn, thì người phạm lỗi phải thực hiện đảnh lễ ngũ thể đầu địa để xin lỗi.

2. Trường hợp vị đó đã đi sang nơi khác, người phạm lỗi phải tự mình đi theo, hoặc nhờ một người đệ tử đi thay mặt để đảnh lễ xin lỗi.

## PAGE 543

Nếu không thể thực hiện các cách trên, thì phải tìm đến chư Tỳ-kheo tại nơi vị đó thường trú, cung kính thực hiện các nghi thức như cũ và thưa rằng: “Con đã lỡ lời nói... xin cầu chúc bậc Thánh nhân ấy hãy kham nhẫn cho con.”

3. Nếu vị đó không có nơi cư trú cố định, đang đi du hành đây đó thì người phạm lỗi nên hướng về nơi vị đó đang ở mà chấp tay đảnh lễ xin lỗi.

4. Nếu vị đó đã viên tịch, hãy đến trước kim thân của vị ấy, hoặc nếu đã trà tỳ thì đến nơi hỏa táng mà đảnh lễ xin lỗi. (Vissudhimagga-20. 56, chương Cūṭūpapāta. Cariyā-Aṭṭhakathā, 156. Paṭisambhidāmagga-Aṭṭhakathā-1, 337. Mahāniddesa-Aṭṭhakathā, 333).

Chỉ khi đảnh lễ xin lỗi như vậy thì con đường sanh thiên mới mở ra, mới có thể đạt được pháp đặc biệt. Nếu không, tội lỗi phỉ báng bậc Thánh ấy sẽ khiến người đó phải chịu khổ trong địa ngục Đại A-tỳ suốt vô số A-tăng-kỳ kiếp không thể đếm xuể. (Hãy xem trong kinh Kokālika thuộc Tăng Chi Bộ Kinh, chương Mười Pháp).

### 11 hậu quả của việc phỉ báng bậc Thánh

Người chỉ trích, phỉ báng, khinh miệt bậc Thánh, chưa nói đến sự nguy hiểm trong vòng luân hồi đời sau, ngay trong kiếp hiện tại này sẽ phải nhận lấy các hậu quả sau đây (được thuyết trong Tăng Chi Bộ Kinh – Kinh Akkosaka, Kinh Byasana và Luật tạng – chương Parivāra-249):

1. Không thể đạt được những pháp cao thượng mà mình chưa từng đạt được.
2. Những pháp cao thượng đã đạt được sẽ bị thối thất (không ám chỉ Đạo Quả bậc Thánh).
3. Không đủ khả năng để gìn giữ Tam học được thanh tịnh.
4. Chưa đắc chứng pháp cao thượng nhưng lại lầm tưởng là đã đắc.
5. Không tìm thấy sự an lạc, thích thú trong pháp thực hành của bậc thiện trí thức.
6. Dễ phạm phải các tội trọng (Garuka āpatti).
7. Có khả năng phải hoàn tục.

## PAGE 544

Dễ mắc các chứng bệnh nan y, hiểm nghèo;
9. Dễ bị điên cuồng, loạn trí;
10. Chết trong trạng thái mê mờ, ám chướng;
11. Sau khi thân hoại mạng chung, phải đọa vào ác đạo, địa ngục.

Cần đặc biệt ghi nhớ rằng: Việc tán dương một người chưa chứng đắc là bậc Thánh cũng tai hại như việc nhục mạ, vu khống một bậc Thánh nhân; cả hai đều phạm vào nghiệp Ariyupavāda (phỉ báng bậc Thánh), điều này đã được chỉ rõ trong kinh văn Pāḷi và Chú giải. Hãy hết sức cẩn trọng.

“**Nindiyapasaṃsāya hi pasaṃsiyanindāya ca samakovā vipāko**” (Chú giải kinh Akkosa). “Vì sao hai việc này lại có quả báo ngang nhau?” – Có lời giải thích thêm (trong tập Đại chú giải – Ṭīkā) rằng: Vì hành động đó khiến bản thân và người khác bị lệch lạc trong niềm tin và sự thực hành.

Xúc phạm đến mười hạng người ân đức lớn (Khun-pwan-gyi-se-u) sẽ dẫn đến mười loại hình phạt (daṇḍa) như bị hỏa hoạn, tiêu tán tài sản... (Xem thêm về 10 hình phạt trong Pháp Cú Chú Giải 1, 115 – Chuyện nữ cư sĩ Sāmāvatī).

Hiện nay, tại các thiền viện, giữa các thiền sư hay các hành giả đang có sự cạnh tranh, cần phải đặc biệt lưu tâm. Đừng vì lòng thiên vị mà tán dương quá lời, hay vì ác cảm mà hạ thấp, chỉ trích (với tâm địa không ngay thẳng). Hãy cố gắng tránh mọi sự can thiệp hay phê phán đối với các bậc Thánh. Bản chất của các bậc thiện tri thức và đạo quả vốn dĩ vô cùng vi diệu, thâm sâu và khó lòng thấu thị.

Như lời dạy trong Thera-apadāna (Trưởng Lão Ký Sự), Giáo Pháp đối với bậc trí giả là liều thuốc bất tử cực kỳ linh nghiệm, nhưng đối với kẻ ngu không biết giữ gìn lời nói thì lại trở thành liều thuốc xổ (khối thuốc độc) cực mạnh. Trong thời đại ngày nay, có những người phạm vào trọng tội Ariyupavāda (phỉ báng bậc Thánh) hay Saṅghabhedaka (phá hòa hợp Tăng) mà chính họ cũng không hề hay biết. Chúng tôi đã nghe và chứng kiến rất nhiều trường hợp như vậy.

Tại thành phố Mandalay, có một vị Pháp sư (Sā-cha Sayadaw) nổi tiếng đã dùng những lời lẽ khiếm nhã để hạ thấp và chỉ trích một vị Sayadaw khác vốn được tôn xưng là bậc A-la-hán của vùng Mandalay. Vị Pháp sư này thậm chí còn dùng từ "thằng đó" một cách thô lỗ để phê phán. Không lâu sau, ngay tại nơi vị ấy đang ngồi, một tấm bảng trần của mái chùa...

## PAGE 545

...bất ngờ rơi thẳng xuống đầu. Vị ấy đã qua đời vì vết thương đó. Thật là một điều đáng tiếc. Cũng có những trường hợp hộc máu mà chết tương tự như vậy đã từng nghe, từng thấy. Hãy lấy đó làm bài học răn mình. (Vị Pháp sư đó vốn là bạn đồng môn với chúng tôi, cùng một vị Thầy rừng, nhưng tuổi đời thì cách biệt nhau khá nhiều).

Không chỉ đối với các bậc Thánh, ngay cả đối với những hành giả đang nỗ lực tu tập định tuệ để hướng đến quả vị Thánh, chúng ta cũng không được phép xem thường hay nói lời khiếm nhã. Tùy theo mức độ Giới, Định, Tuệ của hành giả đó mà người chỉ trích sẽ phải chịu những tổn thất tương ứng.

### Trưởng lão Yasa, vị Thầy luôn cẩn trọng để không phạm nghiệp Ariyupavāda

Vị A-la-hán **Trưởng lão Yasa** cư ngụ tại chùa Mūluppalavāpi, hàng ngày ngài thường vào làng Mūluppalavāpi trì bình khất thực và ngồi nghỉ tại nhà của một thí chủ nọ. Ngài còn được gọi là **Trưởng lão Pāṃsukūla** (vị đầu đà mặc y phấn tảo).

Chỗ ngồi dành cho Trưởng lão được sắp xếp dựa vào một cái giường cao (loại giường dùng cho các buổi lễ tế tự). Một tiểu thư, là con gái của một vị đại thần, cũng đang ngồi ở một vị trí thấp hơn phía sau cái giường đó để bày tỏ lòng tôn kính. Nếu đứng từ phía cửa nhìn vào, người ta sẽ không thấy được cái giường ngăn cách giữa Trưởng lão và người nữ cư sĩ kia, mà sẽ lầm tưởng rằng hai người đang ngồi sát cạnh nhau trên cùng một mặt phẳng.

Bấy giờ, vị Trụ trì của ngôi chùa nọ cũng đang vào làng khất thực đúng lúc **Trưởng lão Pāṃsukūla** đang ngồi như vậy. Khi đi ngang qua cửa nhà thí chủ, vị Trụ trì nhìn vào và hiểu lầm rằng Trưởng lão đang ngồi chung trên một chiếc giường với vị tiểu thư con quan đại thần kia.

Vị ấy khởi tâm chỉ trích: “Ông **Trưởng lão Pāṃsukūla** này ở trong chùa thì tỏ vẻ điềm tĩnh, oai nghi lắm, vậy mà hễ vào làng là lại ngồi chung giường với phụ nữ thế kia”. Dù đã cố nhìn đi nhìn lại nhiều lần vì sợ mắt mình quáng gà, nhưng vị ấy vẫn giữ nguyên ý nghĩ sai lạc đó.

## PAGE 546

Sau khi thọ thực xong, **Trưởng lão Pāṃsukūla** trở về chùa. Về đến nơi, ngài vào liêu phòng, cài then cửa rồi ngồi nhập định. Vị Trụ trì sau khi về đến chùa cũng liền nghĩ:

“Phải trừng phạt và đuổi cái ông **Pāṃsukūla** này khỏi chùa mới được”. Nghĩ rồi, vị ấy hùng hổ đi thẳng về phía liêu phòng của Trưởng lão mà không hề suy xét kỹ lưỡng. Đến nơi, vị ấy kéo mạnh cái vò nước rửa chân khiến nó phát ra tiếng động lớn, múc một gáo nước rửa chân rồi đậy nắp lại thật mạnh tạo tiếng bang lớn.

Nghe thấy những âm thanh bất thường đó, **Trưởng lão Pāṃsukūla** suy xét: “Ai mà lại có hành động thô lỗ, thiếu oai nghi và bất nhã đến thế nhỉ?”. Sau khi quán sát, ngài thấu hiểu toàn bộ sự việc.

“Ôi... thật đáng thương cho vị Trụ trì này, cầu mong vị ấy đừng vì xúc phạm ta mà phải đọa vào bốn đường ác đạo...”.

Ngay lập tức, Trưởng lão nhập **Thiền định** và dùng **Thần thông** bay lên, ngồi kiết già sát trên trần nhà. Vị Trụ trì đang trong cơn nóng giận, chẳng thèm gõ cửa mà đẩy mạnh bước vào. Không thấy Trưởng lão trên giường, vị ấy lại nghĩ: “Chắc là sợ mình nên chui xuống gầm giường trốn rồi”, thế là vị ấy lại cúi xuống lục lọi dưới gầm giường. Tìm không thấy, đang lúc hậm hực định quay ra...

Trưởng lão nghĩ: “Nếu để vị ấy đi ra ngoài rồi nói những lời mắng nhiếc, chửi bới không hay thì vị ấy sẽ càng tổn giảm công đức và rước lấy ác nghiệp vì ta”. Nghĩ vậy, ngài bèn "hắng giọng" một tiếng từ trên trần nhà. Lúc này, vị Trụ trì mới ngước nhìn lên và trông thấy ngài.

Mặc dù tận mắt chứng kiến thần thông to lớn của Trưởng lão, nhưng vì ngọn lửa sân hận (tâm **paduṭṭha** – tâm ác ý) đang thiêu đốt quá mạnh mẽ, vị Trụ trì vẫn không nén nổi mà thốt ra những lời giận dữ: “Này Hiền giả... có thần thông lớn như vậy mà lại đi ngồi cùng giường với con gái người ta, liệu có hay ho gì không...”.

## PAGE 547

Khi ấy, Đại đức **Yasa**, một bậc trì hạnh Pāṃsukūla (phấn tảo y), đã bạch rằng:

“Bạch Ngài... xin Ngài hãy tự suy xét lại, bậc tu hành (samaṇa) không nên cùng ngồi trên một chiếc giường với phụ nữ (mātugāma). Có lẽ chư vị đã nhìn nhầm và hiểu lầm rồi bạch Ngài.” Sau khi được giải thích tường tận mọi lẽ, vị Đại đức trưởng lão ấy mới chịu nhận lỗi và tạ lỗi.

### Cách thức giữ gìn để không phạm lỗi Ariyūpavāda (phỉ báng bậc Thánh)

Các bậc A-la-hán vốn luôn lo lắng và bảo vệ những người chưa hiểu biết để họ không vô tình tạo ác nghiệp đối với các Ngài. (Theo chú giải **M.ii, 283; Chú giải kinh Vīmaṃsaka** và sớ giải; **Chú giải Vin.ii, 215 - Điều học Aniyata** có nêu vắn tắt là: “Vị Đại đức Khīṇāsava trú tại chùa Mallārāma”).

Thời Đức Thế Tôn, có hai vị Tỳ-kheo là bạn thân tại thành Sāvatthī. Một vị thọ trì **Ganthadhura** (Pháp học), chuyên thông suốt và giảng dạy kinh điển cho 16 đại giáo đoàn.

Vị còn lại thọ trì **Vipassanādhura** (Pháp hành), hành hạnh đầu đà như mặc y phấn tảo, độc cư nơi rừng sâu tinh tấn tu tập và đã đắc quả A-la-hán. Ngài có rất nhiều đệ tử nương tựa tu học.

Một lần, khi vị Thánh tăng trú xứ rừng sâu này đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, vị Tỳ-kheo Pháp học vì không thông kinh điển nên đã khởi tâm xem thường, định dùng kiến thức chữ nghĩa để lấn át. Đức Thế Tôn biết rõ sự việc nên đã kịp thời ngăn cản vị **Ganthadhura** này, để vị ấy không phạm phải trọng nghiệp **Ariyūpavāda** (phỉ báng bậc Thánh). (**Dhp.A.i, 99 - Chuyện hai vị Tỳ-kheo bạn hữu**).

Ngày nay, các hành giả đang tu tập thiền định cũng nên cẩn trọng trong đi đứng, nói năng để tránh làm người khác hiểu lầm mà tạo tội. Cần phải đặc biệt tỉnh thức và suy xét. Đừng nói đến việc phô trương cho người khác nể trọng, ngay cả những điều có thật nhưng nếu đối phương không đủ niềm tin thì cũng không nên nói ra. Tuyệt đối không nên giả tạo oai nghi. Nếu làm vậy, cả hai phía đều không tránh khỏi lỗi lầm.

## PAGE 548

### Tâm thế và niềm tin của bậc Dự Lưu qua câu chuyện một vị trưởng lão và một nam cư sĩ

Một vị trưởng lão đã chứng quả Dự Lưu, trong khi đang cùng làm việc láng nền nhựa tại sân đại bảo tháp Mahā Cetiya, Ngài đã đích thân xách thùng nhựa một tay và tay kia cầm bay để leo lên sân tháp với tâm nguyện tự mình hoàn thành công việc.

Đang lúc vị trưởng lão ấy dùng bay láng lại các vệt nhựa trên sân tháp, có một vị Tỳ-kheo vóc dáng to béo cũng đi lên tháp. Vị này đến bên cạnh vị trưởng lão đang chấp tác và liên tục hỏi những câu chuyện phù phiếm, vô ích.

Ban đầu, dù đang bận rộn nhưng vị trưởng lão vẫn phải tiếp chuyện, khiến công việc bị đình trệ. Vì vị Tỳ-kheo to béo kia cứ nói huyên thuyên không dứt, để không làm chậm trễ công việc, vị trưởng lão đã dời sang chỗ khác để làm. Thế nhưng vị Tỳ-kheo kia vẫn bám sát theo sau.

Vị trưởng lão lại phải dời sang chỗ khác lần nữa, nhưng vị kia vẫn tiếp tục đi theo. Sau khi đã phải chuyển chỗ đến bốn, năm lần mà vẫn không thoát khỏi vị Tỳ-kheo phiền hà nọ, vị trưởng lão bèn nói:

“Thưa Ngài, sân bảo tháp rộng lớn thế này, chẳng lẽ không còn chỗ nào khác để Ngài đứng hay sao?” Ngài chỉ nói thẳng thắn như vậy chứ không hề có tâm hiềm hận hay bực tức. Dù vậy, vị kia vẫn không chịu đi chỗ khác. (Theo chú giải **M.ii, 300 - Kinh Kosambiya**).

Trong khi có những người biết trân quý thời gian, tận lực làm việc thì cũng có những người để thời gian trôi qua một cách vô nghĩa, lờ đờ và lười biếng.

### Niềm tin của bậc Dự Lưu là không thể lay chuyển

Đối với một vị Dự Lưu đã có cái nhìn trong sáng và dứt khoát về quả báo của nghiệp cũng như về Tam Bảo, thì không một vị thần thông nào có thể làm lay chuyển được đức tin (Saddhā) của vị ấy.

## PAGE 549

Có lần, một vị nam cư sĩ tên là **Surambaṭṭha** sau khi nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp đã đắc quả Dự Lưu. Ngay khi vừa về đến nhà, Ma Vương đã hóa hiện thân tướng giống hệt Đức Thế Tôn tìm đến. Nghe tin Đức Thế Tôn đến, **Surambaṭṭha** dù có chút thắc mắc trong lòng nhưng vẫn ra ngoài đảnh lễ. Ma Vương liền nói:

“Này **Surambaṭṭha**... lúc nãy vì Ta chưa kịp suy xét kỹ nên đã lỡ nói rằng sắc là vô thường, thức là vô thường. Nay Ta đến để đính chính lại rằng sắc là thường, thức là thường, hãy ghi nhớ như vậy.” Thấy lời nói hoàn toàn phi lý, dựa trên vốn kiến thức đã học, cư sĩ liền hỏi thẳng: “Ngươi có phải là Ma Vương không?” Do năng lực tự nhiên của bậc Thánh, Ma Vương không dám nói dối và đã phải thừa nhận.

Khi được hỏi mục đích đến đây, Ma Vương thú nhận là để phá hoại đức tin của cư sĩ. **Surambaṭṭha** liền búng tay và dõng dạc nói:

“Này Ma Vương độc ác... bây giờ dù chỉ có một mình ngươi, hay có đến hàng trăm hàng ngàn Ma Vương như ngươi đến phá hoại thì đức tin của ta cũng không hề lay chuyển. Hãy biết rằng, đức tin có được từ trí tuệ của Đạo Quả (Magga-ñāṇa) thì vững chãi như **núi Sineru** mọc trên nền đá tảng vậy. Ngươi đừng có đến đây mà làm loạn nữa.” Thế là Ma Vương phải rút lui. (Theo **M.ii, 287 - Kinh Kosambiya**, có lồng ghép thêm chuyện về **Surambaṭṭha**. Trong các kinh **Anguttara Nikaya - Chương Một Pháp** và **Vibhanga**, Đức Phật đã dạy rằng bậc Thánh Dự Lưu không bao giờ còn tà kiến cho rằng các hành là **Thường**, **Lạc**, **Ngã**. Xin hãy xem thêm các chuyện về **người hủi Suppabuddha**, **bà thọ hạnh Dhananjānī**, v.v.).

### Bảy pháp tánh của bậc Dự Lưu (Bảy pháp Đại phản tỉnh)

Liên quan đến cuộc tranh chấp lớn tại **Kosambī**, Đức Thế Tôn đã thuyết về “**Sáu pháp Sarāṇīya** (Khả hỷ/Lục hòa trọng)” — những pháp căn bản nhất giúp người thực hành có được hạnh phúc trong hiện tại và vòng luân hồi (đã được dạy trong **Kinh Cūḷagosinga - Trung Bộ**, **Luật Đại Phẩm**, **Tăng Chi Sáu Pháp** và **Kinh Kosambiya - Trung Bộ**). (Về oai nghi của pháp Sarāṇīya, câu chuyện các vị trưởng lão hễ có cây rừng là có vật thực khất thực đã được dẫn chứng trong sách này).

Về sau, trong **Kinh Kosambiya**, Đức Thế Tôn cũng đã thuyết giảng về tâm thế và cách hành xử của các bậc Thánh qua “Bảy pháp tánh của bậc Dự Lưu”.

## PAGE 550

Bảy tính chất này hoàn toàn không liên quan đến thế gian hay hàng phàm phu, mà là những **nhãn quan trí tuệ** cao thượng vượt khỏi thế gian, như lời Đức Thế Tôn đã dạy.

Ngài đã chỉ rõ: "Bậc Dự Lưu là bậc như thế nào?" Để những ai có thể hiểu rõ rằng "diệt trừ **Tà kiến** và **Hoài nghi**" nghĩa là gì, Ngài đã giải thích theo góc nhìn kinh điển dành cho những người có ý coi thường, chỉ trích rằng "Bậc Dự Lưu cũng giống như anh như tôi thôi", hoặc cho những người thường tự ảo tưởng mình là bậc Dự Lưu.

Bảy đặc tính tự nhiên của bậc Dự Lưu bao gồm:

1. Khi những suy nghĩ bất thiện, **Tầm** bất thiện (**phiền não**) nảy sinh liên quan đến năm **Năm triền cái**, đến nguyên nhân đời này, đời sau hay sự tranh chấp cãi vã, bậc Dự Lưu chỉ để chúng vừa hiện khởi là liền nhận biết. Những tâm **phiền não** **triền miên** (đang tấn công) đó không thể xuyên thấu hay quấy nhiễu làm thay đổi chánh tri chánh kiến mà họ đã đạt được. Họ có thể giữ tâm kiên định, ngay thẳng để đạt đến Đạo Quả cao hơn. (Nghĩa là khi tâm bất thiện, **phiền não** xen vào, họ biết rõ nó đang ẩn náu, đang xâm nhập; ngay khi biết, tâm sát-na kế tiếp có thể quán chiếu và đoạn trừ ngay lập tức.)

2. Họ thấu hiểu một cách phân biệt, trực chứng và tự thân rằng mình đang đạt được sự an tịnh tâm hồn và sự vắng lặng **phiền não** thực sự thông qua tuệ giác đã đắc. (Vì là **Thiết thực hiện tại** nên họ không phải là người đang thực hành dựa trên lời người khác nói hay nghe truyền miệng lại.)

3. Họ thấy rõ và phân biệt được rằng trong các giáo phái khác không thể có loại tuệ giác như mình đã đạt được. (Nghĩa là càng quan sát xung quanh, họ càng thấy giá trị cao quý trong đời sống của mình, từ đó **Tịnh tín**, **Chánh nguyện** và **Tinh tấn** càng trở nên mãnh liệt.)

### Các tội lỗi có thể xảy ra ở các bậc Thánh

4. (Liên quan đến lỗi bất thiện trong **Trì giới học**, các bậc Thánh dù là Tỳ-kheo vẫn có những lỗi **Ưng đối trị do chế định** = do có lời chế định nên mới thành tội, những tội **vô tâm** = phạm mà không có tâm cố ý. Có thể do không hiểu rõ Luật, hoặc

## PAGE 551

do một nguyên nhân nào khác mà có thể phạm các **tội** — trong các **tội** **Nặng** (trọng tội) như loại **tội** **Xây cất liêu phòng** (liên quan đến việc quản lý xây dựng); trong các **tội** **Nhẹ** (khinh tội) như **Nằm chung** (ngủ cùng một mái nhà, một vách với người nữ) và các **Điều học** **Đọc tụng chung pháp**, **Vàng bạc**, **Thuyết pháp quá năm sáu lời**, **Hủy báng**, lỗi không thúc liễm khi **Quán tưởng** v.v... Đối với bậc Thánh là cư sĩ, họ có thể vô tình phạm lỗi **Sát sanh** đối với các loại côn trùng nhỏ, hoặc vô tình phạm **Nói lời hung ác**, **Nói lời phù phiếm** (mức độ nhẹ) v.v...

Dù thế nào đi nữa, các bậc Thánh Tỳ-kheo đối với các điều học **Tội thế gian**, và bậc Thánh Dự Lưu cư sĩ đối với **Ngũ giới**, họ tuyệt đối không bao giờ vi phạm. Họ thà chịu mất mạng (không đủ trang để trình bày về việc ngũ giới luôn vẹn toàn).

Điều muốn nói ở đây là nếu vô tình vi phạm một **tội** hay lỗi bất thiện nào đó, họ không bao giờ che giấu hay đè nén. Theo đúng giáo pháp Luật tạng, họ sẽ nhanh chóng sửa lỗi và giải tỏa. Ngay cả khi người để mình **Phát lộ** (người mà mình phải trình bày lỗi lầm) không có ở gần bên, dù phải vượt qua bóng tối đêm không trăng, giữa rừng sâu mưa gió hay bất kể khó khăn nào, họ cũng phải tìm đến cho bằng được để trình bày và sửa lỗi. Họ cảm thấu sự lo sợ và thiêu đốt như đứa trẻ nhỏ bị lửa chạm vào tay chân. Họ hối lỗi sâu sắc. Để sau này không lặp lại lỗi lầm này, họ luôn giữ chánh niệm thường trực. (Nghĩa là họ là người hoàn toàn ngay thẳng, chân thật, luôn giữ chánh niệm để không xảy ra bất kỳ sai phạm nào qua **Thân nghiệp**, **Khẩu nghiệp**, **Ý nghiệp** có thể gây hại cho mình và người khác.)

### Người vẹn toàn bổn phận và trách nhiệm thế gian - Bậc Dự Lưu

5. Khi liên quan đến việc hỗ trợ, **Phục vụ** cho (Tam Bảo, Thầy Tổ), bạn đồng tu (đối với cư sĩ là gia đình, hàng xóm), từ việc lau dọn uế tạp, quét rác trở đi, bất kể trách nhiệm nặng hay nhẹ, danh giá hay tầm thường, cao hay thấp, họ luôn tận tâm trăn trở: "Tôi có thể giúp được việc gì?"

## PAGE 552

Dù phải tận tâm thực hiện các công việc **Phục vụ** đó bao nhiêu đi nữa, tâm hướng về Pháp (**Tam học**) của họ vẫn không hề giảm sút, trái lại còn rất mãnh liệt và đầy khao khát.

Giống như bò mẹ ở bãi chăn màng, một mặt thì tận tâm chăm sóc con nhỏ, mặt khác vẫn không bỏ việc ăn cỏ; vừa chăm sóc con, vừa tiếp tục ăn cỏ vậy. (Nghĩa là người có thể vừa làm việc vừa quán pháp, hoàn thành hai việc cùng lúc; không chỉ không phải là người ích kỷ chỉ biết lo cho mình, mà còn là người không buông lơi, hoàn thành vẹn toàn nghĩa vụ thế gian và trách nhiệm của bản thân.)

### Người có quan điểm rõ ràng trong giáo lý - Bậc Dự Lưu

6. Khi được nghe Pháp, họ có thái độ khao khát (**Muốn nghe**), chú tâm (**Khéo tác ý**), tập trung ghi nhớ không sót một lời (**Tận tâm chú ý**), và biết lắng tai (**Lóng tai**) để nghe. Không có sự buồn ngủ, không trò chuyện với ai, không để tâm phóng dật; dù phải nghe suốt đêm, họ vẫn không thấy thỏa mãn, giống như người đang được thưởng thức món ăn của chư Thiên (cam lồ).

(Thời Đức Phật, có một nữ thí chủ bậc Dự Lưu tên là **Kātiyānī** (hay **Kaccānī**), khi đang ở chùa nghe Pháp thì có tin báo quân trộm cướp đang phá cửa nhà để lấy đồ, nhưng bà không về, không bỏ dở buổi nghe Pháp, mà chỉ nhắn lại với người báo tin: "Cứ để chúng lấy những gì chúng muốn".)

7. Khi nghe Pháp, họ thấu hiểu và hoan hỷ sâu sắc với ý nghĩa của Pháp. Họ biết thưởng thức hương vị của Pháp (**Nghĩa vị**). Họ nắm bắt được các thuật ngữ và nhận định về Pháp (**Pháp vị**). Họ thường xuyên cảm thấy hân hoan, mừng rỡ và lạc quan liên quan đến giáo pháp. (Điều này không chỉ thể hiện niềm tin tôn kính đối với Pháp, mà còn cho thấy năng lực phân biệt và hiểu thấu lời thuyết giảng của người khác — giống như một "máy thu và khuếch đại âm thanh" tốt. Không phải ai nói gì cũng tin, ai giảng gì cũng nghe theo. Trong việc đọc sách cũng vậy, họ có "con mắt phân tích" để thưởng thức hương vị sâu hơn, biết nhìn nhận phân biệt đúng sai.)

## PAGE 553

510.

Vì vậy, qua bài kệ "**Yathindakhīlo**" và các kinh **Indakhīla Sutta**, **Vādatthika Sutta** trong chương Mahāvagga Saṃyutta, Đức Thế Tôn đã thuyết rằng các bậc thông thái, chuyên gia về tôn giáo và học thuyết của các tôn phái khác không thể lay động hay xuyên thấu được bậc Dự Lưu (ngay cả khi bậc đó không hiểu biết nhiều về chữ nghĩa kinh điển), và cũng không thể tranh luận thắng được vị ấy. Trong tạng Pali của chương Một pháp thuộc Tăng Chi Bộ và chương Phân Tích (Vibhaṅga), Đức Thế Tôn cũng dạy rằng một khi đã đắc quả Dự Lưu, vị ấy sẽ không thay đổi thầy, không tìm thầy mới, và tuyệt đối không chấp nhận các tôn giáo hay học thuyết khác nữa.

(Điều này có nghĩa là vị ấy đã có cái nhìn sáng tỏ, không còn chút mơ hồ nào đối với giáo pháp.)

### Vua Bimbisāra và Tướng quân Sīha có còn sát sanh chăng?

Mỗi khi quán xét, các bậc Dự Lưu đều nhận thấy rõ ràng rằng bảy đặc tính nêu trên thực sự đang hiện hữu trong tâm khảm mình. Người đời thường có cái nhìn sai lầm khi cho rằng bậc Dự Lưu không khác gì mấy so với người phàm, chỉ cần giữ trọn Ngũ giới là đủ; thậm chí có những suy nghĩ gây rợn người khi cho rằng vua **Bimbisāra** và tướng quân **Sīha**, dù đã là bậc Dự Lưu, vẫn còn ra lệnh giết người. Tuy nhiên, dù chỉ xét đến những phẩm chất tối thiểu của một bậc Dự Lưu, chúng ta cũng thấy đáng hoan hỷ, ngưỡng mộ và tràn đầy hăng hái biết bao! Có thể hình dung được vị ấy đang an hưởng niềm hạnh phúc lớn lao đến nhường nào.

[Việc vua **Bimbisāra** và tướng quân **Sīha** không hề sát sanh hay sai khiến người khác sát sanh đã được thuyết trực tiếp trong **Luật Mahāvagga - Rājabhaṭavatthu**, trang 103, chú giải trang 278 và phần **Bhesajjakkhandhaka - Sīhasenāpativatthu**, trang 334. Về việc vợ của người thợ săn dù đã chứng quả Dự Lưu vẫn không bao giờ phạm giới **Sát sanh**, dù có cầm nắm độc dược nhưng vì bàn tay không có vết thương nên không bị trúng độc, xin xem thêm **Chú giải Pháp Cú, tập 2, phẩm 18, tích Kukkuṭamittavatthu**.]

### Vị trưởng lão dạy thiền bậc nhất, tuyên bố có thể giúp đắc quả A-la-hán ngay tại chỗ

Thời xưa, có những người đệ tử và thí chủ vì thiếu hiểu biết và lòng tịnh tín quá mức, đã đồn thổi rằng thầy của mình — một vị trưởng lão — đã chứng đắc **Thiền định, Đạo Quả** và là một bậc **A-la-hán**.

## PAGE 554

511.

Vị trưởng lão đó, mỗi khi có đệ tử hay khách khứa đến đảnh lễ, khi họ còn chưa kịp ngồi xuống, ông đã hỏi: "Các người đến đây có việc gì?"

"Bạch Ngài, chúng con đến để xin hỏi về đề mục thiền định để thường xuyên hành trì ạ."

"Được rồi, ngồi xuống đi. Ta sẽ trao cho các người đề mục thiền có thể chứng đắc **Quả vị A-la-hán** ngay lập tức," nói rồi ông tiếp: "Hãy cứ ở yên chỗ cũ của mình mà tác ý (như thế này, như thế kia), đây gọi là **đề mục thiền căn bản**. Khi đang tác ý như vậy, ánh sáng sẽ phát ra, hãy ghi nhận đó là đã đắc Đạo thứ nhất. Sau đó, nếu tiếp tục tác ý, một tuệ giác sẽ xuất hiện làm cho ánh sáng hội tụ lại, đó chính là Đạo thứ hai. Đạo thứ ba và Đạo thứ tư cũng không có gì khác biệt lắm, cứ tiếp tục tác ý như vậy thì sẽ đắc bốn Đạo bốn Quả thôi."

Các đệ tử, gồm cả tăng và tục, sau khi nghe xong liền kết luận và tôn thờ: "Nếu không phải là bậc **A-la-hán** thì khó mà ban cho đề mục thiền như thế này. Thầy của chúng ta đích thị là bậc **A-la-hán** thật rồi."

Thời gian trôi qua, khi vị trưởng lão này viên tịch, các thí chủ từ các làng lân cận nơi vị ấy trú ngụ đã đến chùa và hỏi các vị đệ tử: "Bạch chư Đại đức, trước khi vị Trưởng lão viên tịch, các Ngài có kịp thưa hỏi hay nhận được lời di huấn nào không ạ?" Chư Tăng trong chùa trả lời: "Này các cư sĩ, cần gì phải hỏi thêm nữa? Trước đây Ngài đã thuyết dạy cho chúng tôi một cách rõ ràng và trực tiếp hết rồi."

### Lầm tưởng phàm phu là bậc A-la-hán nên xây tháp thờ

Các thí chủ tin vào lời của chư Tăng nên đã trang hoàng lộng lẫy bằng lâu đài, trần nhà bằng vàng, dâng cúng hương hoa và tổ chức lễ hội **Sādhukīḷana** tưng bừng suốt bảy ngày đêm để cúng dường.

## PAGE 555

512.

Sau khi hỏa táng, họ thu gom xá-lợi (tro cốt) và xây bảo tháp để tôn thờ. Có những vị trưởng lão từ phương xa am hiểu sự tình tìm đến chùa, sau khi rửa chân sạch sẽ, họ hỏi chư Tăng trong chùa: "Chúng tôi muốn đến đảnh lễ vị trưởng lão. Ngài đang ở đâu?" Chư Tăng đáp: "Bạch Ngài, vị trưởng lão đã **Niết-bàn** (viên tịch) rồi ạ."

"Này các hiền giả, vị trưởng lão này đạt được Đạo Quả Niết-bàn là chuyện không hề dễ dàng đâu. Trước khi Ngài viên tịch, các ông có thưa hỏi gì không? Ngài có để lại lời dạy gì cuối cùng không?" Khi các vị trưởng lão phương xa hỏi, chư Tăng trong chùa liền thuật lại việc vị ấy từng ban đề mục thiền đắc quả **A-la-hán** ngay tại chỗ như thế nào.

Các vị trưởng lão phương xa mới dạy rằng: "Này các hiền giả, đó không phải là Thánh Đạo. Đó gọi là **Vipassanā Upakkilesa** (Tùy phiền não của tuệ quán). Ôi thật đáng tiếc, các hiền giả vì không biết nên mới lầm tưởng như vậy. Vị trưởng lão này thực chất vẫn là một người **phàm phu** thôi." Nghe vậy, những người đệ tử lập tức đứng dậy phản bác: "Không đúng, cả chư Tăng lẫn thí chủ ở đây không ai là không biết, chỉ có các Ngài là tự cho mình hiểu biết thôi. Các Ngài đi đường nào đến đây? Ngay cổng chùa có ngôi tháp thờ xá-lợi đó, các Ngài không nhìn thấy sao?" Họ cứ thế tranh cãi để bảo vệ quan điểm của mình.

(Mười loại phiền não làm ô nhiễm tuệ quán này đã được nêu rõ trong phần chú giải kinh **Saddhammapatīrūpaka Sutta** thuộc chương Nidāna Saṃyutta, xem đó là nguyên nhân dẫn đến sự suy tàn của giáo pháp thực hành.)

Dù có hàng trăm, hàng ngàn vị Tỳ-kheo có quan điểm như vậy, nếu họ không từ bỏ quan điểm sai lầm đó thì sẽ không bao giờ đạt được thiên giới, Niết-bàn, Đạo Quả hay Thiền định. Bởi vì: "**Yo nindiyaṃ pasaṃsati, taṃ vā nindati yo pasaṃsiyo**" (**Kinh Pháp Cú** - 381; **Tương Ưng** 1, 151, 154; **Tăng Chi** 1, 319...) — kẻ chê bai bậc Thánh đáng khen ngợi, hoặc ca tụng kẻ phàm phu đáng chê trách là bậc Thánh, cả hai hành động này đều phạm phải trọng tội **Ariyūpavāda-kamma** (tội phỉ báng bậc Thánh).

Trong chú giải cũng có trình bày những phương pháp đặc biệt về cách ban đề mục thiền 32 thể trần. (**Chú giải Trung Bộ 4**, trang 25-26, phần mở đầu kinh **Sāmagāma Sutta**.)

## PAGE 556

**Kinh Sāmagāma — Nơi không có sự tranh luận trong Pháp Siêu thế**

Ngay sau khi đạo sư Nigantha Nāṭaputta qua đời, các đệ tử của ông đã nảy sinh tranh luận và cãi vã lẫn nhau. Theo lời tường thuật của Sa-di Cunda về sự việc này, Ngài Ānanda lo ngại rằng sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt, các đệ tử cũng sẽ vì các học giới mà tranh luận, cãi vã. Khi Ngài trình bạch lên Đức Thế Tôn về tin tức của Nigantha, Đức Phật đã dạy rằng: Sự tranh luận liên quan đến các học giới không đáng kể, nhưng sự tranh luận liên quan đến Đạo hiệp thế, pháp Thiền định và Tuệ quán thì vẫn có thể xảy ra. Sự tranh luận đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự đau khổ và bất lợi cho toàn thế gian.

Tuy nhiên, khi đã đắc chứng Đạo Siêu thế, hoàn toàn không còn bất kỳ điều gì để tranh luận nữa.

Để ngăn ngừa những sự tranh luận như vậy, Đức Phật đã thuyết giảng về sáu Pháp Cần ghi nhớ (Sāraṇīya-dhamma) và các phương pháp dàn xếp tranh chấp (Adhikaraṇasamatha). (**Majjhima Nikāya 3, 32. Uparipaṇṇāsa - Kinh Sāmagāma.**)

**“Nāhaṃ bhikkhave lokena vivadāmi, loko va mayā vivadati, na bhikkhave dhammavādī kenaci lokesmiṃ vivadati.”** (**Saṃyutta Nikāya 2, 113-4 - Khandhavagga - Kinh Puppha.**)

“Này các Tỳ-kheo... (giống như hoa sen mọc trong nước nhưng không bị nước thấm ướt), Ta không tranh luận với đời. Chỉ có thế gian tranh luận với Ta. Này các Tỳ-kheo, người nói lời hợp Chánh Pháp — người có tri kiến đúng đắn — thì không tranh luận với bất kỳ ai ở thế gian này nữa.”

### Những giảng sư thiền có thể gây hại đến cả cõi Phạm thiên

Như đã trình bày, những giảng sư thiền tự tuyên bố có thể giúp hành giả xuyên thấu và chứng đạt A-la-hán quả ngay trong một lần ngồi thiền, dù là do tự ngộ nhận hay do ác dục (pāpicchā), thì việc làm không đúng khả năng của mình không chỉ gây hại cho bản thân mà còn dẫn đến khổ đau cho chư Thiên và

## PAGE 557

toàn thế gian. Điều này đã được Đức Thế Tôn trực tiếp thuyết giảng trong **Kinh Ñāta của Tăng Chi Bộ (Tika Nipāta)**.

Lấy bản thân làm gốc, giảng sư đó lan truyền đến các đệ tử và những người nương tựa những phương pháp không phù hợp với lời dạy của Đức Phật (Giáo Pháp). Từ đó—

Vì cho rằng "Vị này nếu không tự mình chứng biết thì đã không thực hành hay truyền dạy pháp này", nên các vị Chư Thiên hộ trì từ hộc tủ, khuôn viên chùa, làng xóm cho đến tận cõi Phạm thiên — những phàm phu, chư Thiên và Phạm thiên còn mê muội có cùng bản chất — sẽ bị đẩy cả nhóm xuống vực thẳm khổ đau. Điều này đã được giải thích trong Chú giải (**Aṅguttara Aṭṭhakathā 2, 73 - Chú giải Kinh Ñāta**). (**Kammaṭṭhānaṃ vādetvā kathentopana anannulomikesu dhammesu samādape'ti nāma.**)

**“Magge vā hi Ānanda paṭipadāya vā saṅghe vivādo uppajjeyya, svāssa vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṃ.”** (**Majjhima Nikāya 3, 33 - Uparipaṇṇāsa - Kinh Sāmagāma.**)

“Này Ānanda... nếu sự tranh luận khởi lên trong Tăng chúng về Đạo sơ khởi (Đạo hiệp thế) hay về lộ trình thực hành sơ khởi thì điều đó có thể xảy ra. Nếu sự tranh luận ấy xảy ra (trong lĩnh vực Thiền định và Tuệ quán hiệp thế), nó sẽ dẫn đến sự bất lợi và mất hạnh phúc cho đa số hữu tình; dẫn đến sự tổn thất, không lợi ích và đau khổ cho nhiều người — cho cả chư Thiên, loài người và Phạm thiên.”

Bằng chứng cho điều này cũng được nêu trong (**Visuddhimagga 1, 288 - Chương Phạm Trú**), kể về một người con trai của vị Quan đại thần, vì được hướng dẫn Thiền Tâm Từ sai lạc và thực hành sai, đã dùng tay đấm vào bức tường gạch suốt cả đêm đến nỗi phát điên.

Về vị giảng sư đã truyền đề mục thiền cho người thanh niên này, Thanh Tịnh Đạo không nêu rõ danh tính mà chỉ gọi là "một vị trưởng lão thường được gia đình hộ độ" (Kulūpaka). Tuy nhiên, Chú giải Tăng Chi Bộ ghi rằng đó là vị trưởng lão trú tại "Dakkhiṇavihāra" (Chùa phía Nam). Khi người thanh niên hỏi:

“Bạch Ngài... người tu tập Tâm Từ nên bắt đầu rải tâm đến hạng người nào trước?” Vị trưởng lão đã không xem xét kỹ lưỡng tính chất thích hợp (sappāya) giữa nam và nữ mà chỉ đáp rằng: “Hãy bắt đầu rải tâm đến người mà con yêu thương nhất.” Vì người anh ta yêu

## PAGE 558

nhất chính là vợ mình, nên khi rải tâm từ, đúng như câu nói "Tâm Từ thường cận kề với ái dục", dục ái đã khởi lên mãnh liệt. Trong căn phòng, anh ta không tìm thấy lối ra, suốt đêm cứ thế đấm vào tường (bhittiyuddha) như đánh võ và cuối cùng phát điên.

Ngược lại, về việc trao truyền đề mục thiền phù hợp mang lại lợi ích cho toàn thế gian, tập sách kể tiếp câu chuyện về Trưởng lão Tissa, bậc thông suốt bốn bộ Nikāya trú tại chùa Koḷita. Khi em trai Ngài là Trưởng lão Nandābhaya (trong bản Sinhala là Dattābhaya) trú tại chùa Potaliya đang lâm bệnh, Ngài đã truyền đề mục thiền về Vật thực đoàn thực (Kabaḷikārā āhāra), nhờ đó vị này đã lập tức chứng đắc quả vị A-la-hán.

### Ngay cả các bậc Đại Thanh văn cũng có thể hướng dẫn sai lệch

Vào thời Đức Phật, có một vị Đại trưởng lão đã chứng đắc A-la-hán nhờ quán chiếu sự sanh diệt của ngũ uẩn (**udayabbaya**). Vị này dẫn theo sáu mươi vị hành giả Tỳ-kheo đến vùng Bhoraneka để truyền dạy thiền định.

Trong suốt một mùa an cư, Ngài đã hướng dẫn cách quán chiếu Đại hiển, Y sinh sắc, Danh sắc, Duyên, Tướng và các Cảnh giới. Cả sáu mươi vị hành giả đều có thể trả lời trôi chảy mỗi khi được hỏi. Tuy nhiên, khi hỏi đến phần Đạo và Quả, không một vị nào có thể trả lời được. Lúc bấy giờ, vị Trưởng lão A-la-hán suy nghĩ:

“Lời giáo giới và giảng dạy của ta không hề thiếu sót. Các vị này cũng thực hành tinh tấn với chánh niệm không ngừng nghỉ dù chỉ bằng một hớp nước của con gà. Tại sao... họ vẫn chưa đắc chứng Đạo Quả và Niết-bàn? Khó khăn ở chỗ... ta không thấu triệt được khuynh hướng tâm linh (ajjhāsaya) bên trong của họ. Không biết liệu đây có phải là những người chỉ có thể đắc chứng khi được chính Đức Thế Tôn giáo hóa hay không.” Nghĩ vậy, vào ngày Rằm tháng mười (kết thúc an cư), Ngài đưa các đệ tử đến đảnh lễ Đức Thế Tôn tại chùa Pubbārāma. Chỉ khi Đức Thế Tôn thuyết giảng, tất cả họ mới chứng đắc quả vị A-la-hán. (**Majjhima Nikāya 3, 66. Uparipaṇṇāsa - Kinh Mahāpuṇṇama. Majjhima Aṭṭhakathā 4, 50.**)

Ngay cả Ngài Đại trưởng lão Sāriputta, vì không biết rõ khuynh hướng (**ajjhāsaya**) của một đệ tử từng có 500 kiếp làm thợ kim hoàn, nên đã truyền sai đề mục quán Bất tịnh (Asubha). Vị đệ tử ấy nỗ lực quán chiếu suốt bốn tháng mà không hiện khởi lấy một tín hiệu (nimitta). Cuối cùng, khi được đưa đến gặp Đức Thế Tôn, Ngài đã hóa hiện một hồ sen với hoa sen để vị ấy quán chiếu, nhờ đó vị ấy mới chứng đắc A-la-hán. (**Duka Nipāta - Tittira Jātaka - Jātaka Aṭṭhakathā 1, 199.**)

## PAGE 559

**Có người Đức Thế Tôn thuyết giảng không độ được, nhưng đệ tử thuyết giảng lại đắc pháp**

Đôi khi, chính đức **Thế Tôn** bậc **Chánh Đẳng Giác** thuyết giảng mà chúng sanh vẫn không thể đắc pháp, nhưng khi các bậc Thanh văn như ngài **Xá-lợi-phất** thuyết giảng và hướng dẫn thì hạng người đó lại đắc được pháp thượng nhân. Trong kinh **Thập Thượng** thuộc **Pāthika-vagga**, có năm trăm vị Tỳ-kheo mà đức Phật thuyết giảng không chứng đắc, nhưng khi ngài **Xá-lợi-phất** thuyết giảng thì tất cả đều đắc quả A-la-hán cùng với các tuệ Phân tích. (D.A. 3, 238). Ngay cả ngài **A-nan** cũng nhờ nghe pháp từ ngài **Mãn Từ Tử (Puṇṇa)** mà chứng đắc quả Dự Lưu. (Kinh **Ananda**, Tương ưng Uẩn, 86).

Do đó, trong chú giải **Thanh Tịnh Đạo**, chương về cách thụ giáo thiền mục và chú giải **Thanh Tịnh Tâm**, phần giải thích về **Niệm Thân**, các bậc thầy Chú giải đã căn dặn rằng: Về người hướng dẫn thiền mục, nếu không tìm được bậc Thánh, thì phải thụ giáo nơi những vị thông suốt Tam Tạng. Ngay cả các bậc A-la-hán, đôi khi các ngài cũng chỉ có thể chỉ dẫn theo đúng lộ trình mà mình đã đi qua. Vì vậy, để có thể vững vàng như thăng tượng dẫm nát bụi rậm mà đi, hành giả nên tìm đến thụ giáo nơi những vị có kiến thức uyên bác và đa diện. (Xem thêm kinh **Kisu-kopama**).

Dù khi ấy có hàng ngàn vị Trưởng lão A-la-hán, nhưng trước những câu hỏi nghi vấn của vua **Di-lan-đà**, ngoài ngài **Na-tiên** ra thì không ai có thể giải đáp được, khiến các bậc A-la-hán khác đều phải lánh mặt.

**Cận sự nam Mahā Vācakāla, vì hành thiền sai lạc mà trở thành kẻ tà kiến**

Tại vùng hạ lưu sông Hằng thuộc đảo Sri Lanka, từng có một người cận sự nam tên là **Mahā Vācakāla**.

Ông **Vācakāla** đã trì tụng và hành trì thiền mục **Ba mươi hai thân phần** suốt ba mươi năm ròng rã. Dù mục đích trì tụng là để chứng đắc quả Dự Lưu, nhưng ông lại khởi tâm nghi hoặc: "Ta đã trì tụng thiền mục **Ba mươi hai thân phần** suốt ba mươi năm mà ngay cả một chút ánh sáng định tướng cũng không có. Rõ ràng giáo pháp của đức Thế Tôn không phải là

## PAGE 560

pháp có thể giúp thoát khỏi khổ đau luân hồi. Càng tu tập chỉ càng thêm khổ sở". Từ sự hoài nghi dần dần, cuối cùng ông đã rơi hẳn vào **tà kiến**.

Chính vì ác kiến đó, sau khi mạng chung, ông **Vācakāla** tái sanh làm một con cá sấu khổng lồ dài chín tầm (usabha) ở sông Hằng. Có lần tại bến cảng Kumbhaka, con cá sấu **Vācakāla** này đã nuốt chửng cả sáu mươi chiếc xe bò đang chở những cột đá, ăn sạch cả bò lẫn cột đá.

Đây là bài học đáng suy ngẫm rằng dù đang thực hành việc đoạn trừ **tà kiến**, nhưng nếu thiếu như lý tác ý (yoniso manasikara), thì ngay cả chánh kiến vốn có cũng bị mai một và có thể trở thành kẻ **tà kiến**. (Chú giải Tăng Chi 2, 108 - phần giải thích kinh **Nidāna**).

**Lưới tà kiến - Những chiếc bẫy tinh vi**

Việc tu trì thiền mục là công việc tinh tế nhất thế gian. Nếu thực hành đúng, nó mang lại hạnh phúc vô song; nhưng nếu sai lạc, nó có thể trở thành mồi ngon cho địa ngục và ác đạo trong suốt vòng luân hồi.

Vì thế, trong kinh **Upāli** thuộc **Trung Bộ Kinh**, đức Phật đã thuyết về lỗi lầm to lớn và sức mạnh khủng khiếp của **ý nghiệp**. Sự sai lầm về quan kiến, sự lệch lạc về cái nhìn (**tà kiến**) – vốn là thứ quan trọng nhất đối với chúng sanh – không nằm ở thân nghiệp hay khẩu nghiệp, mà chính là ở **ý nghiệp**.

Khi quan điểm và cái nhìn đã sai lạc, người ta có thể bạo gan thực hiện những thân nghiệp và khẩu nghiệp đáng sợ một cách ngon lành. Vì vậy, việc tu tập thiền định vốn là công việc của ý nghiệp, của tâm thức, luôn nằm rất gần với hiểm họa **tà kiến**, nên việc có được như lý tác ý là vô cùng thiết yếu. Việc có đầy đủ đức tin và giới hạnh là điều cực kỳ quan trọng.

Ngay cả những người thông suốt giáo lý, nếu để những tâm ý bất thiện như **tham ưu, danh tiếng, cung kính**, hay các tâm xấu như **phủ nhận ân đức, ganh đua** xen vào một niệm, thì định lực có được từ việc hành thiền sẽ trở thành **tà định**. Khi ấy, họ sẽ liên tục phạm phải những sai lầm lớn không thể cứu vãn. Kiến thức càng rộng, uy tín và đồ chúng càng đông thì sự nguy hại càng lớn. (**Trí tuệ của kẻ ngu chỉ đem lại bất lợi, nó phá hủy vận may và chẻ nát đầu kẻ ấy. - Kinh Pháp Cú**).

## PAGE 561

Những phương pháp hành thiền đi ngược lại với giáo pháp cũng được viết thành sách để truyền bá lâu dài, khiến tội lỗi ngày càng chồng chất nặng nề hơn.

"**Do nắm giữ sai lạc mà tự mình xuyên tạc đức Thế Tôn, tự đào huyệt chôn mình và tạo nên rất nhiều ác nghiệp.**" (Luật 2, 177; Trung Bộ 1, 185).

Nếu một hành giả sai lạc thì thiệt hại một, nhưng nếu người đóng vai trò bậc thầy mà sai lạc thì thiệt hại khôn lường. "Đó là sự phỉ báng đức Thế Tôn, tự hủy hoại bản thân và làm phát sanh vô vàn điều bất thiện."

1. Một số vị thầy dạy thiền, dù nhắm vào việc đả kích một vị thầy khác, nhưng thực chất là đang đối đầu với cả giáo pháp, bắt đầu từ bậc **Chánh Biến Tri**. Ví dụ: Có người dạy rằng chỉ được quán chiếu đặc tính (lakkhaṇa) mà không được quán sát sơ tướng (padaṭṭhāna). Họ cho rằng chỉ cần khởi niệm "Tôi đi" (gacchāmi) là đã có cái "Ngã" xen vào và là sai lầm; từ đó bài trừ các bộ kinh điển thiền học cổ xưa để tự sáng tác ra những phương pháp thiền "mới lạ" ngắn ngủi. (Dù không hẳn là sai hoàn toàn, nhưng vì được tạo ra với tâm ý không ngay thật nên đó không phải là con đường truyền thống đúng đắn).

Đáng kinh ngạc hơn, họ còn tổ chức những buổi "cấp chứng chỉ chứng thánh" công khai cho bàn dân thiên hạ biết.

2. Một vài người sau khi hoàn tục cũng tự xưng là bậc thầy thiền định, lý luận rằng '**Trung đạo**' (Majjhima Paṭipadā) nghĩa là con đường ở giữa. Họ cho rằng nếu ghi nhận cảm thọ hỷ lạc thì rơi vào **đam mê dục lạc** (kāmasukhallikā), nếu ghi nhận cảm thọ khổ thì rơi vào **khổ hạnh cực đoan** (attakilamatha); do đó để đúng tinh thần **Trung đạo**, chỉ được phép ghi nhận cảm thọ xả. Họ lấy điểm này làm nòng cốt để viết sách và thuyết giảng về thiền.

Trong chú giải kinh **Đại Niệm Xứ** và kinh **Đế Thích Vấn Đạo**, đối với những hành giả mới bắt đầu, cảm thọ xả được gọi là **duddepana** - nghĩa là rất khó để trí tuệ của hành giả có thể nhìn ra hay nhận biết rõ ràng, vì nó thường lẫn khuất như là si (moha). Vì vậy, cần phải dùng phương pháp "theo dấu chân nai" mới có thể nhận biết được. (D.A. 2, 315; M.A. 1, 282; M.A. 4 - phần giải thích kinh **Đa Giới**).

Thực tế, trong mỗi niệm ghi nhận không rời khỏi danh sắc thân tâm đều đã bao hàm đủ tám chi của Bát Chánh Đạo. Chính Bát Chánh Đạo này mới được gọi là **Trung đạo**, điều này đã quá rõ ràng cả về mặt giáo lý lẫn thực nghiệm. (Còn khẩu hiệu 'để tâm tự nhiên' thì đã quá rõ ràng, không cần bàn thêm).

3. Ngoài ra, còn có hai vị thầy là cư sĩ nổi tiếng khắp cả nước cũng tham gia nghiên cứu khá sâu trong giới tu tập thực hành. Trong đó, một vị đã nỗ lực vô cùng kiên trì đến mức có thể đọc được cả các kinh điển Pali. Thật đáng khen ngợi. Vị ấy đã soạn thảo các tác phẩm về Minh Sát (Vipassanā), thậm chí thành lập các khóa học, các tổ chức và xuất bản cả các báo cáo thường niên.

## PAGE 562

Tuy đã dốc sức nghiên cứu kinh điển một cách hệ thống và tỉ mỉ, nhưng khi đến phần quan trọng là thực hành thực tế, họ lại đi chệch hướng. Chính những đoạn Pāḷi mà họ trích dẫn vốn không mang ý nghĩa mà họ muốn gán ghép, trái lại, nó lại ủng hộ quan điểm của phía đối lập mà họ đang muốn bài xích — tức là phương pháp mà số đông đang thực tập. Đó là những đoạn Pāḷi hỗ trợ cho phía bên kia. Trong các sách thiền Quán, họ viết rất tinh vi nên khó nhận ra, nhưng khi xem các báo cáo hàng năm, mục tiêu muốn loại bỏ của vị cư sĩ tổ trưởng này hiện ra rất rõ ràng.

Hiện nay, họ đang muốn loại bỏ phương pháp Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna) mà số đông đang thực hành. Thật đáng kinh ngạc. Chuyện này giống như câu nói: "Chỉ vì tôi nhìn thấy cái đục lớn trong thùng gạo mà thôi. Nếu không thì những người ăn cơm sẽ bị lủng bụng hết".

Vị thầy này tuyên bố rằng: "Bậc Dự Lưu (Sotāpanna) không giữ trọn ngũ giới, vẫn còn uống rượu". Ban đầu, dựa trên uy tín thế gian, cả nước còn tưởng là thật, nhưng về sau mọi người đều phải thốt lên "Hả!". Kể từ lúc vị này tuyên bố mình là giáo sư đại học Nāḷandā tái sanh, ông ta cũng bị cách chức khỏi vị trí của mình.

### Nếu chỉ chú trọng vào trải nghiệm cá nhân trên thân

4. Ngoài ra, có một số cá nhân không tinh thông Pháp học (Pariyatti), cũng không nương nhờ các bậc thầy am tường, mà chỉ dựa vào sự kinh sợ (saṃvega) của bản thân và những gì nghe lỏm được mà thực hành. Nhờ năng lực của tinh tấn Ba-la-mật, họ đạt được thành tựu ở tầng định (samādhi). Trong số đó, cũng có người có thể chạm tới tầng tuệ (paññā).

Tuy nhiên, những hạng người này lại tự mãn với giáo pháp và đời sống của mình, rồi tự lập mình làm thầy, làm những bậc thầy dạy thiền (kammaṭṭhāna) lớn. Vì không hiểu biết cả Luật (Vinaya) lẫn Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), họ gây ra sự hoài nghi cho phần lớn các Phật tử. Những thí chủ chưa hiểu biết sâu sắc cũng vây quanh ủng hộ, khiến cho cách dùng từ ngữ của cả thầy lẫn trò đều vượt quá giới hạn

## PAGE 563

nhưng bản thân họ lại không hay biết. Đó trở thành những lời nói và hành động không thoát khỏi lỗi lầm.

Thực tế, ngay cả khi hạng người đó được cho là đã đắc quả A-la-hán đi nữa, thì theo giáo pháp của Luật tạng, cũng cần phải xem xét kỹ lưỡng việc vị ấy nên hay không nên sống tách rời khỏi thầy tế độ. Hiện nay, chính những hạng người chỉ mới một, hai tuổi hạ nhưng đã mang danh "Ngài thiền sư lớn" (Sayadaw) để làm thầy dạy thiền, thật là điều đáng sợ.

Thời xưa, chỉ những bậc thông suốt Tam Tạng, là nơi nương tựa cho nhiều vị Tỳ-kheo, mới được gọi là "Sayadaw" (Bậc thầy tôn kính). Nếu không thì chỉ gọi là "Khần-gyí" (vị sư lớn tuổi).

Thậm chí nếu một bậc A-la-hán không tinh thông kinh điển bị yêu cầu giảng dạy thiền Quán trong tình thế cấp bách, vị ấy cũng chỉ nên hướng dẫn trong phạm vi trú xứ của mình. Khi hướng dẫn, cũng chỉ nên nói và chỉ dẫn vừa đủ để khơi dậy đức tin (saddhā), ý muốn (chandha) và tinh tấn (viriya), vừa đủ để biết cách thực hành; tuyệt đối không nên dùng những thuật ngữ hay nói về những điều quá tầm tay hoặc không đủ khả năng như "cái này gọi là gì", "cái kia là cấp độ nào".

Dù là người đã thực sự hoàn tất phận sự Tỳ-kheo (đắc Thánh quả) đi nữa, cũng không phải là người thông suốt hết các pháp. Do đó, nên tránh việc đi thuyết giảng rầm rộ khắp nơi. Các thí chủ cũng cần phải biết chừng mực. Những việc làm chỉ dựa thuần túy vào đức tin mà thiếu trí tuệ sẽ gây ra mối hiểm họa lớn cho giáo pháp.

Chưa dừng lại ở đó, có người vừa không hiểu Luật, vừa không rành Vi Diệu Pháp, thậm chí chữ Miến viết chưa thạo, đọc chưa thông mà cũng biên soạn các sách thiền Quán. Điều này thật khiến người ta lo âu cho tương lai giáo hội. (Tôi tin rằng nhờ sự nỗ lực tinh tấn, họ có thể có được định và tuệ ở mức độ nhất định. Nếu họ hoàn tất phận sự Tỳ-kheo thì tốt cho họ. Ở đây tôi không nói về việc đó.)

Ví dụ: Có những cuốn sách viết rằng đối với đại chủng đất (pathavī-dhātu) thì 'đất' (pathavī) là một chuyện, 'chủng' (dhātu) là chuyện khác; hay nói rằng việc gọi tên tách trà là Chế định (paññatti), còn hình dáng tròn trịa của nó mới là Chân đế (paramattha), v.v.

Lại nữa, có những sách giáo lý và thủ bản viết giảng cho thí chủ rằng: Nếu thực hành Quán Thân (Kāyānupassanā) thì đắc quả Dự Lưu (v.v.), nếu thực hành Quán Pháp (Dhammānupassanā) thì đắc quả A-la-hán; rồi giảng giải các tầng Đạo và Quả diễn ra như thế này thế kia.

## PAGE 564

Nếu chỉ lấy trải nghiệm cá nhân trên thân làm trọng yếu, thì có thể nói rằng một hiểm họa đáng sợ đã giáng xuống giáo hội. Khi đó, nó sẽ trở nên đồng nhất với tông phái 'Thiền' (Zen) ngoại đạo, vốn giữ quan điểm "không cần kinh điển (Pāḷi), chỉ cần ngồi đó tự khắc biết là đúng". Dần dà, họ chẳng còn xem trọng giáo pháp học (Pariyatti) và các bậc đa văn túc học, rồi tiếp tục lầm lạc theo kiểu "họ chỉ giỏi chữ nghĩa thôi, vì không tự thực hành nên mới thấy điều tôi biết là sai", từ đó dẫn đến việc tách rời giữa thực hành và kinh điển. Họ không còn muốn chấp nhận sự phán quyết của 'hòn đá thử vàng' (kinh điển) là chân thật nữa. Quan điểm này sẽ làm nhấn chìm cả thế gian.

### Hành động đập phá và hủy hoại Pháp quyền

Dù cho những thí chủ ít hiểu biết nhưng nhiều đức tin có vây quanh tán dương và cúng dường đến mức nổi danh lẫy lừng đi chăng nữa, thì những kiểu nói năng và viết lách đó đối với bậc trí giả vẫn là điều chướng tai gai mắt, đến mức họ nảy sinh hoài nghi ngay cả với định và tuệ mà những người đó có thể có được. Sự hoài nghi đó là hoàn toàn chính đáng.

Dù chưa dẫn đến xung đột (adhikaraṇa) bằng bạo lực, nhưng việc nói Pháp (Dhamma) thành Phi pháp (adhamma), nói Phi pháp thành Pháp trong giáo hội, chính là điều gọi là "Tranh chấp ly gián" (vivādādhikaraṇa). Trách nhiệm này cực kỳ nặng nề. Ngay cả các bậc Độc Giác Phật (Paccekabuddha) cũng vì không tinh thông ngôn từ mà không thể thuyết pháp.

Trong số bốn hạng người nêu trên, có người hiện còn sống, có người đã quá cố. Cho dù họ đã qua đời, nhưng các trước tác của họ vẫn tồn tại như một "nghiệp nhân vĩnh cửu", nên tôi phải nêu ra đây để hậu thế suy ngẫm.

Những giáo lý hoàn toàn sai lầm thì không cần giải thích thêm. Nhưng những quan điểm nêu trên là những tà thuyết núp bóng gần với sự thật, đang đục khoét giáo pháp từ bên trong, nên cần phải hết sức cảnh giác.

Những quan điểm đó tuy không đủ sức làm xoay chuyển hoàn toàn giáo pháp hành (Paṭipatti), nhưng vì chúng trà trộn giống hệt như thật, nên tôi nêu ra đây chỉ nhằm mục đích giúp các thí chủ ít phước thiếu tuệ không bị lọt vào "Lưới tà kiến (Diṭṭhijāla) - những cạm bẫy hại người". Tôi mong mỏi mọi người không phạm phải trọng tội phỉ báng bậc Thánh (ariyūpavāda), và không trở thành kẻ thù của Đức Phật bằng con đường tà kiến (micchādiṭṭhi).

## PAGE 565

Trong **Kinh Phạm Võng (Brahmajāla Sutta)**, khi giải thích về các quan điểm cực đoan của đức Thế Tôn, chúng ta cần rút ra bài học về sự đáng sợ của 'lưới tà kiến' (**diṭṭhijāla**).

1. **Abhidhammaṃ paṭibāhento imasmiṃ jinacakkū pahāraṃ deti** — Người nói hoặc viết lời phản đối, ngăn cản thực tại tự nhiên của Vi Diệu Pháp chính là người đập phá, hủy hoại bánh xe Pháp (**dhammacakka**) và lời dạy của đức Phật trong giáo pháp này. ……

2. **Sabbaññutañāṇaṃ paṭibāhati** — Là người xúc phạm đến Nhất Thiết Chủng Trí (**Sabbaññutañāṇa**).

3. **Sotukāmaṃ parisaṃ visāṃvā deti** — Gây ra sự dẫn dắt sai lạc cho tất cả những người nghe và đọc.

4. **Ariyamaggī āvaraṇaṃ bandhati** — Là người ngăn chặn và trói buộc chúng sanh, khiến họ không thể đạt được đạo quả cao thượng.

5. **Aṭṭhārasasu bhedakara vatthusu ekasmiṃ santissabhi** — Là người đang thực hiện việc chia rẽ giáo pháp bằng cách này hay cách khác (v.v...).

**Người rủ rê nhau vào địa ngục**

(**Aṭṭhasālinī** 30.)

Cát bụi của các pháp thế gian vốn mỏng manh nhưng có thể làm lệch lạc cả vòng luân hồi, khiến ta tiến gần đến nỗi kinh sợ của ác đạo và địa ngục. Khi không có trí tuệ để tự mình quyết định (**ananuvicca**), không chịu nỗ lực nghiên cứu tìm tòi nhiều lần để tìm ra câu trả lời đúng đắn (**apariyogā**):

1. Phỉ báng người đáng khen;
2. Khen ngợi người đáng phỉ báng;
3. Khuyến khích, lôi kéo, dụ dỗ người khác thực hành sai lạc, theo con đường sai và pháp sai;
4. Ngăn cản việc thực hành chân chính, con đường đúng và giáo pháp đúng.

Bốn điều này được gọi là "**Yathābhataṃ nikkhitto evaṃ niraye**" — hành động lôi kéo, đẩy người khác rơi xuống địa ngục như thể ném một món đồ xuống đó vậy. (Tăng Chi Bộ Kinh 1, 88. 396)

## PAGE 566

Đức Thế Tôn đã trực tiếp cảnh báo trong (**Duka-āyācanavagga** và **Catukka-avaṇṇārahasutta**):

“**Abhūtaṃ abhūtato nibbeṭhetabba** — Này các con, đối với những điều không đúng pháp, không đúng đường lối, các con phải giải thích rõ ràng rằng đó là điều không đúng đắn.”

(**Brahmajāla Sutta**.)

**Người bị lừa dối thiệt thòi nhất**

(Trưởng đoàn kịch **Tālapuṭa**)

Trong thế gian, khi người ta lừa dối lẫn nhau, so với việc bị lừa mất mát tài sản kinh doanh v.v..., thì việc bị lừa dối liên quan đến quan điểm tôn giáo, tâm lý và niềm tin cốt lõi là sự thiệt thòi lớn nhất.

Vào thời đức Thế Tôn, tại thành Vương Xá (Rājagaha) có một trưởng đoàn kịch nổi tiếng tên là **Tālapuṭa**.

Khi gặp đức Phật, vị trưởng đoàn kịch này đã thưa hỏi xem có đúng như lời các bậc thầy tổ đời trước thường nói rằng các diễn viên múa hát sau khi chết sẽ được sanh vào thiên giới **Pahāsa** (nơi tràn đầy niềm vui) hay không. Đức Thế Tôn đã ba lần ngăn cản: "Thôi hãy dừng lại, đừng hỏi việc đó". Cuối cùng, khi không thể từ chối, Ngài đã thuyết rằng: "Đó không phải là thiên giới **Pahāsa**, mà phải đi thọ khổ tại địa ngục **Pahāsa**, một phần thuộc địa ngục A-tỳ". Nghe xong, vị trưởng đoàn kịch đã bật khóc nức nở.

Lúc đó đức Phật phán rằng: "Ta đã bảo đừng hỏi mà ông cứ nhất quyết hỏi cho bằng được". Vị ấy thưa rằng:

"Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì điều đó. Con khóc vì bấy lâu nay con đã bị các bậc thầy tổ đoàn kịch đời trước lừa dối, nói rằng chúng con sẽ được lên thiên giới **Pahāsa** (trong khi thực tế là phải chịu khổ địa ngục)".

Sau đó, vị trưởng đoàn kịch **Tālapuṭa** đã xuất gia và chứng đắc quả vị A-la-hán. (**Tương Ưng Bộ 2, 4, Tālapuṭasutta** và **Chú giải Thừa Kế Pháp 2, 457**.)

## PAGE 567

Những người thực hành khổ hạnh như chó, như bò giống như **Korakkhattiya** và những người khác cũng không phải vì họ tự muốn làm, mà chỉ là những người bị lừa dối do bị tiêm nhiễm tà kiến tôn giáo.

(**Trung Bộ Kinh - Kukkuravatika Sutta. M-2, 50**.)

Con người thường có xu hướng muốn được lừa dối. Khi bị lừa về phương diện tôn giáo và giáo thuyết, họ thậm chí còn lấy đó làm niềm tự hào.

**Thậm chí giả dạng A-la-hán**
**Các cách thức lừa dối của tu sĩ xấu**

Giáo pháp Luật tạng (Vinaya) mà đức Thế Tôn chế định vốn vô cùng tinh tế. Mặc dù Ngài dạy để ngăn chặn thân nghiệp và khẩu nghiệp, nhưng nếu bên trong ý nghiệp không ngay thật, không thanh tịnh, thì dù ác hạnh đó có được che giấu kỹ đến đâu, nó cũng sẽ bộc lộ ra qua lời nói hoặc hành động.

Đối với các cách sống, cách ăn uống hay các bổn phận khác thì không đáng kể. Nhưng khi liên quan đến việc nhận vật phẩm cúng dường, sự nổi tiếng và cung kính, đặc biệt là liên quan đến cái gọi là "**Uttari-manussadhamma**" (pháp thượng nhân) như thiền định, đạo quả, nếu tâm địa gian xảo bên trong vẫn còn tệ hại, thì rất khó để thoát khỏi những lỗi lầm này.

“**Evaṃ maṃ jano sambhāvessati** — Nếu ta sống như thế này, nói như thế này, các thiện nam tín nữ sẽ khen ngợi, ủng hộ và tịnh tín nơi ta”. Sẽ là trong sáng nhất nếu ta không làm gì hay nói gì với tâm niệm như vậy. (Hãy xem thêm các câu chuyện liên quan đến **tội Bất cộng trụ thứ tư**).

Trong Luật tạng, Vi Diệu Pháp, các bản Pāḷi và Chú giải, đức Phật đã thuyết và giải thích rất nhiều về các cách nói năng, hành động, cách sống và các phương thức lừa dối không ngay thật nhằm mục đích có được lợi dưỡng và sự cúng dường; nhiều đến mức không thể viết hết được.
Có vô số loài ác dục và các kiểu lừa dối khác nhau được trình bày: như việc giả vờ đi khất thực dù không có lòng tin, giả vờ có giới dù không có giới, giả vờ có định dù tâm không có đối tượng thiền, không am hiểu kinh điển nhưng giả vờ thông suốt, hay việc sử dụng "cò mồi" phục vụ để lừa dối.

## PAGE 568

Đối với những người nói năng nhằm làm cho người khác tưởng mình là bậc trí tuệ, họ thể hiện qua những hành vi nhỏ nhất như cách quét rác trước mặt thí chủ, hay nói rằng: "Ồ, trong chùa ồn ào quá nên tôi phải tìm nơi thanh tịnh thế này để ở"; hoặc vào buổi đêm khi có tiếng động lạ, họ hỏi: "Mọi người không nghe thấy hay nhìn thấy gì sao? Lúc bần tăng đang đi kinh hành thì đã nghe và thấy rõ lắm đó". Lại có kiểu tự đắc về trí nhớ: "Bần tăng hễ nhìn qua hay đọc qua một lần là nhớ mãi"; hay lúc giữ oai nghi trước mặt người khác thì phán định: "Này... thực tính của sơ thiền không phải như vậy đâu"; hoặc "Bần tăng chỉ cần nhìn qua kinh điển Pāḷi là thấu hiểu ngay các pháp này, học pháp (Pariyatti) chẳng có gì khó cả. Thế nhưng, nếu cứ mải mê học thuộc lòng kinh điển thì không thể thoát khỏi nỗi khổ sanh tử đâu. Vì vậy, bần tăng đã buông bỏ, không còn bận tâm đến kinh sách từ lâu rồi". Những hạng người hạ thấp pháp học (Pariyatti) để nâng cao cái danh "bậc trí" của bản thân như vậy cũng đã được chỉ ra.

**Trong Chú giải bộ Vibhaṅga - trang 456-457 (Phần giải thích về các văn bản tiểu bộ - Khuddaka Vatthu)**, liên quan đến những cách nói năng và giả vờ không trung thực này, có ghi chép rằng:

"**Evaṃ vadanto panassa sāsane pahāraṃ deti, iminā sadiso mahācoro nāma natthi**" - Kẻ nói năng như thế được gọi là người nhục mạ giáo pháp của Đức Phật. Trên đời này, không có tên đại đạo tặc nào ngu muội bằng kẻ này.

### Vị A-la-hán cái hũ (Cāṭi-arahanta)

Lại nữa, trong định nghĩa của Chú giải cũng tiếp tục chỉ ra cách thức một vị tự xưng là A-la-hán với những đứa trẻ trong xóm: "Các con nghe cha mẹ nói gì về sư không?". Đứa trẻ đáp: "Bạch sư, cha mẹ con nói sư là bậc A-la-hán ạ". Vị đó liền bảo: "À... cha mẹ các con thật là bậc có trí tuệ và hiểu biết sâu rộng. Họ chẳng bao giờ biết nói dối đâu". Đó là cách vị này tự quảng bá mình là bậc Thánh. Không chỉ vậy:

Có một vị sư đào một cái hũ lớn đủ người chui lọt rồi chôn xuống đất ngay trong phòng. Khi có khách đến, những "tay chân" (người hộ tăng giả hiệu) nói rằng sư đang ở trong chùa, nhưng khách tìm không thấy nên ra về. Lúc đó, những người này lại bảo:

## PAGE 569

"Sư vẫn ở trong chùa mà", khiến khách quay trở lại. Khi khách bước vào, thấy sư từ trong hũ bước ra ngồi trên tòa thọ nhận sự cúng dường. Khách hỏi: "Bạch Ngài, vừa rồi chúng con không tìm thấy Ngài trong phòng nên đã đi ra ngoài, không biết Ngài đã đi đâu ạ?". Sư đáp: "Bậc tu hành là vậy đó... tùy nghi mà đi đến nơi mình muốn thôi". Đây chính là trường hợp của "Vị A-la-hán cái hũ".

### Vị A-la-hán rễ cây (Pāroha-arahanta)

Cũng trong bản **Chú giải trang 458**, câu chuyện về một "Vị A-la-hán rễ cây" khác cũng được kể lại.

Xưa kia, có một vị sư muốn giả làm bậc có thần thông kỳ lạ, sống trong một am lá gần chân núi, cách làng không xa. Phía sau chùa có một vực thẳm sâu hun hút, ngay bên bờ vực có một cây đa lớn với những bộ rễ dài. Những rễ cây này mọc vươn sang tận phía bên kia vực, nối liền chùa với con đường dẫn vào làng.

Mỗi khi các thí chủ đến thỉnh sư đi thọ thực, vị này thường bảo: "Được rồi, các người cứ đi trước đi", rồi đích thân đi sau. Thí chủ phải đi theo con đường mòn vòng vèo quanh vực nên mất nhiều thời gian, trong khi vị sư này lại đi tắt bằng cách leo qua các rễ cây bắc ngang vực thẳm, nhờ đó mà đến cổng làng trước cả họ. Thí chủ kinh ngạc hỏi: "Bạch Ngài, Ngài đã đi đường nào mà đến nhanh vậy ạ?". Sư liền phán: "Ồ... đừng tìm hiểu làm gì, đường đi của bậc tu hành không nên hỏi. Bậc tu hành hễ muốn là có thể đi bằng bất cứ con đường nào".

Sau đó, có người sinh nghi nên đã âm thầm theo dõi và phát hiện ra sự thật. Người này liền bí mật chặt đứt rễ cây đó nhưng vẫn để lại ngay ngắn như cũ. Một ngày nọ, như thường lệ, vị sư định trèo lên rễ cây để phô diễn "thần thông",

## PAGE 570

vừa bước lên thì rễ cây đứt lìa, vị sư rơi tõm xuống vực. Bình bát bằng đất của ông ta cũng vỡ tan tành. Kể từ ngày đó, vì nghĩ rằng: "Thí chủ đã biết rõ chân tướng của ta rồi", vị sư nọ liền bỏ trốn khỏi am nhỏ đó.

## Năm hạng đại đạo tặc trong giáo pháp

Trên thế gian, những kẻ trộm cướp, giặc loạn thường bắt đầu bằng cách tập hợp những kẻ cùng chí hướng, rồi tùy theo sức lực mà đánh phá, cướp bóc từ một ngôi nhà, một ngôi làng cho đến một hai thành phố hay cả quốc gia. Những tên đại đạo tặc núp bóng giáo pháp cũng vậy, chúng lôi kéo phe cánh, đi từ người này sang người khác, làng này sang làng khác, thành phố này sang thành phố khác. Chúng tập hợp những thí chủ nhẹ dạ cả tin, thiếu hiểu biết, những người ham thích sự kỳ lạ huyền bí, hoặc những người mong cầu lợi ích trước mắt mà lầm tưởng rằng sẽ học được những bí pháp tu tập thầm kín nào đó, từ đó chúng cùng nhau "trấn lột" giáo pháp của Đức Phật.

Thay vì những vật phẩm cúng dường, sự đảnh lễ, tôn kính và danh tiếng vốn chỉ xứng đáng dành cho các bậc chân tu thật sự, những kẻ này lại dùng "tay chân", lập bè phái để đánh lừa, chiếm đoạt những thứ đó để hưởng thụ và tiêu xài.

Năm hạng đại đạo tặc trong giáo pháp đó là:

1. Kẻ sử dụng một trong ba hình thức lừa dối (**Kuhana**) (theo **Mahāniddesa-172-0**), với tâm không trung thực, vì mong cầu tứ sự mà lôi kéo hàng ngàn đệ tử vây quanh. Kẻ này đi khắp làng mạc, quốc gia để tìm kiếm sự chăm sóc tốt đẹp, sự trọng vọng và cúng dường từ cả tăng lẫn tục. (Đại đạo tặc thứ nhất).

2. Kẻ giảng dạy kinh điển (Suttanta) hay pháp vi diệu (Abhidhamma) bằng những giọng điệu gây ấn tượng hoặc làm cho người nghe kinh ngạc, nhưng lại không chỉ rõ pháp ấy đã học được từ bậc Đạo Sư hay vị thầy nào, mà lại làm như thể đó là sự chứng ngộ từ chính bản thân mình. (Đại đạo tặc thứ hai. Những ai hay nói "Kinh nghiệm thực chứng của bản thân" cần phải thận trọng).

## PAGE 571

3. Người buộc tội, vu khống các bậc Thánh hữu lậu và những bậc phàm phu trì giới bằng những lời cáo buộc về hành vi phi phạm hạnh (abrahamacariya) khi không có bằng chứng xác đáng, nhằm mục đích đánh bóng bản thân như thể chỉ mình mới có các đức hạnh đó. (Đại đạo tặc thứ ba.)

4. Người dùng các vật dụng thuộc sở hữu của Tăng-già (garubhaṇḍa) như khuôn viên chùa, đất đai, tịnh thất, giường, nồi niêu, dao, rìu, v.v... để đem cho các cư sĩ thí chủ nhằm mục đích lôi kéo và thu phục họ về phía mình. (Đại đạo tặc thứ tư.)

5. Người nói lời giả dối, lừa gạt bằng cách khoe khoang về các pháp thượng nhân như Thiền định (Jhāna), Đạo và Quả (Magga-Phala) mà bản thân thực sự không có. (Đại đạo tặc thứ ngũ.)

Hạng đại đạo tặc thứ năm này là hạng đê hèn và tồi tệ nhất trong ba cõi, bao gồm cả thế giới chư Thiên. (**Vin.A. 1, 74-ga- Pārājika thứ tư.**) Đức Phật đã thuyết về điều này đối với những tỳ-kheo xấu ác sống bên bờ sông Vaggumudā, những kẻ đã lừa dối để có được sự cúng dường bằng cách khoe khoang chứng đắc Thiền định và Đạo quả.

Những tỳ-kheo xấu ác thường có tâm lý suy bụng ta ra bụng người, cho rằng các bậc khác đang thực sự làm công tác hoằng pháp và được tôn kính cũng giống như họ, đều đang thuyết giảng lôi kéo vì mục đích sinh kế hay để phát triển giáo phái của riêng mình.

Khi ngài Mahā Moggallāna từ núi Gijjhakūṭa xuống, ngài đã tận mắt nhìn thấy các tỳ-kheo và sa-di xấu ác thời kỳ sau của giáo pháp Đức Phật Kassapa đang chịu nghiệp làm ngạ quỷ, bị bao phủ bởi y sắt và bát sắt rực lửa. Khi ngài thuật lại chuyện này, những kẻ đó đã cho rằng ngài muốn gây ấn tượng và khoe khoang các **Pháp thượng nhân** (uttarimanussadhamma). Ngay cả Đức Thế Tôn cũng từng phải đứng ra giải thích rõ ràng về việc này. (**Vin. 1, Pārājika thứ tư-Vinitavatthu. Vin.A. 1, 96-100.**)

## Người bỏ chạy vì kinh sợ sự vô thường tại buổi thuyết pháp của Trưởng lão Tipiṭaka Cūḷanāga

Thuở nọ, Trưởng lão danh tiếng **Tipiṭaka Cūḷanāga** đang thuyết giảng về đề mục hành trì Vipassanā cho chư tăng và cư sĩ tại tầng dưới của **Lohapāsāda** (Đại Đồng Điện với chín tầng lợp đồng) trên đảo Sri Lanka.

## PAGE 572

Trong khi Trưởng lão đang thuyết về cách quán chiếu để thấy rõ sự sanh và diệt của các danh sắc trong chính thân tâm mình theo sự hiện khởi của trí tuệ, thì có một vị thí chủ Bà-la-môn theo thuyết hữu ngã đang đứng nghe ở phía rìa hội chúng với thái độ không mấy cung kính.

Trưởng lão **Tipiṭaka Cūḷanāga** đã trình bày một cách chi tiết và lôi cuốn về phương pháp hành trì trên thân. Vị thí chủ Bà-la-môn đó càng nghe càng trở nên chú tâm. Theo sự chỉ dẫn của vị pháp sư, ông bắt đầu tập trung quán chiếu vào chính cơ thể mình. Dần dần, tâm ông trở nên tĩnh lặng và ông cảm thấy niềm an lạc ngay trong lúc thực hành như vậy. Khi tiếp tục quán chiếu sâu hơn, định lực ngày càng vững vàng và trí tuệ càng sắc bén, ông đã đạt đến giai đoạn sơ khởi của tuệ quán (**dubbala-vipassanā** - tuệ quán yếu).

Khi bắt đầu thấy rõ sự sanh và diệt diễn ra liên tục ngay trên thân mình, ông thấy cái "ngã" dần biến mất. Sau đó, bất cứ nơi nào ông nhìn vào thân mình, ông chỉ thấy toàn là sự tan rã. Ông chứng nghiệm được rằng tất cả các hành (saṅkhāra-dhamma) đều không có thực thể để chấp giữ là "ta" hay "của ta", mà chúng hoàn toàn trống không (**suññatā**) khỏi tự ngã và những gì thuộc về ngã. Khi định lực gia tăng mạnh mẽ, dù đang đứng nghe pháp nhưng ông cảm thấy tâm mình run rẩy như thể đang ngồi trên đỉnh một bờ cát đang sạt lở từng chút một. Cuối cùng, cảm giác như thể từ đỉnh một đống cát cao lớn bị đổ ụp xuống...

"Hả... không còn 'ta' nữa, cũng chẳng có cái gì là 'của ta' cả. Ôi... mình sẽ chẳng còn là gì, chẳng có gì nữa sao!" - ông trở nên hoảng sợ. Ngay lập tức mở mắt ra, ông thấy hội chúng vẫn đang định tĩnh lắng nghe pháp, nhưng vị thí chủ Bà-la-môn này đã vội vàng đi thẳng ra cửa của tòa lâu đài đồng và chạy thục mạng về nhà.

Vừa về đến nhà trong trạng thái hốt hoảng, ông vội ôm chặt lấy đứa con trai yêu quý vào lòng và nói:

"Con trai ơi... con thử sờ vào ngực cha xem. Ôi trời... thật là may mắn. Cha vừa đi nghe giáo pháp của Gotama rồi thực hành thử, kết quả là sợ đến mức hồn vía lên mây. May mà cha kịp dừng lại không suy nghĩ tiếp và chạy ngay về đây mới thoát được đấy."

Đối với những phàm phu còn nặng lòng chấp thủ "ta", "của ta" và muốn mãi quẩn quanh trong 31 cõi sanh tử này, thì giáo pháp của bậc thiện trí lại trở thành một điều đáng sợ. Đức Phật cũng đã từng dạy như vậy.

## PAGE 573

Khi tuệ quán (Vipassanā) trở nên chín muồi, thì chính nỗi "kinh sợ" đó lại là một loại trí tuệ đầy hương vị pháp bảo. Nó không giống như nỗi sợ hãi ma quỷ thông thường. Đó là sự thấy rõ rằng chỉ có các danh sắc đang vận hành, các danh sắc đang diệt đi, hoàn toàn không có "ta" hay "của ta" trong đó cả. (**S.A. 2, 254 - Chú giải kinh Udāna.**)

## Một vị đệ tử của Trưởng lão Mahā Nāga: Minh chứng cho việc người có nền tảng tốt dễ đắc pháp

Tại một ngôi đình nghỉ chân bên ngoài cửa thành Pāṭaliputta, có hai người bạn Bà-la-môn chung sống. Hàng ngày, họ thường nghe về những ân đức và tiếng tăm của Đại trưởng lão **Mahā Nāga**, người đang trú ngụ tại chùa Maṇḍapa ở vùng Kāḷavatti, đảo Sri Lanka. Vì thế, dù ở xa nhưng lòng họ luôn hướng về ngài với niềm tịnh tín.

"Này bạn... nghe danh đức của Đại trưởng lão **Mahā Nāga** thật khiến lòng người sinh khởi niềm tịnh tín. Chúng ta hãy cùng vượt biển sang đảo Sri Lanka để đảnh lễ ngài đi." - Sau khi bàn bạc, họ cùng rời Pāṭaliputta ở vùng Trung Ấn để khởi hành.

Trong lúc chờ đợi tàu, một người bạn đã không may qua đời giữa chuyến hành trình. Người còn lại may mắn lên được tàu, vượt đại dương và cập bến tại cảng **Mahātittha**, sau đó di chuyển đến thành Anuradhapura.

Khi đến Anuradhapura, sau khi tìm hiểu và biết được Đại trưởng lão **Mahā Nāga** đang trú ngụ tại vùng Rohaṇa, ông lại tiếp tục lên đường. Đến nơi ngài ở, ông quyết định định cư tại ngôi làng gọi là **Cūḷanagara**. Ngay khi vừa tới, ông đã tự tay chuẩn bị các vật phẩm cúng dường để đi đảnh lễ ngài.

Sáng ngày hôm sau, khi đến đảnh lễ, ông thấy có rất đông người cũng đến cúng dường như mình. Khi thấy Đại trưởng lão **Mahā Nāga** xuất hiện để thọ nhận sự cúng dường, hội chúng trở nên xôn xao. Vị thí chủ từ Pāṭaliputta đứng ở phía rìa hội chúng, vừa quan sát tình hình vừa chắp tay thành kính đảnh lễ ngài.

## PAGE 574

Đúng lúc ấy, vị trưởng lão từ phía người hộ pháp thành Pāṭaliputta đang đứng tiến bước vào. Vị hộ pháp vô cùng hân hoan, tiến lại gần cung kính đảnh lễ dưới chân vị trưởng lão, chạm trán vào hai mắt cá chân Ngài một cách thành kính. Sau khi đảnh lễ, ông ngước nhìn và thốt lên: "Bạch Ngài, thân tướng Ngài cao lớn quá đỗi!". Thực ra, vị trưởng lão có vóc dáng vừa vặn, không quá cao cũng không quá thấp.

Vì giữa đám đông nên vị trưởng lão chưa thể tiến bước ngay được, vị hộ pháp lại tiếp lời: "À... thực ra thân tướng Ngài cũng không cao như con tưởng. Tuy nhiên, ân đức và danh tiếng của các Ngài đã vượt qua đại dương xanh thẳm, lan tỏa khắp cả cõi Diêm-phù-đề (Jambudīpa). Chúng con đến từ Pāṭaliputta, vì nghe danh đức của các Ngài nên lặn lội đến đây để được chiêm bái."

Sau khi dâng cúng các loại vật thực, bánh trái đã chuẩn bị từ tối sớm, vị hộ pháp cũng dâng y và xin được xuất gia. Vị tân tỳ-kheo gốc Pāṭaliputta này chỉ trong vài ngày đã hoàn tất phận sự tu hành (đắc quả). Đây là một tấm gương cho thấy những người hội đủ ba nền tảng phẩm chất tốt (tiṭṭhāna): không bỏn xẻn, rộng lòng bố thí; có tâm tha thiết muốn chiêm bái những bậc tỳ-kheo giới hạnh (sīlavanta); và khao khát lắng nghe, ghi nhớ giáo pháp, thì có thể dễ dàng đắc chứng đạo quả. (Theo Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh 2, trang 132 — giải thích về kinh Tiṭṭhāna, phần ân đức giới hạnh).

## Các phương pháp kiểm chứng A-la-hán và những người từng thực hiện

Khi một vị tỳ-kheo tuyên bố "Tôi đã hoàn tất phận sự tu hành", không nên vội vàng chấp nhận hay phản đối ngay. Cần phải tuần tự thẩm vấn, xem xét qua sáu phương diện: Thấy, Nghe, Ngửi, Biết (Diṭṭha Suta Muta Viññāta) cùng với Uẩn, Xứ, Giới. Kinh Chabbisodhana thuộc Trung Bộ Kinh (Uparipaṇṇāsa Pāli) là bài kinh dạy về cách thẩm tra một người tự xưng là bậc Thánh A-la-hán (Trung Bộ 3, trang 79-86). Trong Luật tạng (Điều học Ba-la-di thứ tư) cũng có nêu sáu phương pháp kiểm chứng tương tự (Luật tạng chú giải 2, trang 81).

## PAGE 575

1. Trong các tầng Thiền, Đạo và Quả, ông đã đắc được pháp nào?
2. Ông đã tác ý như thế nào để đắc được?
3. Ông đắc được vào thời điểm nào?
4. Ông đắc được ở nơi nào?
5. Ông đã đoạn trừ được những phiền não (kilesa) nào?
6. Ông đã chứng đạt được những pháp nào?

Cần phải thẩm hỏi tuần tự theo cách này. Dù họ trả lời được cũng chưa vội tin ngay. Nếu là người có học thức (đa văn), họ vẫn có thể trả lời được phần nào, do đó cần phải kiểm tra kỹ hơn về phương pháp thực hành.

Thậm chí như vậy vẫn chưa đủ để khẳng định. Vì có những phàm phu (puthujjana) lại có uy nghi, cốt cách giống như bậc A-la-hán, nên đôi khi cần dùng các biện pháp thử thách, gây sợ hãi để xem xét.

Đối với bậc A-la-hán, dù sấm sét nổ ngay trên đầu cũng không còn biết sợ hãi, run rẩy hay rùng mình sởn gai ốc. Ngược lại, phàm phu chỉ cần một biến động nhỏ cũng sẽ khởi tâm lo sợ. (Sợ hãi chính là một biểu hiện của tâm Sân).

Vào thời kỳ Sīhaḷa (Sri Lanka), vị trưởng lão Dīghabhāṇaka Abhaya nổi tiếng đã từng gặp khó khăn khi kiểm chứng một vị tỳ-kheo, cuối cùng Ngài phải dặn trước một chú tiểu. Khi vị tỳ-kheo tự xưng là A-la-hán đang tắm ở bến sông Kalyāṇī nơi đổ ra biển, chú tiểu nấp dưới nước bất ngờ túm lấy chân vị ấy. Vị tỳ-kheo vì tưởng bị cá sấu lôi đi nên đã sợ hãi la hét thất thanh. Nhờ đó, mọi người mới biết vị ấy vẫn còn là phàm phu.

Dưới thời vua Candamukha Tissa, tại đại tự viện Mahā-vihāra có một vị trưởng lão A-la-hán mắt đã mờ đục nên chỉ thường ở trong cốc.

Vua muốn kiểm chứng xem vị trưởng lão có thực sự là A-la-hán hay không, nên nhân lúc chư Tăng trong chùa đi khất thực hết, vua lẳng lặng không để phát ra tiếng động tiến đến gần và túm lấy chân vị trưởng lão, giả như rắn quấn. Vị trưởng lão bình thản không chút lay động. Khi Ngài hỏi: "Ai đó?" — Vua thưa: "Bạch Ngài, con là Tissa". Vị trưởng lão liền phán: "Này Tissa, sao ta lại ngửi thấy mùi hương (của vua) ở đây?".

## PAGE 576

Tuy nhiên, cũng có một số phàm phu có thân kiến (sakkāya-diṭṭhi) mạnh mẽ nên không tỏ ra sợ hãi. Khi đó, người ta lại dùng cách thử thách với lòng tham ái (lobha taṇhā). Bởi vì bậc A-la-hán là những vị đã đoạn tận hoàn toàn mọi sự ưa thích, tham ái (taṇhā). Đặc biệt, các Ngài đã đoạn trừ được vị ái (rasa-taṇhā), nên ngay cả những hương vị thượng hạng của cõi trời cũng không làm các Ngài khởi tâm ưa thích.

Vua Vasabha đã ghi nhớ điều này, nên một lần nọ ngài thỉnh một vị trưởng lão được cho là A-la-hán vào cung. Ngay trước mặt vị trưởng lão, nhà vua tự tay dùng một cái bát để nhào trộn những quả táo chua (táo rừng) định làm nước uống. Vị tỳ-kheo nhìn thấy cảnh nhào táo chua trước mặt thì nước miếng trong miệng ứa ra, liên tục nuốt nước bọt. Qua đó vua nhận ra vị ấy vẫn chưa đoạn tận được tham ái. (Theo Chú giải Trung Bộ 4, trang 66 — phần giải thích kinh Chabbisodhana).

Những chuyện này được ghi lại trong Pāli và Chú giải để chúng ta có thêm kiến thức. Đối với đa số mọi người thì việc kiểm chứng này không thực sự cần thiết.

Ngay cả những bậc có trách nhiệm với giáo pháp khi kiểm chứng các vị tự xưng A-la-hán đôi khi cũng chỉ dựa trên cái nhìn học thuật (pariyatti) mà có những lời lẽ xem thường, chê bai hoặc chất vấn, đó quả là một trọng trách nặng nề.

## Nữ trưởng lão Sumanā — người đã trình bày về khổ đau trong vòng luân hồi từ trải nghiệm tự thân

[Về vị nữ trưởng lão này, trong Chú giải Pháp Cú có chép lại ở tích truyện "Sūkarapotikā". Quyển sách "Ân đức Tam Bảo" cũng từng nhắc đến bà như một "người phụ nữ luân hồi qua các cõi Ấn Độ, Sri Lanka, Myanmar". Càng đọc và nghe về câu chuyện này nhiều lần thì lợi lạc càng lớn, nên tôi xin được trình bày lại ở đây. Thay vì tự dịch thuật, tôi xin trích dẫn theo lời giảng của Cố Đại trưởng lão Mahāsi Sayādaw trong bài giảng "Kinh Chuyển Pháp Luân", vì ở đó Ngài đã trình bày đầy đủ tiến trình lịch sử cùng với những bản chất vi tế về chủng tử tham ái (taṇhā-bīja) trong tâm thức chúng sinh một cách rất đáng ngưỡng mộ, tôi sẽ trình bày đúng như lời Ngài đã thuyết giảng.]

## PAGE 577

### 5.34

**Muốn làm Phạm thiên rạng rỡ, lại phải nhai rơm rác nơi máng heo**

Có một thời, Đức Thế Tôn đi khất thực vào thành Rājagaha (Vương Xá). Khi ấy, Ngài nhìn thấy một con heo cái nhỏ và mỉm cười. Khi Ngài mỉm cười, những luồng hào quang trắng từ răng Ngài phát ra; biết rằng Ngài mỉm cười là có nguyên do, Ngài Ānanda mới bạch hỏi rằng:

“Bạch Thế Tôn, vì duyên cớ nào mà Ngài mỉm cười?”
Đức Thế Tôn đáp rằng:

“Này Ānanda, hãy nhìn kìa, ông có thấy con heo cái nhỏ đó không?”
“Bạch Thế Tôn, con có thấy.”

“Con heo cái nhỏ đó, vào thời giáo pháp của Đức Phật **Kakusandha** (Câu-lưu-tôn) đang thịnh hành, sau khi chết từ thân phận một người phụ nữ, nó đã tái sanh làm một con gà mái ở gần một trú xứ của chư Tăng. Con gà mái đó bị một con chim ưng bắt ăn thịt nên đã chết. Tuy nhiên, trước đó nó đã nghe được tiếng tụng niệm **Kammaṭṭhāna** (đề mục thiền định) của một vị Tỳ-kheo tu hành, nhờ đó khởi sinh thiện tâm. Do năng lực của thiện nghiệp ấy, nó đã tái sanh làm công chúa tên là **Ubbarī** trong cung điện của nhà vua ở nhân giới.

“Nàng công chúa ấy về sau đã xuất gia làm du sĩ (paribbājikā). Trong khi đang thực hành pháp, nàng quan sát những con dòi trong nhà vệ sinh, khởi sinh **Puḷuvakasaññā** (tưởng về dòi bọ) hay **Odātasaññā** (tưởng về màu trắng) và chứng đắc **Sơ thiền**. Sau khi chết từ kiếp du sĩ đó, nàng tái sanh làm một vị Phạm thiên ở **cõi Phạm thiên Sơ thiền**.

“Khi mệnh chung từ cõi Phạm thiên, nàng tái sanh làm con gái của một vị trưởng giả ở nhân giới. Sau khi chết từ kiếp con gái trưởng giả đó, giờ đây lại phải sanh làm con heo cái nhỏ này. Do nhìn thấy những diễn tiến ấy mà Ta mỉm cười.”

Khi nghe chuyện này, Ngài Ānanda cùng chư Tỳ-kheo khởi sinh tấm lòng **Saṃvega** (kinh sợ) sâu sắc. Khi ấy, ngay trên đường đi khất thực, Đức Thế Tôn đã dừng lại và thuyết 6 bài kệ ngôn.

#### Hễ chưa đoạn tận tham ái, vẫn còn luân hồi trong các cõi

Nay, Ta sẽ trích ra bài kệ đầu tiên trong số 6 bài đó.

**Yathāpi mūle anupaddave daḷhe,**
**Chinnopi rukkho punareva rūhati.**

## PAGE 578

**Evampi taṇhānusaye anuhate,**
**Nibbattati dukkhamidaṃ punappunaṃ.**

5.3.5

**Mūle** = hễ rễ cây; **anupaddave daḷhe** = còn vững chắc và không bị hư hại; **chinnopi** = thì dù phần cành lá phía trên có bị chặt đứt đi nữa; **rukkho** = cái cây ấy; **punareva rūhati yathāpi** = vẫn sẽ tiếp tục đâm chồi nảy lộc và tươi tốt trở lại như thế nào; **evampi** = thì cũng tương tự như thế; **taṇhānusaye anuhate** = khi **tham ái tiềm miên** vẫn chưa được đoạn trừ bằng **Thánh đạo**; **idaṃ dukkhaṃ** = thì nỗi khổ của việc tái sanh và những luỵ khổ này; **punappunaṃ** = cứ lặp đi lặp lại mãi; **nibbattati** = sẽ còn phát sinh tiếp diễn.

Ý nghĩa chính muốn hiển thị qua bài kệ này là: Vào kiếp làm công chúa **Ubbarī**, nàng đã xuất gia làm đạo sĩ, thực hành thiền định và đắc được **Sơ thiền**. Tuy nhiên, tầng định ấy chỉ có thể đoạn trừ được tham ái thuộc tầng bậc **Pariyuṭṭhāna** (phiền não khởi hiện) – vốn khởi sinh qua ý nghĩ về dục lạc – bằng cách **Vikkhambhanapahāna** (đoạn trừ bằng cách đè nén). Nó chỉ làm cho phiền não tạm thời rời xa trong một khoảng thời gian nhất định mà thôi.

Vì thế, trong kiếp đắc được **Sơ thiền** đó và trong suốt kiếp làm Phạm thiên, **tham ái thuộc về dục** (kāmarāgataṇhā) không khởi phát và dường như đã vắng mặt. Thế nhưng, vì không phải là sự đoạn trừ tận gốc rễ bằng **Thánh đạo**, nên khi tái sanh làm con gái vị trưởng giả ở nhân giới, tham ái ấy lại khởi sinh như thường lệ. Còn về **tham ái trong cõi hữu** (bhavataṇhā) thì ngay cả khi đang đắc định, nó vẫn hiện hữu.

Do gốc rễ của **tham ái tiềm miên** chưa được đoạn lìa nên sau khi làm Phạm thiên, qua kiếp người, nàng lại phải rơi vào kiếp heo. Hễ chưa đoạn tận được tham ái, thì theo cách thức này, chúng sanh sẽ phải tái sanh không ngừng vào các cảnh giới khác nhau tùy theo nghiệp lực của mình.

Dựa trên việc từ thân phận Phạm thiên lại phải trở thành heo như trên, các vị đại sư thuở trước đã để lại câu nói rằng: “Muốn làm Phạm thiên rạng rỡ, lại phải nhai rơm rác nơi máng heo.”

Tuy nhiên, sau khi mệnh chung từ cõi Phạm thiên, chúng sanh không thể tái sanh ngay lập tức làm heo. Họ cũng không thể sinh vào các cảnh giới bàng sanh khác, hay ngạ quỷ, địa ngục. Với bậc đắc định, nhờ năng lực của thiện nghiệp **Upacārabhāvanā** (cận định) – trạng thái tâm cận kề với tầng định – họ chỉ có thể tái sanh vào cõi người hoặc các cõi trời mà thôi.

## PAGE 579

5.3.6

Con heo cái nhỏ đang được nói đến ở đây cũng là trải qua kiếp làm con gái trưởng giả ở nhân giới rồi mới rơi vào kiếp heo. Điều đó khả năng là do trong kiếp làm con gái trưởng gia, cô ta có tâm ngã mạn, đã có hành vi bất kính và xúc phạm đến những bậc đáng tôn kính, dẫn đến ác nghiệp này.

Sau khi chết từ kiếp heo đó, nó tái sanh vào dòng dõi vương tộc tại vùng đất gọi là **Suvaṇṇabhūmi**. Nhiều người cho rằng **Suvaṇṇabhūmi** chính là vương quốc Thaton. Một số bậc trí giả khác, dựa trên minh văn bằng đồng do vua **Devapāla** khắc cách đây gần 1500 năm Phật lịch, lại cho rằng đảo Sumatra (Sumatra) mới là vùng đất được gọi là **Suvaṇṇabhūmi**.

Khi chết từ kiếp công chúa ở **Suvaṇṇabhūmi**, nàng tái sanh làm một người phụ nữ tại thành phố Benares (Ba-la-nại), Ấn Độ. Khi mệnh chung từ đó, nàng lại làm một phụ nữ ở vùng **Vanavāsī**. Vùng **Vanavāsī** nằm ở phía đông nam của khu vực Mumbai ngày nay. Chết từ kiếp đó, nàng đầu thai làm con gái của một vị lái buôn ngựa tại thương cảng **Suppāraka**. Thương cảng **Suppāraka** nằm ở bờ biển phía bắc Mumbai.

Rời bỏ kiếp đó, nàng lại làm con gái của một vị thuyền trưởng tại hải cảng **Kāvīra**. Hải cảng **Kāvīra** nằm ở điểm cực đông nam của bán đảo Ấn Độ. Đó là vùng duyên hải của quốc gia người Tamil (Damiḷa) thuở xưa.

Mệnh chung từ kiếp đó, nàng tái sanh vào một gia đình thuộc tầng lớp quan lại tại thành phố Anurādhapura, đảo Sīhaḷa (nay là Sri Lanka). Chết từ đó, nàng lại sanh làm con gái của một gia chủ tên là **Sumana** ở ngôi làng tên là **Bhokkanta**, phía nam thành phố Anurādhapura. Tên của nàng được đặt theo tên cha là **Sumanā**. Về sau, người cha rời bỏ ngôi làng đó để đến định cư tại làng **Mahāmuni**, thuộc vùng **Dīghavāpi**.

Trong thời gian sống ở ngôi làng đó, có một vị quan của vua **Duṭṭhagāmaṇi** tên là **Lakuṇḍaka Atimbara** đã đến làng vì một công việc. Khi nhìn thấy nàng Sumanā, vị ấy khởi lòng ái mộ nên đã tổ chức lễ kết hôn trọng thể và đưa nàng về sống tại quê nhà là làng **Mahāpunna**.

Trong khi sống tại làng đó, có Ngài trưởng lão **Mahā Anuruddha** (theo bản Sīhaḷa là Ngài **Anula**) – vị đang trú ngụ tại đại tự viện Tòng Sơn (Koḷapabbata-vihāra ở gần làng Kitti thuộc vùng Rohaṇa). Khi Ngài đi khất thực vào làng và dừng chân trước cửa nhà nàng Sumanā, Ngài đã nhìn thấy nàng và nói với chư Tỳ-kheo đi cùng như thế này:

## PAGE 580

“**Này chư Hiền**, con lợn cái từ thời đức Phật ấy hiện giờ đã đắc được **địa vị phu nhân** của **đại thần Lakuṇḍaka Atimbara**. Ôi, thật là điều kỳ diệu thay!”

Khi nghe được những lời này, bà phu nhân Sumana liền khởi lên “**Túc Mạng Minh**” (Jātissarañāṇa), có khả năng nhớ lại các tiền kiếp. Nhờ tuệ giác ấy, khi quán chiếu lại những kiếp sống cũ mà mình từng trải qua, bà lại khởi lên tâm kinh sợ (Thắng trí kinh sợ - Saṃvega) đối với vòng luân hồi. Vì lẽ đó, bà đã xin phép chồng là vị đại thần rồi xuất gia làm Tỳ-kheo-ni tại tu viện Pañcabala. Sau khi xuất gia, tại tu viện “**Tissa Mahāvihāra**”, bà được lắng nghe bài kinh “**Đại Niệm Xứ**” (Satipaṭṭhāna Sutta) và thực hành theo phương pháp đó, nhờ vậy bà chứng đắc Đạo Quả Dự Lưu.

Về sau, khi vua Duṭṭhagāmaṇi lên ngôi, bà trở về quê hương mình là làng Bhokkanta, hàng ngày đến tu viện “**Kalla Mahāvihāra**” để nghe kinh “**Ví Dụ Rắn Độc**” (Āsīvisopama Sutta). Nhờ đó, bà chứng đắc Đạo Quả A-la-hán, trở thành bậc Thánh ni lậu tận. Diễn biến các kiếp sống của Trưởng lão ni Sumana này đã được soạn thành bài kệ tóm tắt như sau:

“Một kiếp người, gà cái, một công chúa, Phạm thiên, rồi con nhà trưởng giả, lại thành con lợn nhỏ; qua các xứ Suvaṇṇabhūmi, Vanavāsī, Suppāraka, Kāvirī, đến chùa Anurādhapura xứ Sīhaḷa rồi làng Bhokkanta; tổng cộng mười ba lần thay hình đổi dạng, đó chính là tiến trình của nàng Sumana.”

Nếu suy xét kỹ thuật về mười ba kiếp sống này của bà Sumana, chúng ta sẽ thấy thật đáng để khởi tâm kinh sợ luân hồi.

Vào thời đức Phật Kakusandha, khi chết từ kiếp người, bà đã phải bỏ lại cả con cái, quyến thuộc, tài sản hiện có lẫn chính thân mạng mình để ra đi. Con cái hẳn đã khóc lóc ở lại, còn bà sau khi chết lại phải tái sanh làm gà mái.

Từ một con người thực thụ mà trở thành con gà thì thật đáng sợ. Trong kiếp gà mái đó, chắc hẳn cũng có đàn gà con quyến thuộc. Rồi bị chim ưng lao xuống vồ lấy, mổ ăn đến đứt đầu, phải chết trong đau đớn tột cùng.

## PAGE 581

Sau đó, nhờ phước báu từ việc nghe âm vang của pháp hành thiền (Kammaṭṭhāna) mà được sanh làm công chúa, đó là điều đáng mừng. Con gà ấy chắc hẳn không hiểu gì về pháp hành thiền cả, nhưng nhờ tâm tịnh tín khi lắng nghe mà tạo thành công đức, nhờ công đức đó mà quay lại kiếp người, thậm chí làm đến công chúa; thế nên mới nói “việc nghe Pháp thật là điểm tựa tối thượng”.

Từ kiếp công chúa nhờ đắc Thiền mà kiếp sau được sanh làm Phạm thiên cũng là điều đáng mừng. Khi hết tuổi thọ ở cõi Phạm thiên, bà sanh vào dòng dõi trưởng giả ở nhân gian, đó cũng là điều đáng mừng. Tuy nhiên, khi chết từ kiếp đó, phải chia lìa con cái, quyến thuộc và của cải trong niềm luyến tiếc, đó là điều đáng buồn. Sau khi chết lại phải làm một con lợn nhỏ thì lại càng đáng buồn hơn nữa.

Từ Phạm thiên thành người, từ người lại thành lợn, quả thật vô cùng đáng sợ và đáng để khởi tâm kinh sợ. Những người khác nếu chưa đắc được Thánh Đạo thì cũng có thể rơi vào những cảnh giới thấp hèn như vậy. Vì thế, đức Thế Tôn đã thuyết về tiến trình của con lợn nhỏ này để chúng ta khởi tâm tỉnh giác, kinh sợ mà nhất tâm hướng về giáo pháp.

Trong kiếp làm lợn nhỏ đó, không thấy ghi chép bà đã chết như thế nào, nhưng có lẽ cũng bị chủ lợn giết thịt như thời nay vậy. Lúc ấy, lợn mẹ chắc hẳn cũng có đàn con và quyến thuộc. Khi phải tử biệt như thế, tất cả những người liên quan đều phải chịu nhiều khổ não.

Sau đó, trải qua sáu nơi từ vùng Suvaṇṇabhūmi đến thành Anurādhapura đều được sanh làm người, có thể nói là tạm ổn. Tuy nhiên, mỗi lần chết từ sáu kiếp đó, cả bản thân bà lẫn những người thân thuộc đều phải đau buồn, sầu bi, khóc lóc.

Cuối cùng, việc trở thành Trưởng lão ni Sumana rồi đắc quả A-la-hán là điều đáng hoan hỷ nhất.

Trong tiến trình đó, việc cứ chết từ kiếp cũ rồi lại tái sanh hết kiếp này đến kiếp khác là do đâu? Đó chính là do “**Tập Đế**” (Samudaya), tức là nguyên nhân sinh khởi khổ đau...

## PAGE 582

539

... đó chính là **Ái (Taṇhā) trong Tứ Đế**. Những người khác nếu chưa đoạn trừ được Ái thì cũng sẽ cứ chết rồi lại tái sanh vào các đời sống mới như vậy. Do đó, việc thực hành và phát triển Bát Chánh Đạo để tận diệt Ái – tức Tập Đế này – là điều vô cùng quan trọng.

### Bài Pháp về vòng luân hồi từ trải nghiệm bản thân trước khi Niết-bàn

Về phần Trưởng lão ni Sumana, sau khi nghe bài kinh “**Đại Niệm Xứ**” (Satipaṭṭhāna Sutta) và thực hành theo phương pháp Niệm Xứ đó, bà đã đắc quả Dự Lưu. Tiếp sau, nhờ lắng nghe kinh “**Ví Dụ Rắn Độc**” (Āsīvisopama Sutta) và tiếp tục quán chiếu, bà chứng đắc Đạo Quả A-la-hán. Ái (Tập Đế) đã được đoạn tận. Vì vậy, bà không còn tái sanh vào đời sau nữa, chỉ còn chờ đợi ngày nhập Niết-bàn an tịnh.

Do đó, khi thọ mạng đã tận, Trưởng lão ni Sumana đã báo tin cho các bạn đồng tu về việc bà sắp sửa nhập Niết-bàn. Khi ấy, các vị Tỳ-kheo (đứng đầu là vị Đại Trưởng lão Mahā Tissa ở tu viện Maṇḍalārāma) và các Tỳ-kheo-ni đã thỉnh vấn về cuộc đời bà. Đáp lại, bà nói:

“Thưa chư vị, con vốn là một người nữ vào thời đức Phật Kakusandha. Chết từ kiếp đó, con sanh làm gà mái. Trong kiếp gà mái, con bị chim ưng vồ ăn, bị mổ đứt đầu mà chết. Sau khi chết, con lại sanh làm công chúa trong cõi người,” bà đã thuật lại tường tận diễn biến các kiếp sống của mình cho giáo đoàn Tỳ-kheo-ni nghe cho đến kiếp cuối cùng tại làng Bhokkanta, rồi bà kết luận:

“**Như vậy** (Evaṃ), con đã trải qua **mười ba kiếp sống** (Terasa attabhāve) với đủ loại **thăng trầm, tốt xấu khác nhau** (Samavisame). **Giờ đây** (Idāni), vì quá nhàm chán vòng luân hồi mà đã **xuất gia** (Pabbajitā), và trong kiếp cuối cùng này, con đã **chứng đắc** (Pattā) quả vị **A-la-hán** (Arahattaṃ).”

## PAGE 583

“**Sabbepi** = Tất cả quý Ngài hiền giả, quý bà hiền giả, **appamādena** = bằng tâm niệm tỉnh giác, không dể duôi, **sampādetha** = hãy nỗ lực thực hành để làm cho viên mãn Giới, Định, Tuệ.”

Sau khi giáo giới như vậy, khiến cho bốn hàng đệ tử khởi tâm kinh sợ đối với vòng luân hồi, vị ấy đã chứng đắc Niết-bàn.

Câu chuyện về Sūkarapotikā — chú heo con vừa kể trên đây đã được trình bày đầy đủ trong Chú giải Pháp Cú (Tập 2, trang 332-5).

## PAGE 584

## CHƯƠNG 9

### Những bậc A-la-hán đặc biệt trong sử liệu Lanka cổ đại

Thế giới không tắt ánh mặt trời

“**Ime ca subhadda… bhikkhū sammā vihareyya, asuñño loke arahantehi assa** = Này Subhadda, nếu các Tỳ-kheo thực hành và tu tập tốt giáo pháp Tứ Niệm Xứ và Bát Chánh Đạo, đồng thời thuyết giảng hướng dẫn cho những người muốn tìm hiểu, thì thế gian này sẽ không bao giờ vắng bóng các bậc A-la-hán.”

(**Kinh Đại Bát Niết-bàn**)

## PAGE 585

[Những câu chuyện được trình bày trong Chương 9 này vốn đã có sẵn trong các sử liệu cổ của Sīhaḷa từ trước khi Ngài Đại trưởng lão Mahābuddhaghosa từ Ấn Độ sang đảo quốc này. Đây là những câu chuyện được các vị Thánh Tăng A-la-hán truyền thừa và thuyết giảng nối tiếp nhau qua nhiều thế hệ, đồng thời được ghi chép lại làm tư liệu. Đó chính là những bản tiểu sử về các bậc trưởng lão (Theruppatti) do chính các Ngài thuật lại.

Vị soạn giả Chú giải cũng đã trích lục và đưa vào những nội dung phù hợp từ các bản ghi chép này cũng như từ lời dạy truyền khẩu của các vị trưởng lão A-la-hán tiền bối.

Các sử liệu bao gồm:

1. Sahassavatthu (Tác giả viết bằng chữ Sīhaḷa không rõ danh tính, Đại trưởng lão Buddhadatta hiệu đính, năm 1959, nhà in Anulā, Marana, Sri Lanka.)

2. Madhura Rasavāhinī (Bản Pāli do Trưởng lão Raṭṭhapāla trú tại Mahāvihāra soạn; bản Miến Điện do Trưởng lão Vajirapabhāsa ở thành Bagan soạn. Năm 1323 Miến lịch, nhà in Padesā Piṭaka, Mandalay.)

3. Rasavāhinī (Bản Pāli là đệ tử của Ngài Ānanda — vị soạn bản Mūlaṭīkā; bản Miến Điện của Ngài U Ācara ở Nyaunglebin, năm 1925, đường 47-51, nhà in Dân tộc Miến Điện, Yangon.)

Trong Sahassavatthu có 95 câu chuyện; trong Rasavāhinī bao gồm 40 chuyện về Jambudīpa (Ấn Độ); trong Madhura Rasavāhinī có 60 chuyện về Sīhaḷa. Có thể nói về cơ bản các câu chuyện ở tài liệu số 1, 2 và 3 là giống nhau, tuy nhiên tài liệu số 1 viết vắn tắt còn số 2 và 3 thì chi tiết hơn. Do có sử dụng các thuật ngữ địa phương không phải tiếng Pāli nên cũng gây đôi chút khó khăn trong việc tìm hiểu.

Tên riêng trong các bản Miến Điện thường bị sai lệch nhiều, còn trong các bản Sīhaḷa thì có nhiều dị bản khác nhau. Người soạn đã đối chiếu với **Mahāvaṃsa**, D.P.N (Từ điển danh từ riêng Pāli) và các tài liệu liên quan để hiệu chỉnh khi viết.

Những câu chuyện trình bày ở đây không phải là bản dịch trực tiếp từng chữ, mà đã được tóm lược những phần cần thiết và bổ sung đôi chút để mạch văn được trôi chảy, rõ ràng.]

## PAGE 586

(Nếu nhân duyên hội đủ, chúng tôi sẽ biên dịch toàn bộ các tác phẩm “Thanh văn tích Thích Lan” này sang tiếng Miến Điện để sớm xuất bản.)

Để tránh nhầm lẫn với các câu chuyện trong Chú giải (Aṭṭhakathā), chúng tôi xin trình bày chương này như một phần riêng biệt, giới thiệu sơ lược về “Các bậc Thánh A-la-hán lỗi lạc qua thư tịch cổ Thích Lan (Sīhaḷa)”.

## Trưởng lão Anh hùng Goṭha-immara, bậc thừa tự Giáo pháp nhờ công đức dâng cúng vật thực

[**Thập vạn tích**-44, **Mật vị lưu thông tích**-25.]

### Bậc cộng sự kiến thiết đất nước và hộ trì Giáo pháp cùng vua Duṭṭhagāmaṇi

**Goṭha-immara** là một trong những vị đại tướng quân anh hùng, người sát cánh cùng đức vua **Duṭṭhagāmaṇi** trong công cuộc xây dựng đất nước và hộ trì Chánh Pháp; đồng thời ông cũng là một bậc vĩ nhân xuất chúng trong lịch sử Phật giáo Thích Lan. Định luật nghiệp báo thật vô cùng vi diệu.

Vào thời đức Phật **Kassapa** (Ca-diếp), có một cận sự nam nhờ thiện sự dâng cúng sữa tươi bằng cách bắt thăm làm vật thực đến chư Tăng, mà trong suốt khoảng thời gian giữa hai thời kỳ đức Phật **Kassapa** và đức Phật **Gotama**, vị ấy đã hưởng thục vô số lạc thú ở cõi người và cõi trời.

Sau khi đức Thế Tôn **Gotama** nhập Niết-bàn, tại vùng Rohana thuộc đảo quốc Thích Lan, làng Nibbūlaviṭṭha, có vị phú hộ tên Nāga sinh được bảy người con trai, trong đó người con út tên là **Abhaya**. Một ngày nọ, sáu người anh vào rừng để phát hoang làm ruộng.

Tại một khu vực nọ, có những cây cổ thụ lớn gọi là cây **Immara** (trong tiếng Pali là **Simbali**, hoặc là cây **Amba** - cây gạo hoặc cây xoài; trong các thư tịch Thích Lan cổ cũng không xác định chính xác tên cây này) mọc lên dày đặc, họ bèn để lại phần đó cho “người em út **Goṭha**” lo liệu.

Vì người em có vóc dáng thấp lùn nên các anh thường hay gọi đùa là **Goṭha** (người lùn). Khi nghe tin các anh từ rừng trở về và để lại một khoảnh rừng cây cổ thụ cho mình phát hoang, **Goṭha** lập tức đi vào rừng. Chẳng mấy khó khăn, ông dùng tay không nhổ sạch các cây đại thụ, san bằng mặt đất rồi trở về. Các anh không tin, bèn cùng nhau đi xem và đều phải kinh ngạc trở về.

## PAGE 587

Kể từ đó, người em út **Abhaya** được gọi danh là “**Goṭha-immara**”. Đến khi **Goṭha-immara** trưởng thành, cũng là lúc hoàng tử **Duṭṭhagāmaṇi** đang chiêu mộ những anh hùng hào kiệt khắp nơi về kinh thành Mahāgāma để chuẩn bị đánh đuổi quân xâm lược ngoại đạo (Damiḷa). **Goṭha-immara** bèn rời làng đến đầu quân dưới trướng hoàng tử **Duṭṭhagāmaṇi**.

(Trong chương 1 đã nhắc đến chuyện trên đường rời làng, ông cùng các chiến hữu đã ghé vào chùa **Kandara** bên bờ sông **Kappakantara** nghỉ ngơi. Tại đây, ông đã rung cây dừa cho quả rụng xuống rồi dùng cùi chỏ đập vỡ quả dừa để ăn, và đã gặp vị Sa-di **Abhaya** - tức vị Anh hùng Trưởng lão **Theraputtābhaya** sau này.)

Sau khi thẩm vấn lai lịch, đức vua **Duṭṭhagāmaṇi** rất hài lòng nên đã ban thưởng mỗi ngày một ngàn đồng tiền vàng và thu nhận ông vào ban tùy tùng. Khi nổ ra cuộc chiến với ba mươi hai thủ lĩnh quân ngoại đạo, **Goṭha-immara** cùng với các vị đại anh hùng khác đã thống lĩnh binh sĩ xông trận.

Tại vùng Gāṭhapittthana (trong sách **Rasavāhinī** gọi là bến cảng **Mahātittha**), ông đã giao chiến với mười bảy vị thủ lĩnh quân địch. Ông đã tiêu diệt một ngàn binh lính, chém đầu mười bảy vị thủ lĩnh mang về dâng lên đức vua **Duṭṭhagāmaṇi**. (Trong sách **Sahassavatthu** thì nói rằng đó là đầu của thủ lĩnh ngoại đạo ở đầm Mahāchatta).

Tương tự như vậy ở nhiều mặt trận khác, cuối cùng tại thành **Vijita**, khi các thủ lĩnh quân địch đang cố thủ trong thành trì kiên cố, đội quân của **Goṭha-immara** đã công phá cửa thành và tràn vào. Ông đã nhổ các cây dừa bằng tay không làm vũ khí, đánh tan quân địch và chiếm gọn thành **Vijita**.

### Vị đại thần chiến đấu với Dạ-xoa hung dữ

Sau khi dẹp xong loạn quân ngoại đạo, đức vua **Duṭṭhagāmaṇi** lên ngôi tại kinh thành **Anurādhapura**. Ngài phong cho **Goṭha-immara** chức vụ đại thần, ban tặng cung điện nguy nga cùng nhiều kẻ hầu người hạ ngay sát trục lộ chính. Vị đại thần thường cùng quyến thuộc và bộ hạ đi tắm mát tại hồ **Tissavāpi**, cách nhà khoảng một do-tuần (yojana).

## PAGE 588

Một ngày nọ, trên đường từ hồ trở về, tại cổng chùa **Issarasamaṇa** gần hồ **Tissavāpi**, ông thấy một vị sư cùng rất nhiều người đang cầm cuốc xẻng chuẩn bị phát hoang một bụi tre lớn đang mọc chắn lối đi. Khi nghe vị sư giải thích sự việc, vị đại thần thưa rằng để mình giải quyết và nhờ họ tìm giúp một sợi dây thừng bằng da thật chắc.

Khi có sợi dây thừng, vị đại thần buộc chặt vào gốc bụi tre rồi dùng sức kéo mạnh, khiến cả bụi tre bật rễ hoàn toàn. Ông nhấc bổng bụi tre lên đầu, quay vài vòng rồi ném mạnh vào khu vực không có đường đi. Được biết bụi tre đó lớn bằng dung tích của sáu mươi chiếc xe bò gộp lại.

Về sau, vị đại thần cho xây dựng một tòa lâu đài ba tầng hoành tráng ngay trong thành **Anurādhapura** để hưởng thụ vinh hoa phú quý. Một ngày nọ, tại một đại sảnh rộng lớn trong lâu đài, ông cho trang hoàng lộng lẫy bằng nhiều loại vải vóc, hoa tươi và hương liệu quý báu, trông trang nghiêm như một cung điện thiên đường.

Vị đại thần cùng phu nhân mặc y phục và trang sức lộng lẫy như thiên nam thiên nữ, cùng ngồi trên hai chiếc bảo tọa bằng ngọc; các nữ tỳ cũng được phục sức như các thiên nữ đứng hầu xung quanh. Âm nhạc và vũ điệu bắt đầu vang lên để chung vui. Trong khung cảnh xa hoa như cõi trời ấy, một bữa tiệc lớn với đầy đủ mỹ vị và rượu nồng được tổ chức.

Lúc bấy giờ, vị đại Dạ-xoa tên là **Jayasena** sống tại núi **Ariṭṭha**, đang cùng quyến thuộc bay qua không trung để đến nghĩa trang **Tambapaṇṇi**. Khi bay ngang qua lâu đài của vị đại thần, ngửi thấy hương thơm ngào ngạt và nghe tiếng đàn ca réo rắt, Dạ-xoa cảm thấy lạ lùng bèn dừng lại quan sát. Thấy đại thần **Goṭha-immara** đang tổ chức yến tiệc linh đình, Dạ-xoa bèn cùng quyến thuộc hạ xuống trần gian, tiến vào trong sảnh tiệc.

Khi nhìn thấy phu nhân đại thần trong trang phục rạng ngời xinh đẹp, Dạ-xoa **Jayasena** nảy sinh lòng ái luyến và lập tức nhập vào thân xác của vị phu nhân đang say men rượu. Vị phu nhân vốn đang thưởng thức ca múa diệu kỳ, bỗng nhiên từ trên bảo tọa ngã lăn xuống. Miệng sùi bọt mép, đôi mắt trợn ngược, toàn thân co giật dữ dội. Ngay lập tức, tiếng đàn nhạc dừng bặt, toàn thể hội chúng đều bàng hoàng kinh hãi.

## PAGE 589

Vị đại thần đang ngồi say sưa thưởng thức yến tiệc trên một pháp tòa khác, thấy vậy cũng hốt hoảng chạy xuống bên cạnh vợ mình. Thấy phu nhân bất tỉnh, đôi mắt trợn trừng vô hồn, đại thần suy xét: "Đây chắc chắn là do quỷ Dạ-xoa ám hại". Nhìn người vợ gọi không thưa, hỏi không đáp, ông bỗng nổi cơn lôi đình. Ngay tại đó, ông thúc thủ giận dữ:

"Hừ... tên Dạ-xoa đê tiện kia! Ngươi dám lén lút hành hạ vợ ta sao? Nếu có bản lĩnh thì hãy hiện thân ra đây. Ta sẽ đá cho ngươi tan xác thành tro bụi. Hãy cho ta thấy bản lĩnh nam nhi của ngươi. Ngươi và ta hãy đấu vật một trận xem nào!". Nghe vậy, tên Dạ-xoa cũng tức giận, hiện ra thân hình to lớn trước mắt mọi người. Hai chiếc răng nanh mọc dài chìa ra, đôi mắt rực lửa, trông vô cùng đáng sợ.

Vị đại thần không chút sợ hãi, buông lời thách thức và đấu khẩu quyết liệt với gã Dạ-xoa, bắt hắn phải so tài đấu vật. Lúc bấy giờ, đại Dạ-xoa **Jayasena** nói rằng:

"Này... Goka, hiện giờ ta chưa thể đấu vật được. Bảy ngày sau, hãy đến nghĩa trang. Lúc đó, ta muốn cho thuộc hạ của ta thấy được bản lĩnh của mình". Đại thần cũng lớn tiếng đáp trả, bảo hắn hãy biến đi, rồi tên Dạ-xoa rời khỏi đó.

Đến ngày thứ bảy, trong lúc các Dạ-xoa đang tụ tập tại nghĩa trang **Tambapaṇṇi**, vị đại thần đã rời nhà một mình từ sáng sớm. Khi ông vừa ra khỏi nhà đến đường lộ, các thiên thần đã hiện ra ngăn cản. Họ khuyên nhủ rằng vì tên đó thắng được mọi kẻ thù nên mới có tên là **Jayasena**, nhưng ông đáp lại:

"Tên này chẳng qua là chưa gặp được người mạnh hơn hắn thôi, không sao cả, ta sẽ cho hắn biết tay". Mặc cho các thiên thần ngăn cản đến tận khi tới nghĩa trang, ông vẫn không màng mà bước thẳng vào trong. Lúc ấy, vị đại Dạ-xoa đang họp bàn với chúng Dạ-xoa và nói: "Chắc là tên này không dám đến đâu", thì vị đại thần lên tiếng:

## PAGE 590

"Dũng sĩ **Goṭha-imbara** chính là ta, ta đã đến đây rồi!". Tên Dạ-xoa gầm thét vang dội, vỗ tay thách thức, miệng phun ra những luồng lửa rực cháy lao về phía đại thần. Ngay khi gã Dạ-xoa vừa tiến đến gần, đại thần liền tung người nhảy vọt lên cao, dùng mũi chân trái đá mạnh vào quai hàm của hắn khiến đầu tên Dạ-xoa đứt lìa, văng xa khoảng một dặm (gāvyuta).

Hội chúng Dạ-xoa trở nên hỗn loạn, xôn xao. Các Dạ-xoa cùng chư thiên hộ trì rừng núi đồng loạt vang lời tán thán:

"Lành thay! Lành thay! **Goṭha-imbara**... Đây chính là quả báu từ vật thực sữa tươi mà ông đã cúng dường vào thời Đức Phật **Kassapa** vậy". Vị đại thần trở về nhà và tổ chức một lễ ăn mừng chiến thắng kéo dài bảy ngày, còn linh đình hơn cả những lễ hội trước đó.

Do Đức vua không cho yết kiến, ông cùng hội chúng mang theo nhạc khí, cờ xí, phục sức hoa lệ định vào cung diện kiến Đức vua **Duṭṭhagāmaṇi**. Nghe tiếng trống khánh khải hoàn vang dội, Đức vua hỏi thăm thì các đại thần thân cận tâu rằng **Goṭha-imbara** đã chiến thắng tai ương Dạ-xoa và đang đến để đảnh lễ Ngài. Đức vua **Duṭṭhagāmaṇi** bảo các đại thần rằng:

"Đừng cho tên nát rượu say sưa này vào yết kiến ta". Các vị đại thần buộc phải thông báo tin này cho đại thần **Goṭha-imbara** khi ông đang tiến vào cung điện một cách long trọng. Nghe vậy, **Goṭha-imbara** cảm thấy tự ái và nói:

"Ồ... thì ra là vậy... Được rồi các bạn, xin vâng mệnh vua. Từ nay về sau ta sẽ không đến diện kiến Ngài nữa. Đức vua cũng sẽ không còn cơ hội gặp ta từ ngày hôm nay. Thôi, ta về đây". Nói rồi, ông gọi hội chúng cùng trở về nhà. Vừa về đến nơi, đại thần liền sắp xếp, dặn dò vợ con cùng đoàn tùy tùng rồi lập tức rời khỏi nhà. Ông đi bộ suốt ngày đêm để đến đảo **Nāgadīpa** cách đó 12 do-tuần.

## PAGE 591

Từ đảo **Nāgadīpa**, ông lại một mình bơi qua đại dương Goṭha (Ấn Độ Dương) rộng 24 do-tuần để đến bến cảng **Kāvīra**.

### Người sẵn lòng xả thân để được đảnh lễ bậc Ariya

Khi vừa đến cảng **Kāvīrapajjuṇa** của Ấn Độ, ông liền hỏi thăm những người ở đó: "Này các bạn, các bậc Thăng-già đệ tử của Đức Thế Tôn đầy đủ ân đức cao thượng hiện đang trú ngụ ở đâu? Nếu biết xin hãy chỉ giúp tôi". Những người dân cho biết:

"Này bạn, ở gần đây không có ngôi chùa nào cho chư Tăng trú ngụ. Tuy nhiên, tại ngôi làng đằng kia, có các bậc thánh tăng cư ngụ trong một hang động rộng 12 do-tuần tại vùng Tuyết Sơn (Himavanta) thường xuyên bay trên hư không xuống để khất thực. Sau khi khất thực xong, các Ngài lại từ nơi đó bay ngược lên hư không để trở về lại dãy Tuyết Sơn".

Nghe tin ấy, **Goṭha-imbara** vô cùng hoan hỷ nói: "Tốt lắm!" rồi tiếp tục hành trình hướng về dãy Tuyết Sơn.

Khi đến ngôi làng nơi các bậc A-la-hán từ Tuyết Sơn thường xuyên đến khất thực, ông lại hỏi thăm dân làng tường tận mọi việc. Sau khi ghi nhớ lộ trình cẩn thận, ông lại tiếp tục chuyến đi. Trên đường đi, ông liên tục hỏi thăm những người bắt gặp và cuối cùng đã đặt chân đến chân dãy núi Tuyết Sơn.

Trước tiên, ông bắt gặp một ngọn núi và leo lên đỉnh. Từ ngọn núi đó nhìn xuống, ông thấy thấp thoáng một hang động lớn — trú xứng khả ái của các bậc A-la-hán. Tâm ông tràn đầy niềm tịnh tín. Tuy nhiên, để đến được ngôi chùa hang động đó, có một vực thẳm sâu thẳm ngăn cách, một người bình thường không thể nào vượt qua được.

**Goṭha-imbara** đứng lặng người bên mép vực, đăm đăm nhìn về phía hang động linh thiêng. Niềm vui lúc mới đến bỗng chốc tan biến, thay vào đó là sự bất lực khi không có lối đi. Sau một hồi suy nghĩ, ông đã đưa ra một quyết định táo bạo.

## PAGE 592

“Dù ta đã phải nỗ lực rất nhiều để được diện kiến các bậc Thánh Tăng, nhưng sự cố gắng này thật xứng đáng. Nếu không được đảnh lễ các bậc **Tăng-già**, thà chết đi còn tốt hơn. Bằng mọi giá ta phải đi, dù có phải bỏ mạng cũng cam lòng.”

Ghoṭṭha-imbara bất chấp hiểm nguy, lần mò tìm cách leo xuống vách đá sâu thẳm và dựng đứng. Ông dùng cả hai tay hai chân vồ lấy bất cứ chỗ nào có thể bám, đạp vào bất cứ điểm nào có thể tựa để bò xuống. Khi nhìn xuống dưới, ông chẳng thấy nơi nào có đất bằng, hố thẳm sâu hun hút như bầu trời vô tận.

Trong lúc đang dò dẫm leo xuống, chẳng bao lâu sau, Ghoṭṭha-imbara bị trượt chân sẩy tay, lộn nhào rơi xuống vực thẳm không thấy đáy. Một vị **A-la-hán** trông thấy sự việc ấy liền dùng thần thông duỗi tay ra cứu lấy ông. Sau khi đưa Ghoṭṭha-imbara về trú xứ của mình và hỏi han rõ ngọn ngành, vị ấy đã cho ông xuất gia và thuyết giảng pháp **Tuệ quán** để dẫn dắt ông tu tập.

Không lâu sau, trưởng lão Ghoṭṭha-imbara đã đoạn tận **lậu hoặc** và chứng đắc quả vị **A-la-hán**. Khi quán chiếu về cuộc đời mình, ngài tự nhủ: "Ta vốn là kẻ đầy đủ dũng lực và sức mạnh, từng chiến thắng cả loài dạ xoa hung bạo, nhưng đến nay ta mới thật sự khải hoàn trong cuộc chiến thắng quân thù phiền não."

Ngài đã thốt lên lời cảm hứng tự thuật rằng: “Nhờ phước báu dâng cúng vật thực nỗ phẩm đến chư **Tăng-già** trong giáo pháp của Đức Phật **Kassapa**, cũng giống như những bậc thiện trí thời xưa, nay ta đã được nếm trải hương vị Niết Bàn bất diệt ở kiếp chót này.”

## Sa-di Migapotaka thuyết pháp cho chú và cha mẹ

[1-Truyện Migapotaka, Madhura Rasavāhinī.]

Trú xứ Uddalolaka nơi trưởng lão **Abhaya** cư ngụ nằm tiếp giáp với một khu rừng lớn nên rất mát mẻ và thanh tịnh. Nơi đây phong cảnh hữu tình với vườn hoa, hồ nước, nhịp cầu và bảo tháp, tạo nên vẻ trang nghiêm, thanh thoát cho tâm hồn.

## PAGE 593

Mỗi khi rạng đông vừa hé rạng, trưởng lão **Abhaya** thường cất tiếng kêu gọi các vị chư thiên hộ trì tu viện và chư thiên giữ rừng hãy đến nghe pháp. Khi ánh bình minh lên, tiếng **tụng đọc** giáo pháp của ngưởng lão vang lên trong không gian tĩnh mịch, nghe thật êm dịu và an lạc. Ngay cả những loài thú rừng khi nghe tiếng Pháp cũng thường dừng chân đứng lại lắng nghe.

Biết rõ thói quen này, một gã thợ săn vào lúc rạng đông nọ đã dùng cung tên bắn chết một con hươu con đang vươn cổ, chân phải còn chưa kịp chạm đất, đôi tai vểnh lên chăm chú lắng nghe tiếng Pháp của trưởng lão. Những con thú khác kinh hãi tháo chạy. Tiếng tụng đức của trưởng lão **Abhaya** vẫn vang lên đều đặn không dứt. Con hươu nhỏ tuy ngã xuống vì trúng tên, nhưng vẫn giữ tâm thanh tịnh hướng về tiếng Pháp của ngài cho đến lúc lâm chung.

Trưởng lão **Abhaya** hàng ngày thường đến khất thực tại nhà em gái mình. Đứa con trai nhỏ của cô mỗi khi nghe thấy giọng nói của ngài là liền thôi khóc. Dù còn nhỏ nhưng cậu bé đã biểu lộ sự quan tâm đặc biệt đối với vị sư chú của mình một cách lạ thường. Từ lúc bắt đầu biết nói và hiểu chuyện, cậu bé quý mến vị sư chú hơn cả mẹ mình, lúc nào cũng quấn quýt không rời. Đó quả là một đứa trẻ được sinh ra nhờ duyên lành với tiếng Pháp của vị sư chú.

Vị sư chú cũng thường gọi cậu là: “Này... chú hươu nhỏ.” Khi lên bảy tuổi, cậu được cho xuất gia làm vị **Sa-di**. Ngay khi vừa xuống tóc xong, vị ấy đã chứng đắc quả vị **A-la-hán** cùng với bốn trí **Phân tích** và **Lục thông**. Trong khi đó, vị sư chú là trưởng lão mới chỉ đạt được **Thắng trí** hiệp thế, nhưng lại lầm tưởng rằng mình đã hoàn thành xong việc đạo.

### Bàn tay chạm đến mặt trăng

Một buổi sớm nọ, khi vị **Sa-di** trẻ đến gần sư chú để làm các phận sự nhỏ nhẹ, cậu thấy trưởng lão đang biến hóa cánh tay dài ra và mềm mại để chạm vào và xoa nhẹ vầng trăng trên bầu trời. Thấy vậy, vị **Sa-di** trẻ bạch rằng:

## PAGE 594

“Bạch sư chú... Nếu Ngài có thể giữ gìn và hộ trì pháp này một cách kiên cố, vững chắc thì thật là tốt biết bao.” Trưởng lão vờ như không nghe thấy lời của cháu mình. Vì không biết người cháu đã là bậc **A-la-hán**, ngài nghĩ rằng đó chỉ là lời nói đầy ngưỡng mộ của một đứa trẻ. Ngài không đáp lời, thậm chí còn không thèm quay lại nhìn.

Để khiến sư chú phát tâm kinh sợ thực tại, vị Sa-di trẻ liền dùng thần thông biến hóa hàng ngàn mặt trăng hiện ra trên bầu trời ngay lập tức. Trưởng lão vô cùng kinh ngạc, trong lúc ngài đang quay sang nhìn vị **Sa-di** nhỏ tuổi thì cậu nói: “Bạch sư chú, việc chạm tay vào một trăm, một ngàn hay mười ngàn mặt trăng chẳng có gì là khó. Điều quan trọng hơn đối với một bậc tu hành cao quý chính là đoạn trừ được một thứ duy nhất, đó là **Ái dục**.

Hơn nữa, nếu chỉ đứng bên bờ đại dương nhìn thấy mặt nước rồi nói rằng 'Ta đã thấy đại dương', cũng giống như việc chỉ nhờ vào **Định** và **Thiền chứng** mà phiền não tạm thời lắng xuống rồi lầm tưởng là đã đoạn tận phiền não. Nếu mê lầm như vậy mà còn thọ dụng bốn món vật dụng của thí chủ thì chẳng khác nào đang nuốt lấy thanh kiếm sắc vậy. Thần thông hiệp thế vốn không phải là pháp có thể nương tựa vững chắc được.”

### Pháp và thần thông của cậu bé bảy tuổi

Khi trưởng lão **Abhaya** nghe những lời của người cháu **Sa-di**, ngài vô cùng chấn động và khởi tâm kinh cảm sâu sắc. Ngay tại chỗ đó, ngài quán chiếu danh sắc để làm hiện rõ **Ba tánh** (Vô thường, Khổ, Vô ngã) và chứng đắc quả vị **A-la-hán**.

Vào một ngày nọ, mẹ của vị **Sa-di** (tức em gái của trưởng lão **Abhaya**) đến tu viện để cung thỉnh anh trai và con trai mình đến thọ trai vào ngày hôm sau. Trưởng lão bảo:

“Này em gái... Ngày mai tại nhà em sẽ không chỉ có hai chú cháu ta, mà sẽ có rất nhiều vị **A-la-hán** đến thọ thực. Tuy nhiên, em cứ chuẩn bị phần như thể chỉ dành cho hai chú cháu ta là được.”

Ngày hôm sau, có đến ba mươi ngàn vị **A-la-hán** cùng đến thọ trai. Trong lúc các thí chủ đang lúng túng về chỗ ngồi và sự chuẩn bị, nhờ thần lực của hai chú cháu mà mọi thứ đều trở nên đầy đủ và hoàn mãn.

## PAGE 595

Các mẫu thân vui mừng khôn xiết. Sau khi dâng vật thực xong, các vị Đại trưởng lão đã bảo vị Sa-di nhỏ thuyết pháp phúc đáp (Anumodanā). Phụ thân, các mẫu thân cùng hội chúng năm trăm người đều đắc quả Dự Lưu.

(Trong truyện số 2 thuộc bộ Sahasavatthu — bản Sīhaḷa, có ghi lại lời của người bác nói về mặt trăng, điều này nên được suy xét theo mạch truyện.)

## Đại trưởng lão Abhaya trú xứ rừng (Araññika)

### 4. Truyện Đại trưởng lão Araññika Mahā Abhaya

Đại trưởng lão **Mahā Abhaya** trú tại chùa **Mahāwāḷika** là bậc thông suốt Tam Tạng, đã dành rất nhiều thời gian để giảng dạy và nghiên cứu Pháp học (Pariyatti).

Một ngày nọ, để thực hành hạnh đầu đà trú xứ rừng, ngài rời khỏi học viện lớn **Mahāwāḷika** để đến trú ngụ trong một khu rừng cách chùa không xa. Từ đó, ngài được gọi là "**Đại trưởng lão Araññika Mahā Abhaya**". Một vị thí chủ vì lòng tôn kính giới đức và đạo hạnh của ngài đã hộ độ tứ sự suốt mười hai năm ròng.

### Thí chủ dâng y và kẻ trộm

Một thời nọ, vì thấy y của Ngài đã cũ rách nên vị thí chủ dâng tứ sự đã dâng cúng vải cùng kim chỉ để Ngài có thể tự may nhuộm theo ý muốn. Tuy nhiên, vị Đại trưởng lão vẫn cứ mặc nguyên bộ y cũ ấy. Vị thí chủ trong lòng sinh nghi, nghĩ rằng Ngài vẫn còn cất giữ trong chùa nên đã vào xem thử nhưng không thấy gì. Ông cũng không nghe hay thấy Ngài đem dâng tặng cho ai khác. Cho rằng hẳn phải có nguyên cớ gì đó, ông dâng thêm vải nữa rồi một đêm nọ, ông cầm đao đến nấp sau bụi rậm bên đường gần chùa để theo dõi.

## PAGE 596

Lúc bấy giờ, ông nhìn thấy người hàng xóm tên là **Arati** đang đi từ phía chùa về vào giờ bất thường. Khi kẻ đó đến gần, ông nhìn kỹ thì thấy trên tay **Arati** là những xấp vải may y. Ông liền xông ra từ bụi rậm, bắt quả tang kẻ trộm cùng với tang vật.

"Đồ tiểu nhân... ngươi còn gì để nói không? Suốt mười hai năm nay, chính ngươi là kẻ đã không ngừng trộm cướp những xấp y mà ta đã dâng cúng phải không?" Nói rồi ông nắm tóc, đánh đập và tra hỏi khiến **Arati** phải cúi đầu thú nhận.

Vị thí chủ vẫn chưa nguôi cơn giận, ông lôi kẻ trộm **Arati** đến nghĩa địa gần đó. Đến nơi, ông đặt một tử thi mới từ trần nằm sấp xuống, rồi bắt kẻ trộm nằm ngửa đè lên lưng tử thi đó theo chiều ngược lại (đầu người này ở chân người kia). Ông dùng dây thừng trói chặt đến mức không thể gỡ ra được. Khi kẻ trộm đứng dậy, tử thi sẽ bị treo ngược dính chặt vào lưng.

Vị thí chủ bỏ mặc **Arati** nằm trơ trọi trong nghĩa địa rồi đi tắm rửa và trở về nhà. Ông còn đi khắp làng loan tin rằng đêm nay sẽ có một con Dạ-xoa lớn vào làng, bảo mọi người hãy đóng chặt cửa ở yên trong nhà.

Quá nửa đêm, kẻ trộm gượng dậy từ nghĩa địa và đi về nhà mình. Người vợ đóng cửa nhìn qua khe thấy một hình thù quái dị như Dạ-xoa đang đến gần nên không dám mở cửa. Dù kẻ đó van nài "Tôi là **Arati** đây" nhưng chị ta vẫn im lặng. Vì quá kinh sợ, chị ta trốn biệt trong nhà. **Arati** lại tìm đến nhà cha mẹ, nhưng cha mẹ cũng không mở cửa mà tìm chỗ ẩn nấp. Kẻ trộm đi hết nhà người thân này đến nhà người thân khác để cầu cứu nhưng không một ai nhận ra đó là **Arati**, mọi người đều tưởng là Dạ-xoa nên đều lánh mặt.

### Tâm từ của Trưởng lão Abhaya

Cuối cùng, ngay trong đêm đó, **Arati** đã tìm đến trú xứ rừng của **Trưởng lão Abhaya** và thưa rằng:

"Bạch Ngài... con là kẻ trộm **Arati** đây ạ. Ngoài Ngài ra không còn ai cứu được con nữa. Xin Ngài từ bi cứu mạng con với..." Kẻ đó thuật lại toàn bộ sự việc.

## PAGE 597

Bậc Trưởng lão nảy lòng lân mẫn, Ngài cởi trói, tách tử thi đang bám chặt trên lưng kẻ trộm ra rồi đem bỏ ở phía ngoài khuôn viên chùa. Ngài nấu nước nóng cho kẻ trộm tắm rửa. Để khử sạch mùi hôi hám, Ngài đích thân tắm cho kẻ đó bằng nước nóng, sau đó rót dầu từ ống tre tự tay xoa bóp những vết thương do bị đánh đập.

Vị thí chủ dâng y cả đêm không ngủ, cứ theo dõi xem kẻ trộm **Arati** đi đâu. Đến rạng đông, ông đi tới trú xứ rừng của vị thầy mình thì thấy Ngài đang xức dầu xoa bóp cho kẻ trộm. Vị thí chủ thấy kẻ hành hạ người tốt (vị thầy) như vậy thì càng thêm giận dữ:

"Bạch Ngài... xin Ngài đừng thương hại kẻ trộm này. Loại người như kẻ trộm thì chẳng coi bạn bè hay ân nhân ra gì đâu. Miệng nói một đường làm một nẻo, loại người này đến cả cha mẹ cũng phải lánh xa, bạch Ngài." Ngài Trưởng lão mỉm cười rạng rỡ đáp lại:

"Này thí chủ... những gì ông nói đều đúng cả. Nhưng có một điều cần suy xét: ví như có một người cúi xuống cắn vào chân ông, nếu ông vì không cam chịu mà quay sang cắn lại chân người đó thì sẽ ra sao? Thế nên, nếu mình lại đi hãm hại, nổi giận với người đã xúc phạm mình, thì mình còn ngu muội hơn cả kẻ ngu đó nữa, này thí chủ...

Với kẻ ngu không biết ơn nghĩa, ta phải dùng sợi dây Tâm Từ mà trói buộc, này thí chủ... Chỉ người nào có thể nhẫn nhịn, không đáp trả và giữ được tâm từ ái thì mới được gọi là bậc trí tuệ. Mong ông hãy nhẫn nhịn và tha thứ cho anh **Arati** này. Khi đó, chính ông cũng sẽ cảm thấy tâm mình được an lạc ngay lập tức." Ngài đã an ủi vị thí chủ như vậy. Vị thí chủ nguôi giận và trở về nhà.

"Này anh **Arati**... anh chớ nên oán hận vị thí chủ. Anh bị như vậy là do nghiệp của anh thôi. Đó là quả báo của nghiệp trộm cắp (Adinnādāna) mà anh đã làm." Ngài cũng đã giáo hóa kẻ trộm như thế. Ngài nuôi nấng và chăm sóc trong hai ba ngày cho đến khi các vết thương lành lặn và sức khỏe bình phục hoàn toàn.

Kẻ trộm **Arati** sau khi được ở gần bậc thiện trí ba bốn ngày, cảm nhận được tâm từ bi (Mettā) và lòng bi mẫn (Karuṇā) của bậc thoát tục nên sinh lòng tịnh tín mãnh liệt—

## PAGE 598

“Thưa Ngài… con như đã trở thành một con người mới với tâm thế mới, cuộc đời con đã thay đổi dù thân mạng này vẫn còn đây. Con không còn tâm ý muốn sống cảnh gia đình thế tục nữa. Xin Ngài hãy rủ lòng thương cho con được xuất gia làm Tăng.” Nói lời ấy xong, vị ấy đã xuất gia với đại trưởng lão **Araññika Mahā Abhaya**.

Sau khi xuất gia, vị ấy chuyên tâm học tập các oai nghi lớn nhỏ, giữ gìn giới hạnh và các pháp thực hành của một vị Tỳ-kheo. Trong khi nỗ lực hành đạo, chẳng bao lâu sau vị ấy đã đoạn tận các lậu hoặc và chứng đắc quả vị A-la-hán.

Ân đức của giáo pháp thật cao quý và vi diệu khi có thể giúp ngay cả những kẻ hung ác lỗi lầm chứng đắc quả vị A-la-hán trong thời gian ngắn; đức hạnh kham nhẫn, từ bi và bi mẫn của các bậc thiện trí thật đáng ngưỡng mộ và tôn kính. Đồng thời, ác nghiệp đã đeo đuổi ngăn trở cho đến tận sát na trước khi chứng đắc quả vị A-la-hán trong kiếp cuối cùng thật đáng sợ biết bao.

---

[Trong tác phẩm Rasavāhinī có tên gọi khác là “Chùa Mahā Taḷāka, tên trộm Harantika”. Ở đây, người dịch trình bày theo bản Sihala của Sahassavatthu.]

### Chút cơm từng cho chú chó gầy ăn và Trưởng lão Abhaya trong thời loạn lạc (Câu chuyện về Trưởng lão Abhaya)

Khi nạn loạn lạc Caṇḍāla Tissa xảy ra tại đảo quốc Srilanka, trời không mưa suốt 12 năm liền khiến chư Tăng và người dân đều rơi vào cảnh đói khổ cùng cực. Mọi người phải di tản khắp nơi để tìm nguồn nước và thức ăn. Trong thời kỳ suy vi đáng sợ ấy, vì quá đói khát, thậm chí đã có những kẻ giết hại lẫn nhau để ăn thịt.

Dân làng Devatā, nơi hộ độ cho chùa Pupphagiri ở phía Tây đảo quốc Srilanka, nơi Trưởng lão **Abhaya** đang lưu trú, cũng phải rời bỏ làng mạc khi nạn đói kém này ập đến. Trước khi di tản, họ đã đến chùa Pupphagiri và thưa rằng:

## PAGE 599

“Thưa Ngài… nạn đói này thật quá kinh khủng, nếu cứ bám trụ ở đây thì khó lòng giữ được mạng sống. Xin Ngài hãy cùng đi với chúng con.” Khi nghe lời thỉnh cầu của dân làng, Trưởng lão **Abhaya** đã đáp lại rằng:

“Này các thí chủ, các vị hãy cứ yên tâm di tản đến nơi nào mình muốn. Sư không muốn rời bỏ ngôi bảo tháp và cây Bồ-đề nơi tôn thờ các hạt Xá-lợi của Đức Thế Tôn để đi đâu cả. Khi còn hơi thở, Sư sẽ ở lại chăm sóc và tôn kính nơi này như đang hầu cận Đức Thế Tôn khi Người còn tại thế. Dù có chết, xin cho Sư được chết bên cạnh Đức Thế Tôn, các vị đừng quá lo lắng cho Sư.” Nói rồi, vị trưởng lão ở lại trú ngụ một mình.

Dù tất cả dân làng đã rời đi, ngài vẫn không đi theo mà dành toàn bộ thời gian để quán niệm ân đức Phật, chăm sóc quét dọn sân bảo tháp và cõi Bồ-đề. Ngài không hề có một chút vật thực nào để dùng. Suốt ba ngày liền không ăn mà vẫn phải làm các việc phục vụ như quét dọn, khiến ngài ngày càng kiệt sức.

Đến ngày thứ ba, vì quá mệt mỏi sau khi làm các phận sự, ngài vào ngồi nghỉ tại một nhà hội (sala) ở giữa chùa để hồi sức, tâm vẫn không ngừng quán niệm ân đức Phật và ân đức Pháp.

Vị đại tiên trấn giữ cây Thăng Văn (Thin-win) gần đó, khi thấy ngài dù không có vật thực vẫn tận tụy làm phận sự tại bảo tháp và cõi Bồ-đề đến mức kiệt sức, đã sinh lòng cảm thương sâu sắc. Vị tiên ấy liền bàn với vợ mình rằng: “Này hiền thê, hãy nhìn vị trưởng lão kia, ngài chẳng ăn uống gì cũng không chịu rời đi nơi khác, chỉ một lòng lo việc thờ phụng Phật. Vì không được ăn nên ngài đã rất mệt mỏi rồi. Ở vùng này ngoài chúng ta ra chẳng còn ai để dâng cúng vật thực cả. Từ nay, chúng ta hãy cùng nhau dâng cúng vật thực đến ngài.” Người vợ đáp:

“Thật tốt thay, thưa phu quân. Tuy nhiên, xin ông hãy kể cho tôi nghe về những phước báu mà vị ấy đã làm trong tiền kiếp để tôi thêm phần tịnh tín.”

## PAGE 600

### Vị quan cho chú chó đói ăn

Bấy giờ, vị tiên vương kể cho vợ nghe về một hạnh bố thí mà Trưởng lão **Abhaya** đã từng làm trong kiếp trước.

Trong tiền kiếp, Trưởng lão **Abhaya** từng là một vị quan lớn tên là Deva tại chính làng Devatā này. Một lần, sau khi đi tuần sát các làng xóm để giải quyết công việc, vị quan Deva đang trên đường trở về làng. Giữa đường, vì quá đói nên ông bảo thuộc cấp chuẩn bị bữa cơm. Khi ông vừa định dùng bữa, một chú chó gầy trơ xương vì đói từ đâu chạy đến, miệng chảy nước dãi, run rẩy đứng bên cạnh.

Lúc đó, một người hầu định lấy gậy xua đuổi và đánh chú chó vì nó dám đến gần mâm cơm, nhưng vị quan đã ngăn lại. Ông lấy phần cơm của mình, trộn với thức ăn thật ngon rồi vo thành một nắm lớn lăn về phía chú chó. Chứng kiến cảnh chú chó gầy gò ăn một cách ngon lành vì quá đói, vị quan cảm thấy vô cùng hoan hỷ.

Nhờ phước báu từ nắm cơm cho chú chó đói ấy, sau khi mệnh chung, vị quan đã tái sanh lại chính làng Devatā. Khi trưởng thành, vị ấy đã từ bỏ gia đình, vợ con để xuất gia và trở thành Trưởng lão **Abhaya** như hiện nay.

Khi nghe xong câu chuyện, vị tiên nữ càng thêm lòng tịnh tín và cùng chồng chuẩn bị việc dâng cúng vật thực.

Khi vị trưởng lão đang ngồi nghỉ tại nhà hội gần cây Thăng Văn, có một người nam đến đảnh lễ và thưa rằng:

“Bạch Ngài, xin Ngài hãy từ bi thu nhận bình bát này cho chúng con được gieo phước. Chúng con nguyện sẽ dâng cúng vật thực đến Ngài trọn đời. Xin Ngài hãy tinh tấn nỗ lực hành trì giáo pháp.” Nói rồi, vị ấy dâng cúng các món vật thực cõi tiên vào bát. Vị ấy cũng thỉnh cầu ngài mỗi ngày hãy đi khất thực tại trú xứ của mình dưới cây Thăng Văn.

## PAGE 601

### Những người ăn thịt người và Đại đức Abhaya

**Đại đức Abhaya**, nhờ hằng ngày được thọ dụng các vật thực chư thiên dâng cúng, nên cơ thể Ngài trở nên hồng hào, khỏe mạnh và tráng kiện. Ngài có thể đảm đương các phận sự lớn nhỏ tại các bảo tháp, cội Bồ-đề và thực hành giáo pháp bậc tu hành mà không gặp chút trở ngại nào.

Một ngày nọ, sau khi quét dọn xong trong khuôn viên chùa và bước ra ngoài cổng, Ngài nghe thấy những tiếng huyên náo như "Vây lấy! Bắt lấy!" vang lên từ bốn phía. Ngài nhìn quanh thì thấy một nhóm người cầm gậy gộc, dao búa đang lao thẳng về phía ngôi chùa.

Do nạn đói quá kinh khủng, những người này đã trở nên điên loạn đến mức giết hại lẫn nhau để ăn thịt. Thấy vị Đại đức hồng hào, khỏe mạnh nhờ thọ hưởng vật thực chư thiên, họ kéo đến định giết Ngài để làm thức ăn. Nhóm người hung ác tràn vào khuôn viên chùa từ bốn phương tám hướng, lục tìm Ngài khắp nơi.

Nhờ thiện nghiệp trước đây — khi còn làm quan đại thần, Ngài từng ngăn cản một người đang định đánh đập một con chó gầy gò — nên ngay giữa khuôn viên chùa, một ngọn núi lớn bất ngờ hiện lên. Ngài Đại đức tự nhiên lọt vào trong một hang động của ngọn núi đó, khiến nhóm người ác không thể tìm ra. Thấy ngọn núi đột nhiên xuất hiện, họ cho rằng "Vị này hẳn là bậc Thánh A-la-hán", nên sợ hãi bỏ chạy tán loạn.

Lúc bấy giờ, vị Đại đức vẫn còn là bậc phàm phu, đã tu tập suốt 12 năm. Trước cảnh tượng đó, Ngài khởi tâm chán sợ sự khổ trong luân hồi, nỗ lực thực hành tuệ quán và chứng đắc quả vị A-la-hán. Ngài tiếp tục thọ dụng vật thực chư thiên, cư ngụ tại ngôi chùa đó suốt 24 năm rồi nhập Niết-bàn.

---

### Đại đức Tambasumana, vị tu sĩ đầy đủ cả lực của nghiệp và lực của thắng trí

[12-**Câu chuyện về Đại đức Tambasumana**, **Thập vạn tích truyện (Sahassa Vatthu)**-24.]

Tại làng Māla trên đảo Sīhaḷa, có một nam cư sĩ tên là Sumana, vì khởi tâm chán sợ mãnh liệt trước vòng luân hồi nên đã xuất gia. Ngài được biết đến với danh hiệu **Tambasumana**.

## PAGE 602

Sau khi xuất gia, Ngài đến tu học tại chùa Brāhmaṇārāma, nương tựa các bậc Thánh A-la-hán để học hỏi và thực hành cả Pháp học lẫn Pháp hành. Không lâu sau, Ngài cũng chứng đắc quả vị A-la-hán.

Tại đại tu viện Brāhmaṇārāma lúc bấy giờ có 500 vị Tăng cùng cư ngụ. Trong khuôn viên tu viện có một cây hồng lớn (cây Tǐ). Vị đại thần lực chư thiên trú tại cây hồng đó vì lòng vô cùng kính tín Đại đức **Tambasumana** nên đã bền bỉ dâng cúng vật thực suốt 12 năm ròng rã.

### Sức mạnh của giáo pháp hay được biết đến khi nghịch cảnh ập tới

Sau 12 năm, khi nạn đói Caṇḍāla Tissa trở nên trầm trọng, 500 vị Tăng đã bàn bạc kế hoạch lánh sang Ấn Độ (biệt hiệu là Jambudīpa). Đại đức **Tambasumana** cũng chuẩn bị cùng các vị trưởng lão khác khởi hành sang Ấn Độ.

Khi ấy, vị chư thiên trú tại cây hồng thưa rằng:
"Bạch Ngài, con thấy dường như các Ngài sắp lên đường đi xa, chẳng hay các Ngài định đi đâu ạ?"

Đại đức đáp lời:
"Này thí chủ chư thiên, toàn bộ đảo Sīhaḷa đang rơi vào cảnh đói kém kiệt quệ, sông ngòi ao hồ đều cạn nước. Cây cỏ chẳng nảy mầm, mọi thứ đều khô héo cháy sém, ngay cả loài thú cũng không có cái ăn cái uống mà chết dần chết mòn. Các hàng cư sĩ cũng đã lục tục di tản đến những nơi hy vọng có thể bảo toàn mạng sống. Chư Tăng chúng tôi cũng sẽ vượt biển sang Ấn Độ..."

Nghe vậy, vị chư thiên càng thêm mủi lòng:
"Bạch Ngài, xin cho con được thưa một lời. Thuở trước tại đảo Sīhaḷa này, dưới triều vua Saddhātissa, có một viên cận vệ đi công vụ đến vùng Koṭṭhasāla. Khi đó, dân làng đã dọn ra những món ngon vật lạ, có cả thịt, bơ và các loại thực phẩm hảo hạng để chiêu đãi.

Vừa định dùng bữa, viên cận vệ ấy trông thấy một vị trưởng lão đang đi khất thực, nên đã thành tâm dâng cúng toàn bộ phần cơm nước và bơ của mình cho vị ấy. Viên cận vệ năm xưa không ai khác chính là Ngài bây giờ.

## PAGE 603

Nhờ phước báu của duy nhất một bữa cơm dâng cúng ấy mà trong kiếp này, Ngài đã có thể từ bỏ vợ con, tài sản để xuất gia tu hành và chứng đắc đạo quả A-la-hán cao thượng. Sự kiện con và các quyến thuộc dâng cúng vật thực suốt 12 năm qua cũng chính là một phần quả báu của bữa cơm năm ấy vậy.

Vì thế, dù hiện nay nạn đói kém đang hoành hành, xin Ngài chớ bận lòng lo nghĩ. Chư Tăng hãy cứ an trú tại đây cho đến khi nạn đói này chấm dứt. Xin hãy vì lòng lân mẫn mà tiếp tục thọ nhận tứ sự cúng dường từ con, để chư Tăng được an ổn chuyên tâm hộ trì tâm niệm, thực hành giáo pháp bậc tu hành."

Thế là suốt 12 năm tiếp theo, Đại đức **Tambasumana** cùng 500 vị Tăng đã ở lại, thọ nhận sự cúng dường tứ sự từ vị chư thiên trú tại cây hồng.

### Mặt trời từ viên đá cuội

Sau 12 năm, khi nạn đói chấm dứt, Đại đức **Tambasumana** ngỏ lời từ biệt vị chư thiên để cùng 500 vị Tăng du hành đến các phương.

Đầu tiên, đoàn chư Tăng đến làng Kaṇḍarāja thuộc vùng Rājarattha. Sau khi khất thực xong và quay về, lúc cả đoàn định dùng bữa trong một khu rừng thì bầu trời bỗng mây đen bao phủ dày đặc, không hề thấy bóng dáng mặt trời. Một số vị Tăng sinh tâm hoài nghi hối quá, tự hỏi: "Phải chăng đã quá giờ ngọ rồi?", nên họ chỉ ngồi im không dùng bữa.

Thấu hiểu tâm tư các vị đồng tu, Ngài Đại đức **Tambasumana** lấy một viên đá nhỏ, đặt lên móng tay cái rồi dùng ngón trỏ nhẹ nhàng búng viên đá lên không trung. Viên đá ấy tỏa sáng rực rỡ xuyên qua lớp mây mù như một vầng thái dương thực thụ. Nhờ đó, chư Tăng thấy rõ vẫn chưa quá giờ ngọ nên mới an tâm thọ thực.

Kể từ đó về sau, vùng đất ấy được gọi tên là "**Maṇisūriya**" (Mặt trời Đá quý).

## PAGE 604

**Nhân một muỗng bơ, quả biển bơ**

Từ đó, vị Trưởng lão tiếp tục hành trình và đến làng Cūḷaka gần sông Hằng. Ngài cùng năm trăm vị Tỳ-kheo đi khất thực rồi dừng chân bên bờ sông Hằng để thọ thực. Do vật thực quá thô sơ và không có thức ăn tầng kèm nên các vị Tỳ-kheo không thể dùng bữa được. Trưởng lão **Tammasumana** nhìn chư Tăng rồi bạch rằng:

“Bạch các Ngài, các Ngài có muốn thọ thực với chút bơ thơm ngon không ạ?”

Chư Tăng đáp rằng muốn thọ dụng.

Vị Trưởng lão bèn hướng tâm đến công đức bố thí bơ mà ngài đã từng dâng cúng đến một vị Trưởng lão đi khất thực trong kiếp quá khứ. Ngài phóng tầm mắt nhìn khắp mặt nước sông Hằng, từ bến chùa làng Mālā đến bến Bhattaka trong khoảng cách hai do-tuần, rồi phát nguyện biến nước sông Hằng thành bơ thơm ngát. (Dù có thần thông nhưng cũng phải nhờ vào phước cũ mới thành tựu).

Ngay khi nghe tin ấy, dân chúng ở hai bên bờ sông Hằng đã tranh nhau mang bình, chậu lớn nhỏ đến chở bơ về dùng bằng xe bò.

Chỉ với một lần bố thí bơ ít ỏi đến một vị Tỳ-kheo mà không hề tính toán, ngài không chỉ đắc quả **A-la-hán** mà còn tạo ra lợi ích to lớn đến mức nhiều chúng sanh khác cũng được nhờ cậy.

Trong thế gian này, chỉ cần gặp được một vị Tỳ-kheo trì giới để đặt bát cúng dường, phước báu ấy có thể mang lại sự thịnh vượng và hạnh phúc cho vô số chúng sanh qua nhiều kiếp.

Huống chi đối với một vị A-la-hán, bậc **Ứng cúng** tối thượng xuất hiện ở đời, thì sự lợi ích ấy quả thật không lời nào xiết kể.

Ân đức của Tăng-già thật vĩ đại. Giáo pháp về Bố thí, Trì giới, Tu thiền của Đức Thế Tôn thật cao quý thay.

## PAGE 605

### Trưởng lão Dāṭhāsena: Người hùng không phản quốc mà cải biến cuộc đời

[32- **Madhurarassavāhinī**]

Tại làng Kuṭabandha thuộc vùng Rohaṇa đảo Sīhaḷa, có một thanh niên tên là **Dāṭhāsena** sanh trong gia đình giàu có, sức vóc hơn người. Một ngày nọ, khi vừa trưởng thành, anh đến núi Girigāmala để thử sức. Lên đến đỉnh núi, anh nhổ các dây leo bền chắc rồi đan thành một chiếc túi lưới lớn. Anh bỏ vào đó những tảng đá nặng mà cả ngàn người không khiêng nổi, rồi đặt lên đầu xoay tròn để thử sức mạnh của mình.

Chẳng bao lâu sau, anh bạch với cha mẹ rằng:

“Thưa cha mẹ, con xin phép được thưa lời này. Hiện nay giáo pháp của Đức Thế Tôn đang bị suy vi, quân ngoại đạo ác ma đang làm khổ chư Tăng và dân chúng. Đây là lúc cần phải đánh đuổi chúng để hộ trì giáo pháp và đất nước. Xin cha mẹ cho phép con được đi tòng quân để phụng sự đạo pháp và quốc gia.”

Sau khi được cha mẹ đồng ý, **Dāṭhāsena** đến kinh đô Mahāgāma để yết kiến vua **Kākavaṇṇatissa**. Lúc bấy giờ, nhà vua đang đích thân điều hành năm trăm thợ rèn tại kho vũ khí để sản xuất binh khí.

Sau khi dò xét lai lịch, nhà vua muốn thử tài anh nên truyền lệnh phải mài sắc sáu mươi thanh đoản kiếm phôi chưa có lưỡi. **Dāṭhāsena** đi một vòng từ đầu này đến đầu kia xưởng rèn, và trước khi quay lại chỗ cũ, cả sáu mươi thanh kiếm đều đã được mài sắc lẹm.

Nhà vua rất hài lòng, ban thưởng hậu hĩnh và truyền cho anh đi theo vua **Duṭṭhagāmaṇi** cùng các dũng tướng khác để luyện tập quân sự.

## PAGE 606

### Trận chiến voi

Trong cuộc chiến của vua **Duṭṭhagāmaṇi** chống lại quân ngoại đạo, trận đánh tại thành Mahela kéo dài suốt bốn tháng. Vua ngoại đạo cố thủ trong thành với ba lớp hào sâu bao quanh, khiến quân ta không thể xuyên thủng. Tường thành cao đến 16 tầm.

**Dāṭhāsena** hét lớn một tiếng rồi phóng mình nhảy vọt lên tường thành cao tám mươi hắc tay. Anh dùng gót chân đạp mạnh vào chân thành, khiến một đoạn tường dài ba mươi hắc tay sụp đổ. Nhờ đó, quân ta chiếm được thành Mahela. Trong trận chiến cuối cùng tại thung lũng dẫn đến chiến thắng ở Anurādhapura, anh cũng gào thét vang trời: “**Dāṭhāsena** đây!” và tiêu diệt hàng trăm quân địch, mang về thắng lợi hoàn toàn.

Khi vua **Duṭṭhagāmaṇi** lên ngôi tại kinh đô Anurādhapura, **Dāṭhāsena** được phong làm đại thần. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, những kẻ ganh ghét đã dèm pha với vua rằng:

“Tâu đại vương, đại thần **Dāṭhāsena** đang âm mưu phản nghịch để ám sát ngài.”

Cuối cùng, vị đại thần bị tuyên án tử hình.

Khi đại thần **Dāṭhāsena** đang ngồi xe cùng quân tùy tùng đi ra hồ Tissa, lúc đến phía nam kinh đô, quân đội của vua đã chia làm ba nhóm mai phục sẵn để tấn công. Họ cho một con voi dữ uống rượu say rồi thả ra chặn đường đại thần. Quân tùy tùng và vệ sĩ của ngài đều sợ hãi bỏ chạy.

Lúc đó, ngài mới biết rằng đây là kế hoạch hành quyết mình theo lệnh vua.

**Dāṭhāsena** lập tức bước xuống xe, đứng hiên ngang trước mặt con voi đang điên cuồng. Không cần làm gì cả, con voi bỗng gầm rống lên rồi quay đầu tháo chạy. Đại thần gầm lên: “**Dāṭhāsena-kkha**!”, rồi đuổi theo con voi, chặn đứng trước mặt nó, hai tay nắm chặt hai chiếc ngà rồi vặn ngược quật ngã con voi xuống đất. Sau khi nắm lấy vòi voi, ông đánh chết nó khiến đầu voi nát vụn.

## PAGE 607

Con voi lớn ngã chết ngay tại chỗ trong tiếng gào rống đau thương. Những quân lính của nhà vua khi chứng kiến cảnh tượng đó đều khiếp sợ bỏ chạy khỏi bụi rậm.

### Chạy trốn sang Diêm-phù-đề

Đại quan đứng một mình trên chiến trường, không đối thủ cũng chẳng có bạn đồng hành. Ông nhanh chóng suy xét và đưa ra quyết định cho tương lai của mình.

"Nếu ta muốn đoạt lấy ngôi báu thì cũng có thể được. Tuy nhiên, đức vua vốn là bậc ân nhân của ta. Ta không nên dùng sức mạnh cơ bắp để xâm phạm bậc ân nhân. Đức vua cũng là người có lòng tịnh tín đối với giáo pháp mà ta hằng tôn kính. Chỉ khi nào chiến thắng được lòng tham và sự sân hận thì mới thực là bậc anh hùng đích thực, mới có được sự an lạc và an toàn vĩnh cửu. Ta sẽ nỗ lực để trở thành người chiến thắng được tham hữu và sân hận."

Đại quan không nói lời nào với bất kỳ ai, cũng không để lại lời nhắn nhủ, một mình rời khỏi nơi đó và đi đến Maṅgalarā. Từ đó, ông đi tiếp đến một làng chài tên là **Jallika** gần biển. Tại ngôi làng đó, con trai của một ngư dân tên là **Mahāballika** là người có sức khỏe phi thường, đang một mình dùng thuyền Piṅko để chở cát và nước từ bờ biển đến cúng dường tại sân đại thọ Bồ-đề Saṅghamittā. Thấy vậy, người ngư dân đã mời vị đại quan về nhà mình.

Trong khi đại quan lưu lại nhà **Mahāballika**, ông **Hoballika** biết ông là bậc anh hùng nên muốn thử sức mạnh. Ông bảo nấu bảy đấu kê, trộn với mật rồi vắt thành bảy nắm. Khi đại quan chuẩn bị ăn, ông bảo **Mahāballika** hãy dùng hết sức bóp cổ mình thật chặt cho đến chết để xem ông có thể ăn được không.

Khi đại quan định ăn một nắm cơm, **Mahājallika** đang bóp cổ ông nhưng không thể giữ chặt được tay, bị văng ra xa. Dù đã cố gắng bóp cổ đến ba lần nhưng vẫn không thành công, trái lại còn bị văng ra xa hơn nữa.

## PAGE 608

Cuối cùng, đại quan đã mượn một chiếc thuyền Piṅko từ **Mahāballika** và dự định vượt biển để đi đến đảo **Nāgadīpa**.

Khi có được thuyền, ông đặt một chân lên thuyền, chân kia đạp mạnh vào bờ cảng một cái, chiếc thuyền lao đi như buồm gặp gió, cập bến đảo **Nāgadīpa** (cách đó khoảng 12 do-tuần) chỉ trong một loáng.

Khi đến đảo **Nāgadīpa**, ông buộc chặt y phục và tóc lại rồi bơi bằng tay vượt qua biển lớn rộng 55 do-tuần, cập bến cảng **Kāvīrapaṭana** thuộc xứ Coḷa. Mặc cho mọi người bàn tán kinh ngạc và ca ngợi, ông không hề để tâm mà chỉ hỏi về điều mình muốn biết:

"Này các bạn... các bậc Thánh Tăng con nhà họ Thích đang ngự trị ở nơi nào?"

Dân thành cảng **Kāvīra** nói với vị đại quan rằng các bậc A-la-hán đang ngụ tại thành **Takkasila** (nay thuộc Tây Pakistan), cách đó 12 do-tuần. Nghe vậy, ông tiếp tục hành trình. Ông đi bộ quãng đường 12 do-tuần và chẳng bao lâu sau đã đến nơi.

### Gian khó tầm cầu giáo pháp

Dân thành **Takkasila** chỉ cho ông dãy núi (**Viñjā**), nơi có ngôi chùa rừng **Anivattana** (**Anivattiya Avajjaniya**) nằm trên đỉnh núi cao. Đó là nơi tĩnh mịch, trang nghiêm với nhiều hang động, phải băng qua nhiều tầng núi non hiểm trở. Khi đại quan đến chùa rừng trên núi **Anivattana**, ông đã đến đảnh lễ bậc A-la-hán tên là **Mahāvaruṇa**.

Khi ngài hỏi: "Này thiện nam... ông đến nơi này vì mục đích gì?", ông đã trình bày mọi chuyện và xin được xuất gia. Sau khi cho ông xuất gia, ngài còn hướng dẫn pháp môn hành thiền. Trưởng lão **Dāṭhāsena** dù đã nỗ lực thực hành thiền nhưng vì định lực và tuệ giác còn đang chuyển biến mạnh mẽ, nên sau khoảng hai ngày:

## PAGE 609

"Bạch ngài... con đã nỗ lực thực hành thiền nhưng vẫn chưa đắc được định. Nếu có nơi nào khác phù hợp, xin ngài chỉ dạy cho con."

Trưởng lão **Mahāvaruṇa** dùng thắng trí quán xét, thấy rằng vì số lượng người hành thiền ở đây quá đông nên ông không thể tập trung quán chiếu. Ngài liền tìm một nơi khác thích hợp hơn.

"Này hiền giả **Dāṭhāsena**... cách đây 60 do-tuần có một ngôi chùa tên là **Verambha** nằm trên đỉnh núi cao dốc đứng, nơi người thường không thể đến được. Ngôi chùa đó do Thiên chủ Sakka hóa phép cúng dường. Tại đó chỉ có một vị trưởng lão già cùng một vị sa-di đệ tử cư ngụ. Hãy đến chùa **Verambha** đó, hãy nỗ lực để tìm thấy điểm tựa cho mình trong sự an lạc."

Trưởng lão **Dāṭhāsena** thu dọn y bát, đi theo sự chỉ dẫn của thầy tế độ. Khi đến ngọn núi có chùa **Verambha**, ông đứng dưới chân núi nhìn lên. Đó không phải là ngọn núi mà người bình thường có thể leo lên được. Ông cứ đứng phân vân mãi dưới chân núi.

Chẳng bao lâu sau, một vị sa-di đi đến gần ông, lúc đó ông mới cảm thấy nhẹ lòng. Vị sa-di này đến để dùng thần thông rước ông lên núi theo lệnh của vị trưởng lão. Đây chính là nơi mà ngay cả những bậc anh hùng từng thắng lợi nhờ sức mạnh cơ bắp cũng phải chịu thua, chỉ có các bậc tu hành có thần thông mới có thể cư ngụ.

Tại ngôi chùa đó, ông cũng chỉ ở được một hai ngày, không có được định mà chỉ có tầm tứ khởi lên liên tục, nên ông lại xin được chỉ dẫn một nơi khác phù hợp.

"Được rồi hiền giả... cách đây 15 do-tuần về phía Bắc có núi **Lohakūṭa** (núi Đồng). Trên đỉnh núi Đồng đó có những ngôi chùa, giảng đường và liêu cốc được trang trí bằng đủ loại trân bảo, rất đáng lạc hỷ. Đó đều là phước báu của Thiên chủ Sakka. Các bậc thượng nhân đang ngự trị tại đó. Người bình thường không dễ gì đến được. Tuy nhiên, có một cách. Cây đa lớn mọc trên vách núi khi có luồng gió mạnh thổi bạt nhành xuống phía dưới, nếu nắm lấy nhành đa đó rồi leo lên thì chắc hẳn có thể đến nơi. Nếu hiền giả có khả năng, hãy khởi hành đi nào.”
## PAGE 610

Trưởng lão Dāṭhāsena theo như lời chỉ dẫn của vị đại trưởng lão, ông đi bộ lên núi Đồng (Kappaka) đến tối đa mức có thể, rồi để lên đến đỉnh núi, ông bám vào một cây đa lớn đang đung đưa và rủ nhánh theo luồng gió mà leo lên.

Khi lên đến đỉnh núi, nhìn thấy những công trình kiến trúc rực rỡ với đủ loại bảo vật, ông vô cùng kinh ngạc trước cảnh tượng chưa từng thấy và không thể tin được vào mắt mình. Ngay khi vừa đến nơi, tại một địa điểm vô cùng thanh tịnh và nhẹ nhàng, ông ngồi kiết già và...

"Chừng nào tâm ta còn chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc phiền não, ta sẽ không bao giờ xả bỏ tư thế kiết già này", sau khi lập thệ nguyện quyết liệt như vậy, ông bắt đầu tu tập đề mục thiền định. Một ngày, hai ngày, rồi ba ngày trôi qua vẫn chưa thấy có kết quả gì đặc biệt. Ông không hề đứng dậy, cũng không dùng đến vật thực.

Đến ngày thứ tư, ông chứng đắc quả vị A-la-hán cùng với bốn Pháp Phân Tích (Paṭisambhidā). Khi đó, các loài rồng, chư thiên và Càn-thát-bà ở khắp vùng núi Đồng này đều đồng thanh vang rền những lời tán thán "Lành thay! Lành thay!".

## Tự thuật về cuộc đời Trưởng lão

Trưởng lão Dāṭhāsena ẩn mình một thời gian tại vùng núi Đồng, sau đó ông xuất hiện dưới chân vị thầy tế độ là Đại trưởng lão Mahā Varuṇa tại tu viện Anivattana, đảnh lễ cung kính và trình bày rõ ngọn ngành sự việc. Tiếp đó, như một vị chúa thiên nga, ông từ nơi đó bay vút lên không trung và ẩn cư trong hang động của núi Đồng suốt nhiều năm dài.

Thời gian trôi qua, khi quán xét về thọ mạng của mình, ông leo lên đỉnh núi Đồng.

"Bạch các bậc A-la-hán cao thượng... xin hãy vì lòng bi mẫn đối với con mà vân tập về đỉnh núi Đồng này", ông đứng thẳng và lớn tiếng cung thỉnh. 

## PAGE 611

Ba mươi ngàn vị Thánh A-la-hán nhờ có Thiên Nhĩ Thông (Dibbasota) đã nghe thấy lời cung thỉnh và câu hội về nơi đó. Khi ba mươi ngàn vị Thánh A-la-hán đã vân tập đông đủ, Trưởng lão Dāṭhāsena đảnh lễ cung kính các Ngài rồi ngồi vào chỗ thích hợp và thưa rằng: "Bạch các Ngài cao thượng... Giáo pháp của Đức Thế Tôn quả thực là con đường chân chính để thoát khỏi khổ đau luân hồi.

"Con đã được lắng nghe chánh pháp trong thời giáo pháp của Đức Phật Kassapa, nhờ lòng tịnh tín khởi sinh, con đã cúng dường vật thực nấu bằng sữa cùng với trú xứ, y phục, vật thực và dược phẩm suốt hai mươi ngàn năm. Nhờ thiện nghiệp đó, con đã được hưởng các hạnh phúc của cõi người và cõi trời, và trong kiếp sống cuối cùng này, con đã chứng đắc pháp vô vi, tức là hạnh phúc Niết-bàn tối thượng." Ngay sau khi trình bày như vậy, ngay trước mặt ba mươi ngàn vị Thánh A-la-hán trên đỉnh núi Đồng, vị trưởng lão đã nhập diệt.

## Trưởng lão Cūḷanāga - người có thể ví như ngài Sīvalī của Srilanka

[**Sahasavatthu-52, Madhuratthavilāsinī-350.**]

Tháp Thūpārāma tại kinh đô Anurādha của đảo quốc Srilanka là một ngôi bảo tháp lớn do đức vua Devānampiya Tissa xây dựng để tôn thờ xương đòn của Đức Phật Gotama cùng với xá lợi của bốn vị Phật và các vật dụng (pariboga) của các Ngài.

Đây là ngôi bảo tháp cho phép chiêm bái và cúng dường cả bốn vị Phật cùng một lúc.

Gần ngôi bảo tháp đó có tu viện Thūpārāma, nơi có rất nhiều vị tỳ-kheo cư ngụ. Khắp khuôn viên tu viện được rải một lớp cát trắng mịn như màu ngọc trai rất bằng phẳng và đẹp đẽ. Những bông hoa Chiyā và hoa Chaka rơi xuống từ những hàng cây nở rộ khắp thân tạo nên một khung cảnh tuyệt đẹp trên nền cát phẳng ấy. Những hang động, lầu gác, giảng đường và các khu vực quanh tịnh xá đều tương xứng với đức hạnh của tăng chúng.

## PAGE 612

### Người thọ nhận là một cô chó mẹ đói khát

Bên trong tu viện Thūpārāma có một ngôi chùa do vị đại thần cầm gươm của nhà vua (Asiggāhaka) tạo dựng và cúng dường, nơi đó có vị trưởng lão tên là Cūḷanāga đang cư ngụ. Vị trưởng lão thường đi khất thực dọc theo đại lộ Candavanka, một con đường uốn lượn như hình trăng khuyết tại kinh đô Anurādha.

Một lần nọ, sau khi đi khất thực và dùng bữa xong, trưởng lão trở về chùa, ngồi nghỉ một lát trước cửa và đang phơi bát dưới ánh nắng để lau chùi thì thấy một con chó mẹ gầy gò, đói khát đang chạy ngược chạy xuôi tìm kiếm thức ăn nhưng không thấy gì. Nó đi đến gần trưởng lão với vẻ mặt mong đợi. Nhìn thấy con chó mẹ đang run rẩy, nước dãi chảy dài vì đói và kiệt sức, trưởng lão khởi lòng bi mẫn sâu sắc. Tuy nhiên, vì ông đã dùng bữa xong nên không còn gì để cho nó ăn.

Lúc đó, vì không đành lòng khi nhìn thấy cô chó đói, ông dọn dẹp một khoảng đất sạch trên nền xi măng. Con chó mẹ nghĩ rằng ông sắp cho nó ăn nên run rẩy tiến lại gần. Trưởng lão bèn đưa ngón trỏ vào miệng, nôn ra phần thức ăn vừa mới dùng để bố thí cho nó. Con chó mẹ vui mừng ăn hết sạch trong chốc lát. Thấy nó dường như vẫn còn đói và nhìn chăm chằm vào mặt mình, ông lại nôn ra thức ăn lần thứ hai để bố thí tiếp.

Đến lần thứ hai, thấy con chó ăn một cách chậm rãi và thong thả, ông đoán chắc nó đã no nên dùng ống lọc nước múc nước vào một mảnh sành đã được rửa sạch để cho nó uống. Lúc này, con chó mẹ nằm phủ phục bốn chân trước mặt trưởng lão, vẫy đuôi và nhìn ông với ánh mắt trong sáng đầy lòng biết ơn. Chẳng bao lâu sau, đám chó con cũng chạy lại quây quần quanh vú mẹ.

Trưởng lão nhìn con chó mẹ đã no nê và đang nằm đó với dáng vẻ cung kính, ông cảm thấy lòng tràn ngập niềm hân hoan vô bờ bến.

## PAGE 613

“Nhờ vào phước thiện mà con đã xả thân cúng dường không chút tiếc nuối này, nguyện cho con trở thành bậc tối thượng về lợi lộc trong các kiếp vị lai. Nguyện cho con sớm tự thân chứng đắc hạnh phúc Niết Bàn cao thượng.”

**Nghiệp cho quả ngay trong hiện tại (Diṭṭhadhammavedanīya-kamma)**

Hạnh bố thí của Trưởng lão Cūḷanāga không đợi đến luân hồi mà đã cho quả ngay trong đời này (Diṭṭhadhamma), vì tâm tác ý (cetanā) trong sát-na tốc hành tâm thứ nhất vô cùng mãnh liệt.

Ngay buổi chiều hôm đó, tại kinh đô Anurādha, các nam nữ cư sĩ mang theo dầu lỏng, đường đặc, mật ong, v.v... lũ lượt kéo đến hỏi thăm:
“Trưởng lão Cūḷanāga đang cư ngụ tại ngôi chùa nào?”
Họ tranh nhau đến để đặt bát cúng dường trưởng lão. Lợi lộc phát sinh không chỉ đủ cho riêng ngài, mà còn đủ để cúng dường cho khoảng ba mươi ngàn chư Tăng đang an cư tại chùa Thūpārāma. Sau đó, người dân lại tiếp tục đem đến cúng dường các loại thuốc men và hương liệu như đậu khấu, long não, quế; trưởng lão lại đem những vật phẩm này để cúng dường tiếp (cho chư Tăng).

Trong đêm đó, dọc theo con đường Candavakka – nơi trưởng lão vẫn thường đi khất thực – các vị chư thiên đã đánh thức và nhắc nhở dân chúng chuẩn bị cháo (yāgu), thức ăn và các loại thực phẩm thượng vị để gửi đến chùa cúng dường cho bữa điểm tâm vào rạng sáng hôm sau. Việc người dân đến cúng dường vào sáng sớm đông đúc như một lễ hội lớn. Trưởng lão đã cho đánh chuông đá gần chùa để báo hiệu và cung thỉnh khoảng ba mươi ngàn chư Tăng đến thọ nhận vật thực cúng dường.

Một ngày nọ, khi trưởng lão bước chân vào kinh đô khất thực, vừa ra khỏi cổng đại tu viện Thūpārāma, ngài đã thấy các vị chư thiên giữ cửa tống tiễn các đoàn xe thồ chở đầy vật thực đang chờ sẵn để cúng dường. Số vật thực này đủ cho cả trưởng lão và ba mươi ngàn vị Tỳ-kheo.

Các nam nữ cư sĩ trên đường Candavakka thường xuyên khất thực cũng phải sắp xếp, chia lượt để có cơ hội được đặt bát. Phải mất đến 32 năm, ngôi nhà nằm ở cuối con đường đó mới đến lượt được cúng dường vật thực. Khắp đảo quốc Sīhaḷa, danh tiếng về phước báu và lợi lộc của ngài lừng lẫy giống như Ngài Trưởng lão Sīvali.

## PAGE 614

Dù thọ nhận lợi lộc dồi dào như thế, ngài vẫn nỗ lực thực hành tuệ quán (Vipassanā). Mỗi khi suy xét đến sức mạnh của tâm tác ý bố thí khi dâng tặng bữa ăn cho con chó đói năm xưa, hỷ lạc và phỉ lạc (pīti-somanassa) lại phát sinh mãnh liệt. Chính nhờ lấy tâm tác ý bố thí đó làm nền tảng, ngài đã dễ dàng chứng đắc và hưởng thọ hạnh phúc Niết Bàn.

**Chuyến đi chiêm bái cội Bồ-đề**

Một thời nọ, năm trăm vị Tỳ-kheo trú tại chùa Thūpārāma mong muốn được đi chiêm bái cội Đại Bồ Đề tại Trung Quốc (Mazzhima-desa), nơi Đức Phật thành đạo. Tuy nhiên, chư Tăng lo lắng về những khó khăn trong việc đi lại, nơi ăn chốn ở và vật thực nên chưa biết tính tính sao. Lúc bấy giờ, họ nhớ đến Trưởng lão Cūḷanāga và đã cùng nhau thỉnh cầu ngài dẫn đường cũng như hộ trì cho chuyến đi chiêm bái này. Trưởng lão đã nhận lời và đồng hành cùng họ.

Trưởng lão Cūḷanāga cùng năm trăm vị Tỳ-kheo khởi hành từ chùa Thūpārāma đến bến cảng Mahākoṭṭhappatthanā, rồi từ đó đi tiếp đến bến cảng Mahāgodha. Trên các chặng đường, ngài liên tục thọ nhận và hoan hỷ với sự cúng dường của loài người lẫn chư thiên, khiến chuyến đi kéo dài suốt bốn tháng trời.

Ngay cả khi ngồi tàu vượt đại dương, ngài cũng nhận được sự cúng dường từ chư thiên và rồng (nāga) cư ngụ dưới biển, khiến thời gian lênh đênh trên biển mất khoảng ba tháng. Sau khi cập bến Trung Quốc và tiếp tục hành trình đến cội Đại Bồ Đề, ngài vẫn luôn thọ nhận những lễ đặt bát cúng dường vô cùng long trọng và tôn kính suốt dọc đường đi.

**Chư Tăng lo âu vì bệnh tình của trưởng lão**

Khi đến vùng đất thắng địa nơi cội Đại Bồ Đề, nơi Đức Thế Tôn đắc đạo với Thắng Trí (Sabbannuta-nana), chư Tăng vô cùng mãn nguyện và thành kính chiêm bái, định tâm hành thiền. Tuy nhiên, trên đường trở về, một cơn bệnh gió (phong đại) kịch liệt phát khởi trong cơ thể của trưởng lão, hành hạ ngài đau đớn. Tất cả chư Tăng đi cùng đều cảm thấy bất an và lo lắng. Cơn đau của ngài ngày một trầm trọng hơn.

## PAGE 615

“Bạch các ngài, vì lẽ gì mà các ngài có vẻ lo âu, gương mặt không được tươi vui hân hoan như vậy?”

Chư Tăng thưa rằng: “Bạch ngài, nhờ nương vào phước báu của Trưởng lão Cūḷanāga mà chúng con đã có được chuyến đi an lạc như thế này. Nhờ phước lành của ngài mà chúng con đã được chiêm bái cội Đại Bồ Đề, một nơi vô cùng khó để được diện kiến. Nếu chẳng may căn bệnh này đe dọa đến mạng sống của ngài, thì rất nhiều vị Tỳ-kheo chúng con đây biết làm thế nào để trở về lại chùa Thūpārāma?”

Trưởng lão đáp: “Bạch các ngài, xin các ngài đừng quá lo lắng về việc đó. Nếu giữa hành trình này mà con phải nhập Niết Bàn, xin các ngài hãy lo liệu việc hỏa táng chu đáo, rồi dùng vải lọc nước để thu gom các xá-lợi (dhātu) lại.”

“Khi đi vào làng để khất thực, xin các ngài hãy buộc túi đựng xá-lợi vào bình bát của vị trưởng lão dẫn đầu đoàn. Các ngài sẽ không gặp phải bất kỳ sự thiếu thốn hay khó khăn nào về tứ sự cúng dường đâu.”

Sau khi đã nhắn nhủ và an ủi chư Tăng một cách tường tận, tại một nơi trên con đường xuyên rừng, Trưởng lão Cūḷanāga đã trút bỏ gánh nặng ngũ uẩn (viên tịch).

Theo đúng lời căn dặn của trưởng lão, sau khi hỏa táng, chư Tăng đã cung thỉnh xá-lợi của ngài và lên đường trở về. Quả nhiên, vật thực và các món tứ sự dành cho đoàn vẫn luôn sung túc và đầy đủ giống hệt như lúc trưởng lão còn sinh tiền. (Ngài Đại đức Trưởng lão Monywe Jetawan trong tác phẩm Samantacakkhu-dīpanī có trích dẫn câu chuyện này và viết nên những lời nhận định rất đáng lưu tâm về việc thờ phượng xá-lợi và tượng Phật. Xin hãy tìm đọc thêm ở đó.)

**Quả báu của tâm tác ý bố thí dẫn đến Niết Bàn**

Năm trăm vị Tỳ-kheo sau khi chiêm bái trở về đã đến được tu viện Thūpārāma một cách bình an và thuận lợi. 

## PAGE 616

Khi về đến đại tự viện, trong lúc đang nghỉ ngơi cho đỡ mệt, vị trưởng lão trong Tăng chúng đã nói với năm trăm vị Tỳ-kheo đi đảnh lễ Phật rằng:

"Này các hiền giả… Trong giáo pháp của Đức Thế Tôn, thiện chí bố thí thật là điều kỳ diệu thay. Ân đức của trưởng lão Nāga cũng thật lớn lao thay. Thiện chí bố thí của trưởng lão Cūḷanāga cao thượng, người đã khạc thức ăn để nuôi dưỡng một con chó cái đói khát, đã trổ quả báo thiết thực hiện tại ngay trong kiếp sống này bằng những lợi lộc vật chất thế gian đáng kinh ngạc, như các hiền giả đã tận mắt chứng kiến.

Chẳng những thế… chính thiện chí bố thí này đã đưa ngài đến sự chứng đắc quả vị A-la-hán cao thượng. Lời dạy của Đức Thế Tôn và thiện chí của trưởng lão Nāga thật đáng để chúng ta ngưỡng mộ và noi theo... Này các hiền giả… chúng ta phải nỗ lực thực hành với đức tin trong sáng, tinh tấn và chánh niệm cao độ để có thể đền đáp ân đức của Đức Thế Tôn và vị trưởng lão cao thượng ấy."

Ngay khi vị trưởng lão đang giáo giới, cả năm trăm vị Tỳ-kheo đều suy xét về thiện chí bố thí của trưởng lão Cūḷanāga với lòng ngưỡng mộ và tịnh tín. Tâm hỷ lạc dâng trào mạnh mẽ, các vị khước từ hỷ lạc ấy để quán chiếu về ba tam tướng và bản chất sanh diệt của các pháp; ngay tại chỗ đó, tất cả đều chứng đắc quả vị A-la-hán.

## Trưởng lão Piyola từ thân phận thợ săn thành bậc A-la-hán nhờ kinh Thiên Sứ (Devadūta Sutta)

[Trích Madhu Rasavāhinī, Sahavatthu]

Tại kinh đô Mahāgāma thuộc vùng Rohana, đảo Tích Lan, có một gã thợ săn tên là Piyola. Hằng ngày, gã dùng đủ loại công cụ săn bắn như bẫy, lưới, cung tên để sát hại các loài muông thú chim chóc làm kế sinh nhai. Gã không bao giờ ăn thứ gì mà không có sự sát sanh trong đó.

### Hôm nay là thợ săn, ngày mai thành bậc thiện trí

Một ngày nọ, vì không săn được bất kỳ con thú hay chim chóc nào, gã lấy một nắm cỏ đưa ra nhử một con bê nhỏ trong nhà. Con bê nhìn thấy thức ăn

## PAGE 617

liền tiến lại gần gã thợ săn, há miệng định kéo cỏ. Gã thợ săn liền dùng dao cắt đứt lưỡi con bê đó, đem nướng rồi ăn.

Ác nghiệp tàn ác và hung bạo đến mức ấy đã trổ quả ngay lập tức. Kể từ lúc đó, gã thợ săn ấy suốt đêm không thể ngủ được. Cả người gã nóng hừng hực như lửa đốt, phải lăn lộn quằn quại. Gã la hét đau đớn như thể bị gậy sắt nện vào, hay bị những mũi giáo nhọn đâm xỉa khắp thân mình.

Vừa hừng sáng, gã liền đi đến đại tự viện Tissamahāvihāra, đảnh lễ chư Tăng và cầu xin sự cứu giúp. Khi trưởng lão tại chùa Tissamahāvihāra nghe biết chuyện của gã thợ săn, ngài khởi lòng bi mẫn sâu sắc.

"Này ông cư sĩ thợ săn, vì nuôi dưỡng vợ con mà sát mạng chúng sanh thì khi chết đi, ông sẽ phải chịu khổ hình trong địa ngục đại A-tỳ vô cùng kinh sợ. Lúc đó vợ con chẳng thể gánh vác thay cho ông được, nghiệp mình làm thì mình tự gánh chịu thôi.

Địa ngục đại A-tỳ rộng một trăm do-tuần, như một cái lồng sắt hình vuông lớn, lửa cháy hừng hực vô cùng kinh sợ. Nỗi khổ của người bị lửa thế gian thiêu đốt rồi chạy la hét chẳng thấm thía gì so với một phần trăm cái nóng của lửa địa ngục đại A-tỳ đâu, này ông thợ săn. Ngay cả nỗi khổ khi bị ba trăm ngọn giáo cùng lúc đâm vào người cũng chẳng đáng là bao so với đó.

Ngay lúc này đây, nghiệp sát sanh của ông đã lộ rõ minh chứng rồi", vị trưởng lão đã thuyết giảng chi tiết kinh Thiên Sứ (Devadūta Sutta) như thế, chỉ rõ rằng chẳng có cách nào thoát khỏi khổ hình địa ngục nếu không dừng lại.

Khi ấy, gã thợ săn vô cùng kinh sợ và thưa rằng:

"Bạch Ngài, thật đúng như vậy... Kể từ nay con xin từ bỏ hẳn việc sát sanh." Sau khi về nhà, gã cũng vứt bỏ hết các dụng cụ săn bắn và chài lưới.

### Pháp không sợ chết

Một ngày kia, khi thợ săn Piyola cùng với những người bạn của mình đang tắm dưới biển Goṭṭhasamudra, một con rồng biển lớn dưới đại dương đã quấn chặt lấy thân mình Piyola định giết chết gã. Thấy mình không còn đường thoát khỏi hiểm họa của rồng, Piyola liền định tâm nhớ lại

## PAGE 618

bài kinh Thiên Sứ mà gã từng được nghe. Gã không còn chút sợ hãi nào đối với cái chết nữa.

Gã thầm nguyện trong lòng: "Kinh Thiên Sứ chính là giáo pháp đúng đắn do Đức Thế Tôn thuyết giảng. Các bậc đệ tử của Ngài cũng đã thuyết lại pháp chân chính ấy. Nhờ vào bài kinh Thiên Sứ mà tôi đã được nghe và ghi nhớ, cũng như nhờ vào uy đức và thần lực của chư Tăng, xin cho tôi được thoát khỏi hiểm ác này. Tôi sẽ không thể chết được", gã khởi tâm tin tưởng nương tựa như thế.

Vua rồng nỗ lực quấn chặt để giết Piyola nhưng cứ quấn vào là lại bị tuột ra, lấy làm lạ lùng bèn đưa gã về long cung. Khi đến long cung, vua rồng hỏi rằng:

"Này chàng trai kia, tại sao ngươi lại chẳng sợ chết?"

Piyola trả lời: "Này đức vua rồng, tôi từng được nghe giáo pháp mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng, một giáo pháp có thể xua tan mọi hiểm họa, tai ương và mang lại mọi loại hạnh phúc. Nhờ hằng tâm niệm giáo pháp này nên tôi không hề sợ hãi. Giáo pháp này chính là vũ khí kim cương hộ thân cho tôi."

Vua rồng nói: "Ta muốn được nghe giáo pháp không sợ chết ấy", thế là Piyola đã thuyết lại kinh Thiên Sứ theo những gì mình ghi nhớ được. Gã đã thuyết giảng đầy đủ về việc nếu chúng sanh tránh xa được các ác hạnh như sát sanh thì sẽ được sống an lạc. Vua rồng vô cùng tịnh tín và hoan hỷ, bèn tặng gã một viên ngọc quý Như Ý (Icchāsaya) rồi đưa gã trở về nhà.

### Hôm nay là người thiện, ngày mai thành bậc A-la-hán

Dựa vào viên ngọc quý đó, Piyola cùng vợ con đã làm rất nhiều công đức thiện sự. Không lâu sau, gã giao lại viên ngọc cho vợ con rồi đi xuất gia tại đại tự viện Tissamahāvihāra. Sau khi được nghe lại kinh Thiên Sứ một lần nữa và nỗ lực tu tập thiền quán, ngài đã chứng đắc quả vị A-la-hán.

Tin tức về thợ săn Piyola lan rộng khắp kinh đô Mahāgāma. Ở khắp mọi nơi, người ta đều bàn tán về câu chuyện của ngài rằng:

## PAGE 619

“Ngay cả tay thợ săn Piyoḷa tàn bạo, độc ác như thế mà còn có thể đắc quả A-la-hán, thật là điều kỳ diệu. Giáo pháp này nếu thực sự tu hành thì sẽ đạt được kết quả thật sự.” Những người khác lấy đó làm gương mẫu, nỗ lực tu tập, tăng trưởng pháp thiện.

### Vị trưởng lão khất thực ở làng Rūvaka Viṭṭhi giúp người đói có phước báu lớn

[**Madhu-48-Chuyện Chư Thiên Cây.**]

Tại đảo Sīhala (Sri Lanka), vào thời có nạn giặc cướp Brāhmaṇa Tissa tàn phá đất nước, cùng lúc đó nạn đói kém khủng nảy sinh, khắp hòn đảo người dân đều phải chịu cảnh đói khát và chết chóc.

Làng Rūvaka Viṭṭhi với khoảng năm trăm hộ gia đình, vốn là một ngôi làng có truyền thống bố thí không ngừng nghỉ, luôn cúng dường đến chư Tăng. Khi nạn đói xảy ra, không một ai có khả năng bố thí, ai nấy đều phải tìm mọi cách chỉ để duy trì mạng sống.

Ngay cả một nắm gạo nhỏ, họ cũng phải bọc vào vải, nghiền với nước nóng rồi đem phơi nắng cho khô. Để tránh bị trộm cướp, những miếng cơm khô đó được cho vào hũ rồi chôn xuống dưới đất. Họ chỉ pha với nước để uống cầm hơi qua ngày. Lúc bấy giờ, có một vị Tỳ-kheo đi vào làng khất thực theo hàng xứ, nhưng không một ai đặt bát cúng dường, vị ấy phải ra đi với bình bát trống không.

### Quả báu của bát cơm dám hy sinh dứt khoát

Nhìn thấy cảnh tượng đó, các thành viên trong một gia đình cảm thấy rất đau lòng. Mọi người trong nhà cùng nhau bàn bạc, hỏi ý kiến nhau xem có nên cúng dường hay không.

“Trước đây chúng ta ít làm phước bố thí nên mới gặp phải nạn đói khổ cực như thế này. Sở dĩ chúng ta còn sống đến giờ là nhờ chút gạo này. Nhưng sống nhờ vào chút gạo này mà phải chịu

## PAGE 620

cảnh khổ sở như thế này thì cũng vậy. Chúng ta không muốn chịu đựng, không muốn nghe thấy, nhìn thấy cảnh khổ này nữa. Cúng dường đến vị Ngài này rồi có chết đi thì vẫn tốt hơn.”

Tất cả gia đình đều đồng ý, họ vội vàng thỉnh vị Tỳ-kheo đang khất thực vào nhà, sắp xếp chỗ ngồi và nhanh chóng nấu cơm. Khi cơm chín, họ cúng dường hết cả nồi vào bình bát, rồi lòng đầy hoan hỷ với việc bố thí của mình, mặc cho bụng dạ đang đói cồn cào.

Sau khi cúng dường đến vị Ngài xong, khi lấy nồi cơm đi rửa, họ kinh ngạc thấy cơm gạo thơm như những nụ hoa nhài đầy ắp cả nồi, lòng họ tràn ngập niềm vui khôn xiết.

“Trong lúc khó khăn như thế này mà bố thí được như vậy, thật là có phước báu lớn lao, có thể thấy ngay lập tức,” nói đoạn, cả gia đình cùng nhau ăn uống vui vẻ. Lạ thay, cứ mỗi khi múc cơm ra thì cơm không hề vơi đi mà lại đầy trở lại như cũ, nên họ đã đem bố thí cho cả những nhà hàng xóm và toàn bộ dân làng. Gia đình đó có được một nồi cơm ăn mãi không hết cho đến trọn đời.

Chư Tăng bậc Thánh và chư Tăng phàm tăng đang thực hành để trở thành bậc Thánh chính là những vị tu tập **Giới**, **Định**, **Tuệ**, tự mình an lạc và cũng mang lại sự tiến hóa an lạc cho chúng sanh trong khắp thế gian.

### Chư thiên đói và ân đức của Tăng chúng

Vị Ngài sau khi nhận bát cơm, rời khỏi làng và dừng chân dưới gốc cây lớn bên bờ đập nước gần đó. Nơi đây có bóng mát và nước uống rất tốt, nên vị ấy ngồi xuống để thọ thực.

Vị Ngài thu thúc nhãn căn, bình thản thọ thực những vật thực trong bát với sự tỉnh giác về pháp. Lúc đó, vị đại thiên canh giữ cây thấy mình bị thiếu thốn vật thực, khi nhìn thấy vị Ngài thọ thực thì lòng đầy bứt rứt, bụng dạ xốn xang, không biết làm sao, chỉ biết đứng nhìn với cơn đói khát. Cuối cùng, vị thiên biến hóa thành một người già đi đến gần.

Vì vị Ngài đang thọ thực với **Sự tỉnh giác không phóng dật** nên không nhận thấy ngay, người già ấy bèn tằng hắng một tiếng. Vị Ngài quay lại nhìn, thấy người già có vẻ đói khát,

## PAGE 621

lúc này trong bát chỉ còn lại đúng một miếng cơm cuối cùng, vị ấy động lòng thương xót.

Vị ấy lấy miếng cơm còn lại đó đặt vào tay người già. Vị đại thiên trong hình dáng người già nhận lấy miếng cơm với đôi tay run rẩy vì đói khát, nhưng rồi bỗng lặng người đi, không thể ăn ngay được.

“Ôi... sao mình lại ra nông nỗi này, đã là thiên nhân mà lại không đủ vật thực, đến nỗi phải đi xin của vị Ngài này mà ăn. Trong quá khứ, mình đã không hề bố thí vật thực cho các bậc thiện trí, hay ngay cả với những người nghèo đói, chó, chim và các loài súc sinh, nên dù là thiên nhân mà vẫn phải chịu cảnh đói khát như thế này.”

Vị thiên canh cây cảm thấy đau buồn, hối hận đến mức miếng cơm đó nuốt không trôi. Nén lại cơn thèm ăn...

“Bạch Ngài... xin Ngài hãy xả hỷ, vì lòng bi mẫn cứu giúp con, xin hãy nhận lại miếng cơm này. Con xin cúng dường ngược lại cho Ngài. Xin cho quả báu phước thiện này có được ngay trong kiếp hiện tại này, và xin Ngài hãy tế độ cho con trong những kiếp vị lai.”

Nói xong, vị ấy đặt miếng cơm trở lại vào bát của vị Ngài. Ngay khi miếng cơm vừa rơi vào bát, lập tức tám bàn đầy ắp các loại thiên thực mỹ vị hiện ra.

Vị Ngài thọ miếng cơm do vị thiên cúng dường rồi trở về chùa.

Vị đại thiên canh cây sau khi nhìn theo vị Ngài đã thọ thực và đi khuất, quay lại cung điện của mình thấy tám bàn thiên thực thì lòng vui mừng khôn xiết.

“Ân đức của chư Tăng bậc trì giới, vốn là những mảnh ruộng tốt để gieo trồng các thiện hạnh, thật là vĩ đại. Thật may mắn cho ta khi được gặp vị Ngài này,” vị ấy cứ mãi suy xét và hoan hỷ về ân đức của Tăng chúng, đồng thời cũng cảm thấy hối hận vì trước đây đã không biết bố thí.

Kể từ đó, nhờ vào sự bố thí một miếng cơm này, vị thiên có được tám bàn thiên thực dùng mãi không hết, vị ấy dành trọn đời mình để cúng dường, tưởng nhớ và tịnh tín vào ân đức chuyển vận của Tam Bảo vậy.

## PAGE 622

Trong sách **Madhura Rasavāhinī**, có rất nhiều lời ca ngợi ân đức của Tăng-già. Trong sách **Sahassavatthu** (chuyện số 89), có câu chuyện mang tên "Rūvakaviṭṭhigāma-vatthu" nhưng nội dung không giống với câu chuyện sắp được trình bày ở đây. Thực chất, đó là "Jāyampatika-vatthu" trong sách **Madhura** (số 47). Câu chuyện này cũng xuất hiện trong sách **Madhura** (số 48) với tên gọi "Rukkha-devatā Vatthu".

## Trưởng lão Tissa Mahānāga chứng quả A-la-hán dưới bụng voi rừng

[58-**Madhura Rasavāhinī**, 91-**Sahassavatthu**]

Tại vùng Rohaṇa thuộc đảo Srilanka, có một ngôi đại tự viện tên là Kummiya. Tại ngôi chùa này, Trưởng lão **Tissa Mahānāga** cư ngụ với vai trò là vị trưởng tu viện, ngài chuyên tâm giảng dạy và truyền trao giáo pháp Pariyatti đến chư Tăng.

Tại một chân núi cách tu viện đó không xa lắm, có một hang động tên là **Amara**. Trong hang động ấy, có một vị Đại Trưởng lão tên là **Tissa**, bậc Thánh đã chứng đắc các tuệ phân tích (paṭisambhidā-patta), đang cư ngụ. Một ngày nọ, Trưởng lão **Tissa Mahānāga** đã đến hang động **Amara** để đảnh lễ vị Đại Trưởng lão. Sau khi trao đổi những lời hỏi thăm xã giao, Đại Trưởng lão đã thuyết giảng những lời giáo huấn liên quan đến Pháp (Dhamma).

### Có giới hạnh, thoát hiểm nguy, sở nguyện thành

"Này hiền giả **Nāga**... sinh quán của phàm phu là không định trước. Một vị Sa-môn xuất gia bằng đức tin, nếu chỉ đảm đương Phật sự giáo pháp Pariyatti, học tập và giảng dạy phiến diện mà phải đối mặt với cái chết của kẻ phàm phu, thì thật là điều không xứng đáng chút nào. Bậc tu hành cần phải:

1. Trước hết, cần phải giữ gìn trọn vẹn các học giới trong Giới bổn Pātimokkha, được gọi là **Pātimokkha-saṃvara-sīla** (Giới bổn thanh tịnh giới) như đã dạy trong Luật tạng Pariyatti, sống một cách trong sạch không tỳ vết.

Cũng không được lơ là các phận sự được gọi là **Ācara-sampanna** (Tế hạnh đầy đủ) như phận sự tại sân bảo tháp (cetiyagaṇa-vatta), phận sự tại cội Bồ-đề (bodhiyaṅgaṇa-vatta), phận sự đối với thầy tế độ và thầy dạy đạo.

## PAGE 623

2. Tiếp theo, cần phải thu thúc sáu căn phát sinh từ mắt, tai, mũi, v.v... bằng chánh niệm, được gọi là **Indriya-saṃvara-sīla** (Lục căn thu thúc giới).

3. Phải tránh xa 21 loại tà mạng như phá hỏng đức tin của hàng cư sĩ (kula-dūsana) hay các cách nuôi mạng không chân chánh (anesana), tức là các cách tìm kiếm lợi lộc và nuôi mạng không phù hợp với bậc tu hành, được gọi là **Ājīvavāpārisuddhi-sīla** (Nuôi mạng thanh tịnh giới).

4. Mỗi khi sử dụng tứ vật dụng gồm vật thực khất thực, y phục, trú xứ và dược phẩm trị bệnh, cần phải quán tưởng (paccavekkhaṇā) rồi mới sử dụng, được gọi là **Paccayasannissita-sīla** (Vật dụng y chỉ giới).

"Khi đã đầy đủ các loại giới hạnh này, tức là đã đạt được **Sīla-visuddhi** (Giới thanh tịnh), đó chính là nền tảng vững chắc để dễ dàng chứng đắc Đạo, Quả và Niết Bàn. Khi giới hạnh được trọn vẹn, người đó sẽ thành tựu mọi hạnh phúc của cõi người, cõi trời như ý muốn và có thể dễ dàng đạt đến hạnh phúc tối thượng là Niết Bàn.

1. **Sīlavantaṃ na bādhenti, āsavā diṭṭhadhammikā. Samparāyikā dukkhānaṃ, mūlaṃ khaṇati sīlavā.**
2. **Yā manussesu sampatti, yā ca devesu sampadā. Na sā sampannasīlassa, icchito hoti dullabhā.**

"Những hiểm nguy và khổ lụy gặp phải ở kiếp này hay trong luân hồi saṃsāra đều phát sinh từ căn nguyên là các lậu hoặc phiền não (kilesa-āsava). Đối với những bậc trì giới và giữ giới trang nghiêm, vì họ là những người đang đoạn trừ các phiền não này, nên nguyên nhân gây khổ bị triệt tiêu, không còn bất kỳ hiểm nguy hay chướng ngại nào có thể phát sinh và quấy nhiễu họ nữa.

Nếu giới hạnh đầy đủ, thì những phúc lạc của cõi người, cõi trời và Niết Bàn không có gì là không thể đạt được, này hiền giả!

Do đó, sau khi đã an trú trên nền tảng giới hạnh của bậc tu hành này, hiền giả nên nỗ lực thực hành pháp **Satipaṭṭhāna** (Tứ Niệm Xứ) — con đường duy nhất mà chư Phật và các bậc Thánh nhân đều đã đi qua. Hiền giả đã đảm đương gánh nặng giáo pháp Pariyatti, hộ trì Tăng chúng và giảng dạy trong một thời gian dài rồi. Đã đến lúc hiền giả cần nỗ lực vì lợi ích và sự giải thoát của chính mình."

## PAGE 624

### Trú mưa dưới bụng voi rừng

Trưởng lão **Tissa Mahānāga** sau khi cung kính lắng nghe và ghi nhớ giáo pháp từ Đại Trưởng lão **Tissa**, ngài liền từ biệt để trở về chùa. Suốt dọc đường đi xuyên qua khu rừng lớn, ngài liên tục tu tập tâm từ (mettā-bhāvanā), và đặc biệt là chú tâm thực hành Tứ Niệm Xứ trong từng bước chân. Đang lúc đi như vậy, ngài bất ngờ chạm mặt với một con voi rừng hung dữ đang trong cơn động đực.

Vì con đường mòn quá chật hẹp nên ngài không thể tránh đi đâu được. Ban đầu, con voi rừng đứng nhìn ngài với vẻ hung hãn, nhưng nhờ vào tâm từ của vị Trưởng lão, chẳng bao lâu sau cơn hung dữ của nó dịu xuống. Ngay lúc đó, mây đen từ bốn phương bỗng kéo đến bao phủ sầm sập, sấm sét vang rền và một trận mưa lớn đổ xuống xối xả.

Con voi lớn vẫn đứng chắn ngang con đường hẹp, Trưởng lão không còn cách nào khác bèn tiến lại gần và đứng trú mưa dưới bụng của con voi rừng ấy. Con voi rừng đứng yên bất động, che chở cho ngài khỏi trận mưa dữ dội. Khi cơn mưa càng lúc càng nặng hạt, vị Trưởng lão càng dồn hết tâm lực và nghị lực để thực hành thiền Tứ Niệm Xứ.

### Mưa hoa rơi xuống và hương thơm lan tỏa

Vì Trưởng lão **Tissa Mahānāga** vốn là người đã đầy đủ giới hạnh và thông suốt giáo lý Pariyatti, nên chẳng bao lâu sau, ngài đã chứng ngộ Niết Bàn bằng **Sotāpatti-maggañāṇa** (Dự Lưu Đạo Tuệ).

Ngay khoảnh khắc đó, cả vùng núi rừng xung quanh bỗng rung chuyển dữ dội, một trận đại địa chấn xảy ra khiến vạn vật đều chấn động. Dù mưa vẫn đang rơi xối xả, vị Trưởng lão vẫn tiếp tục nỗ lực thực hành Tứ Niệm Xứ cho đến khi đạt được mục tiêu tối hậu. Con voi rừng vẫn đứng yên không nhúc nhích, bảo vệ ngài khỏi sự tàn phá của cơn mưa lớn.

## PAGE 625

Mưa dần dần tạnh. Ngay khi mưa vừa dứt, khắp vùng rừng núi xung quanh đồng loạt rung chuyển bởi một trận đại chấn động. Cùng với cơn địa chấn, từ khắp tầng không, các loài hoa bạt ngàn được rải xuống, tạo thành một cơn mưa hoa lớn vây phủ. Chư thiên nơi rừng núi thảy đều hoan hỷ, đồng thanh vang lời lành thay.

Sau khi mưa hoa trút xuống không lâu, các vị rồng (nāga) trú ngụ nơi đất này đã dâng cúng lên bậc A-la-hán Tissa Mahā-nāga bằng cách tỏa ra các loại hương thơm, hương khói ngào ngạt khắp cả khu rừng.

### Voi già hộ độ ba mươi năm qua đời

Trưởng lão Tissa Mahā-nāga sau khi đắc quả A-la-hán ngay lúc trú mưa dưới bụng voi rừng, Ngài đã thuyết bài pháp đầu tiên cho thuyên và chư thiên canh giữ rừng núi. Sau khi thuyết pháp, Ngài lên đường đến chùa Piyolaka, con voi cũng bám sát theo sau từng bước không rời.

Trưởng lão trú ngụ tại chùa Piyolaka suốt ba mươi năm ròng, và con voi cũng ở đó suốt ba mươi năm thực hiện các phận sự lớn nhỏ để hộ độ Ngài.

Khi Trưởng lão nhập Niết-bàn, dân chúng đã đặt nhục thân Ngài lên xe rước lầu tháp để cúng dường, rồi đưa về chùa Kuṭappiya và tổ chức đại lễ trà tỳ long trọng suốt bảy ngày.

Con voi cũng đi theo sau xe tang, lẫn trong dòng người đông đúc để đến chùa Kurampiya. Nó bẻ những nhành hoa để dâng cúng. Sau khi lễ hỏa táng kết thúc, nó trở về chùa Piyolaka, rồi qua đời và tái sanh làm thiên tử trên cõi trời Đao-lợi.

Đến đây là hoàn mãn.

**Nguyện thành duyên lành cho Niết-bàn**

**Htay Hlaing**

Ngày rằm tháng Tư (Waso), ngày Pháp Luân, năm 1341.

## PAGE 626

Tin Tun Kyaw

## Phần phụ lục cần ghi nhớ

Những gì nhà sư Trung Hoa Pháp Hiển (Fa-hian) đã tận mắt chứng kiến tại đảo quốc Srilanka: Lễ tang của bậc A-la-hán và những bậc phi thường (Phật lịch 954-956). Sự truyền thừa giáo pháp đến đảo Srilanka và việc làm sáng tỏ các dị thuyết xâm nhập vào Thượng tọa bộ (Theravāda).

Tóm tắt lịch sử hành trình qua các thành bang, làng mạc, chùa chiền và bảo tháp nổi tiếng tại đảo quốc Srilanka.

## PAGE 627

## Phụ lục (A)

### Chứng kiến của nhà sư Trung Hoa Pháp Hiển

Lễ tang bậc A-la-hán tại đảo Srilanka, các bậc phi thường, Bảo tháp Dấu chân Phật và đại tự Abhayagiri.

Tại vị trí dấu chân Phật ở phía Bắc kinh thành, người ta đã xây dựng một bảo tháp lớn cao 400 feet, được trang hoàng lộng lẫy bằng vàng bạc và vô số loại châu báu quý giá vô ngần để thờ phụng.

Bên cạnh bảo tháp đó, đại tu viện mang tên "Abhayagiri" cũng được xây dựng và dâng cúng. Hiện nay, có khoảng 5.000 vị Tỳ-kheo đang cư ngụ và tu tập tại tu viện này.

### Pho tượng bằng ngọc bích

Có một ngôi đại điện thờ Phật được tạo tác tinh xảo bằng vàng bạc và nhiều loại trân bảo quý giá. Trong ngôi đại điện đó thờ một pho tượng Phật bằng ngọc bích cao hơn 20 feet.

Pho tượng cùng với ngôi đại điện tỏa ánh sáng lấp lánh của bảy loại châu báu, làm cho hoa tịnh tín của những người đến chiêm bái được nở rộ và tăng trưởng mạnh mẽ. Diện mạo của pho tượng toát lên vẻ oai nghiêm, phúc hậu và thánh thiện đến mức dù có dùng lời nói tán dương bao nhiêu lần đi nữa cũng chỉ thấy mệt mỏi chứ không thể diễn tả hết được. Trên lòng bàn tay phải của pho tượng có đặt một viên ngọc trai vô cùng quý giá.

## PAGE 628

**Cây Đại Bồ-đề**

Vào thời xa xưa, một vị vua trị vì hòn đảo Srilanka này đã cử một sứ giả đi thỉnh hạt giống của cây **Đại Bồ-đề**, nơi Đức Thế Tôn đã thành đạo. Sau khi mang về và trồng bên cạnh ngôi đại tự, cây Bồ-đề đã phát triển cao đến 200 bộ (feet).

Khi cây Bồ-đề có xu hướng nghiêng về phía đông nam, nhà vua lo sợ cây sẽ bị đổ nên đã dùng những cột gỗ lớn có chu vi khoảng tám ngàn chín sải tay để chống đỡ và bảo vệ cây.

Từ chỗ những cột chống ấy, rễ cây đâm ra, xuyên thấu qua lớp gỗ và lớn dần lên khoảng 4 gang tay rồi cắm xuống đất, bám rễ vững chắc. Dù dọc theo cột gỗ có những vết nứt, nhưng vì rễ Bồ-đề đã quấn quanh bao bọc nên người ta không dỡ bỏ những cột đó. Tại gốc cây Bồ-đề, một tòa bảo tháp lớn đã được xây dựng. Bên trong tòa bảo tháp này tôn trí một bức tượng Phật trong tư thế kiết già, nơi hàng thiện tín, chư Tăng và người dân thường xuyên đến chiêm bái và cúng dường.

**Răng Vuốt Thánh (Xá-lợi Răng Phật)**

Trên hòn đảo này, một ngôi bảo điện vĩ đại cũng được xây dựng để tôn thờ và lưu giữ Xá-lợi Răng của Đức Thế Tôn. Hai công trình nêu trên tỏa ra ánh sáng rực rỡ của bảy loại báu vật, trông vô cùng lộng lẫy và uy nghiêm.

**Các buổi thuyết Pháp trên đường vào mỗi ngày Uposatha**

Đức vua luôn chân chánh thực hành và gìn giữ bốn pháp **Tâm Từ (Bốn Phạm hạnh)**, đồng thời luôn khuyến khích thần dân trong nước hướng tâm tịnh tín, nương nhờ vào giáo pháp cao quý của Tam Bảo.

## PAGE 629

Kể từ khi hòn đảo Srilanka này được cai trị bởi những bậc minh quân đầy đủ mười đức tính của bậc vương giả (Thập vương pháp), xứ sở này đã thoát khỏi nạn đói (họa đói kém), cũng như thoát khỏi nạn đao binh (họa chinh chiến, giết chóc).

Trong kho tàng thuộc về chư Tăng cũng lưu giữ rất nhiều châu báu, hồng ngọc quý giá cùng vô số ngọc trai vô giá.

Trên hòn đảo lớn này có rất nhiều bậc danh gia vọng tộc có lòng tịnh tín sâu sắc vào Phật giáo. Tư gia của các vị đại thương buôn cũng vô cùng nguy nga, đồ sộ. Các tuyến đường lớn nhỏ khắp nơi đều được tu sửa, giữ gìn bằng phẳng và sạch đẹp.

Hàng tháng, vào các ngày mùng tám, ngày rằm và ngày ba mươi (hoặc hai mươi chín), các giảng đường đã được xây dựng tại khắp các ngả tư đường để tổ chức các buổi thuyết Pháp. Chư Tăng và thiện tín từ khắp bốn phương đều vân tập về đây để lắng nghe và ghi nhớ giáo pháp.

Người dân trên đảo cho biết số lượng chư Tăng đang cư ngụ và tu học tại Srilanka có khoảng hơn 5.000 đến 6.000 vị. Các vị Tỳ-kheo này thực hành hạnh **khất thực** giữa hàng thiện tín để duy trì sự sống theo pháp **vật thực thích đáng**.

Đức vua cũng dành riêng những khu vực cư trú cho khoảng hơn 5.000 đến 6.000 người nghèo khổ và những người hành khất trong vương quốc. Những người hành khất cần thức ăn sẽ mang bát của mình đến đó và họ nhận được rất nhiều thực phẩm theo khả năng đáp ứng của triều đình.

**Đại lễ rước Xá-lợi Răng Phật**

Xá-lợi Răng của Đức Thế Tôn thường xuyên được rước đi cúng dường vào ngày rằm tháng Ba (tháng Nayon). Mười ngày trước khi rước Xá-lợi Răng, đức vua cho trang hoàng lộng lẫy một con voi trắng quý tộc. Một người đàn ông có giọng nói vang rền, truyền cảm, mặc y phục cung đình, cưỡi trên con voi lớn và đánh trống vang dội để thông báo cho toàn thành phố chuẩn bị nghi lễ cúng dường. (Nghi lễ rước Xá-lợi do chùa Abhayagiri chủ trì được mô tả chi tiết).

## PAGE 630

**Tự viện Bhaddarika và sự mầu nhiệm của Ngài Dhammagutta**

Cách chùa Abhayagiri khoảng 40 lý về phía đông là đại tự viện mang tên **Bhaddarika**, nơi có khoảng 2.000 vị Tỳ-kheo cư ngụ, và một ngọn núi liên quan đến Phật giáo gọi là **Mahītale**.

Trong số chư Tăng tại tự viện Bhaddarika, Ngài Trưởng lão **Dhammagutta** được đông đảo thiện tín và dân chúng đặc biệt kính trọng, lễ bái với lòng tịnh tín sâu sắc. Vị Trưởng lão này đã trú ngụ trong một hang đá suốt hơn bốn mươi năm và—

chuyên tâm thực hành **đề mục thiền Từ**. Nhờ oai lực từ tâm và thần thông của ngài Dhammagutta, ngay cả những loài vật vốn là kẻ thù tự nhiên như rắn và ếch cũng không hề làm hại nhau, mà trái lại còn có thể chung sống hòa bình trong cùng một hang động.

**Đại tự viện Mahāvihāra**

Cách kinh thành 7 lý về phía nam là đại tự viện **Mahāvihāra**, nơi có 3.000 vị Tỳ-kheo luôn thường trú.

Trong số đó, có một vị Tỳ-kheo luôn giữ gìn các **học giới luật** đã được Đức Thế Tôn ban truyền một cách trọn vẹn, không để đứt đoạn hay hoen ố. Vì giới hạnh của vị Trưởng lão ấy vô cùng thanh tịnh và trắng bạch như bông, nên tất cả những ai chiêm bái đều khởi lòng tịnh tín, tin rằng ngài là bậc **A-la-hán** đã đoạn tận lậu hoặc và thoát khỏi vòng luân hồi.

## PAGE 631

Khi vị Đại đức sắp sửa bước vào cuộc hành trình cuối cùng của cuộc đời là sự tan rã của ngũ uẩn, chính Đức vua đã đích thân đến để vấn tin xem Ngài đã thật sự là bậc A-la-hán, bậc đã đoạn tận các lậu hoặc hay chưa. Sau khi cung thỉnh đông đảo chư Tăng tụ họp, Đức vua đã cung kính hỏi rằng: "Bạch chư Đại đức, vị Đại trưởng lão này đã trở thành bậc A-la-hán, bậc đã tận trừ lậu hoặc rồi phải không?". Ngay lập tức, chư Tăng đã dùng những lời chân thật để khẳng định rằng vị ấy chính là một bậc A-la-hán.

Khi bậc Thánh A-la-hán ấy xả báo thân, chứng đắc Niết Bàn tịch tịnh, Đức vua đã tổ chức lễ trà tỳ theo đúng những nghi thức và luật định ghi chép trong giáo điển vốn chỉ dành riêng cho các bậc A-la-hán, đó là đại lễ cúng dường Mahākīḷana.

### Trà tỳ nhục thân của bậc A-la-hán

Tại một địa điểm cách chùa Mahāvihāra khoảng bốn đến năm dặm về phía Đông, người ta đã dựng một giàn hỏa thiêu lớn với diện tích mỗi bề hơn 30 bộ và chiều cao gần 30 bộ. Ở phía trên, người ta đặt các loại gỗ quý có hương thơm ngào ngạt như trầm hương, và ở bốn mặt đều có làm các bậc thang đi lên.

Giàn hỏa thiêu được bao phủ và che chắn xung quanh bằng những tấm vải trắng tinh khôi quý giá của vùng Kashmir. Phía trên đỉnh, người ta đặt một cỗ xe có hình dáng tương tự như xe tang của người Trung Hoa nhưng không có hình rồng.

Vào thời điểm diễn ra lễ trà tỳ, Đức vua cùng với đông đảo tùy tùng và dân chúng từ khắp bốn phương tụ hội về, tay cầm hoa và hương liệu, đi theo sau cỗ xe để cúng dường cho đến tận nơi hỏa thiêu.

Chính Đức vua cũng đích thân cầm hoa và hương liệu để đi theo cúng dường. Sau khi các nghi thức cúng dường hoàn tất, nhục thân của Ngài được đưa lên giàn hỏa, rưới nước thơm và dầu thơm rồi mới bắt đầu hỏa thiêu.

## PAGE 632

Trong khi ngọn lửa đang bùng cháy, rất nhiều người vì lòng tôn kính và tịnh tín đối với bậc Thánh vừa nhập Niết Bàn, đã cởi bỏ những đồ trang sức và y phục lớp trên của mình, rồi cùng với quạt lông công, lọng trắng ném vào đống lửa để cúng dường.

Sau khi lễ trà tỳ hoàn tất, những phần Xá lợi xương còn sót lại đã được tôn trí và xây dựng một ngôi bảo tháp để thờ phượng và chiêm bái. Tuy ngài Pháp Hiển không đến kịp lúc vị Đại đức ấy còn sinh tiền, nhưng ngài đã hiện diện đúng vào lúc đại lễ Trà tỳ đang diễn ra.

### Đức vua Sri Lanka ủng hộ giáo pháp

Đức vua của xứ sở này vì lòng tịnh tín sâu sắc và trân trọng đối với Phật giáo, đã mong muốn thành lập một tu viện mới cho chư Tăng trú ngụ. Ngài đã cung thỉnh rất nhiều vị Tỳ-kheo và tổ chức một buổi đại hội. Sau khi dâng cúng các loại vật thực thượng vị và các vật dụng dâng cúng khác lên chư Tăng, Đức vua đã chọn ra một đôi bò đực lớn có cặp sừng được trang trí đẹp đẽ bằng vàng bạc và đá quý. Ngài cho lắp cái cày có lưỡi cày bằng vàng vào, rồi đích thân ngài đi quanh một khu đất theo bốn hướng để cày và xác định ranh giới.

Toàn bộ khu đất đã được xác định ranh giới này, cùng với tất cả dân cư, ruộng vườn và nhà cửa bên trên, đều được Đức vua phát nguyện cúng dường làm tài sản của giáo hội cho chư Tăng sử dụng lâu dài qua nhiều thế hệ. Ngài đã cho viết sắc lệnh chính thức để đảm bảo rằng sau này không một ai có quyền thu hồi hay hủy bỏ việc cúng dường này. Do đó, khu đất thuộc về giáo sản này không ai có thể xâm phạm hay di dời được.

## PAGE 633

Đây là đoạn trích từ cuốn nhật ký của Ngài Pháp Hiển. Ngài Pháp Hiển đã từ Ấn Độ sang và lưu trú tại chùa Abhayagiri, Sri Lanka trong hai năm (vào khoảng năm Phật lịch 954-956).

## PHỤ LỤC (B)

[Giải thích về việc giáo pháp truyền đến đảo đảo Sri Lanka và các giáo phái chia rẽ du nhập vào dòng truyền thừa Theravāda]

### Ngài Mahinda truyền giáo sang Sri Lanka

Đại đức Moggaliputta Tissa đã lựa chọn và cử chín vị Đại trưởng lão làm lãnh đạo các đoàn truyền giáo đi đến chín quốc độ vùng biên địa để thiết lập nền tảng giáo pháp.

Trong số đó, tám vị Đại đức đã đi đến các địa phương được chỉ định và thiết lập Phật giáo tại đó. Riêng Ngài Mahinda vào năm Phật lịch 236 đã từ Diêm-phù-đề (Ấn Độ) khởi hành sang đảo Sri Lanka. Tại đây, Ngài đã làm cho Đức vua Devānampiya Tissa cùng đông đảo dân chúng trên đảo phát tâm tịnh tín và thiết lập vững chắc giáo pháp của Đức Phật.

Ngài đã thọ nhận ngự uyển Mahāmeghavana do Đức vua dâng cúng, và tại khu vườn đó, Ngài đã cho xây dựng một đại tu viện của Tăng-già gọi là Mahāvihāra.

Từ thời điểm đó, Phật giáo tại đảo Sri Lanka, trải dài cho đến triều đại của Đức vua Vaṭṭagāmaṇi, vẫn giữ được sự thanh tịnh, không bị pha tạp bởi các quan điểm của các bộ phái khác và đã tỏa sáng rực rỡ.

Tuy nhiên, bắt đầu từ triều đại vua Vaṭṭagāmaṇi, các tà thuyết của các bộ phái khác đã bắt đầu xâm nhập vào đảo Sri Lanka. Khi ấy, các bậc Đại trưởng lão thuộc dòng truyền thừa Theravāda thanh tịnh đã dùng sự tinh tấn lớn lao để giữ gìn Pháp và Luật cổ xưa một cách nguyên vẹn, không để cho chúng bị pha tạp hay vẩn đục bởi quan điểm của các phái khác. Cụ thể như sau:

## PAGE 634

### Sự hình thành phái Abhayagirivāsī

Đức vua **Vaṭṭagāmaṇi** lên ngôi vào năm 440 Phật lịch. Sau khi trị vì được 5 tháng, Ngài bị một tướng cướp tên là Brāhmaṇatissa và bảy vị tướng **Damiḷa** tấn công, đánh phá. Thất bại trong trận chiến, đức vua phải tháo chạy và sống ẩn dật dưới danh phận không hiển lộ trong suốt hơn 14 năm.

Khi ấy, tại đảo quốc Sri Lanka, do dân chúng bị áp bức bởi nạn trộm cướp, loạn lạc và cả nạn đói kém nên không còn đủ khả năng hộ độ tứ sự đến chư vị Tỳ-kheo. Vì thế, phần lớn chư Tăng từ Sri Lanka đã sang đảo **Jambudīpa** (Ấn Độ) và trú ngụ tại đó, nỗ lực trì tụng thuộc lòng **Dhamma-Vinaya**.

Những vị Trưởng lão còn ở lại đảo quốc Sri Lanka thì sống đạm bạc bằng các loại củ, quả, rễ và lá cây tìm được. Khi cơ thể còn đủ sức, các Ngài ngồi trì tụng, ôn lại giáo pháp **Pariyatti**. Khi sức lực suy kiệt, các Ngài gom cát lại thành đống, quây quần xung quanh, kề đầu vào nhau tại một điểm để dốc hết tâm lực thẩm thấu, suy xét giáo pháp **Pariyatti**. Bằng cách này, trong suốt 12 năm ròng rã, các Ngài đã duy trì được ba tạng **Piṭaka** cùng các bản chú giải trong trí nhớ mà không hề khiếm khuyết.

Vào thời điểm đức vua **Vaṭṭagāmaṇi** dẹp tan quân **Damiḷa** và tái thống trị (khoảng năm 455-466 Phật lịch), chư vị Trưởng lão ở lại Sri Lanka đã cùng với các vị từ **Jambudīpa** trở về tiến hành đối chiếu, hiệu đính ba tạng **Piṭaka**. Kết quả cho thấy không có một sự sai khác hay biến đổi nào, dù chỉ là một mặt chữ.

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, chỉ có duy nhất một vị Tỳ-kheo du-sĩ (dussīla) là còn thuộc lòng tạng **Mahāniddesa**. Vị Trưởng lão **Mahātipitaka** đã yêu cầu Trưởng lão **Mahārakkhita** đến học tạng này từ vị Tỳ-kheo đó để lưu giữ và bảo tồn.

Như đã trình bày, dù trong thời kỳ gian nan do đói kém và loạn lạc, việc trì tụng thuộc lòng vô cùng khó khăn,

## PAGE 635

nhưng **Dhamma-Vinaya** – tức ba tạng **Piṭaka** – vẫn được lưu truyền một cách cung kính.

Sau khi xây dựng tu viện mang tên **Abhayagiri**, đức vua **Vaṭṭagāmaṇi** đã dâng cúng đến Trưởng lão **Mahātissa**, vị đã từng nuôi dưỡng và hộ độ đức vua trong thời gian Ngài sống ẩn dật.

Vì vị Trưởng lão này thường xuyên giao du thân mật với các gia chủ nên chư Tăng tại **Mahāvihārawāsī** đã thực hiện **pabbājanīyakamma** (nghi thức tống xuất) đối với vị ấy. Khi đó, người đệ tử của vị ấy là Trưởng lão **Bahalamassutissa** đã đứng ra phản đối nghiệp sự này. Do đó, vị này cũng bị Tăng chúng thực hiện **ukkhepanīyakamma** (nghi thức loại thông) và tẩy chay. Trưởng lão **Bahalamassutissa** đem lòng phẫn nộ chư Tăng **Mahāvihārawāsī**, bèn đến tu viện **Abhayagiri**, hợp cùng Trưởng lão **Mahātissa** thiết lập một tông phái riêng biệt.

Hai vị Trưởng lão này đã không bao giờ quay trở lại tông phái **Mahāvihāra** nữa. Kể từ đó, tại Sri Lanka chia làm hai phái là **Mahāvihārawāsī** và **Abhayagirivāsī**. Việc chia rẽ thành hai phái này là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến sự suy thoái của giáo pháp tại Sri Lanka.

### Sự hình thành phái Dhammaruci

Vào thời điểm đó, đức vua **Vaṭṭagāmaṇi** đặc biệt tịnh tín nơi chư Tăng phái **Abhayagirivāsī**, Ngài thường xuyên thỉnh mời và hộ độ họ bằng tứ vật dụng.

Các vị đại thần của đức vua và đông đảo dân chúng tiếng tăm cũng xây dựng nhiều tu viện tại **Abhayagiri** cũng như những nơi khác để dâng cúng đến chư Tăng phái **Abhayagirivāsī**. Theo cách đó, chư Tăng phái **Abhayagirivāsī** trở nên hiển hách, nhận được sự cung kính, cúng dường và tôn trọng từ rất nhiều người danh tiếng.

## PAGE 636

Hơn nữa, các vị Tỳ-kheo phái **Abhayagirivāsī** như Trưởng lão **Bahalamassutissa** còn tiếp nhận và giảng dạy một hệ thống Tam Tạng mới lạ bằng tiếng Sanskrit. Đây là **Dhamma-Vinaya** của phái **Dhammaruci**, một nhánh thuộc phái **Vajjiputtaka** được đưa sang từ Ấn Độ. Vì lý do đó, những vị thuộc phái **Abhayagirivāsī** này cũng được gọi là người thuộc phái **Dhammaruci**.

Đây là nguyên nhân thứ hai dẫn đến sự suy thoái giáo pháp tại Sri Lanka.

### Việc ghi chép Ba Tạng lên lá buông

Về phần chư vị Trưởng lão phái **Mahāvihārawāsī**, các Ngài chỉ chấp nhận và giảng dạy hệ thống Tam Tạng cổ xưa, vốn đã được thiết lập vững chắc và thanh tịnh hoàn toàn bằng ngôn ngữ Pali. Hệ thống này vẫn được lưu truyền thông qua hình thức trì tụng thuộc lòng.

Tuy nhiên, chư vị Trưởng lão thời bấy giờ nhận thấy rằng trí nhớ và trí tuệ của hậu thế sẽ dần suy giảm. Do đó, các Ngài đã nỗ lực ghi chép ba tạng **Piṭaka** cùng các bản chú giải – vốn được lưu truyền bằng miệng từ thời đức Phật cho đến lúc bấy giờ – lên lá buông (lá bối).

Trong quá trình thực hiện, chư Trưởng lão phái **Mahāvihārawāsī** đã đến an cư tại hang động **Āloka**, gần thành phố Mātula thuộc vùng Malayajanapada, cách kinh thành Anurādhapura 68 dặm. Nhờ sự bảo trợ của vị thủ lĩnh địa phương đó, các Ngài đã hoàn thành việc khắc chữ lên lá buông.

Có thuyết nói rằng: "Khi ấy, chư vị Trưởng lão phái **Mahāvihārawāsī** không nhận được sự hỗ trợ từ đức vua hay các đại thần, mà chỉ bằng chính năng lực của mình để thực hiện việc ghi chép ba tạng **Piṭaka** lên lá buông".

Cũng có thuyết nói rằng: "Việc khắc chữ lên lá buông được thực hiện không chỉ vì tiên liệu sự suy giảm trí tuệ của hậu thế, mà còn vì các Ngài nhận thấy sự khó khăn trong việc trì tụng thuộc lòng giữa những thời kỳ loạn lạc, đói kém và đất nước bị tàn phá". Tương tự như vậy—

## PAGE 637

“Vì mục đích để những tà thuyết mà các thành viên nhóm **Abhayagiri** đang tiếp nhận, giảng dạy và truyền bá không bị trộn lẫn hay làm xáo trộn giáo pháp, các bậc tiền nhân cũng đã có ý nguyện ghi chép lại tâm điểm của giáo lý lên lá buối”. Những điểm cốt yếu này cần phải được thấu hiểu và ghi nhớ kỹ lưỡng.

Đúng như đã trình bày, các vị trưởng lão trú ngụ tại **Mahāvihāra**, vì lợi ích của việc giữ cho **Thế Tôn Khế Kinh** (Theravāda Piṭaka) vốn dĩ đã hằng thanh tịnh không bị pha tạp bởi các quan điểm ngoại lai, nên vẫn tiếp tục gìn giữ và bảo hộ giáo pháp bằng cách ghi chép lên lá buối bằng ngôn ngữ Pāḷi như truyền thống từ xưa.

Nếu vào thời điểm đó, Tam Tạng giáo điển không được ghi lại trên lá buối, thì ở các thời đại sau này, khi gặp phải những bài kinh có nguồn gốc từ ngoại đạo, thật khó mà loại bỏ chúng với lập luận rằng: “Những bài kinh này không thuộc về Tam Tạng của chúng ta”.

Thật vậy, nhờ việc Tam Tạng cùng với các Chú giải đã được lưu lại trên lá buối vào thời ấy, nên ở tương lai, việc đối chiếu với những bản kinh chép tay đó để loại bỏ các tà thuyết từ bên ngoài trở nên dễ dàng hơn.

Để minh họa cho sự thuận lợi này, trong khoảng năm Phật lịch 524 đến 552, dưới triều vua Bhātiya, đã xảy ra sự tranh chấp về **Luật tạng** (Vinaya) giữa các vị trưởng lão phái **Abhayagiri** và phái **Mahāvihāra**. Khi đó, vua Bhātiya đã cử một vị đại thần tên là Dīghakārāyana, thuộc dòng dõi Bà-la-môn, đến gặp các vị trưởng lão. Vị đại thần này sau khi lắng nghe phần trình bày kinh luật của cả hai bên đã đưa ra phán quyết cuối cùng.

Ngoài ra, trong thời vua Vohārika Tissa (Phật lịch 758–780) cũng như thời vua Goṭhābhaya (Phật lịch 797–818), các vị trưởng lão Thượng tọa bộ đã đối chiếu với Tam Tạng **Pháp và Luật** (Dhamma-Vinaya) được chép trên lá buối để loại bỏ các tà thuyết phi tịnh pháp (adhamma-vāda) sai lầm.

### Sự phát sinh của tà thuyết phi tịnh pháp

Đây là lời trình bày từ nguồn gốc ban đầu về cách thức nảy sinh các tà thuyết phi tịnh pháp vốn là những vết nhơ của Giáo pháp.

Dưới thời đại vương Sīri Dhamma-Asoka, những tu sĩ ngoại đạo bị buộc hoàn tục và trục xuất, vì không còn chỗ dung thân trong Phật pháp nên đã

## PAGE 638

sinh lòng oán hận, rời khỏi kinh đô Pāṭaliputta và tập trung tại thành Nālandā gần thành Rājagaha. Tại đây, họ đã bàn bạc rằng:

“Để dân chúng không còn tin kính và quy hướng theo Phật pháp, chúng ta phải phá hủy Pháp và Luật của các tu sĩ dòng họ Thích Ca. Nhưng nếu không hiểu rõ học thuyết của họ thì không thể phá hoại được. Do đó, bằng bất cứ cách nào, chúng ta phải thâm nhập trở lại vào Giáo pháp để xuất gia thành tu sĩ.”

Sau khi bàn tính như vậy, họ quay trở lại nhưng vì không thể thâm nhập vào hàng ngũ của các vị Tỳ-kheo Thượng tọa bộ thanh tịnh, nên họ đã tìm đến nương tựa nơi 17 bộ phái khác như **Mahāsaṅghika** (Đại Chúng bộ). Họ che giấu thân phận ngoại đạo để xuất gia, học tập Tam Tạng, rồi sau đó bóp méo nội dung Tam Tạng này. Tiếp đến, họ đi đến thành Kosambī, cùng nhau bàn mưu tính kế để phá hoại **Pháp và Luật**. Vào năm Phật lịch 253, họ cư ngụ tại 6 địa điểm và thành lập 9 bộ phái mới gồm:

1. Phái **Hemavatika**
2. Phái **Rājagirika**
3. Phái **Siddhatthika**
4. Phái **Pubbaseliya**
5. Phái **Aparaseliya**
6. Phái **Vājiriya**
7. Phái **Vetu**
8. Phái **Adhika**
9. Phái **Aññamahāsaṅghika**

Tên gọi và tôn chỉ của các bộ phái này đã được trình bày rõ trong Chú giải bộ **Kathāvatthu** (Ngữ tông). (Tại đây, ngài Đại trưởng lão có dẫn chứng các bộ kinh của các tông phái khác như **Vaṇṇa-piṭaka**). Có thể hiểu rằng, các bộ kinh như **Vaṇṇa-piṭaka** và những bản kinh **Đại thừa** (Mahāyāna) mới nổi thuộc thời kỳ đó phần lớn đã thâm nhập vào đảo quốc Sīhaḷa. Trong số đó, việc các bộ kinh của phái **Dhammaruci** thuộc tông **Vajjiputtaka** truyền đến đảo quốc Sīhaḷa đã được đề cập ở phía trên. Còn về việc các bộ kinh điển khác truyền đến đảo quốc này thì diễn tiến như sau.

## PAGE 639

### Cuộc trấn áp tà thuyết Vetulla lần thứ nhất

Trong khoảng năm Phật lịch 758 đến 780, dưới triều vua Vohārika Tissa, các thành viên nhóm **Dhammaruci** trú tại chùa **Abhayagiri**, với ý đồ phá hoại Giáo pháp, đã tiếp nhận bộ kinh **Vetulla-piṭaka** do các bà-la-môn theo tà thuyết **Vetulla** giả dạng tu sĩ biên soạn ra, rồi họ tuyên truyền rằng: “Bộ **Vetulla-piṭaka** này chính là lời Phật dạy.”

Các vị Tỳ-kheo **Thượng tọa bộ** (Theravāda) trú tại chùa **Mahāvihāra** sau khi đối chiếu bộ kinh đó với **Pháp và Luật** của mình đã phán định đó là tà thuyết phi tịnh pháp và quyết định loại bỏ. Sau khi nghe biết chuyện này, vua Vohārika Tissa đã cử vị đại thần Kapila, một bậc tinh thông và uyên bác trong mọi kinh điển, đến để thẩm định. Sau khi xác nhận đó không phải là lời Phật dạy, nhà vua đã cho thiêu hủy toàn bộ kinh sách **Vetulla**, đồng thời trừng phạt những tu sĩ xấu ác theo tà thuyết này, làm cho Phật pháp một lần nữa được rạng rỡ.

Chính vì thế, trong bộ **Mahāvaṃsa** (Đại vương thống sử) có đoạn kệ ngôn rằng:

36-41. Đức vua Vohārika Tissa ấy, nhờ sự thẩm định của vị đại thần Kapila, đã trấn áp tà thuyết **Vetulla**, thi hành hình phạt đối với các tu sĩ xấu ác và làm cho Giáo pháp được hưng thịnh rạng ngời.

### Sự phát sinh của phái Sāgaliya

Vào khoảng năm Phật lịch 797 đến 810, dưới triều vua Goṭhābhaya, các thành viên nhóm **Abhayagiri** lại tiếp tục thuyết giảng về tà thuyết **Vetulla** theo cách tương tự như trước.

Lúc bấy giờ, trong số các thành viên tại **Abhayagiri**, có vị trưởng lão tên là Ussiliya Tissa nghe biết về việc trừng phạt các tu sĩ theo tà thuyết **Vetulla** dưới thời vua Vohārika Tissa, đã suy nghĩ rằng: “Dưới triều vua Goṭhābhaya, một bậc quân vương đầy đủ trí tuệ và sự suy xét, điều tương tự chắc chắn sẽ xảy ra. Nếu điều đó xảy ra với chúng ta thì thật không tốt.” Vị ấy bèn quyết định: “Chúng ta sẽ không còn chung nhóm với những vị Tỳ-kheo tại **Abhayagiri** đó nữa.”, rồi vị ấy dẫn theo khoảng ba trăm vị Tỳ-kheo đi đến chùa Dakkhiṇagiri, sống tách biệt khỏi hệ phái Dhammaruci.

## PAGE 640

Trong số các vị Tỳ-kheo đó, một vị Trưởng lão tên là Sāgala, khi đang trú ngụ tại chính chùa Dakkhiṇagiri ấy, đã biên soạn và trước tác bộ chú giải Kinh tạng gọi là Āgamabyākhyāna. Dựa trên vị Trưởng lão Sāgala này, các hàng đệ tử hậu học của vị ấy từ thời đó trở đi được gọi là tín đồ hệ phái Sāgaliya. Giáo pháp của hệ phái Sāgaliya này về sau, dưới triều vua Mahāsena, đã lan rộng đến chùa Jetavana.

## Việc dẹp bỏ thuyết Vetulla lần thứ hai

Vua Goṭhābhaya đã cho triệu tập đông đảo chư Tăng từ năm đại tu viện gồm: Mahāvihāra, Cetiya, Thūpārāma, Issarasamaṇaka và Vessagiri để hội họp lại một nơi; sau khi hỏi han về sự việc đó và biết được rằng thuyết Vetulla không phải là lời dạy của Đức Phật, vua đã cho thích dấu lên thân của 60 vị Tỳ-kheo xấu ác theo tà thuyết Vetulla này rồi trục xuất họ ra khỏi quốc độ Sri Lanka.

Vua cũng cho đốt bỏ các kinh sách Vetulla để làm cho Phật giáo được rạng rỡ. Khi đó, trong số các Tỳ-kheo bị trục xuất khỏi Sri Lanka, một số vị đã đi đến cảng Kāvira và trú ngụ tại đó. Trong thời gian họ đang ở đó, có một thanh niên ngoại đạo từ nơi khác đi đến cảng Kāvira; khi thấy dân làng ở bến cảng cúng dường và tôn trọng các vị Tỳ-kheo này, vì ham muốn lợi lộc và sự cúng dường, anh ta đã xuất gia với các vị Tỳ-kheo ấy và trở nên nổi tiếng với tên gọi Saṅghamitta.

Saṅghamitta đó, dựa trên quyết định của các Tỳ-kheo Mahāvihāravāsī (Bậc trú ngụ tại Đại Tu Viện), khi biết được rằng vì nguyên nhân theo thuyết Vetulla mà thầy của mình đã bị trục xuất khỏi đất nước, nên đã nảy sinh tâm phẫn nộ với các vị Tỳ-kheo Mahāvihāravāsī và tuyên bố rằng: "Ta sẽ khiến cho họ phải chấp nhận thuyết Vetulla này, và ta sẽ nhổ tận gốc rễ, phá hủy các tu viện của họ". Sau khi đe dọa như vậy, vị ấy đi đến đảo Sri Lanka, dùng lời lẽ thuyết phục vua Goṭhābhaya để vị này khởi tâm tịnh tín, rồi nỗ lực dạy dỗ các bộ môn nghệ thuật và kiến thức cho hai người con của vua. Tuy nhiên, ngoại trừ người anh cả là Thái tử Jeṭṭhatissa vốn có thể nhận ra và hiểu được tư tưởng của vị ấy,

## PAGE 641

vị ấy chỉ đặc biệt nâng đỡ và giảng dạy cho người em trai là Thái tử Mahāsena, người có thể tuân theo lời của vị ấy về sau.

Khi phụ vương băng hà và Thái tử Jeṭṭhatissa lên ngôi vua (Phật lịch 810-819), vì sợ vua Jeṭṭhatissa nên Saṅghamitta đã trốn đi đến khu vực cảng Kāvira.

Trong khoảng từ năm Phật lịch 819 đến 845, dưới triều vua Mahāsena, Saṅghamitta đã quay trở lại đảo Sri Lanka một lần nữa, trú ngụ tại chùa Abhayagiri và nỗ lực bằng mọi phương cách để ép các vị thuộc hệ phái Mahāvihāravāsī phải chấp nhận thuyết Vetulla. Tuy nhiên, khi nhận thấy không đủ khả năng để bắt các vị Mahāvihāravāsī theo tà thuyết đó, vị ấy đã tiếp cận vua Mahāsena, dùng nhiều lý lẽ để thuyết phục và dụ dỗ vua, rồi—

Dùng uy quyền của đức vua tạo ra lệnh truyền rao khắp kinh thành rằng: "Nếu có bất kỳ ai đem vật thực, thức ăn cúng dường cho dù chỉ là một vị Tỳ-kheo Mahāvihāravāsī, kẻ đó sẽ bị phạt một trăm đồng tiền."

Khi đó, các vị Tỳ-kheo Mahāvihāravāsī khi đi vào thành khất thực, suốt 3 ngày liền không nhận được vật thực, nên đã hội họp lại tại tòa lâu đài lớn gọi là Lohapāsāda và—

Bàn bạc, quyết định rằng: "Nếu chúng ta vì lý do đói khát mà chấp nhận điều phi pháp là Chánh pháp, thì rất nhiều người cũng sẽ theo điều phi pháp ấy mà bị sa đọa vào ác đạo, và tất cả chúng ta cũng sẽ trở thành người có lỗi. Do đó, cho dù có phải hy sinh mạng sống, chúng ta cũng nhất định không chấp nhận thuyết Vetulla." Sau khi quyết định như vậy, các vị đã từ bỏ tất cả các tu viện như Mahāvihāra, chạy đến vùng Rohaṇa thuộc miền Nam đảo Sri Lanka và vùng Malaya thuộc miền Trung đảo Sri Lanka.

### Về giáo lý của thuyết Vetulla

Về thứ gọi là thuyết Vetulla mà các bậc Trưởng lão Mahāvihāravāsī vô cùng gớm ghiếc và ghê tởm, đó là loại học thuyết như thế nào? Trong thời đại ngày nay, không thể trình bày đầy đủ thực chất của học thuyết Vetulla này. Lý do là

## PAGE 642

vì cái tên Vetulla cũng như các kinh sách và tông phái này không còn được biết đến rõ ràng. Tuy nhiên, trong bộ Kathāvatthu thuộc Tạng Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭaka) và phần Chú giải, người ta tìm thấy một vài giáo điểm của thuyết Vetulla như sau. Đó là gì?—

(1) Theo nghĩa tối hậu (paramattha), chỉ có Đạo và Quả mới được gọi là Tăng-già (Saṅgha). Ngoài Đạo và Quả ra thì không có gì gọi là Tăng-già. Đạo và Quả cũng không tiếp nhận bất cứ thứ gì. Do đó, không thể nói rằng Tăng-già thọ nhận sự cúng dường cao quý.

(2) Chỉ có Đạo và Quả mới là Tăng-già. Những thứ đó cũng không có khả năng làm cho sự cúng dường cao quý được thanh tịnh (trở nên có quả báu lớn). Do đó, không thể nói rằng Tăng-già làm thanh tịnh sự cúng dường cao quý.

(3) Chỉ có Đạo và Quả mới là Tăng-già. Những thứ đó cũng không biết ăn uống hay sử dụng bất cứ thứ gì. Do đó, không thể nói rằng Tăng-già ăn, uống, nhai hay nếm.

(4) Chỉ có Đạo và Quả mới là Tăng-già. Người ta không thể dâng cúng bất cứ thứ gì cho họ, họ cũng không thể tiếp nhận, và việc cúng dường cho họ cũng không mang lại bất kỳ lợi ích hay kết quả nào. Do đó, không thể nói rằng việc cúng dường đến Tăng-già là có quả báu lớn.

(5) Đức Thế Tôn đầy đủ phước đức không hề thọ dụng hay sử dụng bất cứ điều gì. Tuy nhiên, để phù hợp và thuận theo thế gian, Ngài đã thị hiện như thể Ngài đang thọ dụng. Như vậy, vì việc cúng dường (đến Đức Phật) không có lợi ích, nên không thể nói là việc cúng dường đến Đức Phật ấy có quả báu lớn.

(6) Đức Thế Tôn đầy đủ phước đức đã sanh về cõi trời Tusitā và chỉ ngự trị tại cõi trời đó mà thôi, Ngài không hề hạ giáng xuống cõi người. Thực chất, Ngài chỉ hóa hiện và phái các hóa thân (nimitta-rūpa) xuống cõi người này để thị hiện mà thôi.

## PAGE 643

(၇) Đức Thế Tôn cao quý khi đang ngự tại cõi trời **Tusita** (Đâu-suất), vì mục đích thuyết Pháp nên Ngài đã hóa hiện ra một thân tướng **Nimitta** (Hóa thân) và gửi đến. Cả thân tướng **Nimitta** ấy và Tôn giả Ānanda – sau khi tiếp nhận và lắng nghe giáo pháp từ thân tướng ấy – là hai vị đã thuyết giảng. Còn chính bản thân Đức Phật thì không thuyết Pháp.

(၈) Nếu có cùng một ý muốn, một sự đồng thuận, thì có thể thực hành, nên thực hành việc hành dâm (hành hạnh ma-đăng-già). Nghĩa là, nếu có một ý muốn xuất phát từ lòng thương xót, hoặc nếu có cùng một ý nguyện muốn cùng nhau luân hồi trong vòng sanh tử bằng cách cùng nhau cúng dường đức Phật với người nữ (ma-tú-gà-ma), thì việc thực hành hạnh ma-đăng-già với sự đồng thuận như thế giữa hai người là điều nên làm, có thể làm.

Những quan điểm trên của phái Wetulla (Vetullavāda) được tìm thấy trong tập **Kathāvatthu Aṭṭhakathā**. Những luận thuyết của phái Wetulla trong các kinh điển Theravāda thời nay chỉ tìm thấy chừng ấy.

Nếu xét kỹ, trong các tà thuyết của phái Wetulla nêu trên, qua 4 quan điểm phi Pháp này, họ đã hiểu sai về bậc Thánh Tăng (Ariya Saṅgha) được nêu trong Tạng Kinh (Sutta Piṭaka). Họ cũng hoàn toàn bác bỏ ước định Tăng (Sammuti Saṅgha) được nêu trong Tạng Luật (Vinaya Piṭaka). Tiếp đó, có ba quan điểm đi theo tà kiến cho rằng vạn vật do đấng tạo hóa (Issara) tạo ra. Quan điểm cuối cùng thì lộ rõ bản chất là quan điểm của kẻ ti tiện.

Trong tác phẩm Đại thừa gọi là **Abhidhamma-samuccaya** (A-tỳ-đàm Tập Luận) do luận sư tên là Asaṅga (Vô Trước) soạn thảo bằng ngôn ngữ Sanskrit, có đoạn ghi chép như sau:

"Chi phần Wedulla (Vepulla) là gì? Đó là những bản văn giáo pháp liên quan đến **Bodhisatta Piṭaka** (Bồ Tát Tạng). Chi phần giáo pháp nào được gọi là **Vepulla**, thì chi phần đó cũng được gọi là **Vedalla**, và cũng được gọi là **Vetulla**. Tại sao gọi là **Vepulla**? Vì đó là nơi nương tựa cho sự lợi ích và hạnh phúc của tất cả chúng sanh;

## PAGE 644

vì đó là giáo pháp cao thượng, vĩ đại và sâu sắc nên gọi như vậy. Tại sao gọi là **Vedalla**? Vì có khả năng phá tan mọi sự ngăn che (**Āvaraṇa**) nên gọi như vậy. Tại sao gọi là **Vetulla**? Vì những pháp dụ được đưa ra trong tập luận đó là vô song nên gọi như vậy." (Sách **Abhidhamma-samuccaya**, trang 79)

Thời nay, trong kinh điển Đại thừa gọi là **Saddhamma-puṇḍarika Sutta** (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa), quan điểm cho rằng có thể đạt đến Niết-bàn bằng quả vị Thanh văn (Sāvaka) hay **Độc Giác Phật** (Paccekabuddha) hoàn toàn bị bác bỏ và hạ thấp; thay vào đó, kinh khuyến khích mọi người, mọi cá nhân đều nên tu tập để thành Phật, đồng thời đưa ra rất nhiều ví dụ ca ngợi bậc Bồ-tát (Bodhisatta) một cách vô song và vĩ đại. Do đó, những luận thuyết nằm trong các kinh điển trình bày về **Bodhisatta** (Bồ-tát) như kinh **Saddhamma-puṇḍarika Sutta** cũng được hiểu là thuyết Wetulla.

## Sự phá hủy tu viện Mahāvihāra

Khi các vị tỳ-kheo thuộc phái **Mahāvihāravāsī** từ bỏ mọi tu viện và ra đi như đã trình bày, một vị tỳ-kheo ác hạnh tên là Saṅghamitta đã thuyết phục và làm cho nhà vua hiểu sai, khiến vua cho phá hủy 364 lâu đài trong khuôn viên tu viện như **Lohapāsāda** (Đại Đồng Điện), thậm chí cho nhổ tận gốc rễ và chuyển sang tu viện **Abhayagiri**. Trên mặt đất của tu viện, vua còn cho cày xới để trồng các loại đậu.

Với tình cảnh này, tu viện **Mahāvihāra** lúc bấy giờ trống không, không có công trình kiến trúc và vắng bóng các vị tỳ-kheo suốt chín năm trời.

Về sau, vua Mahāsena, dưới sự khuyên bảo đầy uy lực như lời đe dọa của một vị đại thần là bạn lành (kalyāṇamitta) tên là Mesavaṇṇābhaya, đã cho trùng tu tu viện **Mahāvihāra** lại như cũ, đồng thời thỉnh các vị tỳ-kheo thuộc phái **Mahāvihāravāsī** đã rời đi quay trở lại để hộ trì bằng tứ vật dụng.

## PAGE 645

## Sự hình thành phái Jetavanavāsī

Vua Mahāsena lại khởi tâm tịnh tín đối với một vị trưởng lão tên là Kuhakatissa đang ngụ tại chùa **Dakkhiṇārāma**, vốn là người có tâm địa xảo quyệt (thường làm cho các thí chủ hiểu lầm để tạo sự kính trọng). Vì vị trưởng lão đó, vua lại nỗ lực xây dựng một ngôi chùa tên là **Jetavana** (Kỳ-đà Lâm) tại khu vườn **Jotivana** nằm bên trong ranh giới (sīmā) của tu viện **Mahāvihāra**. Do các vị tỳ-kheo **Mahāvihāravāsī** không thể ngăn cản được nhà vua, nên họ lại một lần nữa rời bỏ tu viện **Mahāvihāra** mà ra đi.

Vào lúc đó, tu viện **Mahāvihāra** lại vắng bóng các vị tỳ-kheo suốt chín tháng trời. Còn vua Mahāsena, theo ý muốn của mình, đã xây dựng chùa **Jetavanavihāra** tại vườn **Jotivana** và cúng dường cho trưởng lão Kuhakatissa đó.

Tại chùa **Jetavanavihāra** này, các vị tỳ-kheo thuộc nhóm Sāgaliya từ tu viện **Dakkhiṇagiri** đã đến cư ngụ. Về sau, trong khoảng năm Phật lịch 1067 đến 1080, dưới triều vua Ambasāmaṇera Silākāla, các vị tỳ-kheo ngụ tại **Jetavanavihāra** đó đã trở thành những người theo phái Wetulla.

Như đã trình bày, từ trước thời điểm trưởng lão Buddhaghosa (Phật Âm) đến đảo Ceylon (năm Phật lịch 965), đã hiện hữu ba bộ phái có quan điểm đối nghịch với phái **Mahāvihāravāsī** – những bậc theo truyền thống Theravāda thuần khiết:

1. Phái **Abhayagirivāsī** (Phật lịch 455)
2. Nhóm Sāgaliya (Phật lịch 797-810)
3. Phái **Jetavanavāsī** (Phật lịch 829-845)

Trong ba bộ phái đó, các vị thuộc phái **Abhayagirivāsī** là nổi trội và có thế lực nhất. Nếu giải thích chi tiết hơn, những người thuộc phái **Abhayagirivāsī** đã chấp nhận cả Tạng kinh Theravāda thuần khiết, cả Tạng kinh của phái **Dhammaruci** thuộc bộ phái **Vajjiputtaka** (Độc Tử Bộ), cả Tạng kinh của phái **Mahīsāsaka** (Hóa Địa Bộ), cũng như Tạng Kinh của Đại Thừa (Mahāyāna). Trong đó, việc họ chấp nhận tạng Pāḷi của bộ phái **Dhammaruci** đã được trình bày rõ ràng.

## PAGE 646

Việc chấp nhận tạng Pāḷi của các bộ phái như **Mahīsāsaka** có thể được biết đến thông qua nhật ký hành trình của vị tăng người Trung Hoa tên là Pháp Hiển (Fa-Hien), cũng như thông qua sức mạnh của những tên gọi như **Vaṇṇapiṭaka** – vốn đã bị bác bỏ trong các bản Chú giải. Tương tự như vậy, việc chấp nhận **Mahāyānapiṭaka** (tạng Đại thừa) cũng được ghi nhận theo cách này.

(Các đoạn văn bản từ lúc trưởng lão **Mahinda** đến đảo quốc Sīhaḷa để hoằng dương giáo pháp cho đến đây đều là những trích dẫn từ phần lời nói đầu bản dịch Miến Điện cuốn **Visuddhimagga** (Thanh Tịnh Đạo) của bậc ân sư Đại trưởng lão Mahāsi. Để biết thêm chi tiết, xin xem ở phần lời nói đầu đó.)

### Lời cảm tạ

Phần Phụ lục (C) mang tên “Tóm lược lịch sử hành trình qua các thành phố, làng mạc, chùa chiền và bảo tháp nổi tiếng tại đảo quốc Sīhaḷa (Sri Lanka)” sắp được trình bày sau đây được trích lục và tổng hợp một cách phù hợp từ các bản Chú giải (Aṭṭhakathā), Phụ chú giải (Ṭīkā), **Dīpavaṃsa**, **Mahāvaṃsa**, các bản dịch Pāḷi-Miến cùng với các sách sau đây:

1. **DICTIONARY OF PALI PROPER NAMES** (Tiến sĩ Malalasekera, 1960. **D.P.N.**)

2. Đại Phạn Địa lý Phật giáo (Tạng Paok Sayadaw U Cakkapāla, năm 1320 Miến lịch.)

3. Quốc gia Phật giáo, Tập 1-2-3. (Sayadaw U Saṃvarābhivaṃsa, thị trấn Pyapon, năm 1968.)

4. Cuốn sách lớn về kiến thức ngoại quốc tại đảo quốc Laṅkā. (Do Tỳ-kheo Sosadhamma, trú xứ chùa Mawtharyar, thị trấn Palaw viết năm 1952. Vị này đã sống và nghiên cứu tại Sīhaḷa, Ấn Độ v.v. trong nhiều năm từ năm 1937.)

5. Mahāthera Lalita (Do Sayadaw U Paññātheruppatti viết. Ngài đã sống tại Sīhaḷa hơn 5 năm, tốt nghiệp cử nhân **B.A. Hons**, là bậc soạn thảo kinh điển Gaṇavācaka Dhammācariya tại tự viện Visutārāma, thị trấn Pakokku, tức trưởng lão Āsaṇakelasā viết năm 1339 Miến lịch.)

---

## PAGE 647

### Phụ lục (C): Tóm lược lịch sử hành trình qua các thành phố, làng mạc, chùa chiền và bảo tháp nổi tiếng tại đảo quốc Sīhaḷa (Sri Lanka)

Đảo quốc Sīhaḷa (nay là Sri Lanka), còn gọi là **Sīhaḷa**, **Tamapapaṇṇi**, **Laṅkādīpa**, nằm trong vùng biển Ấn Độ về phía nam của lục địa Ấn Độ. Nơi đây cách cảng Ấn Độ 22 dặm, cách Calcutta 1.230 dặm, cách Yangon 1.235 dặm và cách London 4.760 dặm.

Đảo có chiều dài 270 dặm, chiều rộng 140 dặm, diện tích 25.332 dặm vuông. Theo số liệu thống kê năm 1935, dân số có hơn 5 triệu người (gần 6 triệu), số lượng Tăng chúng có hơn mười hai ngàn bốn trăm vị (12.400). Hiện nay, dân số vào khoảng 13 triệu người.

Hoàng tử **Vijayabāhu** đã đến đảo Sīhaḷa và lên ngôi ngay vào ngày Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn. Kể từ đó, nơi đây trở thành khu vực có người sinh sống. Trải qua 177 đời vua. Năm 1505 sau Công nguyên, đảo bị người Bồ Đào Nha xâm chiếm; từ năm 1602-1658 bị người Hà Lan (Netherlands) chiếm đóng; và đến năm 1796 bị người Anh chiếm đóng. Vào ngày 4 tháng 2 năm 1948, đảo quốc giành được độc lập dưới hình thức tự trị (Dominion), và từ ngày 22 tháng 5 năm 1972, trở thành nước "Cộng hòa Sri Lanka". Người phương Tây thường gọi nơi đây là "**Ceylon**".

#### Thời điểm khởi đầu của giáo pháp

Kể từ khi thành đạo, Đức Phật đã từng ngự đến đây ba lần: lần đầu vào tháng thứ 9, lần hai vào năm hạ thứ 5 và lần ba vào năm hạ thứ 8.

Vào năm 236 Phật lịch, sau khi kết thúc kỳ Kết tập Tam Tạng lần thứ ba, chín đoàn sứ giả đã được cử đi hoằng pháp tại chín quốc gia. Đảo quốc trở thành trung tâm hoằng pháp chính do trưởng lão **Mahinda** (con trai vua **Asoka**) và trưởng lão ni **Saṅghamittā** (con gái vua **Asoka**) dẫn đầu. Giáo pháp bắt đầu lan rộng vào năm thứ 18 triều đại vua **Asoka**, khi vua **Devānampiyatissa** vừa lên ngôi được 7 tháng, và trưởng lão **Mahinda** đã có 12 tuổi đạo.

---

## PAGE 648

Trong lần ngự đến thứ ba, Đức Thế Tôn cùng với năm trăm vị A-la-hán tùy tùng đã nhập tầng định tại 16 địa danh lịch sử. Tại những nơi này, 16 tòa đại bảo tháp đã được xây dựng, gọi là **Soḷasathāna**.

Các kinh đô cổ xưa gồm có: **Tambapaṇṇi**, **Upatissa**, **Mahāgāma**, **Anurādha**, **Sīhagiri**, **Pulatthi**. Tên thủ đô hiện nay là Kandy (**Senkhaṇḍasela**), Colombo (**Kolambu**). Tên các thị trấn phụ cận xưa kia có Galu, **Mahātittha**, Ratanapura, Tikoṇa, Malaya.

#### 16 địa danh lịch sử (Soḷasathāna)

1. Bảo tháp **Mahiyangaṇa**  
2. Bảo tháp **Nāgadīpa**  
3. Bảo tháp **Kalyāṇī**  
4. Bảo tháp **Dấu chân Phật** (Sacca-bandha-pada)  
5. Bảo tháp **Divāguhā**  
6. Bảo tháp **Dīghavāpī**  
7. Bảo tháp **Mutiyangaṇa**  
8. Bảo tháp **Tissamahāvihāra**  
9. **Đại Bồ-đề chi nhánh phía Nam** (Dakkhiṇasākhā-Mahābodhi)  
10. Bảo tháp **Marīcavaṭṭi** (**Kunta**)  
11. **Đại Bảo tháp** (Mahācetiya)  
12. Bảo tháp **Thūpārāma**  
13. Bảo tháp **Abhayagiri**  
14. Bảo tháp **Jetavana**  
15. Bảo tháp **Selā**  
16. Bảo tháp **Kīri**.

(Trong Chú giải Pārājika chỉ nêu tên 7 địa danh: 1, 3, 6, 7, 9, 11, 12.)

#### Anurādha

Vùng đất **Anurādha** ban đầu do một vị đại thần của hoàng tử **Vijaya** lập nên làng mạc. Sau đó, vua **Paṇḍuvāsudeva** và hoàng hậu **Bhaddakaccānā** thuộc dòng dõi Thích-ca (Sākyā) có bảy người con trai, trong đó **Anurādha** và **Rohana** mỗi người tự lập làng để sinh sống, từ đó hình thành nên làng **Anurādha** và làng **Rohana**.

**Anurādha** nằm bên bờ sông **Kadamba** ở phía bắc hòn đảo (cách Colombo 127 dặm về phía đông bắc, cách cảng tàu **Talaimannar** đi Ấn Độ 82 dặm). (Xem thêm về **Rohana** ở phần sau.) Từ làng **Anurādha**, vị cháu gọi bằng chú của hoàng tử **Anurādha** dòng Sākyā là vua **Paṇḍukābhaya** (394-307 TCN) đã cho dời đô từ làng **Upatissa** về đây để xây dựng kinh thành. Kinh đô này được thiết lập ngay gần làng **Anurādha** cổ, vào thời điểm chòm sao **Anurādha** hội tụ với mặt trăng, do đó nó mang tên **Anurādha** với ý nghĩa hội tụ ba yếu tố trùng hợp như vậy.

## PAGE 649

**606**

Từ khoảng năm 410 TCN đến năm 1109 SCN, trong suốt 1519 năm, đã có hơn 90 triều đại trị vì, khiến nơi đây không chỉ là một kinh đô sầm uất và lâu đời mà còn là vùng đất lành, nơi đặt nền móng cho Giáo pháp.

Khi vua Paṇḍukābhaya bắt đầu xây dựng thành phố, chu vi rộng khoảng 16 dặm. Thành được thiết lập huy hoàng với bốn đại lộ chính, các ngôi làng và dinh thự dành cho từng cấp bậc quan lại, cùng các hồ chứa nước lớn như **Jayavāpi**, **Abhayavāpi**. Dân cư đông đúc đến mức không còn chỗ trống. Tường thành cao 18 hắc tay, có lính canh gác ngày đêm. (Ngày nay, dấu tích tường thành cũng không còn tìm thấy). Dù khi đó Giáo pháp chưa truyền đến, nhưng nhà vua cũng đã hỗ trợ và xây dựng các cơ sở riêng biệt cho các tôn giáo khác như Kỳ-na giáo, phái lõa thể Ājīvaka, Bà-la-môn.

Đến đời vương tử Muṭasiva, ngài đã cho xây dựng vườn Mahāmeghavana nổi tiếng ở phía nam thành phố cùng với vườn Nandana (còn gọi là Jotivana). Dưới triều đại của vương tử **Devānampiya Tissa** (247-207 TCN), vườn **Mahāmeghavana** này đã được kiết giới làm tu viện và dâng cúng đến ngài **Mahinda**. Ngài cũng dâng cúng ngôi đại tự **Mahāvihāre** vô cùng tráng lệ. Đó là lúc hạt giống Giáo pháp đầu tiên được gieo xuống đảo quốc Sīhaḷa.

### Các công trình tôn giáo xưa và nay qua mắt thấy tai nghe

Cành phía Nam của cây **Đại Bồ-đề** (**Dakkhiṇasākhā Mahābodhi**) cũng được trồng và tôn thờ ngay tại khu vườn đó. Ngôi **Đại Bảo Tháp** (**Mahācetiya**) do vua **Duṭṭhagāmaṇi** xây dựng chỉ cách cây Bồ-đề khoảng ba dặm. Cây **Đại Bồ-đề** và **Lohapāsāda** (Đền Thờ Bằng Đồng) nằm ở hai hướng Nam và Bắc, chỉ cách nhau khoảng bốn mươi hắc tay (ngày nay chỉ cách nhau một con đường xe chạy).

### Bảo tháp và tu viện Thūpārāma

Cách phía Bắc ngôi **Đại Bảo Tháp** hai dặm, ngay gần cổng phía nam thành phố là bảo tháp **Thūpārāma**. Đây là phước báu của vua **Devānampiya Tissa**,

## PAGE 650

**607**

Tháp cao khoảng 30 hắc tay, chu vi 121 hắc tay 1 mỏm. Bên trong tôn thờ một bát xá-lợi và xương đòn bên phải của Đức Thế Tôn. Ngoài ra, tháp cũng tôn thờ các di vật như bộ lọc nước, thắt lưng và hạ y của ba đức Phật tiền thân là **Kakusandha**, **Koṇāgamana**, và **Kassapa**.

Gần đó, liền kề với ngôi **Mahāvihāre** danh tiếng, là đại tự **Thūpārāma** (**Thūpārūm**). (Hiện nay chỉ còn thấy những cột đá cao khoảng 13 feet). Các công trình phụ cận của **Mahāvihāre** vô cùng phong phú.

Cách bảo tháp **Thūpārūm** một dặm về phía Đông là ngôi điện thờ Xá-lợi Răng gốc (phước báu của vua **Kittisirimegha**). (Ngày nay các cột đá và xà ngang vẫn còn đó).

Cách đó khoảng một dặm là tu viện của Trưởng lão ni **Saṅghamittā**, và về phía Tây Bắc khoảng tám mươi hắc tay là một bảo tháp tôn thờ xá-lợi cốt của bà.

Ở phía Tây bảo tháp **Thūpārūm** khoảng một dặm, người ta cũng có thể tìm thấy tu viện của bậc tinh thông Luật tạng - Trưởng lão **Mahāpaduma**.

### Thành Anurādhapura vào thế kỷ thứ mười của kỷ nguyên Giáo pháp

Khi vị tăng người Trung Hoa **Pháp Hiển** (năm 954-956 sau khi Phật diệt độ) đến đây, thành **Anurādhapura** vẫn còn rất thanh bình và tươi đẹp. Ông ghi chép rằng khí hậu ở đây tốt quanh năm không phân biệt đông hè, sản vật phong phú với ngũ cốc, đá quý và ngọc trai. Tại **Mahāvihāre** có 3000 vị Tăng, tại **Abhayagiri** có 5000 vị Tăng. Vào các ngày Uposatha hàng tháng, tại các giao lộ trong thành phố đều có đạo từ thuyết giảng và thính chúng chăm chú lắng nghe. Thế nhưng ngày nay, nơi này vô cùng nóng bức khô cằn, ngay cả nước uống cũng không đủ và không ngon, lại thường có bệnh sốt rét hoành hành. Số hộ gia đình chỉ còn khoảng 500, giống như thành cổ Bagan của Miến Điện vậy.

Sự khác biệt giữa thành cổ Bagan với những vườn tược, cung điện, sông hồ xanh mướt, mưa thuận gió hòa, sản vật trù phú được mô tả trong đoạn kết của bộ chú giải *Bodhivamsa* (tên là *Sahassaraṃsī*) do ngài Paung Laung Shin **Kassapa** viết bằng tiếng Pali, so với Bagan ngày nay thật chẳng khác nào một câu chuyện huyền thoại.

## PAGE 651

**608**

### Quan trọng nhất vẫn là Nội giáo pháp

Chính vì vậy, những hình thức vật chất bên ngoài của Ngoại giáo pháp không phải là điều trọng yếu, chỉ nên xây dựng ở mức vừa đủ. Vì đó là các pháp hữu vi, ngay cả cột đá hay đá tảng cũng không chịu đựng nổi một trăm năm. Chính nền tảng **Nội giáo pháp** (tu tập tâm linh) mới là điều quan trọng. Chừng nào chân lý và niềm tin vẫn còn tồn tại, Giáo pháp vẫn sẽ vững bền.

### Đại Bảo Tháp và Lohapāsāda

Về ngôi **Đại Bảo Tháp** (**Mahācetiya**) là phước báu của vua **Duṭṭhagāmaṇi** (101-77 TCN) tại thành **Anurādhapura** và Đền Thờ Bằng Đồng **Lohapāsāda**, tôi đã viết ở Chương 1. Tôi cũng đã viết về các bảo tháp Maricavaṭṭi và Kunta.

Ngôi Đền Thờ Bằng Đồng gồm 9 tầng bên trong khuôn viên **Mahāvihāre**, sau khi xây dựng không lâu thì bị hỏa hoạn, nên người em trai là vua **Saddhātissa** đã phục dựng lại nhưng thu gọn thành 7 tầng. Ngôi đền được xây tại nơi Đức Thế Tôn đã từng nhập Định (Samāpatti) trong lần đầu tiên ngài đến đây.

Hiện nay, gần cây Bồ-đề của bà **Saṅghamittā**, vẫn còn chính xác 40 dãy cột đá cao khoảng 12 feet, mỗi dãy có 40 cột, tổng cộng là 1600 cột đá.

Thành **Anurādhapura**, cả trước và sau khi vua **Duṭṭhagāmaṇi** lên ngôi, cũng như giai đoạn trước và sau đời vua **Vaṭṭagāmaṇi** (29-17 TCN), đã phải đối mặt với nhiều hiểm họa nội xâm và ngoại xâm từ quân Damila (Kê-la), v.v. Trong những biến động đó, chỉ có những bảo tháp lớn gắn liền với các tu viện kiên cố là còn tồn tại để minh chứng cho lịch sử.

Dưới thời vua **Mahāsena** (412-434 SCN), **Anurādhapura** và **Mahāvihāre** đã vang danh khắp thế giới. Nhiều học giả Phật học nước ngoài, tiêu biểu là ngài **Mahā Buddhaghosa**, đã đến đây để nghiên cứu, biến nơi này thành một trường đại học Phật giáo Nguyên thủy (Theravāda) vĩ đại.

Tuy nhiên, đến thế kỷ 11, dân cư thưa thớt dần và nơi đây đã từng trở thành một vùng rừng rậm hoang vu.

## PAGE 652

**Rohanā và Mahāgāma**

Rohanā (Ruṇa) từng là một trong ba vương quốc sơ khai của đảo quốc Srilanka. Biên giới phía Bắc là sông Mahāvāluka (Mahāveli); toàn bộ vùng đông nam từ con sông này trở xuống được gọi là Rohaṇa. Kinh đô là Mahāgāma (Māgampura). Từ cảng Mahātittha (Matara) đi khoảng 62 dặm là đến vùng Mahāgāma.

Vùng Rohaṇa trở nên hưng thịnh từ khi Thái tử Mahānāga, em trai của Đức vua Devānampiyatissa – người trị vì tại Anurādhapura, cùng tùy tùng di cư đến đây. Mahāgāma cũng trở thành một kinh đô thời bấy giờ. Tại đây, Thái tử Mahānāga đã cho xây dựng các đại tự viện mang tên ông và các công trình khác.

Trải qua bốn đời quân chủ gồm đức vua Mahānāga, con trai ông là Yaṭṭhālatissa, cháu nội là Goṭṭhābhaya và chắt nội là Kākavaṇṇatissa, kinh đô Mahāgāma luôn là nơi trị vì của họ. Đến thời vua Duṭṭhagāmaṇi, kinh đô mới được dời về Anurādhapura. Đây chính là quê hương của đức vua Duṭṭhagāmaṇi.

Vua Yaṭṭhālatissa cũng chính là vua Kalyāṇitissa. Do ông dời đô về bên dòng sông Kalyāṇī, cách bờ biển Mahāgāma khoảng 16 dặm nên được gọi là Kalyāṇitissa.

**Tissamahāvihāra và Núi Cittala**

Vào năm Phật lịch 315, khi đức vua Kākavaṇṇatissa trị vì tại Mahāgāma, ông đã cho xây dựng đại tự viện danh tiếng Tissamahārāma (còn gọi là Tissamahāvihāra) cùng với 64 công trình tôn giáo khác. Bảo tháp Tissamahārāma, nơi tôn thờ Xá-lợi xương trán của Đức Phật, cũng nằm gần đại tự viện này. Cách Colombo 167 dặm, nơi đây hiện nay chính là thành phố Tissamahārāma.

Cách thành phố này khoảng 12 dặm có bảo tháp lớn Kattaragāma.

Cách Tissamahārāma 18 dặm là ngọn núi Cittala hùng vĩ. Trong các bản Chú giải thường nhắc đến nơi này như là trú xứ của vô số bậc A-la-hán. Với khí hậu điều hòa và thiên nhiên tĩnh lặng, đây thực sự là vùng đất tâm linh dẫn lối đến bến bờ Niết Bàn.

## PAGE 653

**Abhayagiri và Pháp Hiển**

Vào thời vua Vaṭṭagāmaṇi (Phật lịch 455), đại tự viện Abhayagiri được xây dựng ở hướng chính Bắc của Mahācetī và cách đại tự viện Mahāvihāra khoảng một dặm về phía đông bắc. Thuộc hệ phái Mahāvihāra thời sơ khai, nhưng do sự giao du quá mật thiết với giới cư sĩ nên sau đó bị tách khỏi Mahāvihāra và trở thành hệ phái Abhayagiri riêng biệt. Về sau, do sự thâm nhập của các tà kiến như Đại thừa (Mahāyāna), Saṅgīti và Vetulla nên hệ phái này hoàn toàn bị suy đồi. Ban đầu, ngôi chùa này được đức vua dâng cúng đến Ngài Đại đức Mahātissa để đền ơn vị này đã từng giúp đỡ vật thực khi đức vua đang lánh nạn chiến tranh.

Trong khuôn viên tự viện, vua còn cho xây dựng bảo tháp Abhayagiri với chu vi khoảng 900 bộ và chiều cao 235 bộ. Ngày nay, người ta chỉ có thể xác định vị trí của tự viện nhờ vào bảo tháp đồ sộ này.

Nhà sư Trung Hoa Pháp Hiển từng lưu trú tại Abhayagiri trong hai năm để sao chép một số ít tạng điển Thượng tọa bộ (Theravāda) và các tạng điển Đại thừa. Ông cũng đã viết lại những hồi ký về những gì mắt thấy tai nghe trên đảo quốc Srilanka.

**Bảo tháp và tự viện Jetavana**

Đức vua Mahāsena (trị vì từ năm 277-304 SCN), con trai út của vua Goṭṭhābhaya, ban đầu do thân cận với tà sư Saṅghamitta và đại thần Soṇa nên đã chiếm giữ, phá hoại các tự viện Mahāvihāra và Abhayagiri, đồng thời ra lệnh cấm dân chúng đặt bát cúng dường chư Tăng tại đó.

Về sau, nhờ sự khuyên bảo của vị đại thần thân cận Meghavaṇṇabhaya và Ngài trưởng lão Tissa, đức vua đã khởi tâm thanh tịnh trở lại. Ông cho xây dựng đại tự viện Jetavana bên trong vườn Joti, nằm sát phía đông bắc của Mahāvihāra và cách Abhayagiri hơn một dặm về phía bắc. Tại đây, ông cũng cho xây bảo tháp Jetavana vĩ đại với chu vi 1100 bộ và chiều cao 231 bộ.

Dù được xây dựng trên phần đất thuộc Mahāvihāra, nhưng về sau quan điểm tu học tại đây đã có sự khác biệt so với truyền thống của Mahāvihāra.

## PAGE 654

**Bảo tháp và tự viện Laṅkārāma**

Cách đại tự viện Jetavana khoảng 1200 bộ về phía tây bắc là bảo tháp Laṅkārāma (kích thước 150-50 bộ). Khi vua Vaṭṭagāmaṇi thất trận, ông từng ẩn náu tại làng Silāsobhakaṇḍaka, vì vậy bảo tháp này còn được gọi là Silāsobhakaṇḍaka. Tại đây cũng có đại tự viện Laṅkārāma do công chúa Laṅkārāma xây dựng. Có thuyết cho rằng đây chính là vị trí của tự viện Somārāma (Tumulasoma) thuở trước.

**Bảo tháp và tự viện Issaramuni**

Bảo tháp và đại tự viện Issaramuni do đức vua Devānampiyatissa xây dựng. Đây là trú xứ của 500 thanh niên dòng dõi hoàng gia đã xuất gia theo Ngài Mahinda. Công trình này nằm kề sát phía đông của hồ Tissavapi (hồ Tissa).

**Tự viện Asokamālā**

Tự viện Asokamālā được xây dựng dựa trên sự phát tâm của con gái một người thợ rèn tên là Asokamālā và Thái tử tại thành Vijitāvī. Ngôi chùa này nằm cách Hồ Song (Twin Pond) khoảng ba dặm về phía tây bắc.

**Tự viện Vijayārāma**

Vượt qua con suối nhỏ ở bìa rừng phía tây nam tự viện Asokamālā, đi khoảng nửa dặm sẽ đến nơi Thái tử Vijaya từng đóng quân lần đầu, tại đó có một bảo tháp. Nơi đây cũng có di tích tự viện Vijayārāma đã đổ nát. Theo truyền thuyết, ngôi chùa nơi vị trưởng lão nghiêm khắc đã đuổi hai vị sư trẻ kém thông thạo ngữ pháp mà không truyền dạy đề mục thiền định, rất có khả năng chính là tự viện Vijayārāma này.

Tại các đại tự viện như Abhayagiri và Muṇighara (nơi từng tạm lưu giữ các phù điêu để tôn trí vào Mahācetī), hiện vẫn còn những "thuyền đá" khổng lồ dùng để đựng cháo cúng dường chư Tăng. Những chiếc thuyền đá này được tạc từ đá nguyên khối, có chiều ngang 2 tỳ-ưu (am), chiều sâu 2 tỳ-ưu, và chiều dài dao động từ 30 đến 41 tỳ-ưu.

## PAGE 655

### Các đô thị thời hậu kỳ và các địa danh lịch sử khác

**Thành phố Sīhagiri (Tây-Hy-Lạp)**
Đây là kinh đô thứ tư sau các thành phố Tambapaṇṇi, Upatissa và Anurādha (Mahāgāma); là thành phố trên núi thuộc quận Malaya, nơi ngự trị của vua Sirikassama, người đã giết cha đoạt ngôi. (Thường được gọi là “Siriya”.)

**Pulatthi-Poḷonnaruva**
Kinh đô nơi vua Khuddagga (Kittigga) Bodhi ngự trị. Cách Colombo 160 dặm về phía đông bắc và cách Anurādha 64 dặm.

Đây là nơi diễn ra công cuộc hòa giải và thống nhất ba giáo phái lớn vốn đã chia rẽ hơn 1200 năm vào thời đại của Đại đế Parakkamabāhu. Đây cũng là trú xứ của các bậc đại luận sư danh tiếng như Ngài Sāriputta, tác giả các bộ Vinayasaṅgaha Aṭṭhakathā, Sārattha, Aṅguttara Ṭīkā; Ngài Sumaṅgalasāmi (tác giả Ṭīkā-kyaw - bộ Abhidhammatthavibhāvinī), và Ngài Moggallāna (tác giả Abhidhānappadīpikā).

**Thành phố Kandy (Seṅkhaṇḍasela)**
Vốn có tên gốc là Seṅkhaṇḍasela, người Srilanka gọi là Seṅkaḍagala, còn người phương Tây gọi là Kandy.

Đây là kinh đô nơi 190 đời vua đã trị vì, cho đến đời vua cuối cùng là Srīvikkamarājasiha (bị người Anh bắt giữ). Đây là nơi tôn thờ Xá-lợi răng Phật (răng cửa bên trái) được thỉnh từ xứ Kaliṅga đến.

Cách Colombo 72 dặm, hiện nay là thành phố lớn thứ hai.

**Colombo (Kolamba)**
Vốn là thành phố cảng của người Bồ Đào Nha và người Anh, hiện nay là thủ đô lớn nhất.

**Galle (Gā)**
Thành phố cảng của người Hà Lan. Cách Colombo 80 dặm. Hiện nay là thành phố lớn thứ ba.

## PAGE 656

**Mahātittha (Mātara)**
Cách Colombo 100 dặm về phía đông nam, là điểm cuối của tuyến đường sắt phía nam, hiện nay là thành phố lớn thứ tư.

**Ratanapura**
Hơn năm mươi năm về trước, đây là một thành phố rất rộng lớn. Thành phố này tọa lạc ở vùng lân cận phía nam ngọn núi Samantakūṭa (Sumanakūṭa), nơi có dấu chân của Đức Thế Tôn.

Cách Colombo khoảng 45 dặm về phía đông nam.

**Ngài Mahinda và ngọn núi Missaka (Cetiyagiripabbata)**
Cách Anurādha 8 dặm về phía đông bắc là ngọn núi Missaka. Ngôi núi này còn được gọi là Metiyagiri hay Cetiyapabbata. Vì có hai loại đá cát trộn lẫn nên được gọi là núi Missaka. Từ tên gọi Mahindatthala, sau này cũng được gọi chệch đi là “Mahindalaye”.

Tên gọi này được tìm thấy rất nhiều trong các bộ Chú giải. Đường lên núi có 2000 bậc thang, hai bên đường trồng những hàng hoa sứ ngay ngắn, tạo nên một khung cảnh rất an lạc.

Trên núi này có tháp Sila, một trong 16 địa danh linh thiêng, nơi tôn thờ Xá-lợi lông mu (Ukkaluṃ) của Đức Thế Tôn.

Tại đây còn có tu viện nơi Ngài Đại đức A-la-hán Mahinda từng lưu trú, hang đá nơi Ngài nghỉ ngơi vào ban ngày, và những phiến đá nơi Sa-di Sumana đã lớn tiếng cung thỉnh các chư thiên và Phạm thiên đến nghe Pháp.

Trên ngọn núi đó, vùng đất có cây xoài mọc, nơi vua Devānaṃpiyatissa và Ngài Mahinda gặp nhau lần đầu tiên, được gọi là Therambatthala (Thera = Trưởng lão + Amba = Cây xoài + Thala = Vùng đất cao).

Vào năm 284 Phật lịch, sau khi Ngài Mahinda nhập Niết-bàn, vua Uttiya (em trai vua Devānaṃpiyatissa) đã xây tháp tôn thờ Xá-lợi cốt của Ngài. Tháp này được gọi là Ambatthala. (Xem trong ảnh).

## PAGE 657

Nơi cây hồng nhung (Tī) mọc, nơi Ngài Trưởng lão Kāḷakkhita đã ngụ khi thuyết giảng kinh Kāḷakārāma, hiện nay vẫn có thể tìm thấy ở góc tây nam gần ngọn núi đó.

**Tháp Mahiyagaṇa**
Ngôi bảo tháp đầu tiên của đảo đảo Srilanka, tôn thờ một nắm tóc và Xá-lợi xương cổ của Đức Phật.
Cách Kandy 45 dặm về phía đông bắc, gần thành phố “Alutnuvara”.

**Tháp Mutiyagaṇa**
Được vua Devānaṃpiyatissa xây dựng tại nơi Đức Thế Tôn đã nhập Thiền định (Samāpatti) trong lần viếng thăm thứ tám của Ngài.
Tọa lạc tại thành phố Badulla, cách Colombo 136 dặm. Từ ga tàu của thành phố này phải đi thêm khoảng 18 dặm nữa.

**Tháp Kalyāṇī**
Cách Colombo khoảng 5 dặm về phía đông. Nơi đây tôn thờ bảo tọa bằng ngọc (Ratanapallaṅka), nơi Đức Thế Tôn đã ngự khi thuyết Pháp bên trong một nhà mát bằng ngọc (Ratanamṇḍapa).

**Tháp Maṅgalā**
Do vua Kākavaṇṇatissa xây dựng, tôn thờ Xá-lợi xương trán (Asambhinna) và hai sợi tóc Phật. Tháp có chu vi 280 feet và chiều cao 100 feet. Ngài Trưởng lão Sīva, bậc đệ tử của Ngài Cūḷapiṇḍapātikatissa (em trai của hoàng hậu Vihāradevī) và là bậc đắc Lục thông (Chaḷabhiñña), đã thỉnh hai sợi tóc Phật này từ chỗ vua rồng Jayasena đang cúng dường (vốn là hai sợi tóc trong số tám sợi tóc của hai vị Tapussa và Bhallika từng nhận được nhưng đã để thất lạc).

Cách thành phố Pulatthi 72 dặm và cách thành phố Trincomalee 28 dặm. (Còn được gọi là Seruvāvilamaṅgalā Mahācetiya).

**Tháp Somāvatī**
Do tiểu vương Giri-abay (Selābhaya) xây dựng vào năm 339 Phật lịch, tôn thờ Xá-lợi răng bên phải của Đức Thế Tôn thỉnh từ Ngài Mahinda.

## PAGE 658

**Bảo tháp Divāpī (Dīghavāpī)**
Được đặt theo tên của Vương hậu. Bảo tháp có chu vi 225 foot, chiều cao 150 foot. Cách Polonnaruwa khoảng 14 dặm về phía bờ biển phía đông.

Đức Vua **Saddhātissa** (Phật lịch 407-425) đã xây dựng bảo tháp này tại nơi Đức Thế Tôn cùng năm trăm vị A-la-hán đã nhập định.

Trong Chú giải Tương Ưng Bộ (1, 312) có kể rằng: Một cậu bé trong khi đang trát vữa trên đỉnh bảo tháp thì bị trượt chân rơi xuống. Các vị trưởng lão ở phía dưới đã hét lớn nhắc nhở: "Hãy tụng hộ kinh **Dhajagga** đi!". Khi cậu bé kêu lên: "**Dhajagga suttaṃ maṃ rakkhatu** = Nguyện xin kinh **Dhajagga** cứu con!", thì bất ngờ có hai viên gạch từ bảo tháp nhô ra đỡ lấy như một giàn giáo, giúp cậu thoát chết trong gang tấc.

Nơi đây cách Kandy 60 dặm về phía đông bắc, cách Pottuvil 48 dặm và cách thành phố Batticaloa (bờ biển phía đông) 25 dặm. Từ Kandy đi về phía nam 25 dặm, tàu hỏa phải băng qua những dãy núi Pedro và thành phố trên núi Nuwara Eliya — nơi cao từ 6.000 đến hơn 8.000 foot, có khí hậu tương đương vùng cao nguyên Shan hay nước Ý. Sau khi vượt qua ngọn núi lớn Haputale mới đến được thành phố Batticaloa.

Đây là một vùng thuộc bờ biển phía đông, nơi trưởng lão **Maliyadeva** đã thuyết giảng kinh **Chachakka** (Chasakka Sutta) giúp cho sáu mươi vị Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán. Theo chú giải kinh **Tithāna** trong Tăng Chi Bộ (2, 134), tại vùng Dīghavāpī này, các buổi thuyết pháp của trưởng lão **Mahājātaka Bhāṇaka** đã thu hút rất đông người vượt đường xá khó khăn đến lắng nghe.

**Núi Dấu Chân Phật Samanta (Sumana) – Nơi Mặt Trời Ba Lần Quay Tròn Đảnh Lễ**

Đây là ngọn núi mà Đức Thế Tôn, trong lần thứ ba ngự đến đảo quốc, đã để lại dấu chân bên trái. Trên núi còn có bảo tháp tại hang động "**Divāguhā**", nơi Ngài đã nghỉ ngơi trong ngày. (Riêng dấu chân Phật thì cho đến nay vẫn chưa tìm thấy lại được.)

## PAGE 659

Cách Colombo 33 dặm, ngọn núi này cao 7.630 foot. Sau khi xuống ga tàu Hatton, phải đi tiếp bằng ô tô khoảng 8 dặm về phía tây. Núi này còn được gọi là "Núi **Cetiyapāda**".

Có hai con đường từ Colombo dẫn đến núi **Cetiyapāda** (**Samantakūṭa**). Đi bằng tàu hỏa đến thành phố Hatton mất 100 dặm, rồi từ đó đi đường bộ thêm 80 dặm nữa để đến chân núi. Nếu đi từ thành phố Ratnapura thì gần hơn nhưng đường rất dốc nên ít người đi. Ngay cả những cụ ông, cụ bà cũng thường leo núi và nghỉ lại qua đêm. Vì quá lạnh nên mọi người phải đốt lửa để sưởi ấm và hành thiền. Cơ sở trú ngụ tại đây vẫn chưa đầy đủ.

Người ta truyền tụng rằng mặt trời đã ba lần quay tròn đảnh lễ núi **Cetiyapāda**. Trước khi vầng thái dương ló rạng, ở phương đông xuất hiện các dải màu xanh đậm, đỏ, tím và sắc cầu vồng đan xen. Giữa những luồng sáng rực rỡ, mặt trời hiện ra ban đầu chỉ như hình quả trứng, ẩn hiện liên tục trong khoảng 15 phút. Cảm giác như mặt trời đang quay tròn. Chính vì sự ẩn hiện và chuyển động đặc biệt này mà người ta tin rằng mặt trời đã quay ba vòng đảnh lễ rồi mới bắt đầu mọc lên rõ rệt. Bất cứ ai lên đến đỉnh núi cũng thường có cảm nhận như vậy. (Đây là hiện tượng tự nhiên do đặc điểm địa lý và khí hậu nơi này.)

Một điều kỳ diệu khác khiến những ai đến đỉnh núi **Cetiyapāda** (**Sri Pada**) đều kinh ngạc: ở phía tây của đỉnh núi, bóng của ngọn núi đổ dài từ chân núi ra xa từ sáu mươi đến bảy mươi dặm. Cái bóng khổng lồ này hiện hữu rõ ràng như thế vào bất cứ thời gian nào.

Điều đáng kinh ngạc hơn nữa là không chỉ các tín đồ Phật giáo, mà cả những người theo Kitô giáo, Ấn Độ giáo, và Hồi giáo cũng từng đoàn kéo nhau lên núi. Những người ngoại đạo này cũng tin rằng đây là "Dấu chân của Thánh Thomas", "Dấu chân thần Shiva (**Sivanolipadam**)", hay "Dấu chân của Muhammad (Cha Adam)". Riêng những người theo Kitô giáo, mỗi năm hành hương lên núi đều gọi đây là "Adam's Peak = Dấu chân vĩnh cửu" và tin rằng nơi này chỉ còn cách cõi vĩnh hằng có 40 dặm. (Theo vần thơ "Nhất tại Diêm-phù, nhị tại Hữu", dấu chân Phật thứ hai nằm ở phía bên phải Ấn Độ, tức là tại đảo quốc Lanka này.)

## PAGE 660

### Đảo Linh Thiêng Nāgadīpa

Đảo **Nāgadīpa** là một hòn đảo vô cùng nổi tiếng, được nhắc đến trong các bộ Chú giải lớn cũng như trong các bộ sử Đại Vương Thống, Đảo Vương Thống, Xá-lợi Thống và Bảo Tháp Thống.

Tại đây có bảo tháp **Rājāyatana**, nơi Đức Thế Tôn đã nhập định trong lần thứ hai ngự đến đảo quốc. Đây cũng là nơi Ngài đã thuyết giảng về hòa bình để ngăn chặn cuộc chiến giành ngai vàng giữa hai bác cháu Long vương. Các bộ Chú giải cũng ghi lại rằng, khi Phật pháp sắp biến mất, các Xá-lợi thân Phật từ khắp nơi cũng sẽ hội tụ về hòn đảo này.

Xá-lợi từ cõi người, cõi trời và cõi Phạm thiên trước hết sẽ hội tụ tại **Đại Bảo Tháp** (Mahācetiya). Sau đó sẽ đến đảo **Nāgadīpa**, rồi từ đó ngự về **Cội Bồ-đề**. Tại đây, các Xá-lợi sẽ hợp lại thành hình dáng Đức Phật với đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp và phóng ra hào quang sáu màu rực rỡ. Đây là sự xuất hiện cuối cùng của Phật giáo trước khi Xá-lợi bị lửa hỏa giới thiêu rụi (theo chi tiết trong Chú giải Tương Ưng Bộ 1, 413; Chú giải Kinh Phạn Võng 83; Chú giải Kinh Trung Bộ 81; Chú giải Tăng Chi Bộ 1, 70).

Nàng **Dhammacakkammā Hemā**, người đã tụng kinh **Chuyển Pháp Luân** cúng dường và nhận được viên ngọc quý như ý, vốn là người của đảo **Nāgadīpa** này.

Hòn đảo này được gọi là **Nāgadīpa**, nhưng những người Ấn Độ Tamil gọi là "Nainativu" hoặc đảo "Minipalanga". Dân số trên đảo khoảng năm ngàn người, đa số là người theo Ấn Độ giáo. Diện tích đảo chỉ dài khoảng ba dặm, và chỉ cách bờ biển Ấn Độ 22 dặm.

Trên đường đến **Nāgadīpa** có rất nhiều hòn đảo nhỏ. Từ Colombo, du khách có thể đi tàu hỏa hoặc ô tô hơn 200 dặm đến cảng Jaffna ở cực bắc, từ đó đi ô tô đến đảo Karaitivu, rồi qua phà đến đảo Kayts, sau đó đi tàu máy mới đến được đảo **Nāgadīpa**.

## PAGE 661

| Trang | Dòng | Sai | Đúng |
| :--- | :--- | :--- | :--- |
| 60 | 2 | 2 va | 20 |
| | 4 | Đại trưởng lão | Các vị Đại trưởng lão |
| | 5 | sialkol | sialkot |
| | 6 | Kiến trúc giảng đường tốt lành | Kiến trúc chùa Hoằng Pháp tốt lành |
| | 7 | Urā | Uruga |
| | 8 | Kosa | Kesa |
| | 9 | Pakiṇṇākha | Pakiṇṇaka |
| | 11 | Hòn đảo Ceylon nhỏ bé là | Tại hòn đảo Ceylon nhỏ bé |
| | 12 | Trong chùa có khu vực | Trong khuôn viên chùa |
| | 13 | Những lần là | Nhiều lần |
| 112 | 2 | Nếu nói như thế | Như thế thì |
| 112 | 5 | Ngay cả các vua Myanmar | Ngay cả người Myanmar |
| 192 | 11 | Dhamma-dhiṭṭhān | Dhammādhiṭṭhān |
| 212 | 11-2 | Năm 1340, 12, 3 | Năm 1341, 29, 2 |
| 220 | 7 | Nhượng bộ | Chấp nhận thua |
| 220 | 8 | Trí tuệ già dặn | Trí tuệ thấy rõ sự già dặn |
| 220 | 9 | Thôi ngủ đi nhé | Thôi đi ngủ đi |
| 220 | 10 | Chừng này | Cỡ này |
| 220 | 11 | Điện thờ | Cung điện |
| 229 | 15 | Không đi | Không muốn đi |
| 230 | 28 | Yoti | Hoti |
| 230 | 29 | Vassana | Vana |
| 230 | 30 | Kolāsa | Kelāsa |

## PAGE 662

| Trang | Dòng | Sai | Đúng |
| :--- | :--- | :--- | :--- |
| 318 | 5 | Kāmbhedaka | Kāṭhodaka |
| | 6 | Āraso | Āposo |
| | 7 | Luyện tập | Thuộc lòng |
| | 8 | Các uẩn | Các uẩn là |
| | 9 | Đang thành tựu | Dễ dàng thành tựu |
| 350 | 13, 23 | Sammasitthāna | Sampasitvāna |
| | | Bāḷa, asukhi | Bānti, asuci |
| | | Natabhāsika | Natabhātika |
| 370 | 2, 12 | Tthi, không có trí tuệ | Etthi, không đạt được trí tuệ |
| 420 | 11 | Mārā | Māra |
| 480 | 2 | Cái đang có | Cái đang đau |
| | 3 | Lộ vết thương | Ái dục khởi lên |
| 482 | 8 | Anārata, đang quán | Anabhirata, nếu quán |
| 482 | 9 | Jāti, cảnh giới an tịnh | Dhāt, giới an tịnh |
| 496 | 8 | Phải mắc bệnh | Khỏi được bệnh |
| 501 | 5 | Āṇādesanā | Ādesanā |
| 501 | 6 | Có thể duy trì dễ dàng | (Xóa bỏ) |
| 591 | 10 | Mandalay | Chay-set |
| 601 | 29, 30 | Kết lại | Lấy danh nghĩa là |
| 601 | 31 | Danh nghĩa thật là | Lokau |
