1 00:00:10,800 --> 00:00:18,505 Quý sư gọi khóa học này là khóa học về Kappiya-kāraka đấy. 2 00:00:18,535 --> 00:00:25,511 Nó được gọi chính là khóa học Kappiya-kāraka. 3 00:00:25,541 --> 00:00:36,613 Kappiya-kāraka có nghĩa là người biết cách sắp xếp để mọi việc trở nên hợp pháp (kappiya) cho chư Tăng. 4 00:00:36,643 --> 00:00:46,351 Trong Giáo Pháp (Sāsana), Kappiya-kāraka là vô cùng quan trọng. 5 00:00:46,381 --> 00:00:54,722 Quý sư thường hay nói với các nam nữ thí chủ như thế này. 6 00:00:54,752 --> 00:01:03,186 Quý sư ví như một cái bàn có ba cái chân. 7 00:01:03,216 --> 00:01:11,012 Nếu một cái chân bị gãy, cái bàn đó sẽ không thể đứng vững được nữa. 8 00:01:11,042 --> 00:01:18,565 Cái bàn đó chắc chắn sẽ bị nghiêng và ngã đổ thôi. 9 00:01:18,595 --> 00:01:28,847 Cũng vậy, Giáo Pháp của chúng ta cũng giống như cái bàn có ba chân. 10 00:01:28,877 --> 00:01:38,494 Một chân là chư Tăng (Tỳ-khưu), chân thứ hai là các nam nữ thí chủ. 11 00:01:38,524 --> 00:01:48,322 Chân thứ ba chính là các Kappiya-kāraka, quý sư xem đó là ba cái chân. 12 00:01:48,352 --> 00:01:55,875 Có những thí chủ dâng cúng tứ vật dụng, cũng có những bậc Tăng tôn túc thọ nhận vật thực. 13 00:01:55,905 --> 00:01:57,242 Tuy nhiên, nếu không có Kappiya-kāraka để sắp xếp cho đúng phép (kappiya) thì... 14 00:01:57,272 --> 00:01:59,670 Các bậc thầy, chư Tăng mà quý vị nương tựa có thể rơi vào tình trạng phạm tội (āpatti) đấy. 15 00:01:59,700 --> 00:02:08,170 Vì vậy, Kappiya-kāraka đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong Giáo Pháp. 16 00:02:08,200 --> 00:02:15,869 Do đó, dù là nam thí chủ hay nữ thí chủ Phật giáo thì đều không thể tách rời chư Tăng. 17 00:02:15,899 --> 00:02:26,069 Thí chủ hỗ trợ chư Tăng bằng cách cúng dường tứ sự (y phục, vật thực, trú xứ, dược phẩm). 18 00:02:26,099 --> 00:02:35,770 Chư Tăng cũng hộ trì bằng cách thuyết giảng Chánh Pháp, chỉ dạy và khuyên bảo. 19 00:02:35,800 --> 00:02:41,170 Như vậy, thầy và trò đang cùng nhau phụng sự Giáo Pháp thông qua hai sự hộ trì là vật chất và tâm linh. 20 00:02:41,200 --> 00:02:51,469 Do đó, khi dâng cúng tứ vật dụng đến chư Tăng, trách nhiệm làm cho đúng phép (kappiya) cũng đi kèm với các thí chủ. 21 00:02:51,499 --> 00:02:57,870 Trong Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Nikāya), có kinh Sappurisa-dāna Sutta (Kinh Bố Thí Của Bậc Chân Nhân) mà. 22 00:02:57,900 --> 00:03:05,070 Trong kinh Sappurisa-dāna Sutta có đề cập đến "Kappiyaṃ dānaṃ deti" (Bố thí vật đúng phép). 23 00:03:05,100 --> 00:03:11,969 Có một điểm là phải cúng dường đến chư Tăng những vật đúng phép (kappiya) nhé, phải cúng dường đúng phép. 24 00:03:11,999 --> 00:03:21,170 Vì thế, vật nào là hợp pháp (kappiya), vật nào là không hợp pháp (akappiya), nên cúng dường thế nào, không nên cúng dường thế nào... quý vị cần phải biết những điều này. 25 00:03:21,200 --> 00:03:27,269 Nếu không biết, quý vị sẽ không thể cúng dường đến chư Tăng một cách đúng phép được. 26 00:03:27,299 --> 00:03:35,070 Cho nên, một số người cư sĩ và một số cá nhân thường hay hỏi rằng liệu người cư sĩ có cần biết Luật Tạng (Vinaya) hay không. 27 00:03:35,100 --> 00:03:42,469 Từ thời xưa cho đến nay, việc người cư sĩ có cần biết Luật hay không, quý sư sẽ đưa ra khoảng hai ba điểm để quý vị xem thử nhé. 28 00:03:42,499 --> 00:03:49,170 Khi chư Tăng thọ thực, nếu có các loại hạt nhé. 29 00:03:49,200 --> 00:03:55,969 Nếu có những quả cà chua chín có thể nảy mầm, hay những quả ớt chín. 30 00:03:55,999 --> 00:03:59,370 Hay những loại cây có thể mọc lại như rau húng quế chẳng hạn. 31 00:03:59,400 --> 00:04:03,311 Nếu có các loại mầm hay các loại hạt như vậy, chư Tăng không thể thọ thực được đâu. 32 00:04:03,341 --> 00:04:08,129 Không thể thọ thực được. Vậy nếu không được thì làm sao để thọ thực được đây? 33 00:04:08,159 --> 00:04:12,070 Khi đó, các nam nữ thí chủ phải hỗ trợ thôi, nhé. 34 00:04:12,100 --> 00:04:16,888 Khi có các loại hạt, trái cây hay lá cây có thể nảy mầm như vậy. 35 00:04:16,918 --> 00:04:22,144 Vị sư là bậc thầy phải nói rằng "Kappiyaṃ karohi" (Hãy làm cho đúng phép). 36 00:04:22,174 --> 00:04:26,961 Khi đó, các thí chủ thưa lại rằng "Kappiyaṃ bhante" (Thưa ngài, nó đã hợp pháp) và... 37 00:04:26,991 --> 00:04:32,655 Phải dùng móng tay, hoặc dùng thìa, hoặc vật gì đó để đâm hoặc khía vào trái cây hay lá cây đó. 38 00:04:32,685 --> 00:04:39,224 Vị sư nói "Kappiyaṃ karohi". Thí chủ thưa lại "Kappiyaṃ bhante" rồi thực hiện việc khía/đâm đó. 39 00:04:39,254 --> 00:04:44,918 Chỉ khi đó, quý sư mới có thể thọ thực loại trái cây hay lá cây đó được. 40 00:04:44,948 --> 00:04:51,487 Hãy nhìn xem. Nếu thí chủ không biết điều này, chư Tăng sẽ không thể ăn các loại mầm, trái hay lá cây này đâu. 41 00:04:51,517 --> 00:04:58,057 Nhé. Để hỗ trợ như vậy, quý sư thấy các thí chủ cũng nên hiểu biết về Luật Tạng (Vinaya). 42 00:04:58,087 --> 00:05:05,502 Lại nữa, hãy xem nhé, ở Myanmar chúng ta thường tổ chức các lễ dâng cúng dường lớn hay lễ đặt bát hội. 43 00:05:05,532 --> 00:05:12,948 Khi đặt bát hội hay dâng cúng dường lớn, thường xảy ra việc các thí chủ cúng dường bằng tiền bạc (vật hữu giá). 44 00:05:12,978 --> 00:05:17,327 Các thí chủ lại không biết phải cúng dường tiền bạc như thế nào cho đúng. 45 00:05:17,357 --> 00:05:23,459 Do không biết, mà các bậc tôn túc một phần vì không có thời gian chỉ dạy, một phần vì ngại ngùng. 46 00:05:23,489 --> 00:05:30,466 Quý sư đã thấy và nghe rất nhiều trường hợp chư Tăng phải chấp nhận tiền bạc trực tiếp như vậy. 47 00:05:30,496 --> 00:05:37,036 Vì các thí chủ không hiểu nên đã trực tiếp dâng tiền tận tay cho các Ngài. 48 00:05:37,066 --> 00:05:43,167 Khi đó, chư Tăng vì nể nang nên không tiện nói ra mà đành phải nhận lấy. 49 00:05:43,197 --> 00:05:50,175 Vì hàng đệ tử không am tường, vì các thí chủ là đệ tử không am hiểu nên quý sư, các bậc tôn túc đã phạm phải tội (āpatti). 50 00:05:50,205 --> 00:05:54,554 Do đó, các nam nữ thí chủ nhất định phải hiểu biết về Luật Tạng. 51 00:05:54,584 --> 00:05:56,372 Trong tục ngữ Myanmar có câu: "Đệ tử am tường thì thầy thoát tội", nhé. 52 00:05:56,402 --> 00:05:59,070 Nếu hỏi đệ tử là ai, thì chính là các nam nữ thí chủ Phật giáo... 53 00:05:59,100 --> 00:06:04,070 Chính là các thí chủ. Vì vậy, các nam nữ thí chủ Phật giáo. 54 00:06:04,100 --> 00:06:11,070 Nếu am tường và khéo léo trong các vấn đề liên quan đến Luật Tạng, thì các bậc thầy là chư Tăng mới có thể thoát khỏi phạm tội. 55 00:06:11,100 --> 00:06:18,070 Nhé, khóa học Kappiya-kāraka này không phải để làm thầy chư Tăng, mà chỉ là để hỗ trợ các Ngài. 56 00:06:18,100 --> 00:06:26,070 Để giúp các bậc tôn túc thoát tội, đúng với Luật Tạng, để các Ngài có thể chuyên tâm tu tập Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti). 57 00:06:26,100 --> 00:06:32,070 Đây chỉ là việc hướng dẫn cho các thí chủ cách nương tựa và hộ trì chư Tăng đúng đắn mà thôi. 58 00:06:32,100 --> 00:06:41,070 Nhé, một số người khi nghe nói đến khóa học Luật Tạng hay khóa học Kappiya-kāraka thì có thể nghĩ rằng: "Không biết những người này định làm thầy của các sư hay sao". 59 00:06:41,100 --> 00:06:52,070 Không phải vậy, như mục đích đã nêu trong tài liệu này; đó là để hỗ trợ công việc phụng sự Giáo Pháp của chư Tăng theo đúng Luật Tạng. 60 00:06:52,100 --> 00:07:02,070 Đúng như câu tục ngữ "Đệ tử am tường thì thầy thoát tội", chỉ khi hàng đệ tử thí chủ am hiểu và khéo léo thì các bậc thầy là chư Tăng mới tránh khỏi phạm tội. 61 00:07:02,100 --> 00:07:10,070 Chính vì sự hiểu biết đó mà ngày hôm nay, tất cả quý sư và các thí chủ chúng ta cùng hợp sức tổ chức khóa học Kappiya-kāraka này. 62 00:07:10,100 --> 00:07:17,070 Nhé, xin đừng quên mục đích này. Khóa học Kappiya-kāraka là để các bậc thầy, chư Tăng. 63 00:07:17,100 --> 00:07:26,070 Khi thực hành Pháp học và Pháp hành không bị ảnh hưởng, không bị sứt mẻ hay làm lu mờ giới hạnh (sīla), các nam nữ thí chủ sẽ cùng chung tay hộ trì. 64 00:07:26,100 --> 00:07:35,070 Đây là khóa học để quý vị có thể hỗ trợ và bảo vệ chư Tăng. Trong việc giữ gìn sự thanh tịnh giới hạnh của chư Tăng, vai trò của các thí chủ là vô cùng quan trọng, nhé. 65 00:07:35,100 --> 00:07:46,070 Vì vậy, khi học khóa học này, chúng ta muốn ngăn chặn những tình huống mà vì sự thiếu hiểu biết của người cư sĩ khiến chư Tăng phải phạm tội. 66 00:07:46,100 --> 00:07:54,070 Quý sư muốn ngăn ngừa điều đó. Dù thế nào đi nữa, vì chính bản thân mình, vì các thí chủ, chúng ta phải làm cho giới hạnh của các bậc thầy mà mình nương tựa được thanh tịnh. 67 00:07:54,100 --> 00:07:58,770 Nó cũng bao gồm ý nghĩa của việc thực chứng giáo pháp là không để giới hạnh bị lu mờ. Đó là mục đích của khóa học. 68 00:07:58,800 --> 00:08:04,970 Hôm nay quý sư muốn nói để quý vị cùng ghi nhớ con đường đã chọn này, nhé. 69 00:08:05,000 --> 00:08:12,270 Vì vậy, trong khóa học này, chúng ta cần có một cuốn sách làm khung sườn. 70 00:08:12,300 --> 00:08:21,870 Quý sư lấy cuốn sách "Cách nương tựa cúng dường theo ý nguyện của Đức Phật" do Bộ Tôn giáo ấn hành làm khung sườn chính. 71 00:08:21,900 --> 00:08:32,169 Trong cuốn sách này gồm có 11 chương, nhé. Nó bao gồm 11 chương, và cũng có những phần cần bổ sung thêm. 72 00:08:32,199 --> 00:08:37,270 Quý sư sẽ lấy cuốn sách này làm khung sườn và bổ sung thêm kiến thức để giảng dạy. 73 00:08:37,300 --> 00:08:43,970 Ở một số phần, chúng ta sẽ có những phần thực hành, nhé. Việc thực hành minh họa là rất cần thiết. 74 00:08:44,000 --> 00:08:51,569 Ví dụ, trong phần thực hành, khi cúng dường tiền bạc (vật hữu giá), quý sư cần hướng dẫn cách thức thưa thỉnh và lời thưa thỉnh đúng đắn. 75 00:08:51,599 --> 00:08:56,270 Không chỉ dừng lại ở việc có trong sách, mà nó còn phải nằm lòng và được nói ra bằng lời. 76 00:08:56,300 --> 00:09:01,069 Vì vậy, quý sư sẽ lấy cuốn sách này làm khung sườn để việc ghi chép và trích xuất thông tin được dễ dàng hơn, nhé. 77 00:09:01,099 --> 00:09:04,869 Nếu không, quý vị cứ mải mê viết lách sẽ rất tốn thời gian. 78 00:09:04,899 --> 00:09:09,170 Lúc đầu quý sư định viết một cuốn sách mới, cũng đã suy nghĩ về việc đó. 79 00:09:09,200 --> 00:09:15,270 Nhưng sau khi thấy cuốn sách này, nhận thấy nó rất phù hợp với phong cách mà mình muốn truyền đạt, nên quý sư đã chọn cuốn sách này. 80 00:09:15,300 --> 00:09:22,970 Vì vậy, quý sư sẽ giảng dạy dựa trên khung sườn của cuốn sách "Cách nương tựa cúng dường theo ý nguyện của Đức Phật" do Bộ Tôn giáo ấn hành nhé. 81 00:09:23,000 --> 00:09:35,270 Bây giờ chúng ta bắt đầu nhé. 82 00:09:35,300 --> 00:09:41,970 Chắc hẳn tất cả quý vị đã có sách trong tay. Chúng ta bắt đầu từ khoảng trang 10 nhé. 83 00:09:42,000 --> 00:09:49,270 Ở trang 10, Chương 1 nói về việc mà các thí chủ tiếp xúc hàng ngày với chư Tăng. 84 00:09:49,300 --> 00:09:55,569 Đó chính là vấn đề về cách thức dâng cúng dường vật thực, đồ ăn thức uống, nhé. 85 00:09:55,599 --> 00:09:58,470 Việc dâng cúng dường, có người sẽ nói một cách dễ dàng và xem nhẹ rằng: "Thưa ngài... 86 00:09:58,500 --> 00:10:03,470 Việc dâng cúng dường thì dễ thôi mà", nhưng không phải vậy đâu nhé. 87 00:10:03,500 --> 00:10:09,470 Trong việc dâng cúng, có cách dâng đúng phép và cách dâng không đúng phép. 88 00:10:09,500 --> 00:10:20,470 Chư Tăng không được phép tự ý lấy các loại vật thực, đồ ăn thức uống đang ở trước mặt mình để thọ thực. 89 00:10:20,500 --> 00:10:31,470 Chỉ khi người dâng cúng thực hiện nghi thức dâng cúng thì mới được phép thọ thực. Việc thọ thực sau khi được dâng cúng như thế này là do giới luật quy định của Đức Phật. 90 00:10:31,500 --> 00:10:40,470 Trong các quy tắc của Luật Tạng (Vinaya), có tổng cộng 10 mục đích. Ở đây quý sư muốn nói về hai mục đích chính. 91 00:10:40,500 --> 00:10:48,470 Một điểm là Đức Phật chế định Luật (Vinaya) để ngăn chặn các bất thiện pháp (akusala). 92 00:10:48,500 --> 00:10:58,470 Ví dụ như việc không được sát sanh là do Đức Phật ngăn cấm vì nó tạo ra bất thiện nghiệp sát sanh (pāṇātipāta). 93 00:10:58,500 --> 00:11:08,470 Điểm thứ hai là Luật được chế định để không làm mất đi niềm tịnh tín (pasāda) của các nam nữ thí chủ. 94 00:11:08,500 --> 00:11:18,470 Việc đó có thể không tạo ra bất thiện pháp đâu nhé, nhưng Luật được chế định với mục đích làm tăng trưởng và giữ vững niềm tịnh tín của các thí chủ. 95 00:11:18,500 --> 00:11:28,470 Bây giờ, nếu chư Tăng thọ thực các loại đồ ăn mà không được dâng cúng thì điều gì sẽ xảy ra, có tạo ra bất thiện pháp không? 96 00:11:28,500 --> 00:11:38,470 Nếu thọ thực mà không được dâng cúng thì không tạo ra bất thiện nghiệp, nhưng nó có thể làm suy giảm niềm tịnh tín. 97 00:11:38,500 --> 00:11:48,470 Vì vậy, Đức Phật đã chế định các điều học để niềm tịnh tín của các thí chủ không bị suy giảm. 98 00:11:48,500 --> 00:11:58,170 Có hai mục đích của việc chế định Luật Tạng nhé. Một là để ngăn chặn bất thiện pháp, hai là để tăng trưởng niềm tịnh tín. 99 00:11:58,200 --> 00:12:03,670 Do đó, xin hãy lưu ý những điểm này nhé. 100 00:12:03,700 --> 00:12:10,369 Đôi khi trong thời đại này, chúng ta không nên nói những điều như "những điều này không còn cần thiết nữa" hay "hãy bãi bỏ chúng đi". 101 00:12:10,399 --> 00:12:16,670 Tiếp theo, liên quan đến việc Đức Phật quy định chư Tăng không được thọ thực vật chưa dâng cúng. 102 00:12:16,700 --> 00:12:23,170 Ở đây có đưa vào một phần tóm tắt ngắn gọn về bối cảnh lịch sử (background history) nhé. 103 00:12:23,200 --> 00:12:30,569 Khi Đức Phật đang ngụ tại rừng Migadāvana ở thành Vesālī. 104 00:12:30,599 --> 00:12:37,170 Có một vị Tỳ-khưu đang thực hành hạnh đầu đà (dhutaṅga) Pāṃsukūla (hạnh mặc y phấn tảo) tại nghĩa trang. 105 00:12:37,200 --> 00:12:45,670 Vị Tỳ-khưu này dù có nhiều người đến dâng cúng vật thực và y phục rất tốt nhưng ngài hoàn toàn không muốn thọ nhận. 106 00:12:45,700 --> 00:12:53,370 Tại các gốc cây trong nghĩa trang hay những đống rác, nơi mà mọi người thường đặt các phần vật thực. 107 00:12:53,400 --> 00:13:01,170 Với ý nguyện dành cho cha mẹ, chú bác đã quá vãng được ăn uống, thì vị ấy lại tự ý lấy những vật thực đó để thọ thực. 108 00:13:01,200 --> 00:13:08,969 Vì vị Tỳ-khưu này được ăn uống thỏa thích tại nghĩa trang nên thân hình trở nên béo tốt và da dẻ hồng hào. 109 00:13:08,999 --> 00:13:16,370 Quý sư biết rằng hạnh đầu đà Pāṃsukūla là một trong 13 hạnh đầu đà của chư Tăng. 110 00:13:16,400 --> 00:13:23,670 Trong đó, ý nghĩa của hạnh Pāṃsukūla chủ yếu nói về y phục. 111 00:13:23,700 --> 00:13:31,170 Vị ấy không mặc y phục do chính thí chủ mang đến dâng cúng, mà chỉ mặc y lượm ở nghĩa trang. 112 00:13:31,200 --> 00:13:39,370 Hoặc y vứt bỏ bên đường, việc mặc những loại y phấn tảo như vậy đã được Đức Phật cho phép. 113 00:13:39,400 --> 00:13:46,670 Nhưng vị Tỳ-khưu này đã thực hành có phần hơi quá mức, hơi bị "over" rồi. 114 00:13:46,700 --> 00:13:54,170 Đó là vị ấy quan niệm rằng "ta sẽ không dùng bất cứ thứ gì do con người dâng cúng, vật thực cũng không ăn đồ người ta dâng". 115 00:13:54,200 --> 00:13:57,870 "Ta chỉ lượm đồ phấn tảo (pāṃsukūla) để ăn, y phục cũng mặc đồ phấn tảo", vị ấy được gọi là người thực hành hoàn toàn hạnh phấn tảo (Sabbapāṃsukūlika). 116 00:13:57,900 --> 00:14:02,870 Người ta quan niệm rằng những người đã khuất có thể ăn uống được những vật đó. 117 00:14:02,900 --> 00:14:07,870 Nhưng trong Phật giáo chúng ta thì không phải như vậy nhé. Chúng ta phải hồi hướng phước báu (pattidāna). 118 00:14:07,900 --> 00:14:12,870 Chúng ta quan niệm rằng khi chia sẻ (share) phần phước thiện thì những người ở cảnh giới bên kia mới nhận được. 119 00:14:12,900 --> 00:14:17,870 Quan niệm ở Ấn Độ và Myanmar có chút khác nhau. Ở Ấn Độ người ta quan niệm như vậy đấy. 120 00:14:17,900 --> 00:14:22,870 Họ tin rằng khi đem thức ăn đổ bỏ tại nghĩa trang cho những người đã khuất thì họ sẽ được ăn. 121 00:14:22,900 --> 00:14:27,870 Như thế đấy. Và ở đây, những thí chủ đó đã mang thức ăn đến nghĩa trang để bỏ lại với ý nguyện dành cho cha mẹ, chú bác của họ. 122 00:14:27,900 --> 00:14:32,870 Vị sư lại cứ lượm những thứ đó để thọ thực. 123 00:14:32,900 --> 00:14:37,870 Vì cứ lượm và chọn những đồ ngon để ăn thỏa thích như vậy nên thân hình trở nên béo tốt. 124 00:14:37,900 --> 00:14:42,870 Khi mọi người nhìn thấy vị Tỳ-khưu quá béo tốt do được ăn uống thỏa thích tại nghĩa trang. 125 00:14:42,900 --> 00:14:47,870 Họ liền nghĩ rằng: "Vị Tỳ-khưu này chắc là do ăn thịt người nên mới béo tốt như vậy" và rồi họ chỉ trích, chê bai. 126 00:14:47,900 --> 00:14:52,870 Mọi người đã hiểu lầm. Họ cứ tưởng vị sư này ở nghĩa trang để ăn thịt người. 127 00:14:52,900 --> 00:14:57,870 Vì vậy họ đã quở trách. Phần lớn các điều luật (Vinaya) được chế định là do sự chê bai của người đời. 128 00:14:57,900 --> 00:15:02,870 Nếu quý vị đọc kỹ trong Luật Tạng, theo tiếng Pāli có cụm từ "Ujjhāyanti khīyanti vipācenti". 129 00:15:02,900 --> 00:15:07,870 Có nghĩa là "chê bai, quở trách, phàn nàn", cụm từ này xuất hiện rất thường xuyên. 130 00:15:07,900 --> 00:15:12,870 Đa số các điều luật là do người đời thấy chướng tai gai mắt rồi họ chê bai rằng: "Hẳn là bậc tu hành mà lại làm thế này sao, ở thế kia sao, nói thế nọ sao?". 131 00:15:12,900 --> 00:15:17,870 Khi bị chê bai như vậy, Đức Phật nhận thấy rằng nếu niềm tịnh tín của người đời bị suy giảm thì Giáo Pháp (Sāsana) sẽ khó lòng tồn tại vững bền. 132 00:15:17,900 --> 00:15:22,870 Nếu người đời mất niềm tịnh tín, chư Tăng sẽ không thể duy trì được tứ vật dụng (y phục, vật thực, trú xứ, dược phẩm). 133 00:15:22,900 --> 00:15:27,870 Nếu tứ vật dụng không được duy trì, chư Tăng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tu tập Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti). 134 00:15:27,900 --> 00:15:32,870 Do đó, Đức Phật chế định Luật Tạng với mục đích là để khi người đời chê bai, niềm tịnh tín không bị suy giảm mà trái lại còn tăng trưởng hơn. 135 00:15:32,900 --> 00:15:37,870 Chúng ta cần phải lưu ý kỹ điểm này. 136 00:15:37,900 --> 00:15:42,870 Chư Tăng không nên làm những việc khiến người đời bị suy giảm niềm tịnh tín. 137 00:15:42,900 --> 00:15:47,870 Ở đây cũng vậy, không phải vì Đức Phật thấy đó là bất thiện pháp đâu nhé. Mà là vì người đời chê bai. 138 00:15:47,900 --> 00:15:52,870 Khi mọi người chê bai rằng: "Không biết vị sư ở nghĩa trang kia có đang ăn thịt người hay không", thì Đức Phật. 139 00:15:52,900 --> 00:15:57,570 Chính vì nguyên nhân đó mà Ngài đã chế định điều luật này. 140 00:15:57,600 --> 00:16:03,070 Khi Đức Phật nghe biết về sự việc này, để những người chưa có đức tin sẽ khởi lòng tịnh tín. 141 00:16:03,100 --> 00:16:07,769 Điểm này nhé. Như lúc đầu quý sư đã nói. Việc chế định Luật Tạng. 142 00:16:07,799 --> 00:16:15,070 Một phần là để ngăn chặn bất thiện pháp, một phần là để niềm tịnh tín của các thí chủ không bị suy giảm, nhé. 143 00:16:15,100 --> 00:16:22,370 Ở đây cũng vậy, trong Giáo Pháp này, nơi cần phải tu tập để người chưa tin khởi lòng tịnh tín, chư Tăng. 144 00:16:22,400 --> 00:16:30,070 Đối với các loại vật thực, đồ ăn thức uống, nếu người dâng cúng không tận tay dâng cúng thì không được tự ý lấy để thọ thực. 145 00:16:30,100 --> 00:16:38,770 Nếu tự ý thọ thực thì sẽ phạm tội Ưng đối trị (Pācittiya). Đó chính là bối cảnh lịch sử của điều luật này. 146 00:16:38,800 --> 00:16:47,070 Việc biết được bối cảnh lịch sử tại sao chư Tăng phải được dâng cúng rồi mới thọ thực sẽ giúp chúng ta hiểu rõ vấn đề hơn, nhé. 147 00:16:47,100 --> 00:16:52,770 Vậy ở đây, tội đó được gọi là tội Pācittiya (Ưng đối trị), quý vị hãy ghi nhớ như một kiến thức bổ trợ nhé. 148 00:16:52,800 --> 00:17:00,369 Nghĩa của từ Pācittiya là gì? Khi giải thích định nghĩa (definition) trong sách có nói: "Kusalacittaṃ pātetīti pācittiyaṃ". 149 00:17:00,399 --> 00:17:08,070 "Kusalacittaṃ" là tâm thiện, "pāteti" là làm rơi rụng hoặc làm hư hỏng. Do đó gọi là "Pācittiya". 150 00:17:08,100 --> 00:17:14,770 Nó làm hư hại các tâm thiện, nhé. Đó là ý nghĩa của Pācittiya. Vì làm hư hại tâm thiện nên được gọi là Pācittiya. 151 00:17:14,800 --> 00:17:22,070 Đối với chư Tăng, nếu vi phạm những tội này thì có thể dẫn đến bất thiện nghiệp. Có một số điều luật nếu vi phạm sẽ tạo ra bất thiện pháp. 152 00:17:22,100 --> 00:17:30,770 Hơn nữa, nếu đã biết rõ rằng "những việc này không được phép làm" mà vẫn làm thì có nghĩa là không tôn trọng và không cung kính uy lực của Đức Phật. 153 00:17:30,800 --> 00:17:39,369 Trong đời sống thế gian, cha mẹ thường dặn bảo: "Con không được đi chơi nhé, đừng ra ngoài nhé, đừng đi đâu nhé", họ ngăn cấm như vậy. 154 00:17:39,399 --> 00:17:48,070 Thế nhưng giới trẻ không nghe lời, vẫn cứ đi ra ngoài, thì đó là biểu hiện của sự không tôn kính, không nể sợ cha mẹ. 155 00:17:48,100 --> 00:17:57,270 Cũng vậy, những gì Đức Phật đã dạy là "đừng làm" mà vẫn cứ làm thì đó là không nể sợ Đức Phật. 156 00:17:57,300 --> 00:18:02,270 Nhé. Không nể sợ Đức Phật thì được gọi là tạo ra bất thiện nghiệp. 157 00:18:02,300 --> 00:18:07,270 Việc vô tình làm sai do không biết hay không hiểu trong khi mới xuất gia gieo duyên (dullabha) thì chưa hẳn là bất thiện nghiệp. 158 00:18:07,300 --> 00:18:12,270 Nhưng một khi đã biết rõ rằng việc này không nên làm, thì nhất định không nên làm. 159 00:18:12,300 --> 00:18:17,270 Nếu vẫn làm thì đó là sự không nể sợ, không tôn kính Đức Phật, nhé. 160 00:18:17,300 --> 00:18:22,270 Như vậy, về kiến thức bổ trợ cho tội Pācittiya (Ưng đối trị), nếu hỏi cái gì được gọi là Pācittiya. 161 00:18:22,300 --> 00:18:27,270 Thì chính cái bản chất làm hư hại tâm thiện được gọi là tội Pācittiya, nhé. 162 00:18:27,300 --> 00:18:32,270 Liên quan đến việc chư Tăng phải được dâng cúng rồi mới được thọ thực. 163 00:18:32,300 --> 00:18:37,270 Ở đây có phần dịch trực tiếp từ bản văn Luật Tạng (Vinaya), nhé. 164 00:18:37,300 --> 00:18:42,270 Ở trang 11, trong phần "Trong quy định điều học đó", cả một đoạn văn đã được dịch ra đấy. 165 00:18:42,300 --> 00:18:47,270 Đó là bản dịch sát nghĩa không sai chạy. "Vị Tỳ-khưu nào, ngoại trừ nước và tăm xỉa răng (dandapona). 166 00:18:47,300 --> 00:18:52,270 Mà đưa vào miệng những vật thực chưa được dâng cúng, hoặc nuốt vào. 167 00:18:52,300 --> 00:18:57,270 Vị Tỳ-khưu đó sẽ phạm tội Ưng đối trị (Pācittiya)", nhé. 168 00:18:57,300 --> 00:19:02,270 Đây là bản dịch trực tiếp từ nguyên văn Pāli của điều học Vinaya. 169 00:19:02,300 --> 00:19:07,270 Như vậy, với cụm từ "ngoại trừ nước và tăm xỉa răng" thì nước không cần phải dâng cúng. 170 00:19:07,300 --> 00:19:12,270 Và tăm xỉa răng cũng không cần dâng cúng, nhé. Ngoài nước và tăm xỉa răng ra, tất cả những vật thực khác. 171 00:19:12,300 --> 00:19:17,270 Nhé, bất cứ thứ gì đưa vào miệng để nuốt thì quý sư đều cần phải được dâng cúng. 172 00:19:17,300 --> 00:19:22,270 Nếu không được dâng cúng mà tự ý thọ thực thì sẽ phạm tội Ưng đối trị (Pācittiya). 173 00:19:22,300 --> 00:19:27,270 Đây là một vấn đề liên quan trực tiếp hàng ngày giữa các thí chủ và chư Tăng trong việc ăn uống, nhé. 174 00:19:27,300 --> 00:19:32,270 Do đó, khi dâng cúng vật thực đến chư Tăng. 175 00:19:32,300 --> 00:19:37,270 Nước uống tinh khiết và tăm xỉa răng thì không cần phải làm nghi thức dâng cúng. 176 00:19:37,300 --> 00:19:42,270 Ở đây có nói rõ là "nước tinh khiết", nhé. 177 00:19:42,300 --> 00:19:47,270 Ý muốn nói là nếu nước không tinh khiết thì cần phải dâng cúng. 178 00:19:47,300 --> 00:19:52,270 Một số người có hỏi: "Thưa ngài, nước có cần phải dâng cúng không?", nhé. 179 00:19:52,300 --> 00:19:54,272 Trong các loại nước, có loại cần dâng cúng và có loại không cần dâng cúng, nhé. 180 00:19:54,302 --> 00:19:56,970 Nếu nước có cặn, có bụi bẩn thì loại nước đó cần phải được dâng cúng, nhé, cần phải dâng cúng. 181 00:19:57,000 --> 00:20:01,470 Nếu là các loại nước tinh khiết đóng chai thì quý sư có thể tự mình lấy uống mà không cần dâng cúng. 182 00:20:01,500 --> 00:20:08,169 Đúng vậy, tăm xỉa răng (dandapona) thì ngày nay đã ít dùng rồi nhé. Ở Ấn Độ thì họ vẫn còn dùng cho đến ngày nay. 183 00:20:08,199 --> 00:20:15,470 Phía dưới có giải thích rõ. Dandapona theo phong tục Ấn Độ là loại que gỗ dùng để nhai cho ra nước tiết ra khi nhai. 184 00:20:15,500 --> 00:20:25,169 Họ quan niệm rằng loại nước tiết ra đó giúp ngăn ngừa sâu răng, làm răng sạch và chắc khỏe; họ thường dùng gỗ cây neem (tần bì), gỗ táo quân... cắt dài khoảng 4-5 thốn (lóng tay). 185 00:20:25,199 --> 00:20:34,470 Có người nói rằng dandapona ngày nay chính là bàn chải đánh răng, nhé. Thực tế thì bàn chải đánh răng ngày nay và dandapona chẳng liên quan gì đến nhau cả. 186 00:20:34,500 --> 00:20:43,769 Dandapona là những cành cây neem chẳng hạn. Trong Luật Tạng cũng có một quy tắc là dandapona không được ngắn hơn 4 thốn (4 lóng tay). 187 00:20:43,799 --> 00:20:53,170 Đây là một quy tắc Vinaya liên quan đến dandapona, nhân tiện thì quý vị hãy ghi nhớ nhé. Dandapona được phép để ngắn nhất là bao nhiêu? Không được ngắn dưới 4 thốn. 188 00:20:53,200 --> 00:21:02,470 Còn về chiều dài, không được dài quá 8 thốn. Quý vị hãy tự mình ghi chú lại kiến thức bổ trợ này nhé. 189 00:21:02,500 --> 00:21:09,769 Trong sách này không có nói điều đó. Vì vậy quý sư sẽ bổ sung thêm một số ý. 190 00:21:09,799 --> 00:21:18,170 Sau đó, nếu có chỗ nào chưa rõ hay những gì quý sư nói mà quý vị chưa hiểu thì xin hãy hỏi lại nhé. 191 00:21:18,200 --> 00:21:27,470 Như vậy, hãy nhớ kích thước của dandapona. Dandapona là những cành cây neem hay cây táo quân như đã nói, được cắt thành từng đoạn để nhai. 192 00:21:27,500 --> 00:21:36,769 Về kích thước, không được dài quá 8 thốn và không được ngắn dưới 4 thốn. 193 00:21:36,799 --> 00:21:45,170 Liên quan đến điều này, lúc quý sư còn nhỏ, nhé. Trước khi học về văn bản Pāli, quý sư cũng từng có một thắc mắc. 194 00:21:45,200 --> 00:21:51,470 Rất nhiều cuốn sách đã dịch từ dandapona thành "bàn chải đánh răng". 195 00:21:51,500 --> 00:21:53,972 Vì dịch dandapona là bàn chải đánh răng nên quý sư đã thắc mắc rằng: "À, nếu vậy thì bàn chải đánh răng ngày nay dài hơn 8 thốn rồi". 196 00:21:54,002 --> 00:21:56,670 Quý sư đã thử đo nhé. Nó dài khoảng 10 thốn. "Hả, vậy thì những cái bàn chải đánh răng này không còn đúng phép (akappiya) nữa sao?". 197 00:21:56,700 --> 00:22:01,670 Quý sư đã từng nghĩ rằng mình phải cắt ngắn cái bàn chải đánh răng đi. 198 00:22:01,700 --> 00:22:06,670 Khi đó, quý sư đã lấy thốn tay ra đo. Sau đó lấy dao cắt bỏ phần thừa đi. 199 00:22:06,700 --> 00:22:11,670 Quý sư đã cắt bỏ phần đó, đối với cái bàn chải đánh răng ấy. 200 00:22:11,700 --> 00:22:16,670 Hồi còn nhỏ, lúc còn là Sa-di, quý sư đã từng cắt bàn chải đánh răng như thế để dùng. 201 00:22:16,700 --> 00:22:21,670 Nhé. Sau này khi lớn lên và suy xét lại, quý sư mới thấy rằng dandapona và bàn chải đánh răng không liên quan đến nhau. 202 00:22:21,700 --> 00:22:26,670 Dandapona là thứ dùng để nhai rồi súc miệng và nhổ ra. Còn bàn chải đánh răng chỉ là cái bàn chải (brush) thôi, nhé. 203 00:22:26,700 --> 00:22:31,670 Nó không liên quan đến nhau cả. Vì vậy, sau khi đã thông thạo các văn bản Pāli. 204 00:22:31,700 --> 00:22:36,670 Quý sư đã từ bỏ quan niệm cắt ngắn bàn chải đánh răng để dùng. Không còn cắt nữa đâu nhé. 205 00:22:36,700 --> 00:22:41,670 Cứ để nguyên như vậy mà dùng thôi. Bởi vì bàn chải đánh răng không phải là dandapona. 206 00:22:41,700 --> 00:22:46,670 Dandapona là cành cây neem hay các loại cây tương tự để nhai. Vậy liên quan đến việc dandapona không cần phải dâng cúng. 207 00:22:46,700 --> 00:22:51,670 Nếu khi nhai cành cây neem đó mà vô tình có bã gỗ hay nước cây lọt vào trong cổ họng. 208 00:22:51,700 --> 00:22:56,670 Thì quý sư nhất định phải được dâng cúng. Vì vậy, quý sư cho rằng dandapona thực sự vẫn nên được dâng cúng, nhé. 209 00:22:56,700 --> 00:23:01,670 Tại vì dù có súc miệng kỹ đến đâu đi nữa thì giữa các kẽ răng vẫn có thể còn sót lại những mẩu bã nhỏ. 210 00:23:01,700 --> 00:23:06,670 Những bột cây neem hay một ít nước cây vẫn còn dính lại. Khi uống nước hay khi nuốt nước bọt. 211 00:23:06,700 --> 00:23:11,670 Nếu nó trôi vào cổ họng thì quý sư sẽ bị phạm tội (āpatti) đấy. 212 00:23:11,700 --> 00:23:16,670 Khi nhai dandapona mà không được dâng cúng, nếu lỡ nuốt vào thì sẽ phạm tội. Vì vậy, quý sư thấy rằng dandapona cũng nên được dâng cúng, nhé. 213 00:23:16,700 --> 00:23:21,670 Nếu hoàn toàn cam đoan rằng không nuốt, không có gì lọt vào trong thì không cần dâng cúng cũng được, nhé. 214 00:23:21,700 --> 00:23:26,670 Chỉ những thứ gì nuốt vào trong miệng mới cần phải được dâng cúng. Nếu không nuốt thì không cần phải dâng cúng. 215 00:23:26,700 --> 00:23:31,670 Vì vậy, có một số người hỏi rằng các loại thuốc bôi ngoài da có cần dâng cúng không. 216 00:23:31,700 --> 00:23:36,670 Các loại dầu xoa bóp, thuốc bôi thì đâu có nuốt vào đâu, nhé. Vì không phải để nuốt. 217 00:23:36,700 --> 00:23:41,670 Nên các loại thuốc bôi này không cần phải dâng cúng. Vậy thì cái gì mới cần phải được dâng cúng? 218 00:23:41,700 --> 00:23:46,670 Những gì đưa vào miệng và phải nuốt vào thì tất cả đều phải được dâng cúng. 219 00:23:46,700 --> 00:23:51,670 Còn nước thì tuy là có nuốt vào, nhưng nước không nằm trong danh mục vật thực (ăn uống), nhé. 220 00:23:51,700 --> 00:23:56,370 Vì nước không nằm trong danh mục vật thực nên quý sư không cần phải được dâng cúng nước, nhé. 221 00:23:56,400 --> 00:23:59,380 Khi phân loại những vật phẩm không cần dâng cúng, 222 00:23:59,410 --> 00:24:02,563 ngoại trừ nước vậy, và ngay cả nước thì ngoại trừ nước uống sạch nhé. 223 00:24:02,593 --> 00:24:05,402 Ngoại trừ nước uống sạch, tất cả những gì có thể nuốt vào trong miệng, 224 00:24:05,432 --> 00:24:08,585 hễ là thứ phải nuốt vào thì đều cần phải được dâng cúng, 225 00:24:08,615 --> 00:24:11,424 quý sư có thể ghi nhớ tóm tắt như thế này nhé. 226 00:24:11,454 --> 00:24:14,262 Do đó, giữa những vật phẩm cần phải dâng cúng và 227 00:24:14,292 --> 00:24:17,445 những vật phẩm không cần dâng cúng, hãy phân biệt và hiểu như thế này nhé. 228 00:24:17,475 --> 00:24:20,628 Thế nên đối với nước, nếu nó không sạch thì chúng ta cần phải dâng cúng vậy nhé. 229 00:24:20,658 --> 00:24:24,327 Nếu trong nước có bụi bặm hay thứ gì đó thì cần phải dâng cúng, đối với nước ấy. 230 00:24:24,357 --> 00:24:28,026 Như vậy, quý sư cũng đã hiểu đôi chút về chuyện tăm xỉa răng rồi nhé, tăm xỉa răng. 231 00:24:28,056 --> 00:24:31,811 Cho đến thời điểm hiện tại, một số bậc Trưởng lão vẫn thường có thói quen nhai tăm xỉa răng nhé. 232 00:24:31,841 --> 00:24:36,370 Vì loại nước uống trong sạch tinh khiết đó không nằm trong nhóm đồ ăn cứng hay vật thực, 233 00:24:36,400 --> 00:24:39,209 và lý do tại sao không cần dâng cúng là vì nước uống 234 00:24:39,239 --> 00:24:42,134 không bao gồm trong các loại vật thực hay đồ ăn. 235 00:24:42,164 --> 00:24:45,833 Tiếp theo, vì tăm xỉa răng không phải là loại vật phẩm dùng để ăn uống, 236 00:24:45,863 --> 00:24:49,876 tăm xỉa răng không phải là thứ để nuốt mà là thứ dùng để nhai rồi nhổ ra. 237 00:24:49,906 --> 00:24:54,435 Do đó, tự thân chúng vốn là những vật phẩm hợp lẽ nên không cần dâng cúng nhé. 238 00:24:54,465 --> 00:24:57,618 Đây là lý do mà tăm xỉa răng và nước không cần phải dâng cúng. 239 00:24:57,648 --> 00:25:01,317 Thế thì nếu hỏi tại sao nước không cần dâng cúng, là bởi vì nó trong sạch tinh khiết, 240 00:25:01,347 --> 00:25:04,156 không nằm trong nhóm vật thực nên không cần dâng cúng. 241 00:25:04,186 --> 00:25:07,339 Còn tăm xỉa răng thì vì không phải là thứ để nuốt nên không cần dâng cúng. 242 00:25:07,369 --> 00:25:11,382 Nếu là thứ phải nuốt, nếu có việc nuốt vào thì quý sư cần phải dâng cúng. 243 00:25:11,412 --> 00:25:14,221 Thế nên, có người hỏi về các loại kem đánh răng thời nay vậy. 244 00:25:14,251 --> 00:25:17,059 Rằng bạch Ngài, kem đánh răng có cần phải dâng cúng không vậy. 245 00:25:17,089 --> 00:25:20,242 Kem đánh răng thì sau khi đánh xong, người ta súc miệng rồi nhổ đi đấy thôi. 246 00:25:20,272 --> 00:25:24,285 Điều này cũng như quý sư vừa nói, nếu nó còn dính lại ở răng và 247 00:25:24,315 --> 00:25:27,124 khi uống nước hay khi nuốt nước miếng 248 00:25:27,154 --> 00:25:30,307 mà nó bị cuốn theo vào trong thì, quý sư thấy đó, kem đánh răng này cũng 249 00:25:30,337 --> 00:25:34,006 nằm trong diện phải được dâng cúng vậy nhé, các thí chủ cần phải biết điều này vậy. 250 00:25:34,036 --> 00:25:39,425 Thế nên, ngoại trừ nước và tăm xỉa răng kể trên, còn lại các loại vật thực, thịt, cá, đồ ăn, các loại bánh, 251 00:25:39,455 --> 00:25:43,468 các loại trái cây, các loại nước trái cây và các loại thuốc men/dược phẩm thì 252 00:25:43,498 --> 00:25:47,167 vì chư Tỳ-khưu chỉ được phép thọ dụng sau khi đã được dâng cúng, 253 00:25:47,197 --> 00:25:51,211 nên chúng là những vật phẩm phải được dâng cúng; việc cái nào phải dâng, cái nào không 254 00:25:51,241 --> 00:25:53,533 đến mức độ này thì quý sư đã rõ ràng rồi vậy nhé. 255 00:25:53,563 --> 00:25:55,033 Còn đối với các loại thuốc bôi kia thì quý sư không cần dâng cúng cũng được vậy nhé. 256 00:25:55,063 --> 00:25:56,070 Bởi vì chúng không phải là thứ dùng để ăn uống như đã nói. 257 00:25:56,100 --> 00:26:02,570 Về "bụi xe" (rathareṇu-mū) ở phía dưới giải thích nhé: bụi bặm bốc lên do xe cộ, xe bò qua lại. 258 00:26:02,600 --> 00:26:09,070 Khi xe cộ đi lại, hay ở các làng quê khi xe bò đi qua thì bụi bặm bốc lên. 259 00:26:09,100 --> 00:26:15,570 Loại bụi đó trong kinh điển gọi là rathareṇu-mū. 260 00:26:15,600 --> 00:26:22,070 Loại bụi đó cũng nằm trong danh mục những thứ cần phải được dâng cúng đấy. 261 00:26:22,100 --> 00:26:28,570 Hả, quý vị có thể thắc mắc rằng "Ngài nói kỹ quá, đến cả bụi bặm mà cũng cần dâng cúng sao?", thì câu trả lời là cần thiết đấy nhé. 262 00:26:28,600 --> 00:26:35,070 Bởi vì bụi bặm cũng là... 263 00:26:35,100 --> 00:26:41,570 Khi chư Tăng thọ thực hay uống nước, nếu trong nước hay trong vật thực có lẫn bụi bặm (rathareṇu) thì việc dâng cúng đó bị hỏng (mất hiệu lực dâng cúng). 264 00:26:41,600 --> 00:26:48,070 Do đó cần phải được dâng cúng lại nhé. Ở đây không ám chỉ loại bụi li ti chỉ nhìn thấy khi có ánh nắng chiếu qua đâu nhé. 265 00:26:48,100 --> 00:26:54,570 Bình thường chúng ta không nhìn thấy bụi. Ngay cả trong căn phòng này cũng có bụi, ngoài đường cũng có bụi. 266 00:26:54,600 --> 00:27:01,070 Loại bụi cực nhỏ chỉ thấy được dưới ánh nắng thì gọi là paramāṇu-mū. Nó cực kỳ vi tế. 267 00:27:01,100 --> 00:27:07,570 Đối với loại bụi chỉ thấy dưới ánh nắng như vậy thì không cần phải dâng cúng, nhé. 268 00:27:07,600 --> 00:27:14,070 Vì bụi thì lúc nào chẳng có. Không cần dâng cúng. Nhưng đối với loại bụi mà mắt thường nhìn thấy được khi xe cộ đi qua thì loại đó cần phải được dâng cúng. 269 00:27:14,100 --> 00:27:20,570 Vì vậy, khi quý sư đi khất thực chẳng hạn. Thời xưa đi khất thực không có nắp bát đâu nhé. 270 00:27:20,600 --> 00:27:27,070 Thời nay có nắp bát nên cũng đỡ hơn. Xưa không có nắp bát, các ngài thường dùng vạt y để che bát khi đi khất thực. 271 00:27:27,100 --> 00:27:33,570 Khi đó, nếu có xe máy chạy qua bên cạnh, hay xe bò đi qua làm bụi bốc lên và rơi vào bát. 272 00:27:33,600 --> 00:27:40,070 Những bụi bặm đó bay vào trong bình bát. Khi đó, quý sư phải làm gì? Đó là không thể tiếp tục nhận vật thực được nữa. 273 00:27:40,100 --> 00:27:46,570 Khi ấy, phải nhờ một người nào đó gặp được, nhờ họ dâng cúng lại bình bát, phải bảo họ dâng lại bình bát đó. 274 00:27:46,600 --> 00:27:53,070 Bởi vì bên trong bình bát, bụi đã bay vào trong vật thực rồi. Do đó, khi quý sư đi khất thực mà bụi bay vào trong bình bát thì cần phải được dâng cúng lại nhé. 275 00:27:53,100 --> 00:27:55,770 Các thí chủ cần phải biết điều đó nhé. Nếu những hạt bụi nhỏ (rathareṇu) đó rơi vào trong nước uống thì nước uống đó... 276 00:27:55,800 --> 00:28:00,270 À, sẽ trở thành phi như pháp (không hợp lệ để dùng) như đã nói lúc nãy. 277 00:28:00,300 --> 00:28:04,969 Nếu bụi bặm rơi vào trong ly nước uống thì cần phải được dâng cúng lại. 278 00:28:04,999 --> 00:28:09,869 Vì vậy, có lần tôi đã viết về vấn đề liên quan đến Vinaya (Luật Tạng). 279 00:28:09,899 --> 00:28:15,070 Ở Myanmar, có một vị trưởng lão nổi tiếng là ngài Hòa thượng Khin Mon (Khin Mon Sayadaw) nhé. 280 00:28:15,100 --> 00:28:19,770 Ngài Hòa thượng Khin Mon là vị vô cùng kính trọng Luật Tạng. 281 00:28:19,800 --> 00:28:24,270 Ngài Hòa thượng Khin Mon đó cẩn trọng với các tội vi tế (kukkucca) đến mức nào, 282 00:28:24,300 --> 00:28:28,970 Khi ngài dùng vật thực, thuở xưa các ngôi chùa đa số thường là 283 00:28:29,000 --> 00:28:33,770 Những ngôi chùa lợp bằng lá dừa nước (dhani). Vì là chùa lợp lá dừa nước nên 284 00:28:33,800 --> 00:28:38,270 Những mái lá dừa nước đó đôi khi bị sâu mọt ăn và rơi ra những bụi vụn. 285 00:28:38,300 --> 00:28:42,870 Lúc đó, ngài Hòa thượng nảy sinh sự nghi ngờ. 286 00:28:42,900 --> 00:28:47,169 Trong khi ngài đang dùng vật thực, ngài nghi ngờ rằng từ mái lá dừa nước trên nóc nhà 287 00:28:47,199 --> 00:28:51,970 Sẽ có những bụi vụn rơi vào trong bình bát của mình. Vì có sự nghi ngờ như vậy nên ngài đã làm gì? 288 00:28:52,000 --> 00:28:56,770 Ngài đã giăng màn (mùng) để dùng vật thực đấy nhé. Các vị Hòa thượng thuở ấy, 289 00:28:56,800 --> 00:29:01,270 Khi liên quan đến Luật Tạng thì họ đặc biệt như vậy đó. 290 00:29:01,300 --> 00:29:05,970 Điều này phải nói là rất đáng tịnh tín (ngưỡng mộ), chứ không phải nói là cực đoan đâu nhé. 291 00:29:06,000 --> 00:29:10,770 Một số người có thể sẽ nói rằng ngài Hòa thượng này thật cực đoan. 292 00:29:10,800 --> 00:29:15,270 Không phải đâu, đó là ngài đang tuân thủ một cách chính xác giáo luật của đức Phật trong khả năng của mình. 293 00:29:15,300 --> 00:29:19,869 Không được chỉ trích điều này, mà phải tịnh tín (kính trọng) mới đúng. 294 00:29:19,899 --> 00:29:24,770 Đừng có nói rằng: "Vị sư này thật cực đoan, đang bày vẽ để người khác coi trọng mình." 295 00:29:24,800 --> 00:29:29,970 Đó là tùy theo đức tin (saddhā) của ngài mà tuân thủ chính xác giáo luật của đức Phật nhé. 296 00:29:30,000 --> 00:29:34,770 Đó là ngài tuân thủ hết mức có thể trong khả năng của mình, không được chỉ trích điều đó. 297 00:29:34,800 --> 00:29:39,869 Chúng ta lại càng phải tịnh tín hơn nữa. Ngài Hòa thượng Khin Mon đã từng như vậy đó. 298 00:29:39,899 --> 00:29:44,770 Vì sợ bụi rơi vào trong bình bát mà ngài đã giăng màn để dùng vật thực, 299 00:29:44,800 --> 00:29:49,270 Đó là một mẩu chuyện được ghi chép lại trong giáo pháp (Sāsana). 300 00:29:49,300 --> 00:29:53,970 Do đó, đối với những hạt bụi này, những hạt bụi có thể nhìn thấy bằng mắt thường, 301 00:29:54,000 --> 00:29:55,470 Nếu rơi vào trong ly nước hay bát cơm thì cần phải được dâng cúng lại nhé. 302 00:29:55,500 --> 00:29:56,000 Cần phải được dâng cúng lại. Đối với nước uống đã được lọc bằng túi lọc nước (ye-sit) thì không cần phải dâng lại. 303 00:29:56,030 --> 00:30:00,970 Việc cúng dường túi lọc nước, đây cũng là một điều cần lưu ý. Ngày nay, 304 00:30:01,000 --> 00:30:06,470 Khi cúng dường bát bộ đồ phụ tùng (parikkhāra), túi lọc nước đi kèm thường không tốt, giống như đồ chơi trẻ em vậy. 305 00:30:06,500 --> 00:30:11,970 Không có túi lọc nước tốt. Hồi tôi còn nhỏ, trong đó có cái gì bạn biết không? 306 00:30:12,000 --> 00:30:17,470 Có một cái chén nhỏ xíu, một cái chén bằng nhựa nhỏ. 307 00:30:17,500 --> 00:30:22,970 Bên ngoài cái chén đó được sơn màu bạc. 308 00:30:23,000 --> 00:30:28,470 Họ gọi đó là túi lọc nước kiểu "Dhammaka-ruing" (dhammakaraka) rồi cho vào trong bộ đồ phụ tùng. 309 00:30:28,500 --> 00:30:33,970 Thực ra cái chén đó chẳng làm được gì cả, chỉ là một cái chén nhựa nhỏ thôi. 310 00:30:34,000 --> 00:30:39,470 Khi hỏi tại sao lại cho cái đó vào, họ bảo là cho vào để đại diện cho túi lọc nước đấy mà. 311 00:30:39,500 --> 00:30:44,970 Về túi lọc nước thì có hai loại. Loại thứ nhất là túi lọc bằng vải mà ngày nay đang dùng. 312 00:30:45,000 --> 00:30:50,470 Có một loại túi lọc bằng vải mà mọi người thường dùng. Còn một loại nữa gọi là "Dhammaka-ruing". 313 00:30:50,500 --> 00:30:55,970 "Dhammaka-ruing" là cái chén đó nhưng được đục lỗ ở dưới đáy, 314 00:30:56,000 --> 00:31:01,470 Còn ở miệng chén thì được buộc bằng một miếng vải lọc. 315 00:31:01,500 --> 00:31:06,970 Quý sư dùng cái đó để lọc nước rồi mới uống, gọi là "Dhammaka-ruing". 316 00:31:07,000 --> 00:31:12,470 Ngày nay thì loại "Dhammaka-ruing" đó không còn thấy đại diện nữa. 317 00:31:12,500 --> 00:31:17,970 Thỉnh thoảng tôi có thấy ở những tiệm may y như tiệm y Jotika chẳng hạn. 318 00:31:18,000 --> 00:31:23,470 Tôi có thấy loại "Dhammaka-ruing" do những tiệm y này sản xuất. 319 00:31:23,500 --> 00:31:28,970 Còn những loại "Dhammaka-ruing" khác thì hầu như không còn thấy ở Myanmar nữa. 320 00:31:29,000 --> 00:31:34,470 Như vậy, túi lọc nước có hai loại như vậy. Một loại là túi lọc vải thông dụng. 321 00:31:34,500 --> 00:31:39,970 Hai là loại túi lọc "Dhammaka-ruing" như đã nói. Có hai loại túi lọc nước nhé. 322 00:31:40,000 --> 00:31:48,799 Quý sư có thể dùng bất cứ loại nào để lọc nước uống. Vậy nên, khi cúng dường bát bộ đồ phụ tùng, 323 00:31:48,829 --> 00:31:51,670 Khi chúng ta đã hiểu rõ về những vật dụng cần được dâng cúng một cách hợp pháp (kappiya) hay không, 324 00:31:51,700 --> 00:31:54,570 thì phần thứ hai tiếp theo sẽ là về phương thức dâng cúng (kappana) như thế nào. 325 00:31:54,600 --> 00:31:55,170 Cách thức dâng cúng vật thực sẽ được trình bày tiếp theo sau đây. 326 00:31:55,200 --> 00:31:59,370 Nếu quý vị muốn ghi nhớ một cách tóm gọn nhất, 327 00:31:59,400 --> 00:32:03,670 Thì hễ là vật thực nào phải đưa vào miệng để nhai nuốt thì đều cần phải được dâng cúng chính thức, 328 00:32:03,700 --> 00:32:07,970 Không thể không dâng cúng. Nhớ tóm tắt như vậy thì sẽ rõ ràng nhé. 329 00:32:08,000 --> 00:32:11,369 Vậy thì chúng ta phải dâng cúng như thế nào? Mời quý vị xem tiếp ở đây, 330 00:32:11,399 --> 00:32:14,970 Tất cả hãy xem ở trang 12 nhé, trang 12. 331 00:32:15,000 --> 00:32:19,369 Có năm chi phần để việc dâng cúng được thành tựu (akappamyauk), có trong sách Kapa-bong-kandi (Kappabhumikhaṇḍi) nhé. 332 00:32:19,399 --> 00:32:22,670 1. Nào, tất cả hãy cùng nhau đọc thử một chút xem sao. 333 00:32:22,700 --> 00:32:27,969 Người dâng cúng cầm vật phẩm dâng cúng, hướng về phía vị Tỳ-khưu, 334 00:32:27,999 --> 00:32:32,969 Tiến về phía trước và trao vật phẩm đó. 335 00:32:32,999 --> 00:32:37,670 Người dâng cúng phải ở trong khoảng cách hai hắc tay rưỡi (2,5 hắc tay) 336 00:32:37,700 --> 00:32:42,969 Đối với vị Tỳ-khưu nhận vật dâng cúng, tức là phải ở trong tầm hai hắc tay rưỡi. 337 00:32:42,999 --> 00:32:46,670 Vật phẩm dâng cúng phải là thứ mà một người có sức lực trung bình 338 00:32:46,700 --> 00:32:49,969 Có thể tự mình nâng lên được (vật vừa sức). 339 00:32:49,999 --> 00:32:54,670 Người dâng cúng trao vật phẩm bằng chính thân mình, hoặc bằng vật liên quan đến thân như cái ly đang cầm, 340 00:32:54,700 --> 00:32:59,969 Hoặc bằng cách rót vào; trao vật phẩm bằng một trong ba cách này. 341 00:32:59,999 --> 00:33:03,969 Đó là ba cách trao. 342 00:33:03,999 --> 00:33:09,670 Vị Tỳ-khưu nhận vật phẩm bằng thân mình, hoặc bằng vật liên quan đến thân như cái ly, cái đĩa đang cầm để hứng lấy, 343 00:33:09,700 --> 00:33:14,969 Hoặc nhận trực tiếp; nhận bằng một trong hai cách này. 344 00:33:14,999 --> 00:33:21,969 Vị Tỳ-khưu nhận vật thực phải chính thức thọ nhận; đó là hai cách nhận. 345 00:33:21,999 --> 00:33:26,670 Như vậy là có năm chi phần. Người dâng cúng nâng vật phẩm dâng cúng lên, 346 00:33:26,700 --> 00:33:30,969 Hướng về phía vị Tỳ-khưu và tiến về phía trước để trao, 347 00:33:30,999 --> 00:33:35,969 Điểm chính yếu là hành động "tiến về phía trước để trao" nhé. 348 00:33:35,999 --> 00:33:41,370 Tức là phải nâng vật định dâng cúng lên, sau khi nâng lên thì phải đưa về phía vị sư. 349 00:33:41,400 --> 00:33:45,969 Trong câu kệ tóm tắt có viết là "hướng về phía trước mà trao". 350 00:33:45,999 --> 00:33:49,670 Nếu không dâng cúng mà chỉ mới nâng vật phẩm lên thôi, 351 00:33:49,700 --> 00:33:53,969 Nâng vật phẩm lên rồi nhưng lại không đưa về phía vị sư, 352 00:33:53,999 --> 00:33:54,870 Mà cứ đứng yên như vậy thì vị sư không được phép đi tới cầm lấy. Đúng không nào? 353 00:33:54,900 --> 00:34:00,070 Cần phải đưa vật phẩm đã nâng lên đó về phía vị sư nữa. 354 00:34:00,100 --> 00:34:05,370 Chỉ khi phù hợp với đặc điểm "hướng về phía trước mà trao" thì mới đúng. Điều này nhiều người không để ý đâu nhé. 355 00:34:05,400 --> 00:34:10,670 Đa số nghĩ rằng chỉ cần nâng lên là được, nhưng vị sư không được phép tự ý cầm lấy đâu nhé. 356 00:34:10,700 --> 00:34:15,970 Sau khi nâng lên thì còn cần phải đưa về phía vị sư nữa. 357 00:34:16,000 --> 00:34:21,269 Đưa về phía trước bao nhiêu? Chỉ cần đưa về phía trước một chút là được rồi. Chỉ cần có tác động trao đi là được. 358 00:34:21,299 --> 00:34:26,569 Ví dụ như người bán hàng. Người bán hàng đội khay hàng trên đầu. 359 00:34:26,599 --> 00:34:31,870 Đội trên đầu nên họ không thể dùng tay nâng lên được nữa. 360 00:34:31,900 --> 00:34:37,169 Họ chỉ cần hơi nghiêng người đưa khay hàng về phía vị sư một chút. Khi đó vị sư có thể nhận lấy được. 361 00:34:37,199 --> 00:34:42,470 Là như vậy đó. Việc "hướng về phía trước mà trao" không chỉ đơn thuần là nâng lên đâu nhé. 362 00:34:42,500 --> 00:34:47,769 Cần phải có động tác trao về phía vị sư một chút. Điều này các thí chủ cần phải biết. 363 00:34:47,799 --> 00:34:53,070 Nếu không, quý sư nghĩ rằng "À, dâng cúng rồi, mình ăn thôi" thì không thể ăn được. 364 00:34:53,100 --> 00:34:58,370 Sẽ bị phạm tội (āpatti) đấy nhé. Đúng vậy, sẽ phạm tội. 365 00:34:58,400 --> 00:35:03,669 Do đó, việc "hướng về phía trước mà trao" không chỉ đơn thuần là nâng lên, mà cần phải có động tác trao về phía vị sư một chút. 366 00:35:03,699 --> 00:35:08,969 Thứ hai là người dâng cúng phải ở trong tầm hai hắc tay rưỡi đối với vị Tỳ-khưu nhận vật phẩm. 367 00:35:08,999 --> 00:35:14,270 Trong tiếng Pāli gọi là Hattha-pāsa (Hattapat). Hattapat có nghĩa là trong tầm tay với. 368 00:35:14,300 --> 00:35:19,570 Nói theo tiếng Myanmar là trong tầm tay với. Một tầm tay với là khoảng hai hắc tay rưỡi. 369 00:35:19,600 --> 00:35:24,870 Như vậy, khoảng cách giữa người dâng và vị sư nhận vật phẩm, tất cả phải ở trong tầm hai hắc tay rưỡi. 370 00:35:24,900 --> 00:35:30,169 Không được phép đứng từ xa rồi đưa tới hay ném tới đâu nhé. 371 00:35:30,199 --> 00:35:35,469 Vậy nên, người dâng và người nhận phải ở trong tầm hai hắc tay rưỡi. Cách đo đạc cụ thể thì lát nữa ở phần sau sẽ có nhé. 372 00:35:35,499 --> 00:35:40,770 Tôi sẽ nói kỹ ở đó. Về cách đo đạc tầm hai hắc tay rưỡi này thì cũng có phương pháp riêng. 373 00:35:40,800 --> 00:35:46,070 Kế tiếp, thứ ba là vật phẩm phải là thứ mà một người có sức lực trung bình có thể tự mình nâng lên được. 374 00:35:46,100 --> 00:35:51,370 Điều này cũng rất quan trọng. Bởi vì vật phẩm được dâng cúng không được quá nặng. 375 00:35:51,400 --> 00:35:52,870 Ở đây tôi không nói về sách vở, mà đang nói về vật thực nhé. 376 00:35:52,900 --> 00:35:54,570 Việc sách vở có nặng hay không thì không thành vấn đề. Những thứ đó dâng cúng hay không dâng cúng cũng không sao. 377 00:35:54,600 --> 00:36:00,570 Phải là vật phẩm mà một người có thể nâng lên được. Không được nặng hơn thế. Còn nhỏ hơn thế thì được nhé. 378 00:36:00,600 --> 00:36:06,570 Nhỏ hơn thì được. Ý tôi muốn nói là nếu lớn quá thì không được, nếu là vật phẩm cực kỳ nặng nề. 379 00:36:06,600 --> 00:36:12,570 Chỉ khi vật phẩm đó có sức nặng mà một người có thể nâng lên được thì mới nằm trong số những vật phẩm chúng ta có thể dâng cúng. 380 00:36:12,600 --> 00:36:18,570 Nếu đó là vật phẩm mà một người không thể nâng nổi thì chúng ta không thể dâng cúng như vậy được. Phải chia nhỏ ra để dâng. Ví dụ như những nồi cơm cực lớn chẳng hạn. 381 00:36:18,600 --> 00:36:24,570 Những nồi cơm lớn, nếu bảo "dâng cúng, dâng cúng" rồi năm mười người cùng nâng lên dâng cho vị sư, thì việc dâng cúng đó không thành tựu. 382 00:36:24,600 --> 00:36:30,570 Như vậy là không thành tựu việc dâng cúng (akappamyauk). Nếu thọ dụng vật thực đó thì quý sư sẽ có tội. Khi đó phải làm gì? Phải chia nồi cơm đó ra. Chia nhỏ ra để dâng. 383 00:36:30,600 --> 00:36:36,570 Đừng dâng cả một nồi lớn như vậy. Hãy chia ra làm hai hay ba nồi nhỏ rồi hãy dâng cúng. Phải dâng như vậy đó. 384 00:36:36,600 --> 00:36:42,570 Vậy điều này thường gây ra vấn đề ở đâu? Đó là khi thỉnh quý sư đến tư gia để dùng vật thực, chúng ta gặp vấn đề về bàn ăn. 385 00:36:42,600 --> 00:36:48,570 Nếu dâng cúng bằng một cái bàn nhỏ thì không sao, nhưng khi là bàn lớn thì đúng là có chuyện. 386 00:36:48,600 --> 00:36:54,570 Có những cái bàn ăn lớn đến mức một người không thể nâng nổi. Ví dụ như ở các nhà hàng, đôi khi người ta cúng dường vật thực cho các bậc trưởng lão. 387 00:36:54,600 --> 00:37:00,570 Ở các nhà hàng dọc đường cao tốc thường có những cái bàn ăn rất lớn. Khi dâng cúng bằng những cái bàn đó, một người không thể tự mình nâng lên nổi. 388 00:37:00,600 --> 00:37:06,570 Như vậy, đối với những cái bàn, những món ăn hay bàn tiệc mà một người không nâng nổi, thì dù có dâng cúng đi nữa cũng không được tính là dâng cúng. Không đạt yêu cầu dâng cúng. 389 00:37:06,600 --> 00:37:12,570 Do đó, các bậc trưởng lão chú trọng và tôn trọng Luật Tạng sẽ xử lý như thế nào trong trường hợp đó? 390 00:37:12,600 --> 00:37:18,570 Vì một số thí chủ muốn quay phim, chụp ảnh kỷ niệm, muốn cả gia đình cùng dâng cúng. Vậy thì cứ dâng cúng, không sao cả. 391 00:37:18,600 --> 00:37:24,570 Cả gia đình hãy cùng vây quanh nâng cái bàn đó để dâng. Sau đó, theo Luật Tạng, hãy dâng lại từng đĩa món ăn một. 392 00:37:24,600 --> 00:37:30,570 Đúng không nào? Tất cả phải ghi nhớ điều này. Khi các thí chủ Phật tử thỉnh các bậc trưởng lão đến nhà dùng vật thực, 393 00:37:30,600 --> 00:37:36,570 Nếu muốn ghi hình cả gia đình thì cứ dâng cả bàn, sau đó hãy dâng lại từng đĩa một nữa nhé. 394 00:37:36,600 --> 00:37:42,570 Các thí chủ cần phải hiểu điều đó. Bởi vì các bậc trưởng lão đôi khi vì nể nang mà có thể sẽ không nói ra đâu. 395 00:37:42,600 --> 00:37:48,570 Bởi vì thông thường quý sư hay nể nang, giữa chốn đông người đôi khi không tiện nói ra. Bản thân mình phải biết ý. 396 00:37:48,600 --> 00:37:54,270 Phải biết ý như vậy. Do đó, nếu có thể thì hãy dâng cúng bằng bàn ăn nhỏ. Nếu dâng bằng bàn lớn cũng không sao, nhưng phải dâng lại từng đĩa một nhé. 397 00:37:54,300 --> 00:37:58,770 Còn về khăn trải bàn nữa. 398 00:37:58,800 --> 00:38:03,469 Trên bàn ăn, quý sư thấy thường có trải khăn trải bàn và nó rủ xuống. 399 00:38:03,499 --> 00:38:08,770 Có người hỏi rằng khi nâng bàn dâng cúng thì có cần phải nâng sao cho khăn trải bàn không chạm đất không. 400 00:38:08,800 --> 00:38:15,070 Điều đó cũng không liên quan, điểm chính yếu là phải nằm trong đặc điểm "hướng về phía trước mà trao" như đã nói. 401 00:38:15,100 --> 00:38:20,469 Vậy nên không cần phải nhấc bổng khỏi mặt đất. Trong thực tế, sách có ghi chép chuyện về một vị Sa-di nhỏ 402 00:38:20,499 --> 00:38:25,770 Dâng cúng cháo (yāgu) cho một vị Tỳ-khưu. 403 00:38:25,800 --> 00:38:32,069 Cái nồi cháo đó nóng quá nên chú Sa-di nâng lên không thuận tiện. 404 00:38:32,099 --> 00:38:38,470 Chú ấy có thể tự mình nâng nổi cái nồi đó, nhưng vì nó nóng quá nên việc nâng lên dâng cúng gặp khó khăn. 405 00:38:38,500 --> 00:38:44,770 Thế là vị Sa-di đó đã đẩy cái nồi trượt trên mặt sàn về phía vị sư để dâng cúng, không biết quý vị có hiểu ý không. 406 00:38:44,800 --> 00:38:51,069 Chú ấy đẩy cái nồi đó về phía vị sư, vị sư đưa tay ra hứng lấy. Như vậy là được. 407 00:38:51,099 --> 00:38:56,470 Ý tôi là không nhất thiết phải nhấc bổng lên, điểm chính là "hướng về phía trước mà trao", không biết quý vị có hiểu không? 408 00:38:56,500 --> 00:39:01,770 Điểm cốt yếu là hành động đẩy về phía vị sư, làm sao cho vật phẩm đến được tay vị sư là chính. 409 00:39:01,800 --> 00:39:07,069 Do đó, việc có nhấc bổng lên hay không không phải là điều quan trọng nhất đâu nhé. 410 00:39:07,099 --> 00:39:12,470 Quan trọng nhất là phải hướng về phía vị sư để trao đi, đúng không nào? Điều đó mới quan trọng. 411 00:39:12,500 --> 00:39:17,770 Tôi nói điều này vì có người thắc mắc liệu vật phẩm có cần phải nhấc bổng khỏi mặt đất hay không. 412 00:39:17,800 --> 00:39:24,069 Vậy nên không nhất thiết phải nhấc rời khỏi mặt đất, chỉ cần vật đó chạm đất rồi đẩy về phía vị sư để dâng cúng cũng được. 413 00:39:24,099 --> 00:39:29,470 Kế tiếp, chi phần thứ mấy rồi nhỉ? Thứ ba xong rồi phải không? 414 00:39:29,500 --> 00:39:35,770 Thứ ba là vật phẩm phải là thứ mà một người có sức lực trung bình có thể tự mình nâng lên được. 415 00:39:35,800 --> 00:39:42,069 Thứ tư là trao bằng thân mình, đó là một cách; hoặc bằng vật liên quan đến thân mình. 416 00:39:42,099 --> 00:39:47,470 Sợ quý vị không rõ "liên quan đến thân" là gì, nên tôi giải thích thêm là vật mà mình đang cầm hay đang chạm vào, như cái ly chẳng hạn. 417 00:39:47,500 --> 00:39:52,770 Hoặc bằng cách rót vào. Người dâng cúng phải trao bằng một trong ba cách này. 418 00:39:52,800 --> 00:39:53,970 Như vậy có ba cách dâng cúng nhé. Một là cầm trực tiếp bằng tay rồi rót vào bình bát. 419 00:39:54,000 --> 00:39:58,805 Vì đó là vật đang chạm vào thân mình nên có thể dâng cúng được. 420 00:39:58,835 --> 00:40:03,816 Vì vậy, có thể dùng khay để dâng, dùng đĩa để dâng nhé. Đều được cả. 421 00:40:03,846 --> 00:40:08,739 Có ba cách dâng cúng như vậy. Tức là dâng trực tiếp bằng tay cũng được, 422 00:40:08,769 --> 00:40:13,750 Hoặc dâng qua đôi găng tay cũng được, không sao cả. Dùng khay để dâng cũng được. 423 00:40:13,780 --> 00:40:18,673 Thậm chí đôi khi còn có trường hợp như thế này. Vị sư đang ở dưới gốc cây. 424 00:40:18,703 --> 00:40:23,860 Còn người thí chủ thì ở trên cây. Người thí chủ đang hái xoài, hái ổi ở trên cây. 425 00:40:23,890 --> 00:40:28,695 Vị sư đang ở phía dưới nên bảo: "Thí chủ hãy dâng cho tôi mấy quả xoài đi nào." Vì vị sư ở phía dưới, 426 00:40:28,725 --> 00:40:33,707 Nên người thí chủ không xuống dưới mà ném từ trên xuống. Như vậy cũng được. Tuy nhiên, giữa thí chủ và vị sư 427 00:40:33,737 --> 00:40:38,806 Phải ở trong tầm hai hắc tay rưỡi. Không biết quý vị có rõ không. Thí chủ ở trên cây, vị sư ở dưới gốc cây. 428 00:40:38,836 --> 00:40:43,641 Thế rồi vị thí chủ từ trên cao ném vật phẩm xuống cho vị sư ở phía dưới. 429 00:40:43,671 --> 00:40:48,652 Khi ném như vậy, nếu khoảng cách giữa người thí chủ và vị sư nằm trong tầm hai hắc tay rưỡi thì việc dâng cúng đó đã thành tựu. 430 00:40:48,682 --> 00:40:53,575 Nếu ném từ tít trên ngọn cây cao thì không được đâu nhé. Nếu quá xa thì không được. Phải trong tầm hai hắc tay rưỡi. 431 00:40:53,605 --> 00:40:58,586 Đúng vậy, nếu ở trong tầm hai hắc tay rưỡi thì hành động ném từ trên xuống như vậy cũng được tính là dâng cúng. 432 00:40:58,616 --> 00:41:03,597 Vậy thì nó thuộc cách dâng cúng nào? Đó chính là cách thứ tư: "bằng cách rót vào" (lắng-nghệ-yú) mà tôi đã nói lúc nãy. 433 00:41:03,627 --> 00:41:08,696 Việc ném vật phẩm xuống để dâng cúng cũng được bao hàm trong cách đó, tức là thả vật phẩm xuống để dâng cúng. 434 00:41:08,726 --> 00:41:13,532 Đôi khi có một bức tường gạch ngăn ở giữa. Vị sư ở bên này bức tường, 435 00:41:13,562 --> 00:41:18,543 Còn người thí chủ ở bên kia bức tường. Giữa họ chỉ cách nhau trong tầm hai hắc tay rưỡi thôi, nhưng bị ngăn bởi bức tường. 436 00:41:18,573 --> 00:41:23,642 Người thí chủ từ bên kia bức tường ném vật phẩm qua, vị sư ở bên này đưa tay ra hứng lấy. 437 00:41:23,672 --> 00:41:28,741 Đúng không nào? Điểm mấu chốt là phải ở trong tầm hai hắc tay rưỡi. Tôi giải thích để quý vị biết rằng dâng cúng như vậy cũng được nhé. 438 00:41:28,771 --> 00:41:33,752 Điều này nằm trong phương pháp "dâng cúng bằng cách rót vào", tức là hệ thống thả từ tay xuống để dâng cúng. 439 00:41:33,782 --> 00:41:38,763 Như vậy là chúng ta đã có ba cách dâng cúng của người dâng rồi nhé. Một là dâng trực tiếp bằng thân. 440 00:41:38,793 --> 00:41:43,862 Hai là dâng qua vật trung gian như khay, đĩa. Ba là dâng bằng cách thả vật phẩm xuống nhé. 441 00:41:43,892 --> 00:41:48,961 Có ba phương cách dâng cúng như vậy. Tiếp theo, chi phần thứ năm của chúng ta là: 442 00:41:48,991 --> 00:41:50,972 Vị sư nhận bằng chính thân mình, hoặc bằng vật liên quan đến thân như cái ly, cái gậy đang cầm để hứng lấy, đưa tới hay chạm vào. 443 00:41:51,002 --> 00:41:53,670 Vị Tỳ-khưu nhận vật phẩm bằng một trong hai cách này. Như vậy, về phía vị sư nhận... 444 00:41:53,700 --> 00:41:58,870 Về phía vị sư nhận thì có hai cách. 445 00:41:58,900 --> 00:42:04,170 Có thể nhận trực tiếp bằng thân thể như dùng lòng bàn tay để nhận. 446 00:42:04,200 --> 00:42:09,470 Nhận bằng tay hay bằng chân cũng được nhé, không sao cả. 447 00:42:09,500 --> 00:42:13,869 Dùng chân hay dùng tay nhận đều được. 448 00:42:13,899 --> 00:42:19,170 Kế tiếp, thay vì dùng tay, vị sư dùng bình bát, cái khay hay cái gậy để chạm vào vật phẩm. 449 00:42:19,200 --> 00:42:24,470 Đúng không nào? Khi người ta đến dâng cúng, mình không dùng tay chạm mà dùng cái gậy chạm vào. 450 00:42:24,500 --> 00:42:28,870 Như vậy cũng được. Ý tôi muốn nói là nhận qua một vật trung gian. 451 00:42:28,900 --> 00:42:34,170 Không nhất thiết phải chạm trực tiếp vào tay hay da thịt của vị sư, mà chạm qua một vật trung gian cũng được. 452 00:42:34,200 --> 00:42:39,469 Ví dụ, vị sư đang cầm cái quạt, rồi dùng cái quạt đó chạm vào vật phẩm, như vậy là được. 453 00:42:39,499 --> 00:42:43,870 Đó chính là "nhận bằng vật liên quan đến thân như cái ly, cái gậy đang cầm để hứng lấy, đưa tới hay chạm vào" đấy nhé. 454 00:42:43,900 --> 00:42:49,170 Do đó, nhận trực tiếp bằng da thịt cũng được, mà nhận qua vật trung gian 455 00:42:49,200 --> 00:42:54,469 Hứng bằng bình bát, ly tách, gậy, quạt hay bất cứ thứ gì để thọ nhận sự dâng cúng cũng được. 456 00:42:54,499 --> 00:42:58,870 Như vậy, về phía người dâng cúng có ba cách, còn về phía vị Tỳ-khưu thọ nhận thì có hai cách. 457 00:42:58,900 --> 00:43:04,170 Đó là thọ nhận bằng thân và thọ nhận qua vật liên quan đến thân nhé. 458 00:43:04,200 --> 00:43:09,469 Chẳng hạn như thí chủ dâng vật thực cho tôi bằng một cái khay. 459 00:43:09,499 --> 00:43:13,870 Về phía thí chủ, đó là vật đang liên quan (đang chạm) đến thân mình. 460 00:43:13,900 --> 00:43:19,170 Còn về phía tôi, nếu tôi dùng lòng bàn tay để hứng lấy, thì đó là thọ nhận bằng thân. 461 00:43:19,200 --> 00:43:24,469 Là như vậy đó. Tóm lại, phía người dâng có ba cách, phía người nhận có hai cách. 462 00:43:24,499 --> 00:43:28,870 Quý vị có thể nói (phối hợp) tùy ý. Người dâng có thể dâng trực tiếp bằng thân. 463 00:43:28,900 --> 00:43:34,170 Vị sư cũng thọ nhận trực tiếp bằng thân, như dùng lòng bàn tay hứng lấy. Như vậy là được. 464 00:43:34,200 --> 00:43:39,469 Người dâng cúng dâng trực tiếp bằng thân thể, còn vị sư thọ nhận qua một vật trung gian. 465 00:43:39,499 --> 00:43:43,870 Như thọ nhận bằng bình bát hay bằng đĩa, như vậy cũng được. Trường hợp khác, về phía người dâng, 466 00:43:43,900 --> 00:43:49,170 Dâng cúng qua vật trung gian, ví dụ như dâng bằng muỗng, bằng đĩa hay bằng khay. 467 00:43:49,200 --> 00:43:50,672 Vị sư thọ nhận bằng tay không, như vậy cũng được nhé. Tức là dâng qua vật trung gian 468 00:43:50,702 --> 00:43:53,370 Hay hứng qua vật trung gian để dâng cúng đều được cả, là như vậy đó. 469 00:43:53,400 --> 00:43:58,370 Nếu thiếu sót bất kỳ một chi phần nào thì việc dâng cúng sẽ không thành tựu (akappamyauk) nhé. Vậy nên như tôi đã nói lúc nãy, chi phần thứ nhất: 470 00:43:58,400 --> 00:44:03,370 Nếu chỉ nâng vật phẩm lên mà không đưa về phía vị sư, thì vị sư không được phép tự ý cầm lấy. 471 00:44:03,400 --> 00:44:08,370 Nếu vậy là chi phần thứ nhất đã bị khiếm khuyết. Chi phần thứ hai là dâng cúng từ xa, 472 00:44:08,400 --> 00:44:13,370 Đôi khi có trường hợp dâng cúng từ khoảng cách với không tới. Cần phải lưu ý điều này khi dâng cúng bằng bàn ăn tròn. 473 00:44:13,400 --> 00:44:18,370 Vị sư ngồi ở bên này, còn thí chủ thì đứng ở phía bên kia bàn để dâng cúng, trong khi ở giữa bị ngăn bởi một cái bàn ăn lớn. 474 00:44:18,400 --> 00:44:23,370 Khi đó phải xem khoảng cách ngăn cách bởi cái bàn ăn đó là bao xa. Quý vị hiểu không? 475 00:44:23,400 --> 00:44:28,370 Do đó, khi dâng cúng bằng bàn ăn tròn, cần phải có một người nào đó đứng gần vị sư để cầm lấy (bàn ăn). 476 00:44:28,400 --> 00:44:33,370 Không biết quý vị có hiểu ý tôi không? Tại cái bàn, vị sư ở bên này, các thí chủ lại ở phía bên kia. 477 00:44:33,400 --> 00:44:38,370 Như vậy, giữa họ bị ngăn cách bởi toàn bộ cái bàn ăn lớn thì sẽ không thuận tiện, vì khoảng cách sẽ khá xa. 478 00:44:38,400 --> 00:44:43,370 Tôi đang nói trường hợp bàn ăn lớn, còn bàn nhỏ thì không vấn đề gì. Khi đó, cần có một vị nam thí chủ hay nữ thí chủ nào đó đứng dâng ở sát gần vị sư. 479 00:44:43,400 --> 00:44:48,370 Nếu có năm người cùng dâng, chỉ cần có một người đứng ở vị trí dâng (sát vị sư) là được. 480 00:44:48,400 --> 00:44:53,370 Không cần thiết cả năm người phải đứng sát cạnh vị sư đâu. Đúng vậy, không cần cả năm người phải đứng trong tầm hai hắc tay rưỡi đâu nhé. 481 00:44:53,400 --> 00:44:58,370 Nếu năm người cùng nâng để dâng, chỉ cần một người đứng vào tầm đó là được rồi. Tiếp theo, về chi phần thứ tư, có ba phương cách trao vật phẩm như tôi vừa nói. 482 00:44:58,400 --> 00:45:03,370 Còn chi phần thứ năm là về phía vị Tỳ-khưu thọ nhận. Điều này đã được tóm tắt trong câu kệ phía dưới. 483 00:45:03,400 --> 00:45:08,370 Nào, xin mời tất cả cùng đọc: "Hướng tiền nhi thọ, nội tại nhị hắc, vật khinh nhân lực, tam chủng trao pháp, nhị chủng thọ pháp, thị danh ngũ chi, ứng đương thiện ký" (Hướng về phía trước mà trao, trong tầm hai hắc tay, vật vừa sức người nâng, ba cách trao, hai cách nhận, đó là năm chi phần dâng cúng, hãy ghi nhớ cho kỹ). 484 00:45:08,400 --> 00:45:13,370 Như vậy thì năm chi phần này đã khá rõ ràng rồi. Chúng ta hãy xem tiếp phần phía dưới, vẫn còn một số điều cần phải nói. 485 00:45:13,400 --> 00:45:18,370 Phải đầy đủ năm chi phần này thì việc dâng cúng mới thành tựu, khi đó chư Tăng mới có thể thọ dụng vật thực được. 486 00:45:18,400 --> 00:45:23,370 Nếu dâng cúng mà thiếu sót trong năm chi phần này thì việc dâng cúng không thành tựu, tức là dù có dâng nhưng cũng không được tính là dâng cúng. 487 00:45:23,400 --> 00:45:28,370 "À, dâng cúng rồi" — thế rồi vị sư thọ dụng vật thực đó, như vậy là không được nhé. 488 00:45:28,400 --> 00:45:33,370 Nếu thọ dụng vật phẩm dâng cúng không thành tựu đó thì cũng giống như thọ dụng vật phẩm chưa hề được dâng cúng vậy, vị sư sẽ phạm tội Pācittiya (Ưng đối trị). 489 00:45:33,400 --> 00:45:38,370 Sự việc là như vậy. Thế nên các thí chủ cần phải khôn khéo (thông thạo luật). 490 00:45:38,400 --> 00:45:43,370 Nếu không thông thạo thì sẽ khiến các bậc trưởng lão bị phạm tội. Các bậc trưởng lão đôi khi vì nể nang nên có thể sẽ không nói ra, chính mình phải biết điều đó. 491 00:45:43,400 --> 00:45:51,800 Đó là lý do tại sao có lớp học dành cho người hộ tăng (kappiya), mục đích là để giúp chư Tăng không bị phạm tội. 492 00:45:53,100 --> 00:45:57,270 Là giúp đỡ chư Tăng, giúp đỡ như vậy đó. 493 00:45:57,300 --> 00:46:02,570 Đôi khi các thí chủ nữ vì là phụ nữ nên không dám tiến lại gần chư Tăng. 494 00:46:02,600 --> 00:46:07,870 Những lúc khác không tiến lại gần thì không sao, nhưng lúc dâng cúng vật thực thì bắt buộc phải tiến lại gần, không được e ngại. 495 00:46:07,900 --> 00:46:12,269 Bởi vì để việc dâng cúng được thành tựu, người dâng phải đứng trong tầm hai hắc tay rưỡi để dâng. 496 00:46:12,299 --> 00:46:17,570 Khi đó, chư Tăng nếu bảo: "Này bà thí chủ, hãy tiến lại gần đây, tiến lại gần nữa đi" thì cũng sợ bị hiểu lầm. 497 00:46:17,600 --> 00:46:22,870 Đúng vậy, cứ bảo: "Thí chủ tiến lại gần, tiến lại gần đi" thì người ta sẽ nghĩ khác đi, nên chư Tăng cũng không muốn nói. 498 00:46:22,900 --> 00:46:28,170 Có những chuyện như vậy đó, nên quý vị phải biết ý mà chủ động tiến lại sát gần để dâng cúng nhé. 499 00:46:28,200 --> 00:46:33,469 Vì vậy, các thí chủ cần phải biết những chi tiết nhỏ này. 500 00:46:33,499 --> 00:46:38,770 Trong năm chi phần đã nêu, việc người dâng cúng phải ở trong tầm hai hắc tay rưỡi (Hattha-pāsa) đối với vị Tỳ-khưu nhận... 501 00:46:38,800 --> 00:46:44,070 Điểm này là điều mà các thí chủ cần đặc biệt lưu ý nhé, như tôi vừa nói lúc nãy. 502 00:46:44,100 --> 00:46:49,369 Đó là điểm mọi người cần lưu ý về việc phải tiến sát lại gần để dâng cúng. Về cách đo đạc tầm hai hắc tay rưỡi (Hattha-pāsa): 503 00:46:49,399 --> 00:46:54,670 Khi tiến lại từ phía trước để dâng cúng, nếu vị Tỳ-khưu đang ngồi thì phải đo từ điểm cuối phía sau mông của vị sư nhé. 504 00:46:54,700 --> 00:46:59,970 Nếu vị sư đang ngồi kiết già thì đo từ phía sau mông chứ không đo từ đầu gối đâu nhé. 505 00:47:00,000 --> 00:47:05,270 Nếu vị sư đứng thọ nhận sự dâng cúng thì phải đo từ gót chân nhé. 506 00:47:05,300 --> 00:47:10,570 Sẽ đo bắt đầu từ gót chân. Còn nếu vị sư đang nằm hay đang ngủ... 507 00:47:10,600 --> 00:47:15,869 Đôi khi có vị sư đang nằm viện, vì là bệnh nhân (gilāna) nên sức khỏe không tốt và phải nằm điều trị. 508 00:47:15,899 --> 00:47:21,169 Khi đó sẽ đo như thế nào? Đó là đo từ điểm cuối phía sau của bên mạng sườn đang nằm nghiêng. 509 00:47:21,199 --> 00:47:26,470 Đo bắt đầu từ phía sau lưng, chỗ mạng sườn ấy nhé. Như vậy là có ba trường hợp. 510 00:47:26,500 --> 00:47:31,770 Khi ngồi thì đo từ đâu? Khi ngồi thì đo từ điểm cuối của mông. 511 00:47:31,800 --> 00:47:37,070 Khi đứng thì đo từ gót chân, khi nằm thì đo từ điểm cuối phía sau mạng sườn. 512 00:47:37,100 --> 00:47:42,369 Quý vị có ghi nhớ ba trường hợp này không? Hãy gạch dưới (underline) ba điểm đó nhé. 513 00:47:42,399 --> 00:47:47,669 Một là điểm cuối phía sau mông, hai là gót chân. 514 00:47:47,699 --> 00:47:50,072 Ba là điểm cuối phía sau mạng sườn khi đang nằm nghiêng nhé. Đó là ba oai nghi (iriyāpatha). 515 00:47:50,102 --> 00:47:52,770 Ngồi, đứng, nằm, và ngay cả nếu Tỳ-khưu đang nằm sấp thì sao? 516 00:47:52,800 --> 00:47:57,901 Vậy, khi đến gần phía đầu, nếu vị Tỳ-khưu đang nằm sấp, nam thí chủ hay nữ thí chủ sẽ đến gần từ phía đầu, phía đầu giường. 517 00:47:57,931 --> 00:48:02,401 Nếu không phải từ phía sau mà đến gần từ phía đầu giường, thì hỏi rằng sẽ đo như thế nào? 518 00:48:02,431 --> 00:48:06,507 Hãy đo bắt đầu từ cổ, nơi gần đầu nhất, phải đo từ cổ. 519 00:48:06,537 --> 00:48:11,401 Không được đo từ đỉnh đầu nhé, không đo từ thóp đầu, mà hãy đo từ cổ. Vậy là có bốn vị trí rồi. 520 00:48:11,431 --> 00:48:17,086 Có bốn vị trí để đo. Vì vậy, nếu đến từ phía đầu, không đo từ phía đầu mà bắt đầu đo từ cổ. 521 00:48:17,116 --> 00:48:21,349 Vâng, đó là chỗ cần đo. Đây là bốn tư thế từ phía vị Tỳ-khưu. 522 00:48:21,379 --> 00:48:26,323 Còn về phía các thí chủ dâng cúng, không được đo bắt đầu từ tay của vị Tỳ-khưu đang với tay nhận. 523 00:48:26,353 --> 00:48:31,612 Hơn nữa, tay lúc nãy không được tính vào nhé. Ví dụ, nếu vị Tỳ-khưu với tay lấy như thế này, thì không được đo bắt đầu từ bàn tay đó. 524 00:48:31,642 --> 00:48:36,507 Phải đo từ mông thôi. Nhé, phải đo như vậy. Đó là vấn đề mà ông thí chủ lúc nãy đã hỏi đấy. 525 00:48:36,537 --> 00:48:41,797 Vấn đề là nếu nhà sư với tay lấy thì phải làm sao. Nếu với tay lấy thì nữ thí chủ bắt buộc phải tiến tới phía trước. 526 00:48:41,827 --> 00:48:46,297 Khi đó, nếu nghĩ rằng "À, nhà sư đang với tới, mình cũng sẽ với tới dâng", thì khoảng cách đó sẽ trở nên quá xa. 527 00:48:46,327 --> 00:48:50,797 Người đời cũng với tới, nhà sư cũng với tới, thì khoảng giữa sẽ rất xa rồi. Nhé, để điều đó không xảy ra. 528 00:48:50,827 --> 00:48:56,087 Đối với người dâng cúng, ngoại trừ cánh tay đang với tới để dâng, phải có thể đo được từ bộ phận cơ thể gần nhất khác, nên 529 00:48:56,117 --> 00:49:00,981 Không được đo cánh tay đang với tới dâng nhé. Vậy hãy giả dụ như sư và vị thí chủ này nhé. 530 00:49:01,011 --> 00:49:05,876 Sư đang ngồi đây, thí chủ dâng cúng, thì về phía sư phải đo từ mông. 531 00:49:05,906 --> 00:49:09,508 Còn về phía vị ấy thì phải đo từ đầu gối. Không biết quý vị có hiểu không? 532 00:49:09,538 --> 00:49:15,271 Vậy phía sư là mông, phía vị ấy là đầu gối. Nếu đo thử mà thấy xa hơn một hắc và một gang (hatthapāsa) thì quý sư không thể nhận dâng cúng được. 533 00:49:15,301 --> 00:49:19,771 Cần phải tiến lại gần thêm một chút nữa. Nhé, phép đo đó không phải là giữa đầu gối này với đầu gối kia đâu nhé. 534 00:49:19,801 --> 00:49:24,982 Vậy khi chúng ta thử suy xét việc đó, chuyện gì sẽ xảy ra? Thật ra cơ thể của quý sư dài một hắc (cánh tay). 535 00:49:25,012 --> 00:49:29,482 Vậy ở giữa chỉ còn lại một gang thôi. Có thể ghi nhớ như vậy nhé. 536 00:49:29,512 --> 00:49:33,982 Vì vậy, nếu muốn ghi nhớ, muốn nhớ một cách dễ dàng, khoảng cách giữa nhà sư và người đời phải là một hắc và một gang (hatthapāsa). 537 00:49:34,012 --> 00:49:38,877 Đúng rồi nhé. Một hắc và một gang nghĩa là khi tính luôn cả cơ thể của nhà sư thì thành một hắc một gang đấy. 538 00:49:38,907 --> 00:49:43,693 Vậy nếu bỏ qua cơ thể của nhà sư, thì ở giữa chỉ còn lại một hắc và một gang. 539 00:49:43,723 --> 00:49:48,193 Vì vậy, dù ở tư thế nào đi nữa, giữa người và nhà sư chỉ được phép có một hắc và một gang thôi. 540 00:49:48,223 --> 00:49:49,772 Nếu ghi nhớ như vậy thì sẽ rõ ràng rồi nhé, phải là một hắc và một gang. 541 00:49:49,802 --> 00:49:52,470 Do đó, hãy cẩn thận khi dâng cúng. Nếu trước đó cảm thấy mình đang ở xa, thì cứ việc tiến lên phía trước mà dâng. 542 00:49:52,500 --> 00:49:58,470 Vâng, để chắc chắn nhé. 543 00:49:58,500 --> 00:50:05,470 Tiếp theo, khi đặt một cái bàn lớn ở giữa để dâng cúng, phải đo khoảng cách hatthapāsa là hai hắc và một gang từ người gần nhất với vị Tỳ-khưu. 544 00:50:05,500 --> 00:50:11,470 Vì vậy, như sư đã nói lúc nãy, không thể đo với người ở tận phía đầu bên kia được. 545 00:50:11,500 --> 00:50:17,470 Vì thế, khi dâng cúng bằng bàn tròn, cần phải có ai đó đến gần sát mép bàn, hay nói cách khác là cần có một người nào đó ở gần vị sư này. 546 00:50:17,500 --> 00:50:23,470 Dù là cả gia đình hay bốn năm vị lãnh đạo hội đoàn cùng hợp sức dâng cúng, đối với một cái bàn mà một người có thể nhấc lên được 547 00:50:23,500 --> 00:50:29,470 Vì sợ làm đổ nên nhiều người cùng dâng, chân bàn vẫn chạm sàn, 548 00:50:29,500 --> 00:50:38,470 Người dâng cúng hướng về phía trước, đưa vật thực vào trong khoảng cách hai hắc và một gang, vị Tỳ-khưu giơ tay đón lấy nhận dâng cúng, thì phải ghi nhớ rằng việc dâng cúng đó là thành tựu. 549 00:50:38,500 --> 00:50:45,470 Câu hỏi lúc nãy của các ông thí chủ đã được trả lời rồi nhé. Việc nhà sư với tay lấy là được nhé. Tuy nhiên có một điều: nếu người ta không dâng mà mình với lấy thì không được. 550 00:50:45,500 --> 00:50:51,470 Điều đó là quan trọng nhất. Vì vậy, có thể với lấy cái được dâng, còn cái không được dâng thì không được với lấy. 551 00:50:51,500 --> 00:50:58,470 Lúc nãy sư đã đưa ra ví dụ về cô bán táo tàu đội rổ táo tàu trên đầu đấy. 552 00:50:58,500 --> 00:51:04,470 Cô ấy không đặt xuống mà nói "Bạch Ngài, con xin dâng cúng" rồi hơi nghiêng đầu một chút. Nhà sư có thể thò tay vào lấy nhé. 553 00:51:04,500 --> 00:51:10,470 Vì vậy, nhà sư có thể với tay lấy. Có thể với lấy những gì họ đang đến dâng. Hơn nữa, chân bàn này kia chạm xuống dưới đất cũng được nhé. 554 00:51:10,500 --> 00:51:16,470 Vì trước đây có một số người cho rằng phải nhấc bổng lên, phải để nó hổng chân mới được. 555 00:51:16,500 --> 00:51:22,470 Một số vị sư vì không am tường Luật Tạng nên cho rằng nếu chân bàn chạm sàn thì việc dâng cúng đó không thành tựu. 556 00:51:22,500 --> 00:51:28,470 Không phải vậy đâu nhé, ở đây có ghi rõ rồi. Việc dâng cúng vẫn thành tựu. Vẫn được, chủ yếu là quý vị hãy lưu ý năm yếu tố lúc nãy. 557 00:51:28,500 --> 00:51:34,470 Tiếp theo, sư có nội dung gì nữa đây? 558 00:51:34,500 --> 00:51:40,470 Nếu là loại bàn lớn mà người dâng cúng không thể nhấc nổi, thì phải dâng từng ly, từng đĩa vật thực một nhé. 559 00:51:40,500 --> 00:51:46,470 Điều này sư đã nói lúc nãy rồi. Điểm mấu chốt là người dâng và vị Tỳ-khưu nhận dâng phải ở trong khoảng cách hai hắc và một gang. 560 00:51:46,500 --> 00:51:49,472 Ở đây, sư cần nói thêm một điều là ngày nay ở một số thành phố cũng như thôn quê, có vấn đề là hễ dâng mâm cơm xong là lại bảo "đừng chạm vào, đừng chạm vào". 561 00:51:49,502 --> 00:51:52,170 Nhé, người ta bảo "đừng có cầm, đừng có cầm, kẻo việc dâng cúng bị hỏng (mất hiệu lực)". Nào, các ông thí chủ hãy tự mình suy xét xem. 562 00:51:52,200 --> 00:51:57,170 Bây giờ có thể suy xét được rồi. Hiện tại chúng ta có năm yếu tố nhé. 563 00:51:57,200 --> 00:52:02,170 Trong năm yếu tố đó, việc này chẳng liên quan gì cả. Thật sự là vậy nhé. 564 00:52:02,200 --> 00:52:07,170 Ở phía dưới sẽ có sáu nguyên nhân làm mất hiệu lực dâng cúng (akappiya), chúng ta sẽ thấy ở phần sau nhé. 565 00:52:07,200 --> 00:52:12,170 Đó là vấn đề liệu người đời có nên chạm vào hay không nên chạm vào những vật phẩm đã được dâng cho quý sư. 566 00:52:12,200 --> 00:52:17,170 Có một số Ngài trưởng lão mắng rất dữ. Có những vị sư mắng xối xả rằng "Này, không được chạm vào! Sao lại chạm vào?". 567 00:52:17,200 --> 00:52:22,170 Vậy chúng ta hãy đọc thử một chút ở phía dưới. Khi đó chúng ta sẽ có thể suy xét được. 568 00:52:22,200 --> 00:52:27,170 Hãy cùng xem việc người đời có thể cầm lại vật phẩm đã dâng rồi hay không. 569 00:52:27,200 --> 00:52:32,170 Nào, tất cả hãy cùng đọc ở phía dưới. 1. Đối với thức ăn đã được nhận dâng cúng 570 00:52:32,200 --> 00:52:37,170 Việc từ bỏ mà không có sự luyến tiếc, với ý nghĩ rằng "ta sẽ không ăn nữa". 571 00:52:37,200 --> 00:52:42,170 Việc từ bỏ tư cách Tỳ-khưu, việc chuyển sang tư cách cư sĩ hay Sa-di, 572 00:52:42,200 --> 00:52:47,170 Việc đem cho người khác không phải là Tỳ-khưu, việc bị những người cư sĩ hay Sa-di giật lấy mất, 573 00:52:47,200 --> 00:52:52,170 Việc vị Tỳ-khưu viên tịch (viên tịch), việc chuyển đổi giới tính từ Tỳ-khưu tăng sang Tỳ-khưu ni hoặc từ Tỳ-khưu ni 574 00:52:52,200 --> 00:52:57,170 Sang Tỳ-khưu tăng. 575 00:52:57,200 --> 00:53:02,170 Vậy là có sáu trường hợp làm mất hiệu lực dâng cúng. 576 00:53:02,200 --> 00:53:07,170 Nghĩa là vật phẩm đã được dâng cúng rồi thì sẽ bị mất hiệu lực vào lúc nào. 577 00:53:07,200 --> 00:53:12,170 Đó là khi vị Tỳ-khưu không ăn nữa, từ bỏ sự luyến tiếc và cũng đã buông tay ra rồi. 578 00:53:12,200 --> 00:53:17,170 Vị ấy phải quyết định trong tâm là không ăn nữa, và tay cũng phải buông ra. 579 00:53:17,200 --> 00:53:22,170 Đôi khi trong tâm quyết định rằng mình sẽ không ăn nữa, nhưng tay thì vẫn chưa buông, vẫn còn đang cầm. 580 00:53:22,200 --> 00:53:27,170 Khi đó, hiệu lực dâng cúng vẫn chưa mất. Vẫn có thể tiếp tục ăn được. 581 00:53:27,200 --> 00:53:32,170 Vậy nếu trong tâm đã quyết định không ăn nữa và tay cũng đã buông ra rồi, thì 582 00:53:32,200 --> 00:53:37,170 Hiệu lực dâng cúng đã mất. Không thể tiếp tục ăn hay thò tay vào lấy ăn được nữa. 583 00:53:37,200 --> 00:53:42,170 Nếu sau đó ý muốn ăn lại hiện khởi, thì cần phải được dâng cúng lại. 584 00:53:42,200 --> 00:53:47,170 Bởi vì chính mình đã buông bỏ rồi. Vì vậy, vật đó cần phải được giữ (không buông) nhé. 585 00:53:47,200 --> 00:53:49,172 Tiếp theo, ở số hai là việc xả giới, nghĩa là hoàn tục thành người cư sĩ. 586 00:53:49,202 --> 00:53:51,870 Vị Tỳ-khưu xả giới. Ví dụ, một vị sư đã nhận dâng cúng rất nhiều thức ăn. 587 00:53:51,900 --> 00:53:58,370 Khi một vị khác đến lấy dùng thì không được nữa. Cần phải được dâng cúng lại nhé, cần phải dâng cúng lại. 588 00:53:58,400 --> 00:54:05,069 Tiếp theo, việc một vị Tỳ-khưu đem cho người khác, nghĩa là từ bỏ cho những người đời. 589 00:54:05,099 --> 00:54:11,970 Vị ấy bảo "Ông thí chủ thu dọn đi, thu dọn đi". Đôi khi ở các mâm cơm, vị ấy bảo ông thí chủ đến thu dọn. 590 00:54:12,000 --> 00:54:19,269 Bảo "Sa-di đến dọn đi, ông thí chủ đến dọn đi". Khi đã từ bỏ cho người đời như vậy thì hiệu lực dâng cúng cũng mất nhé. 591 00:54:19,299 --> 00:54:26,669 Vì nói là đem cho "người khác không phải Tỳ-khưu", nên nếu từ bỏ cho các vị Tỳ-khưu cùng với nhau thì hiệu lực dâng cúng không mất nhé. 592 00:54:26,699 --> 00:54:34,169 Vì vậy, nếu đem cho một vị Tỳ-khưu khác thì không cần phải nhận dâng cúng lại. Có người hỏi rằng nếu cho các vị Tỳ-khưu với nhau thì có cần dâng lại không. 593 00:54:34,199 --> 00:54:41,470 Không cần đâu nhé. Nếu cho các vị Tỳ-khưu với nhau thì không cần dâng lại. Còn nếu cho người đời, cho Sa-di thì cần phải dâng lại, cần phải dâng lại. 594 00:54:41,500 --> 00:54:49,070 Tiếp theo, số bốn là việc bị các vị Tỳ-khưu hay Sa-di giật lấy, bị người đời hay Sa-di giật lấy khi nhà sư đang ăn. 595 00:54:49,100 --> 00:54:56,370 Vì vật đó đã bị cưỡng ép mang đi mất nên không còn là đồ của mình nữa. Khi đó bắt buộc phải dâng cúng lại nhé. 596 00:54:56,400 --> 00:55:03,669 Mặc dù trong tâm mình không có ý định từ bỏ nhé. Dù không có ý định từ bỏ nhưng nếu họ giật lấy đi thì hiệu lực dâng cúng cũng bị mất. 597 00:55:03,699 --> 00:55:11,270 Đôi khi nhà sư ăn chưa xong mà các chú tiểu cứ thế kéo đi mất. 598 00:55:11,300 --> 00:55:18,570 Khi đó thì sao? Không thể lấy lại được nhé. Không thể bảo "Này, trả lại đồ của tôi đây" mà dùng được. Phải dâng cúng lại nhé. 599 00:55:18,600 --> 00:55:26,070 Đôi khi có những chú tiểu, Sa-di như vậy đấy. Họ cứ muốn thu dọn mâm của nhà sư thôi. Họ muốn thu dọn. 600 00:55:26,100 --> 00:55:33,469 Tiếp theo, số năm là việc vị Tỳ-khưu viên tịch. Khi nhà sư viên tịch thì cũng như vậy. 601 00:55:33,499 --> 00:55:40,969 Có những vị trưởng lão đã nhận dâng cúng các món ăn. Nếu vị trưởng lão đó viên tịch thì những món ăn đó cần phải được dâng cúng lại nhé. 602 00:55:40,999 --> 00:55:48,370 Tiếp theo, số sáu là việc thay đổi giới tính từ Tỳ-khưu tăng sang Tỳ-khưu ni hoặc từ Tỳ-khưu ni sang Tỳ-khưu tăng. 603 00:55:48,400 --> 00:55:51,570 Nghĩa là vị ấy bị biến đổi giới tính. Từ thân nam biến thành thân nữ chẳng hạn. Khi đó hiệu lực dâng cúng bị mất. 604 00:55:51,600 --> 00:55:57,070 Khi cơ thể biến đổi thì không còn liên quan đến vị Tỳ-khưu (cũ) nữa. Cần phải dâng lại. Vì vậy, việc biến đổi giới tính cũng có nghĩa là hiệu lực dâng cúng bị mất. 605 00:55:57,100 --> 00:56:01,769 Vậy là tổng cộng có sáu trường hợp làm mất hiệu lực dâng cúng nhé. 606 00:56:01,799 --> 00:56:07,370 Tiếp theo, nếu sư nói xen vào một chút, trong đó có việc khi viên tịch thì hiệu lực dâng cúng bị mất, nhé, 607 00:56:07,400 --> 00:56:12,070 Hoặc khi đem cho người khác thì hiệu lực dâng cúng bị mất; từ những điều đó chúng ta có được kiến thức gì? 608 00:56:12,100 --> 00:56:18,769 Đó là buổi sáng chư Tăng nhận dâng cúng các loại thức ăn. Các loại bánh, trái cây được nhận dâng cúng rất nhiều, chất thành đống. 609 00:56:18,799 --> 00:56:25,070 Đã dâng cúng xong rồi. Sau đây sẽ có một điều Luật. Đó là gì? Đó là chư Tăng có một điều Luật là không được tích trữ vật thực. 610 00:56:25,100 --> 00:56:29,770 Những gì nhận dâng cúng ngày hôm nay thì phải dùng hết trong ngày hôm nay. Không được để dành sang ngày hôm sau. 611 00:56:29,800 --> 00:56:36,369 Đôi khi sư đi máy bay, như hãng hàng không Myanmar Airways chẳng hạn. Khi bay vào buổi trưa hay đại loại thế, thỉnh thoảng họ đến dâng bánh trái này kia. 612 00:56:36,399 --> 00:56:42,070 Họ nói rằng: "Bạch Ngài, con xin dâng cúng cho bữa sáng mai ạ". Vì họ không phải là người giữ vật thực (kappiya) nên họ không biết. 613 00:56:42,100 --> 00:56:48,369 Họ bảo: "Con dâng để quý Ngài ăn sáng mai, còn bây giờ thì đừng ăn vì đã quá giờ ngọ (vikālabhojana)". Vì họ nói là dâng để ăn sáng mai, nên sư phải bảo: "Vâng, có người hộ tăng (kappiya) đi cùng đây, hãy đưa cho người hộ tăng đi". 614 00:56:48,399 --> 00:56:53,770 Nghĩa là họ cứ nghĩ rằng hôm nay dâng cho nhà sư rồi thì ngày mai vị ấy có thể ăn được. 615 00:56:53,800 --> 00:57:00,070 Đây là vấn đề khi người đời không biết Luật Tạng thì chuyện gì xảy ra? Đó là vấn đề nhà sư sẽ bị phạm tội (āpatti) nhé. Trong lòng họ thì họ biết là buổi chiều không được ăn. 616 00:57:00,100 --> 00:57:05,770 Nhưng điều họ không biết là những gì dâng ngày hôm nay thì không được ăn vào ngày hôm sau. Vì không biết nên họ cứ thành tâm dâng rằng: "Bạch Ngài, cái này để ngày mai Ngài dùng ạ". 617 00:57:05,800 --> 00:57:11,070 Về phía họ thì không có lỗi, chỉ là họ không biết thôi. Đó là vấn đề thường xảy ra như vậy nhé. 618 00:57:11,100 --> 00:57:17,770 Tiếp theo, trong chuyện vị Tỳ-khưu viên tịch cũng tương tự như vậy. Đôi khi có một số vị sư hơi lơ là về Luật Tạng, nhận dâng cúng rất nhiều gạo, dầu ăn này kia. 619 00:57:17,800 --> 00:57:23,369 Họ tích trữ lại rồi nhận dâng cúng. Trong trường hợp đó, những thứ đó trở thành phi như pháp (akappiya). 620 00:57:23,399 --> 00:57:29,070 Nếu vị sư đó viên tịch, thì hỏi rằng chư Tăng khác có thể nhận dâng cúng lại không? Được chứ. Bởi vì vị ấy đã viên tịch rồi mà. 621 00:57:29,100 --> 00:57:35,770 Vì vị ấy đã viên tịch nên hiệu lực dâng cúng của vị ấy đã mất. Do đó, chư Tăng đời sau có thể nhận dâng cúng lại được. Có những chuyện như vậy nhé. 622 00:57:35,800 --> 00:57:41,070 Chuyện là như vậy. Vì thế, nếu những người hộ tăng hiểu rõ điều này thì sẽ rất thuận tiện cho chư Tăng. 623 00:57:41,100 --> 00:57:46,369 Vậy đó là sáu nguyên nhân làm mất hiệu lực dâng cúng. Quý vị hãy thử suy nghĩ xem. 624 00:57:46,399 --> 00:57:51,270 Trong đó không hề có chuyện "chạm vào vật phẩm đã dâng thì hiệu lực dâng cúng bị mất" nhé. Quý vị thấy rồi đấy, không hề có nhé. Chỉ khi nào mang đi hẳn thì mới mất hiệu lực nhé. Như ở số bốn lúc nãy là bị giật lấy mất. 625 00:57:51,300 --> 00:57:56,770 Nghĩa là phải mang đi hẳn, đúng không? Phải mang đi hẳn thì hiệu lực dâng cúng mới mất nhé. 626 00:57:56,800 --> 00:58:02,469 Còn nếu thấy cái chén không sạch nên cầm lấy lau qua bằng khăn giấy thì chẳng sao cả. Di chuyển vị trí đó này kia cũng chẳng sao cả. 627 00:58:02,499 --> 00:58:08,770 Không biết quý vị có hiểu không? Trong các nguyên nhân làm mất hiệu lực dâng cúng không hề có điều đó. Không có chỗ nào nói là người đời không được chạm vào cả. 628 00:58:08,800 --> 00:58:15,469 Nhé, chuyện là như vậy. Chỉ có một điều duy nhất đáng lo ngại là bụi bặm từ tay hay tay áo có thể rơi vào thôi. 629 00:58:15,499 --> 00:58:22,270 Khi với tay lấy đồ trên mâm cơm chẳng hạn. Những người mặc áo tay dài thì bụi từ tay áo có thể rơi xuống. 630 00:58:22,300 --> 00:58:28,770 Chỉ có điều đó là đáng nghi ngại thôi. Ngoài ra thì chẳng có vấn đề gì cả. 631 00:58:28,800 --> 00:58:35,470 Vì thế, chỉ chạm vào cái chén hay di chuyển nó thôi thì không có vấn đề gì. Chỉ có một điều là nếu múc thêm thức ăn vào bát thì cần phải dâng cúng lại. 632 00:58:35,500 --> 00:58:41,770 Nhé, cái đó thì cần dâng lại. Vì vậy sư nói rằng chạm vào đồ đã dâng rồi thì chẳng sao cả. 633 00:58:41,800 --> 00:58:47,470 Có thể di chuyển vị trí, có thể chạm vào. Có thể nâng bàn lên lại. Chẳng sao cả. 634 00:58:47,500 --> 00:58:54,770 Nào, bây giờ chúng ta hãy cùng đọc bài kệ tóm tắt nhé: "Cho thức ăn, xả giới, đem cho, bị giật, viên tịch, biến đổi tính; sáu điều này làm mất hiệu lực dâng cúng, hãy ghi nhớ." 635 00:58:54,800 --> 00:59:00,470 Vậy là các yếu tố để việc dâng cúng thành tựu có năm điều ở phần trước. Còn các trường hợp làm mất hiệu lực dâng cúng thì có sáu điều. 636 00:59:00,500 --> 00:59:06,770 Nhé, khi hiệu lực dâng cúng đó đã mất rồi, thì quý bà thí chủ có thể dâng cúng lại cho chư Tăng vào ngày hôm sau. 637 00:59:06,800 --> 00:59:13,470 Bây giờ chúng ta hãy tiếp tục xem phần bên dưới một chút. Trong việc mất hiệu lực dâng cúng này, chỉ những vật thực thuộc sở hữu của một vị mới bị mất hiệu lực dâng cúng. 638 00:59:13,500 --> 00:59:20,069 Đối với những vật thực thuộc sở hữu của hai, ba vị trở lên, thì việc chỉ một vị từ bỏ sẽ không làm mất hiệu lực dâng cúng. 639 00:59:20,099 --> 00:59:26,770 Đôi khi trên một mâm cơm có năm vị Tỳ-khưu. Những vật phẩm được dâng cúng trên mâm cơm mà năm vị Tỳ-khưu cùng dùng bữa. 640 00:59:26,800 --> 00:59:33,470 Trong đó, một vị bảo không ăn nữa và từ bỏ. Nhưng vẫn còn bốn vị kia nữa. 641 00:59:33,500 --> 00:59:38,770 Vì thế, sư muốn nói rằng điều đó chưa được tính là đã từ bỏ (cho người đời). Nhé. 642 00:59:38,800 --> 00:59:44,470 Vì vậy, chỉ một vị nói rằng "Tôi đủ rồi, tôi không ăn nữa" thì những thức ăn đó vẫn chưa mất hiệu lực dâng cúng. 643 00:59:44,500 --> 00:59:50,770 Vì vẫn còn ba, bốn vị khác nữa. Do đó, chỉ khi nào tất cả năm vị đều nói rằng "Đủ rồi, chúng tôi không ăn nữa đâu", thì khi đó mâm cơm mới mất hiệu lực dâng cúng. 644 00:59:50,800 --> 00:59:50,970 Việc nói rằng hiệu lực dâng cúng bị mất do đem cho người khác cũng không phải là chuyện đơn giản đâu. 645 00:59:51,000 --> 00:59:56,470 Trong lúc đang dùng bữa trên mâm cơm, khi những người thí chủ đến chạm vào, chỉ khi nào vị Tỳ-khưu đem cho thì hiệu lực dâng cúng mới mất, 646 00:59:56,500 --> 01:00:02,169 Còn dù vị Tỳ-khưu không dùng tay chạm giữ lấy thì hiệu lực dâng cúng vẫn không bị mất nhé. Điều này đã được nói ở trên rồi. 647 01:00:02,199 --> 01:00:07,970 Quý sư dù không chạm vào cái bàn này thì cũng chẳng sao cả. Người đời đến chạm vào cũng chẳng sao cả nhé. 648 01:00:08,000 --> 01:00:14,470 Có một số người vì sợ mất hiệu lực dâng cúng nên cứ cố bám lấy vị sư. Có kiểu cố bám lấy như vậy đấy. Không cần thiết đâu nhé. 649 01:00:14,500 --> 01:00:23,970 Bằng cách này, đối với những vật phẩm đã được dâng cúng rồi thì có thể chạm vào được nhé. Vì vậy, nếu hỏi có thể chạm vào vật phẩm không thì câu trả lời là có thể. 650 01:00:24,000 --> 01:00:32,470 Tiếp theo là vấn đề múc thêm vật thực dâng cúng nhé. Phần sau đây nói về việc sau khi đã từ chối rằng "đủ rồi" mà vẫn tiếp tục ăn để không bị phạm tội... 651 01:00:32,500 --> 01:00:39,170 Điều này cực kỳ quan trọng. Sư thường phải dạy rất kỹ cho những người hộ tăng (kappiya) ở mỗi ngôi chùa về vấn đề này. 652 01:00:39,200 --> 01:00:45,970 Ở những ngôi chùa của sư thì không có vấn đề gì lớn. Nhưng đối với những vị trưởng lão dùng bữa theo mâm cơm thì đây là chuyện mà người đời cần phải biết rõ. 653 01:00:46,000 --> 01:00:52,470 Nếu người đời không biết thì về phía quý sư thật sự sẽ bị phạm tội trong vấn đề này. Vì vậy, người đời thực sự cần phải am hiểu Luật Tạng nhé. Người đời cần phải giúp đỡ. 654 01:00:52,500 --> 01:00:58,970 Chư Tăng khi đang dùng một trong năm loại vật thực (bhoja), sau khi đã dùng một phần và đang tiếp tục dùng phần còn lại, 655 01:00:59,000 --> 01:01:05,470 Đó, ví dụ như đang thọ thực mâm cơm chẳng hạn. Nghĩa là trong khi đang thọ thực nhé. Nếu từ chối bằng cách nói rằng "đủ rồi", "thôi" vân vân, thì gọi là bị Pavāritta (bị tước quyền ăn thêm). 656 01:01:05,500 --> 01:01:11,970 Bị Pavāritta chưa phải là đã bị phạm tội (āpatti) đâu. Pavāritta nếu nói theo tiếng Myanmar thì có nghĩa là từ chối thôi. 657 01:01:12,000 --> 01:01:19,470 Việc từ chối đó được gọi là bị Pavāritta nhé. Hãy ghi nhớ từ Pavāritta ở phía dưới nhé. Hãy nhớ nó có nghĩa là sự từ chối. 658 01:01:19,500 --> 01:01:25,170 Vì vậy, khi chư Tăng đang thọ thực mâm cơm, các nam thí chủ và nữ thí chủ mang bánh trái hay các loại canh khác đến dâng thêm. 659 01:01:25,200 --> 01:01:31,470 Nhà sư từ chối rằng "Đủ rồi, đủ rồi". Khi đó gọi là bị Pavāritta. Vẫn chưa bị phạm tội đâu nhé. 660 01:01:31,500 --> 01:01:37,970 Vậy thì khi bị Pavāritta chuyện gì sẽ xảy ra? Nếu hỏi rằng nếu từ chối như vậy thì sao, thì câu trả lời là sau đó không được phép ăn thêm nữa. 661 01:01:38,000 --> 01:01:44,470 Quyền thọ thực đó có nghĩa là vị ấy không được thay đổi oai nghi (tư thế). Trong khi đang ngồi thọ thực thì không được đứng dậy nữa. Phải thọ thực liên tục (non-stop) thôi. 662 01:01:44,500 --> 01:01:49,470 Nếu đứng dậy thì hoàn toàn không được phép ăn thêm nữa. Coi như ngày hôm đó của vị ấy là xong rồi, kết thúc rồi. 663 01:01:49,500 --> 01:01:50,670 Nhé, sư đang thọ thực mâm cơm. Trong lúc đang thọ thực, có một vị thí chủ đến dâng thêm. Đặc biệt là vấn đề này thường xảy ra vào lúc nào? Đó là vấn đề của bữa sáng, bữa điểm tâm. Vâng, bữa điểm tâm. 664 01:01:50,700 --> 01:01:56,670 Trong khi đang thọ thực bữa điểm tâm, một vị sư đang thọ thực bữa điểm tâm... 665 01:01:56,700 --> 01:02:02,670 Khi người ta đến dâng cúng, nếu sư đã thấy no rồi, thấy chán rồi, không thể ăn thêm được nữa. 666 01:02:02,700 --> 01:02:08,670 Khi đó, sư xua tay ra hiệu bảo: "Ông thí chủ, thôi, đủ rồi", hoặc dùng lời nói để từ chối. 667 01:02:08,700 --> 01:02:14,670 Nếu vậy thì sư đã bị Pavāritta rồi. Vậy khi bị Pavāritta thì chuyện gì xảy ra? 668 01:02:14,700 --> 01:02:20,670 Đó là không thể thọ thực bữa trưa (နေ့ဆွမ်း) được nữa. Không biết quý vị có hiểu không? Vấn đề nảy sinh từ chỗ đó. 669 01:02:20,700 --> 01:02:26,670 Quý vị hiểu không? Vì vậy, nếu vị ấy muốn thọ thực bữa trưa thì vị ấy không được đứng dậy, 670 01:02:26,700 --> 01:02:32,670 Mà phải ngồi yên đó cho đến bữa trưa. Quý vị hiểu không? Chuyện là như vậy đấy. 671 01:02:32,700 --> 01:02:38,670 Người đời không biết những điều Luật này đâu, quý vị biết không? Nhé. Nhà sư khi đó không được phép đứng dậy nữa. 672 01:02:38,700 --> 01:02:44,670 Hễ đứng dậy một cái là vị ấy hoàn toàn không được thọ thực thêm gì nữa. Cả ngày hôm đó không được thọ thực thêm gì cả. 673 01:02:44,700 --> 01:02:50,670 Chuyện là như thế đấy. Tại sao vậy? Bởi vì chính mình đã từ chối rồi, nên 674 01:02:50,700 --> 01:02:56,670 Nếu đã từ chối rằng "đủ rồi" thì trong khi chưa đứng dậy, vị ấy vẫn còn có thể thọ thực tiếp được. Nhé. 675 01:02:56,700 --> 01:03:02,670 Nếu vị ấy muốn thọ thực thì đừng đứng dậy, hãy cứ ngồi đó. Nếu muốn thọ thực bữa trưa thì hãy cứ ngồi đó vậy. 676 01:03:02,700 --> 01:03:08,670 Sự việc là như vậy. Vì thế, nếu không thể ngồi lâu được mà đứng dậy, thì vị ấy không thể thọ thực thêm được nữa. 677 01:03:08,700 --> 01:03:14,670 Đó là vì người đời không am hiểu Luật Tạng đấy. Nhé. Vậy nên có cách để giúp vị ấy tránh khỏi cái lỗi đó. 678 01:03:14,700 --> 01:03:20,670 Nhé, sư đang nói về điều đó. Vì vậy việc này rất quan trọng đối với quý sư nhé. 679 01:03:20,700 --> 01:03:26,670 Thực ra ở bữa trưa thì không có vấn đề gì lớn đâu nhé. Ở bữa trưa, nếu đã từ chối rồi thì 680 01:03:26,700 --> 01:03:32,670 Cũng chẳng sao cả vì sau đó cũng không còn bữa nào để ăn nữa. Ở bữa trưa thì không có vấn đề gì. 681 01:03:32,700 --> 01:03:38,670 Bởi vì chỉ còn lại bữa tối thôi (mà buổi tối thì không được ăn). Vì chỉ còn lại bữa tối nên cũng chẳng vấn đề gì lắm. 682 01:03:38,700 --> 01:03:44,670 Nhưng nếu từ chối ở bữa điểm tâm sáng, thì không thể thọ thực bữa trưa được nữa. 683 01:03:44,700 --> 01:03:50,370 Nếu từ chối ở bữa trưa thì không có vấn đề gì. Bữa trưa thì chẳng sao cả. 684 01:03:50,400 --> 01:03:55,870 Trong khi chư Tăng đang thọ thực mâm cơm, nếu có người dâng cúng từ bên ngoài khoảng cách hatthapāsa (khoảng cách một sải tay), 685 01:03:55,900 --> 01:04:01,569 Mà vị Tỳ-khưu dùng lời nói từ chối rằng "Đủ rồi, đừng thêm vào nữa" vân vân, thì điều đó không được tính là sự từ chối (Pavāritta). 686 01:04:01,599 --> 01:04:07,769 Quý vị hãy xem ở chỗ đó, thấy chưa? Có cụm từ "từ bên ngoài khoảng cách hatthapāsa" đấy, thấy chưa? 687 01:04:07,799 --> 01:04:13,470 Từ đằng xa, người ta hỏi vọng lại: "Bạch Ngài, Ngài có dùng thêm gì nữa không ạ?". 688 01:04:13,500 --> 01:04:19,870 Trong trường hợp đó, nếu vị ấy từ chối rằng "Tôi không dùng nữa đâu, ông thí chủ ạ" thì chẳng sao cả, vẫn được. 689 01:04:19,900 --> 01:04:25,570 Vì vậy, tốt nhất là cứ đứng ngoài khoảng cách hatthapāsa mà hỏi vọng vào. 690 01:04:25,600 --> 01:04:31,370 Chuyện là như vậy, nó có như thế này. Nó có những yếu tố cấu thành của nó. 691 01:04:31,400 --> 01:04:37,669 Phải đi vào bên trong khoảng cách hatthapāsa. Hơn nữa, phải là đang hướng tới dâng cúng. 692 01:04:37,699 --> 01:04:44,169 Đó là năm yếu tố để việc nhận dâng cúng thành tựu mà sư nói lúc nãy đấy. Phải có sự hướng tới dâng cúng cùng với năm yếu tố đó. 693 01:04:44,199 --> 01:04:49,570 Phải đi vào bên trong khoảng cách hatthapāsa. Và rồi các đặc điểm đó phải tương ứng với nhau. 694 01:04:49,600 --> 01:04:54,870 Khi đó, nếu các yếu tố đã tương ứng rồi thì quý sư không được từ chối. 695 01:04:54,900 --> 01:05:00,570 Vì vậy, chúng ta có thể làm cho các đặc điểm đó không tương ứng với nhau. Hãy đứng từ bên ngoài khoảng cách hatthapāsa mà hỏi vọng vào. 696 01:05:00,600 --> 01:05:06,169 Hoặc giả, hãy đặt cái bát hay cái xô định múc đồ thêm đó xuống đất. 697 01:05:06,199 --> 01:05:11,770 Hãy chấp tay lại và hỏi: "Bạch Ngài, Ngài có dùng thêm không ạ?". Như vậy thì được. 698 01:05:11,800 --> 01:05:17,469 Không được vừa cầm cái đĩa lớn đó vừa hỏi: "Bạch Ngài, Ngài có dùng thêm không ạ?". 699 01:05:17,499 --> 01:05:22,870 Hãy đặt nó xuống, đặt nó xuống đất. Không biết quý vị có hiểu điều sư nói không? Hãy đặt đồ múc thêm đó xuống. 700 01:05:22,900 --> 01:05:28,570 Sau khi đặt xuống rồi mới hỏi: "Bạch Ngài, Ngài có dùng thêm không ạ?". Khi đó, nhà sư có thể từ chối được. 701 01:05:28,600 --> 01:05:34,270 Tại sao vậy? Bởi vì khi đó không có yếu tố "đang hướng tới dâng cúng". Không biết quý vị có hiểu không? 702 01:05:34,300 --> 01:05:39,870 Vì vậy, nếu đặc điểm "đang hướng tới dâng cúng" không tương ứng thì vẫn được. Nếu không đi vào bên trong khoảng cách hatthapāsa thì vẫn được. 703 01:05:39,900 --> 01:05:45,570 Do đó, những vị đi múc thêm thức ăn dâng cúng cần phải lưu ý điều này. 704 01:05:45,600 --> 01:05:47,372 Hãy đặt cái chén hay cái đĩa dùng để múc thêm đồ đó xuống, rồi chấp tay hỏi. 705 01:05:47,402 --> 01:05:50,070 Nếu hỏi theo kiểu vừa bưng đồ vừa hỏi như vậy, mà nhà sư lỡ từ chối thì vị ấy sẽ gặp rắc rối ngay. Nhà sư đó sẽ phải chịu đói bữa trưa mất thôi. 706 01:05:50,100 --> 01:05:55,570 Các thí chủ có thể hỏi vọng từ xa rằng: "Quý Ngài dùng thêm không ạ?", hoặc đặt đồ xuống rồi hỏi cũng được. 707 01:05:55,600 --> 01:06:01,269 Đừng có làm theo tư thế sắp múc vào nhé, đừng làm tư thế sắp múc vào. Đó là việc hướng tới dâng cúng trong khoảng cách hatthapāsa, phải nói như vậy. 708 01:06:01,299 --> 01:06:07,870 Vậy có người ra hiệu bằng tay thì sao? Cũng vậy thôi, trong này có ghi rõ, có việc từ chối bằng lời nói, có việc từ chối bằng tay. 709 01:06:07,900 --> 01:06:14,570 Việc lắc đầu cũng vậy thôi, cũng giống nhau cả. Sư cũng hay bị hỏi rằng: "Bạch Ngài, con lắc đầu không được sao?". Không được đâu nhé. 710 01:06:14,600 --> 01:06:20,269 Chuyện là như thế đấy. Vậy thì một số người làm thế nào? Khi đó, họ làm thế nào? Họ cứ múc lấy một muỗng nhỏ cũng được mà. 711 01:06:20,299 --> 01:06:25,869 Coi như là có múc thêm, chỉ thêm vào một chút xíu thôi cũng được mà, kiểu như vậy đấy. 712 01:06:25,899 --> 01:06:32,570 Khi người đời am hiểu Luật Tạng thì sẽ rất thuận tiện cho chư Tăng. Nếu không thì sẽ xảy ra chuyện các nhà sư phải chịu đói bữa trưa nhé, sẽ thành chuyện phải chịu đói bữa trưa đấy. 713 01:06:32,600 --> 01:06:37,270 Vì vậy, ở phía dưới có ghi một trường hợp ngoại lệ là "không nhắm vào vật thực". 714 01:06:37,300 --> 01:06:43,570 Chỉ khi nào từ chối trong lúc người ta đang mang vật thực vào trong khoảng cách hatthapāsa với ý định dâng cúng, thì khi đó mới bị Pavāritta, mới được tính là sự từ chối. 715 01:06:43,600 --> 01:06:48,869 Còn nếu không nhắm vào vật thực, như sư đã nói lúc nãy, là đặt đồ xuống đất mà không có ý định dâng ngay. 716 01:06:48,899 --> 01:06:56,270 Hoặc giả là hỏi từ bên ngoài khoảng cách hatthapāsa, đúng không? Nếu đứng từ bên ngoài mà hỏi bằng lời rằng "Bạch Ngài, như vậy đã đủ chưa ạ? Ngài có thêm nữa không ạ?", thì việc từ chối đó không bị Pavāritta, không được tính là sự từ chối nhé, thấy chưa? 717 01:06:56,300 --> 01:07:02,570 Có hai trường hợp như vậy nhé, thế là đã rõ ràng rồi. Do đó, các thí chủ khi chư Tăng đang thọ thực mâm cơm, hoặc là đứng từ bên ngoài khoảng cách hatthapāsa, 718 01:07:02,600 --> 01:07:08,869 Hoặc là khi không nhắm vào vật thực (đặt đồ xuống), chỉ nên bạch hỏi bằng lời rằng: "Bạch Ngài, như vậy đã đủ chưa ạ? Ngài có dùng thêm nữa không ạ?". 719 01:07:08,899 --> 01:07:14,570 Nếu bạch hỏi như vậy, dù vị Tỳ-khưu có từ chối đi nữa thì vị ấy cũng không bị Pavāritta và vẫn có thể tiếp tục thọ thực được. 720 01:07:14,600 --> 01:07:18,270 Các thí chủ nên biết và am hiểu cách bạch hỏi này nhé. Đây là một điểm cực kỳ quan trọng. 721 01:07:18,300 --> 01:07:19,243 Vậy là sư đã giảng xong các vấn đề liên quan đến việc nhận dâng cúng rồi nhé.