[0] ကဲ ဦးဇင်းတို့ အခန်း ၁ ဆွမ်းကပ်တဲ့ အခါမှာ Nào, quý sư, trong Chương 1 về việc khi dâng cúng vật thực [1] လိုက်နာရမယ့် ပုံစံလေးတွေ ခုနက ပြောခဲ့တယ်။ những hình thức cần phải tuân theo chúng ta đã nói lúc nãy rồi. [2] အခု အခန်း ၂ ပေါ့နော်၊ စာမျက်နှာ ၁၆ ပေါ့ အခန်း ၂။ Bây giờ là Chương 2 nhé, trang 16 đấy, Chương 2. [3] ဟို အားလုံး ရှိရင်လည်း ကိုယ့်ဘာသာကိုယ် အိမ်မှာ ပြန်ဖတ်ကြည့်ပေါ့။ Nếu mọi người đều có sách thì hãy tự mình đọc lại ở nhà nhé. [4] ပြီးတော့ အဲ့မှာ စိတ်ကူးပေါ်တာလေးတွေ ရှိတယ်ဆိုရင်လည်း Rồi nếu ở đó có những điều gì nảy sinh ý tưởng hay thắc mắc [5] နောက်ရက် နောက်ရက်တွေမှာ ပြန်မေးလို့ ရပါတယ်။ thì vào những ngày sau, ngày sau nữa có thể hỏi lại. [6] ဟို ပြီးသွားပြီ မေးလို့ မရတော့ဘူးလို့ မထင်နဲ့ပေါ့။ Đừng nghĩ rằng đã xong rồi thì không được hỏi nữa nhé. [7] ပြီးခဲ့တဲ့ အခန်းလေးတွေကို ကိုယ့်ဘာသာကိုယ် ပြန်ဖတ်ပြီးတော့ Hãy tự mình đọc lại các chương đã qua [8] မရှင်းတာရှိရင် သို့မဟုတ် အတွေးပေါ်တာလေးတွေ ရှိရင်လည်း မှတ်လာခဲ့ပြီး မေးပေးပေါ့။ và nếu có chỗ nào không rõ hoặc có ý tưởng gì nảy sinh thì hãy ghi lại rồi hỏi nhé. [9] တခြားသူတွေလည်း ကိုယ့်ကို အကြောင်းပြုပြီးတော့ ဗဟုသုတတွေ ပွားတယ်ပေါ့။ Những người khác cũng sẽ nhờ vào quý vị mà tăng trưởng thêm kiến thức vậy. [10] အခန်း ၂ မှာ ဦးဇင်းတို့ အချိန်အခါလိုက် စပ်လျဉ်းအပ်သော Trong Chương 2, quý sư sẽ học về các loại liên quan theo thời gian [11] စားသောက်ဖွယ်နှင့် ဖျော်ရည်များ၊ ဆေးပစ္စည်းများ။ gồm vật thực, đồ uống và các loại dược phẩm. [12] ဒါလည်း အင်မတန် အရေးကြီးပါတယ်နော်။ ဒကာ ဒကာမတွေ Điều này cũng cực kỳ quan trọng đấy nhé. Các thí chủ [13] မလိမ္မာလို့ ဆရာတော်ကြီးတွေမှာ အာပတ်သင့်ရတယ်၊ ဆရာတော်တွေမှာ အာပတ်သင့်ရတယ်။ vì không am hiểu nên làm cho các bậc đại trưởng lão phải phạm tội (āpatti), các ngài phải phạm tội. [14] မွန်းမတည့်မီအတွင်း သုံးဆောင်ကောင်းသော အာဟာရ၊ Những loại dinh dưỡng được phép thọ dụng trong khoảng thời gian trước khi mặt trời đứng bóng (trước giờ Ngọ), [15] အဲ့ဒါကို ပါဠိလို ယာဝကာလိက လို့ ခေါ်တယ်။ trong Pāli gọi cái đó là Yāvakālika. [16] ဒီ အရုဏ်တက်ချိန်ကနေပြီးတော့ ခေတ်နာရီနဲ့ ပြောမယ်ဆိုရင် ၁၂ နာရီပေါ့ အကြမ်းဖျင်းပေါ့လေ။ Từ lúc rạng đông cho đến, nếu nói theo giờ giấc hiện đại thì đại khái là 12 giờ trưa vậy. [17] တကယ်တော့ နေမွန်းလွဲချိန်ဆိုတာ နေနဲ့ ဦးဇင်းတို့ သတ်မှတ်ပါတယ်။ Thật ra, thời điểm mặt trời quá trưa thì quý sư xác định bằng mặt trời. [18] ဒီနေ့ခေတ်တော့ ဖုန်းတွေ application တွေ ရှိတော့ Thời đại ngày nay vì đã có điện thoại, có các ứng dụng rồi nên [19] အရုဏ်တက်ချိန်၊ နေဝင်ချိန်၊ နေထွက်ချိန်၊ နေလွဲချိန်တွေကို စနစ်တကျ ဦးဇင်းတို့ ကြည့်နိုင်ပါပြီ။ thời điểm rạng đông, lúc mặt trời lặn, mặt trời mọc, mặt trời quá trưa, quý sư chúng ta đã có thể xem một cách hệ thống rồi. [20] အဲ့တော့ အကြမ်းဖျင်းတော့ ၁၂ နာရီလို့ သတ်မှတ်တယ်။ Do đó, đại khái xác định là 12 giờ. [21] အဲ့တော့ မနက် အရုဏ်တက်ချိန်ကနေပြီးတော့ ၁၂ နာရီအတွင်း Vậy nên, từ lúc rạng đông buổi sáng cho đến trong vòng 12 giờ trưa, [22] ဘုန်းပေးသုံးဆောင်ရတဲ့ အစားအာဟာရတွေကို những loại thức ăn dinh dưỡng mà được thọ dụng [23] ပါဠိဘာသာနဲ့ ယာဝကာလိက လို့ ခေါ်ပါတယ်နော်။ trong ngôn ngữ Pāli gọi là Yāvakālika đấy nhé. [24] သာသနာမှာ ကာလိက လေးမျိုးရှိတယ်။ ဒါ နံပါတ် ၁ ယာဝကာလိက အမျိုး။ Trong Giáo Pháp có bốn loại Kālika. Đây là loại số 1, loại Yāvakālika. [25] အဲတော့ အရုဏ်တက်ချိန် မဟုတ်ဘူးနော် သူက အရေးချ အာ မဟုတ်ဘူး အရုဏ်တက်ချိန်လို့ ခေါ်တယ်။ Thế nên, nó là "aruṇ" (rạng đông) chứ không phải "āruṇ" đâu nhé, nó không có dấu phụ họa "ā", gọi là thời điểm rạng đông. [26] အောက်မှာ ရေးထားတာ ပါတယ် ရဟန်းတော်များအတွက် အရုဏ်တက်ချိန်မှနော်။ Ở dưới có viết đấy, dành cho chư Tăng là kể từ thời điểm rạng đông nhé. [27] မြန်မာတော်တော်များများ အဲ့ဒါ နှုတ်ကျိုးနေတာ အာရုဏ် အာရုဏ်လို့ ဆွမ်းကပ်လို့ရှိရင်လည်း အာရုဏ်ဆွမ်းလို့ ပြောကြတယ်။ Rất nhiều người Myanmar đã quen miệng gọi là "āruṇ", "āruṇ", khi dâng cúng vật thực cũng gọi là "āruṇ-swam" (vật thực rạng đông). [28] အာရုဏ်ဆွမ်းမဟုတ်ဘူးနော် အရုဏ်ဆွမ်းလို့ ခေါ်တယ် အ နဲ့ ရေးချမပါဘူး။ Không phải "āruṇ-swam" đâu nhé, gọi là "aruṇ-swam", chữ "a" không có dấu phụ họa "ā". [29] အဲ့ဒါ နှုတ်ကျိုးနေတာ မှားနေတာနော် သူက ပါဠိလိုက အရုဏ က လာတာလေ။ Cái đó là do quen miệng nên bị sai đấy nhé, vì trong Pāli nó xuất phát từ chữ "aruṇa" mà. [30] အရုဏ ကနေပြီးတော့ နကြီးကို အသတ်ကလေး သတ်လိုက်တော့ အရုဏ်လို့ ဖြစ်သွားတာ။ Từ "Aruṇa" khi thêm dấu sát (သတ်) vào chữ "ṇa" (ဏ) thì trở thành "Aruṇ" (Bình minh). [31] ဒီအရုဏ်သည် ပါဠိပျက်နော် ပါဠိကနေ ဆင်းသက်လာတဲ့ စကား အရုဏ ကနေပြီးတော့ အရုဏ်။ Từ "Aruṇ" này là từ biến âm từ Pāli nhé, nó là từ ngữ được truyền thừa từ tiếng Pāli "Aruṇa" mà thành "Aruṇ". [32] အဲတော့ အရုဏ်အကြောင်းလည်း နောက်မှာ တစ်ကဏ္ဍ အခန်းတစ်ခန်း ပါပါတယ် ဒီနောက်ပိုင်းနားလေးမှာ အရုဏ်အကြောင်းလေး သီးသန့်ပြောပေးပါမယ်။ Về vấn đề bình minh này, ở phần sau cũng có một chương riêng, lát nữa ở phần sau tôi sẽ giảng giải riêng về bình minh. [33] အဲတော့ မိုး အဲ မနက် အရုဏ်တက်ချိန်ကနေပြီးတော့ နေမွန်းတည့်တိုင်အောင် ဘုန်းပေးသုံးဆောင်ကောင်းသော အာဟာရတို့သည် Vậy thì, những loại vật thực có thể thọ dụng được từ lúc bình minh cho đến đúng giữa trưa là, [34] နံနက်အဟာ နံနက်သုံး အာဟာရ ယာဝကာလိက မည်၏နော်။ Được gọi là vật thực dùng cho buổi sáng, tức là Yāvakālika (vật thực hạn kỳ đến trưa) nhé. [35] အဲတော့ မြန်မာလို ဘာသာပြန်တော့ နံနက်သုံး အာဟာရလို့ ဘာသာပြန်ကြတယ် ယာဝကာလိက။ Khi dịch sang tiếng Miến thì người ta dịch Yāvakālika là vật thực dùng cho buổi sáng. [36] ဤနံနက်သုံး ယာဝကာလိကတို့က ဘာတွေလဲဆိုတော့ ထမင်း ထမင်းအမျိုးမျိုးနော်။ Những loại Yāvakālika dùng cho buổi sáng này là gì? Đó là cơm, các loại cơm nhé. [37] နောက် ဆန် ဆန်နဲ့လုပ်သော မုန့်မျိုးစုံ နောက် မုယော မုယောဆိုတာ စာပေမှာ လာတဲ့ ဥစ္စာ ယနေ့ခေတ်ဆို ဂျုံလို့ ခေါ်တယ်ပေါ့။ Tiếp theo là gạo, các loại bánh làm từ gạo; rồi đến đại mạch (muyaw), trong kinh điển gọi là như vậy, còn ngày nay gọi là lúa mì đấy. [38] ဂျုံနဲ့လုပ်ထားတဲ့ ဒီမုန့်တွေ ကိတ်မုန့်တွေ ပေါင်မုန့်တွေပေါ့။ Các loại bánh làm từ lúa mì như bánh ngọt, bánh mì chẳng hạn. [39] ဒါ ငါးဖြင့် ပြုလုပ်ထားတဲ့ စားဖွယ်သောက်ဖွယ်တွေ ငါးတွေ နောက်တစ်ခါ နံပါတ်ငါးကတော့ အသား။ Đây là các loại đồ ăn thức uống được làm từ cá, và thứ năm là thịt. [40] အသားနဲ့လုပ်ထားတဲ့ အာဟာရတွေနော် ထမင်းရယ် ဆန်ရယ် ဂျုံရယ် ငါးရယ် အသားရယ်ပေါ့ စားစရာ အမျိုးမျိုးပေါ့နော်။ Các loại vật thực làm từ thịt nhé; gồm có cơm, gạo, lúa mì, cá, thịt, đó là các loại đồ ăn khác nhau. [41] အဲတော့ အဲ့ဒီ အခဲအဘောဇဉ် နောက်တစ်ခါ ဘာတွေပါသေးလဲ နွားနို့တို့ လက်ဖက်ရည် စသော သောက်ဖွယ်များလည်း ပါပါတယ်နော်။ Rồi trong các loại đồ ăn đặc (khādanīya) và đồ ăn mềm (bhojanīya) đó, còn có cả sữa bò, trà và các loại đồ uống khác nữa nhé. [42] အဲတော့ အာဟာရ စားဖွယ်အာဟာရမှန်သမျှပေါ့ စားဖွယ်အာဟာရမှန်သမျှသည် ဒါဦးဇင်းတို့ ပါဠိလိုပြောရင် ယာဝကာလိက မြန်မာလိုပြောရင် နံနက်သုံး အာဟာရ ဖြစ်ပါတယ်။ Tóm lại, tất cả những gì là vật thực để ăn, nếu nói theo tiếng Pāli thì quý sư gọi là Yāvakālika, còn tiếng Miến gọi là vật thực dùng cho buổi sáng. [43] နည်းနည်းလေး ချဲ့ပြောဖို့ လိုတယ်ပေါ့နော် အဲ့ဒါလေးကို ရှေးဆိုရလျှင်တဲ့ စပါးအမျိုးမျိုးနှင့် Cần phải giải thích rộng thêm một chút nhé, nếu nói theo cách xưa thì là các loại ngũ cốc và [44] စပါးအမျိုးမျိုးနှင့် ပဲအမျိုးမျိုးတို့ကို Các loại ngũ cốc và các loại đậu, [45] အဲ့ဒါကို မီးဖြင့် ကျော်လှော် ချက်ပြုတ် ဖုတ်ကင် ပေါင်းအုံး၍ Những thứ đó được chiên, rang, nấu nướng, nướng, quay hoặc hấp [46] ပြုသမျှသော စားဖွယ်များ နော်။ Để làm thành tất cả các loại đồ ăn nhé. [47] စပါးတွေနဲ့ ပဲတွေနဲ့ လုပ်ထားတဲ့ အစားအစာတွေ Những đồ ăn được làm từ các loại ngũ cốc và các loại đậu, [48] အဲ့ဒါတွေဟာ မနက် ယာဝကာလိက ဖြစ်ပါတယ် နော်။ Những thứ đó chính là Yāvakālika (vật thực hạn kỳ đến trưa) dùng cho buổi sáng nhé. [49] နောက်တစ်ခါ ဦးဇင်းတို့ ကိတ်မုန့်မျိုးစုံ၊ ဘီစကစ်မုန့်မျိုးစုံ၊ နို့မုန့်၊ ဟောလစ်၊ အိုဗာတင်း၊ မိုင်လို၊ နို့ဆီ နော်။ Tiếp nữa là các loại bánh ngọt, các loại bánh quy, bánh sữa, Horlicks, Ovaltine, Milo, sữa đặc nhé. [50] နောက် ယိုအမျိုးမျိုး၊ နောက် ဘူးသွတ်အစားအစာများ ထမင်းဟင်းမုန့်အဖြစ် မဟုတ်၊ Rồi các loại mứt, các thực phẩm đóng hộp mà không phải là cơm canh hay bánh, [51] ဆေးမဟုတ်ဘဲ သရေစာအဖြစ် စားသုံးသော အမြစ်တို့၊ သစ်ဥ၊ Hoặc không phải là thuốc mà được dùng làm đồ ăn vặt như các loại rễ cây, củ, [52] ပင်စည်၊ အခေါက်၊ အရွက်၊ အညွန့်၊ အဖူး၊ အပွင့်၊ အသီး၊ Thân cây, vỏ cây, lá, chồi, nụ, hoa, quả, [53] နောက် အစေ့ နော်၊ သီဟိုဠ်စေ့လိုဟာမျိုး အစေ့တွေ။ Rồi các loại hạt nhé, như là hạt điều chẳng hạn. [54] နောက် အမှုန့်ဖြစ်သော ခဲဖွယ်များသည်လည်း မွန်းမလွဲမီ နံနက်ပိုင်း၌သာ Cả những loại đồ ăn dạng bột cũng vậy, chúng chỉ được thọ dụng vào buổi sáng trước giờ giữa trưa, [55] သုံးဆောင်ကောင်းသော ယာဝကာလိက စားဖွယ်ခဲဖွယ်များ ဖြစ်ပေသည် နော်။ Đó là những loại Yāvakālika, những vật thực hay đồ ăn đặc có thể thọ dụng được (vào buổi sáng) nhé. [56] အဲ့တော့ အဲ့ဒီဟာတွေက မနက်ပိုင်းမှာပဲ ရတဲ့ အစားအစာတွေ၊ Vậy nên, những thứ đó là những đồ ăn chỉ được dùng vào buổi sáng, [57] ညနေပိုင်း မရဘူးနော်။ Buổi chiều là không được dùng đâu nhé. [58] အဲ့တော့ ဦးဇင်းတို့ ပဲမျိုးမျိုးလို့ ပြောတဲ့အတွက် ယနေ့ခေတ် စဉ်းစားကြည့် ပဲနို့တွေ၊ Bởi vì quý sư đã nói về các loại đậu, nên hãy thử suy xét xem các loại sữa đậu ngày nay, [59] ညနေပိုင်း ပဲနို့သောက်လို့ ရလား မေးရင် ဘယ်လိုပြောမလဲ။ Nếu hỏi rằng buổi chiều có uống sữa đậu được không, thì quý vị sẽ trả lời thế nào? [60] မရဘူးနော်။ အဲ့တော့ ကာလိကနဲ့ ပြောရင် ဘယ်ကာလိကထဲ ပါသွားလို့လဲဆိုတော့ Không được nhé. Vậy nên nếu nói về Kālika thì nó thuộc về loại Kālika nào đấy? [61] ယာဝကာလိကထဲ ပါသွားတာ။ မြန်မာလိုပြောရင် ဘယ်အစားအစာလဲဆိုရင် နံနက်ပိုင်း၊ Nó thuộc về Yāvakālika (vật thực dùng đến trưa). Nếu nói theo tiếng Myanmar thì đó là loại thực phẩm nào? Đó là vật thực dùng buổi sáng, [62] နံနက်သုံး အာဟာရ နော်၊ နံနက်သုံး အာဟာရ။ Vật thực dùng buổi sáng nhé, vật thực dùng buổi sáng. [63] တချို့ အဲ့ဒါ တော်တော်များများ မေးတယ်၊ တချို့ ရိပ်သာတွေမှာလည်း အဲ့ဒါ Có một số người hỏi về vấn đề này rất nhiều, ở một số thiền viện, tôi cũng có [64] ဟို ဥပုသ်သည်တွေကို ပဲနို့တိုက်တယ်လို့ ပြောသံကြားတယ်ပေါ့။ အဲ့ဒါမျိုး မဟုတ်ပါဘူး၊ မဖြစ်သင့်ဘူးပေါ့နော်။ Nghe nói rằng người ta cho những người thọ Uposatha uống sữa đậu nành. Chuyện đó không đúng đâu, không nên như vậy nhé. [65] ဟို ငါးပါးသီလ ယူတာတော့ ပြဿနာမရှိဘူးပေါ့။ Việc thọ trì Ngũ giới thì không có vấn đề gì cả. [66] ငါးပါးသီလကတော့ ဝိကာလဘောဇနာ မရှိတော့ ညနေပိုင်း ပဲနို့တို့ဘာတို့ ရတယ်လေ။ Vì Ngũ giới không có điều học Vikālabhojanā (không ăn phi thời) nên buổi chiều uống sữa đậu nành hay các thứ tương tự thì được. [67] အဲ့တော့ ငါးပါးသီလ မဟုတ်ဘူး၊ ဥပုသ်သီလ ဆောက်တည်တဲ့ ယောဂီပုဂ္ဂိုလ်များ၊ Vậy nên không phải là người giữ Ngũ giới, mà là các hành giả đang thọ trì Uposatha (Bát quan trai giới), [68] ရဟန်းတော်များဆိုရင်တော့ ဝိကာလဘောဇနာ သီလ ထိန်းရတယ်။ Hay chư Tăng thì phải giữ giới Vikālabhojanā. [69] ဒီတော့ ဝိကာလဘောဇနာထဲမှာ ဦးဇင်းတို့ ခုနက ပဲတွေ Vì thế trong giới Vikālabhojanā, như các loại đậu mà tôi vừa nói, [70] ၁၂ နာရီကျော်ရင် မစားတော့ဘူးဆိုတော့ ပဲက ဖြစ်ပေါ်လာတဲ့ အရည်တွေလည်း ဦးဇင်းတို့ သောက်လို့မရဘူး၊ ပဲနို့သောက်လို့မရဘူး။ Sau 12 giờ trưa thì không ăn nữa, nên các loại nước làm từ đậu chúng ta cũng không được uống, không được uống sữa đậu nành. [71] နောက်မှာ အဖျော်ယမကာ ပါလိမ့်မယ်နော်။ အဖျော်ယမကာ ကဏ္ဍ ရှိလိမ့်မယ်။ Lát nữa sẽ có phần về đồ uống (nước giải khát) nhé. Sẽ có chương về đồ uống. [72] နောက်တစ်ခု ပြောလက်စနဲ့ ဦးဇင်းတို့ အဲ့ဒီ ပုစွန်ခြောက်မှုန့်တို့ဘာတို့ ယနေ့ခေတ်ပေါ့။ Sẵn đây tôi cũng nói luôn về các loại như bột tôm khô ngày nay chẳng hạn. [73] နော်၊ ခြောက်မှုန့်တို့ဘာတို့ဆိုရင် ညနေပိုင်း သောက်လို့မရပါဘူး။ ဝိကာလဘောဇနာထဲမှာ ပါပါတယ်။ Vâng, các loại bột khô như vậy thì buổi chiều không được uống đâu. Nó nằm trong giới Vikālabhojanā. [74] နောက်တစ်ခါ ဦးဇင်းတို့ အင်း ဒီခေတ် ငှက်သိုက်၊ ငှက်သိုက် ပြဿနာပေါ့။ Tiếp theo, tôi xin nói về vấn đề tổ yến ngày nay. [75] အဲ့ဒီ ငှက်သိုက်ကတော့ နှစ်မျိုးရှိတယ်ပေါ့။ အတုလည်းရှိတယ်၊ အစစ်လည်းရှိတယ်ပေါ့လေ။ Về tổ yến này thì có hai loại. Có loại giả và cũng có loại thật. [76] ယိုးဒယားက တချို့ ငှက်သိုက်... Ở Thái Lan, có một số loại tổ yến... [77] ငှက်သိုက်အတုတွေ ထုတ်ပါတယ်၊ လျှော်ကနေပြီးတော့ လုပ်တဲ့အတုတွေတော့ ရှိတယ်။ Họ sản xuất tổ yến giả, có những loại làm giả từ nhựa (resin) hay sợi thực vật thì có. [78] အဲဒါတွေကတော့ ညနေဘက်သောက်လို့ရတယ်၊ ပြဿနာမရှိဘူး။ Những loại đó thì buổi chiều có thể uống được, không có vấn đề gì. [79] နောက် ငှက်သိုက်အစစ်ဆိုတဲ့ ပြဿနာက အရင်တုန်းက ဦးဇင်း သံသယရှိတော့ တိုက်ရိုက်မဆုံးဖြတ်ပေးခဲ့ပါဘူး။ Còn về vấn đề tổ yến thật, trước đây tôi có sự hoài nghi nên đã không trực tiếp quyết định. [80] ဒီငှက်သိုက်အစစ်တွေက ဟို ရာသီ ညနေဘက် မွန်းလွဲသွားရင် သောက်ကောင်းမသောက်ကောင်းပေါ့။ Rằng loại tổ yến thật này vào buổi chiều, sau khi quá trưa thì có thể uống được hay không. [81] ဟို ဆေးလို့ အားဆေးလို့ ပြောပေမယ့်လည်း ဒီဥစ္စာက ဟို အာဟာရထဲမှာ ပါနေမလားပေါ့၊ ဒီငှက်သိုက်က စဉ်းစားတဲ့အခါမှာ။ Dù nói là thuốc hay thuốc bổ, nhưng liệu nó có nằm trong phần vật thực (āhāra) hay không, khi cân nhắc về tổ yến này. [82] ဦးဇင်း သံသယရှိတော့ ကိုယ်တိုင်မသောက်ဖြစ်ဘူး၊ သူများ ကိုလည်း တိုက်ဖို့ မတိုက်တွန်းခဲ့ဘူးပေါ့လေ။ Vì tôi có sự hoài nghi nên bản thân không uống, và cũng không khuyến khích người khác uống. [83] မအပ်ဘူးလို့လည်း မပြောရဲခဲ့ဘူးပေါ့။ အဲဒါက ငှက်သိုက်ဆိုတာ ဘာလဲဆိုတာကို တိတိကျကျ မသိခဲ့လို့ ပြဿနာပေါ့လေ။ Nhưng tôi cũng không dám nói là không hợp pháp (akappiya). Đó là vấn đề vì tôi chưa biết chính xác tổ yến là cái gì. [84] နောက်ပိုင်း အဲဒါနဲ့ သံသယရှိတော့ ဦးဇင်းက အဲဒီ ဒကာမကြီးတစ်ယောက်ကို မေးတော့ သူက ငှက်သိုက်ကို ယူလာတယ်၊ ငှက်သိုက်အခြောက်ပေါ့၊ ငှက်အန်ဖတ်ကို သူက ယူလာတယ်။ Sau đó, vì có sự hoài nghi nên tôi đã hỏi một bà thí chủ, bà ấy đã mang tổ yến đến, là tổ yến khô, bà ấy mang phần chim yến nhả ra đến. [85] အဲဒီအခြောက်ကို ယူလာပြီးတော့ ပြတယ်၊ အရှင်ဘုရားတဲ့ ငှက်သိုက်ဆိုတာ ဒါပဲဆိုပြီး သူက ငှက်သိုက် အဲဒီ မူရင်းပေါ့နော်၊ အန်ဖတ်ကို သူက ယူလာပြတယ်။ Bà ấy mang loại khô đó đến và chỉ cho xem: "Bạch ngài, tổ yến là cái này đây", và bà ấy mang phần nguyên bản, phần yến nhả ra đó đến cho xem. [86] ဆိုတော့ အန်ဖတ်က ဘာတွေလဲ ကြည့်လိုက်တဲ့အခါကျတော့ သူက သူ့ရဲ့ တံတွေးသလိပ်သဘောပဲ သူက။ Khi nhìn xem phần nhả ra đó là gì, thì thấy bản chất nó giống như nước bọt hay đờm của nó vậy. [87] ဦးဇင်း အစက သံသယရှိခဲ့တာက ဘာလဲဆိုတော့ အန်ဆိုတာက လူတွေအန်သလိုမျိုး အစားအစာတွေ ဖြစ်နေမလားပေါ့၊ ဒါ သံသယရှိတာ။ Ban đầu tôi nghi ngờ là: cái phần nhả ra đó có giống như thức ăn mà con người nôn ra hay không, đó là điều tôi hoài nghi. [88] ရဟန်းတွေ ဥပုသ်သည်တွေဆိုရင် အန်လိုက်တဲ့ဥစ္စာ ပြန်မျိုးချလို့မရဘူး၊ အန်ဖတ်ကိုလေ။ Với chư Tăng hay người thọ Uposatha thì những gì đã nôn ra thì không được nuốt lại, tức là phần bã nôn ấy. [89] တစ်ခါတလေ ဂုတ်ထိုးပြီးတော့ ပါးစပ်ကို ထွက်လာတယ်၊ အသားဖတ်တို့ တစ်ခုခုပေါ့နော်၊ ထမင်းလုံးတို့ ထွက်လာခဲ့တယ်။ Đôi khi bị nôn và trào ra miệng, như miếng thịt hay thứ gì đó, hay hạt cơm trào ra. [90] ပါးစပ်ထဲ ရောက်သွားပြီဆိုရင် ပြန်ထွေးထုတ်ရမယ်၊ မမျိုးချရဘူး သူက၊ မျိုးချရင် အာပတ်သင့်တယ်။ Một khi đã vào trong miệng rồi thì phải nhổ ra, không được nuốt xuống; nếu nuốt xuống thì sẽ phạm tội. [91] မျိုးချရင် ဝိကာလဘောဇဉ်ဖြစ်တယ်၊ ထွက်လာတဲ့ဟာကို မမျိုးချရဘူး။ အဲတော့ ဦးဇင်းက အန်ဖတ်ဆိုတာ အဲလို ထင်လိုက်တာ။ Nếu nuốt xuống thì trở thành vật thực phi thời (Vikāla-bhojana), những gì tiết ra không được nuốt vào. Vì vậy, quý sư đã từng hiểu nhầm về khái niệm "yến sào" (nước yến) là như vậy. [92] ငှက်အန်ဖတ်ဆိုတာကများ သူ့ရဲ့ အစားအစာတွေများ အန်ထားတာလားပေါ့၊ အဲလို ယူဆလိုက်တယ်။ Cứ ngỡ rằng "yến sào" là do chim nôn thức ăn của nó ra, quý sư đã quan niệm như thế. [93] ဒါပေမဲ့ ကြည့်လိုက်တဲ့အခါကျတော့ သူ့ရဲ့ အစားအစာအန်တာ မဟုတ်ဘူး သူက၊ တံတွေးသလိပ်တွေသဘော ဖြစ်နေတာ တွေ့ရတယ်။ Nhưng khi xem xét kỹ, đó không phải là thức ăn nó nôn ra, mà thực chất là tính chất của nước bọt và đờm dãi. [94] ဒါ ဦးဇင်းရဲ့ တွေ့ရှိချက်ပေါ့နော်။ အဲတော့ ငှက်ရဲ့ အန်ဖတ်ကို ကြည့်လိုက်တဲ့အခါကျတော့ သလိပ်ဖတ်တွေသဘော ဖြစ်နေတယ်။ Đây là phát hiện của quý sư nhé. Vậy nên khi quan sát "yến sào", ta thấy nó có tính chất như các mảng đờm dãi. [95] သူ့ရဲ့ အစားတွေကို ပြန်အန်တာ မဟုတ်ဘူး။ ဦးဇင်းက အကယ်၍ အစားတွေကို ပြန်အန်တာမျိုး ဖြစ်ခဲ့ရင်တော့ ဒီအစားသည် မအပ်ဘူးပေါ့။ Nó không phải là nôn lại thức ăn của mình. Nếu quý sư thấy nó nôn lại thức ăn, thì thức ăn đó là không hợp lẽ (akappiya). [96] အစားအသောက်တစ်မျိုး ဖြစ်နေတာပေါ့။ အကယ်၍ သူက အစားကို အန်တာမဟုတ်ဘူး၊ သူ့ရဲ့ သလိပ်တွေ တံတွေးတွေကို သူက အန်လိုက်တဲ့သဘော၊ ချစ်ထုတ်ပြီး အန်တဲ့သဘော။ Vì khi đó nó đã trở thành một loại thực phẩm. Nếu nó không nôn thức ăn, mà chỉ nôn ra đờm dãi hay nước bọt của nó, giống như việc tiết ra rồi nôn ra vậy. [97] အဲအခါကျတော့ ငှက်အန်ဖတ်က သူက ဘယ်လိုဖြစ်နေလဲဆိုတော့ သလိပ်သဘော ဖြစ်နေတယ်။ Trong trường hợp đó, yến sào (nước yến) có tính chất như là đờm dãi. [98] သလိပ်သဘောဆိုရင် ဒါ ဆေးအဖြစ်နဲ့ အပ်တယ်ပေါ့။ Nếu có tính chất như đờm dãi thì điều này được phép (kappiya) dùng làm thuốc. [99] ဒါဆိုရင် ဒါဦးဇင်းတို့ ဆေးထဲမှာ ထည့်ရတယ်။ Vì vậy, chúng ta có thể đưa nó vào trong danh mục thuốc men. [100] ခုနက ဦးဇင်းပြောတဲ့ သလိပ်တို့၊ ချွေးတို့ဆိုတာ ဆေးထဲမှာ ထည့်တယ်။ Như quý sư đã nói lúc nãy, đờm dãi hay mồ hôi đều có thể đưa vào làm thuốc. [101] အဲ့ဒါကြောင့် သူက ငတ်မွတ်မှုကို တကယ် သလိပ်သဘော ဖြစ်နေခဲ့ရင်တော့ ညနေဘက် သောက်လို့ရတယ်လို့တော့ ဦးဇင်းတို့ ဆုံးဖြတ်ပေးတယ်ပေါ့နော်။ Do đó, để giải tỏa cơn đói khát, nếu nó thực sự có tính chất như đờm dãi thì quý sư quyết định rằng có thể uống được vào buổi chiều nhé. [102] ဟိုလိုမျိုး အစားအသောက်ကို ပြန်အန်တာဆိုရင်တော့ ငတ်မွတ်မှုက မရဘူး။ အခုက အစားအသောက် မဟုတ်ဘူး သူက။ Còn nếu là loại nôn lại thức ăn thì không được phép dùng để giải quyết cơn đói. Ở đây, nó không phải là thức ăn. [103] အဲ့ဒါကြောင့်။ Chính vì lý do đó. [104] အဲ့တော့ ဆက်သွားလိုက်မယ်နော်။ Bây giờ, chúng ta tiếp tục nhé. [105] အဲ့ဒါ ဒါဆိုရင် ဒါဦးဇင်းတို့ မနက်ပိုင်းမှာ ကပ်ခံရမယ့် ပစ္စည်း၊ စားရမယ့် ပစ္စည်းပေါ့နော်။ Đây là những thứ mà chúng ta phải thọ nhận và ăn vào buổi sáng. [106] အဲ့တော့ ဒိန်ချဉ်ပေါင်းရည်နဲ့ ပဲနို့ကတော့ ညနေ လုံးဝမရဘူး။ ငတ်မွတ်မှုကတော့ ညခေါင်း ရနိုင်တဲ့ အနေအထား ရှိတယ်ပေါ့နော်။ Còn về sữa chua pha và sữa đậu nành thì buổi chiều tuyệt đối không được dùng. Tuy nhiên, trong tình trạng đói khát thì có thể xem xét uống được vào buổi tối. [107] နောက် ခဲဖွယ် ဘောဇဉ်ဟူသော စကားရပ်၌ ရဟန်းတော်များအား အချိုပွဲ ဆက်ကပ် လှူဒါန်းသောအခါ Tiếp theo, về thuật ngữ "Khê-phẩy" (Khādanīya - vật thực cứng) và "Bo-dần" (Bhojanīya - vật thực mềm), khi cúng dường món tráng miệng cho chư Tăng. [108] အချိုပွဲ စားပွဲပေါ်၌ ရှိသော လက်ဖက်ရည်၊ မုန့်မျိုးစုံ၊ သစ်သီးမျိုးစုံ စသော အစားအာဟာရကို ခဲဖွယ်ဟု လည်းကောင်း၊ Những thực phẩm có trên bàn tráng miệng như trà, các loại bánh, các loại trái cây thì được gọi là "Khê-phẩy" (Khādanīya). [109] နောက်တစ်ခါ ဆွမ်းဆက်ကပ် လှူဒါန်းသောအခါ ဆွမ်းစား စားပွဲပေါ်၌ ရှိသော ဆွမ်းနှင့် ဆွမ်းဟင်းမျိုးစုံ စသော အာဟာရကို ဘောဇဉ်ဟု လည်းကောင်း အကြမ်းအားဖြင့် ယာဝကာလိက ခဲဖွယ်ဘောဇဉ်ကို နားလည်ထားသင့်ပေသည်။ Còn khi cúng dường vật thực, những loại thực phẩm như cơm và các loại thức ăn mặn có trên bàn ăn thì được gọi là "Bo-dần" (Bhojanīya); về cơ bản cần hiểu đó là các loại vật thực hạn kỳ (Yāvakālika). [110] သူက စာပေထဲမှာတော့ ခဲဖွယ်ရယ်၊ ဘောဇဉ်ရယ် နှစ်မျိုး ခွဲထားတာကိုးနော်။ Trong giáo điển, họ chia ra làm hai loại là Khādanīya và Bhojanīya đấy nhé. [111] အဲ့တော့ ဦးဇင်းတို့ သရေစာတွေကို ခဲဖွယ်လို့ သတ်မှတ်လိုက် အကြမ်းအားဖြင့်နော်။ Vì vậy, quý sư hãy tạm quy định các món ăn nhẹ là Khādanīya nhé. [112] သစ်သီးတွေ၊ မုန့်မျိုးစုံတွေကို ခဲဖွယ်လို့ သတ်မှတ်လိုက်။ Các loại trái cây, các loại bánh đều được xếp vào Khādanīya. [113] ခုနက ထမင်းရယ်၊ ဆန်ရယ်၊ ဂျုံရယ်၊ အသားရယ်၊ ငါးရယ် အဲ့ဒါကိုတော့ ဘောဇဉ်လို့ သတ်မှတ်လိုက်။ Còn cơm, gạo, lúa mì, thịt, cá thì được xếp vào Bhojanīya. [114] အဲ့တော့ လွယ်လွယ်လေးပဲ အဲ့ဒီ ငါးမျိုးကလွဲရင် ကျန်တာ ခဲဖွယ်။ ဟုတ်ပြီနော်။ Rất đơn giản, ngoại trừ 5 loại đó ra thì còn lại là Khādanīya. Đúng không nào? [115] ခုနက ထမင်း၊ ဆန်၊ ဂျုံ၊ ငါး၊ အသား အဲ့ဒီ ငါးမျိုးကို ဘောဇဉ်လို့ ခေါ်ပြီးတော့ 5 loại gồm cơm, gạo, lúa mì, cá, thịt được gọi là Bhojanīya. [116] အဲ့ဒီ ငါးမျိုးမှတစ်ပါး ကျန်တဲ့ စားစရာ မှတ်သမျှ အားလုံးကို ခဲဖွယ်လို့ ခေါ်တယ်။ Ngoài 5 loại đó ra, tất cả các thứ ăn được khác đều được gọi là Khādanīya. [117] ဒါဆို ခဲဖွယ်နဲ့ ဘောဇဉ် ကွဲပြီနော်။ ဒါ စာပေ အသုံးအနှုန်းတွေပေါ့။ Như vậy là đã phân biệt được Khādanīya và Bhojanīya rồi nhé. Đó là các thuật ngữ trong giáo điển. [118] သာသနာမှာ ဦးဇင်းတို့ ခဲဖွယ်ဘောဇဉ်ဆိုပြီးတော့ ခေါ်ကြတဲ့အခါမှာ ဘာကို ခဲဖွယ်ခေါ်လဲ၊ ဘောဇဉ်ခေါ်လဲ မေးရင် အဲ့ဒီ ဘောဇဉ်ငါးမျိုးလို့ ခေါ်တယ်။ Trong giáo pháp, khi chúng ta gọi chung là Khādanīya-Bhojanīya, nếu hỏi cái gì là Khādanīya, cái gì là Bhojanīya thì ta gọi 5 loại đó là Bhojanīya. [119] ခုနနော်၊ ဘောဇဉ်ငါးမျိုး။ အဲ့ဒီ ဘောဇဉ်ငါးမျိုးကလွဲရင် ကျန်တာ အားလုံး ခဲဖွယ်တွေချည်းပဲ။ Nhớ nhé, 5 loại Bhojanīya. Ngoại trừ 5 loại đó ra, tất cả những thứ còn lại đều là Khādanīya. [120] အဲ့တော့ အဲ့ဒီ ခဲဖွယ်ဘောဇဉ်ကို ဦးဇင်းတို့ မွန်းမလွဲမီပိုင်းမှာပဲ စားလို့ရတယ်၊ မွန်းလွဲရင် စားလို့မရတော့ဘူး။ Vậy nên, quý sư chỉ có thể dùng các loại khế vật và thực phẩm (khajjabhojana) đó vào trước giờ ngọ thôi, sau giờ ngọ thì không được dùng nữa. [121] အဲ့တော့ အရုဏ်တက်ချိန်မှစ၍ မွန်းလွဲတဲ့အချိန်ဆိုတာ ဘယ်အချိန်ကို ပြောတာလဲဆိုတာ ဦးဇင်းတို့ အချိန်ကို အတိအကျ သတ်မှတ်ဖို့ လိုလာပြီ။ Thế nên, chúng ta cần phải xác định thời gian chính xác xem khoảng thời gian từ lúc rạng đông đến giữa trưa (ngọ) là khi nào. [122] အဲ့တော့ စာမျက်နှာ ၁၇ မှာ ကြည့်ကြည့်ပါဦး။ Vậy, quý vị hãy xem ở trang 17 nhé. [123] အရုဏ်မတက်မီ အတွင်း သုံးဆောင်ကောင်းသော အဖျော်ယမကာများ နော်။ Các loại đồ uống có thể dùng được trong khoảng thời gian trước khi rạng đông nhé. [124] အဲ့တော့ မနက်ပိုင်း ပြီးသွားပြီ ဒါဆိုလို့ရှိရင် ညပိုင်း သောက်လို့ရတဲ့ အဖျော်ယမကာတွေ နော်။ Như vậy là phần buổi sáng đã xong, tiếp theo là các loại đồ uống có thể uống vào ban đêm nhé. [125] အကပ်ခံသည့် အချိန်မှစ၍ အရုဏ်မတက်မီ မိုးသောက်ယံတိုင်အောင် သုံးဆောင်နိုင်သော အဖျော်ယမကာသည် တစ်ရက်သုံး သောက်ဖွယ် အာဟာရ ယာမကာလိက မည်။ Đồ uống có thể dùng được kể từ lúc được dâng cúng cho đến tận lúc rạng đông ngày hôm sau được gọi là vật thực hạn kỳ một đêm (Yāmakālika). [126] အဲ့တော့ ယာမကာလိကကို မှတ်ချင်တယ်ဆိုရင် တစ်ရက်သုံး အာဟာရ။ ဟုတ်ပြီနော်။ Vậy, nếu muốn ghi nhớ về Yāmakālika thì hãy nhớ đó là vật thực dùng trong một ngày. Đúng vậy không? [127] အဲ့တော့ ယာဝကာလိကက နံနက်သုံး အာဟာရ။ ယာမကာလိကကျတော့ တစ်ရက်သုံး အာဟာရ။ သူက တစ်ရက်ခံတယ် သူက။ Còn Yāvakālika là vật thực dùng trong buổi sáng. Yāmakālika thì là vật thực dùng trong một ngày. Nó có giá trị trong một ngày. [128] မိုးမလင်းမချင်း သူက ကြိုက်တဲ့အချိန် သောက်လို့ရတယ် ညသန်းခေါင်လည်း ထသောက်လို့ရတယ် သူက။ Cho đến trước khi trời sáng, vị đó có thể uống vào bất cứ lúc nào, thậm chí nửa đêm thức dậy uống cũng được. [129] ညလည်း သောက်လို့ရတယ် ညတစ်ရေးနိုး ထသောက်လို့လည်း ရတယ်။ အဖျော်ယမကာ အကပ်ခံပြီးပြီဆိုရင် အဲ့ဒီ အဖျော်ယမကာသည် တစ်ရက်သုံး အာဟာရ။ Ban đêm cũng uống được, nửa đêm thức giấc cũng có thể uống được. Một khi đồ uống đó đã được dâng cúng (akappiya) thì đó là vật thực hạn kỳ một ngày. [130] အဲ မနက် အရုဏ်တက်သွားပြီဆိုရင်တော့ အဲ့ဒီ အဖျော်ယမကာ မရတော့ဘူး စွန့်ရတော့မယ်။ သောက်ခွင့်မရှိတော့ဘူး။ Nhưng nếu đã đến lúc rạng đông sáng hôm sau thì loại đồ uống đó không được dùng nữa, phải từ bỏ. Không còn quyền được uống nữa. [131] အဲ့တော့ ယာမကာလိက အဖျော်ယမကာလို့ ခေါ်တယ်။ မြန်မာလိုပြောရင်တော့ အဖျော်ယမကာပေါ့။ အဲ့တော့ တစ်ရက်သုံး အာဟာရ။ Khi đó, nó được gọi là đồ uống Yāmakālika. Nói theo tiếng Myanmar thì là đồ uống (afyaw-yamaka) đấy. Tức là vật thực dùng trong một ngày. [132] အဲ့တော့ မနက်ပိုင်း အကပ်ခံခံ ညနေ အကပ်ခံခံ ကြိုက်တဲ့အချိန် အကပ်ခံလို့ရတယ်။ မနက်လည်းရတယ် ညလည်းရတယ်။ Thế nên, dù được dâng cúng vào buổi sáng hay buổi chiều, quý vị có thể nhận vào bất cứ lúc nào. Buổi sáng cũng được mà buổi tối cũng được. [133] ပြီးရင် သောက်ချင်တဲ့အချိန် သောက်လို့ရတယ်။ တစ်ရက်ပဲခံတယ် ဒါပေမဲ့ နောက်တစ်ရက်ကျော်ရင်တော့ မရတော့ဘူး။ Sau đó, muốn uống lúc nào thì uống. Nó chỉ có giá trị trong một ngày thôi, nhưng nếu quá sang ngày hôm sau thì không được nữa. [134] အဲ့ဒါ ဦးဇင်းတို့လည်း လက်တွေ့စမ်းကြည့်တာပေါ့နော်။ တစ်ရက်သုံးဆိုတဲ့ သဘောတရားကိုပေါ့။ Điều đó quý sư cũng đã từng thực nghiệm rồi đấy nhé, về ý nghĩa của việc "dùng trong một ngày" này. [135] သဘာဝအတိုင်းဆိုလို့ရှိရင် အဖျော်ယမကာမှန်သမျှသည် တစ်ရက်ပဲခံတယ်။ ဟုတ်တယ် သစ်သီးဖျော်ရည်လေ။ Theo tự nhiên thì tất cả các loại nước trái cây (đồ uống) chỉ để được một ngày thôi. Đúng vậy, như nước ép trái cây chẳng hạn. [136] ဖျော်ပြီး ဦးဇင်းတို့ တစ်ခါ သိမ်းထားဖူးကြည့်တယ်။ မနက် အရုဏ်တက်တာနဲ့ မကောင်းတော့ဘူး။ Quý sư đã từng thử ép rồi cất giữ xem sao. Ngay khi rạng đông hôm sau là nó không còn tốt nữa. [137] အနံ့ကအစ အရသာကအစ မကောင်းတော့ဘူး သူက ပြောင်းသွားတယ်။ အဲ့ဒါကြောင့် ဘုရားပြောတာလည်း မှန်တာပေါ့နော်။ Từ mùi hương cho đến mùi vị đều không còn tốt nữa, nó bị biến đổi rồi. Chính vì vậy mà lời Đức Phật dạy thật là đúng đắn nhé. [138] တစ်ရက်ပဲခံတဲ့ အာဟာရမျိုးတွေပေါ့။ အဲ့ဒါမျိုး။ Đó là những loại vật thực chỉ để được trong một ngày thôi. Là loại như vậy. [139] ယင်းသောက်ဖွယ် အဖျော်သည် ပါဠိတော် တိုက်ရိုက်လာ ရှစ်မျိုးရှိသည်။ ဒါ ဘုရားရှင် တိုက်ရိုက်ဟောထားတဲ့ အဖျော်ယမကာက Những loại đồ uống này có tám loại được nêu trực tiếp trong Pāḷi văn. Đây là những loại đồ uống mà Đức Thế Tôn đã trực tiếp thuyết giảng: [140] ၁။ သပြေသီးဖျော်ရည် နော်။ သပြေသီးကို အဖျော်ယမကာ လုပ်လို့ရတယ်။ 1. Nước ép quả roi (thapyay-thee) nhé. Quả roi có thể dùng làm đồ uống được. [141] ဦးဇင်းတို့ ဝါဆိုဝါခေါင် ရေတွေကြီးတော့ဆိုတာနော် ဆရာကြီး မင်းသုဝဏ်ရဲ့ ကဗျာမှာတောင် ပါသေးတာကိုး။ သပြေသီးတွေ။ Quý sư nhớ khi nước lớn vào tháng Waso, Wagaung nhé, thậm chí trong bài thơ của giáo sư Min Thu Wun cũng có nhắc đến đấy. Những quả roi đó. [142] ၂။ နံပါတ်နှစ်က သရက်သီးဖျော်ရည် နော်။ သရက်သီးကို အဖျော်ယမကာ လုပ်လို့ရတယ်။ 2. Số hai là nước ép xoài nhé. Quả xoài có thể dùng làm đồ uống được. [143] ၃။ နံပါတ်သုံး သဖန်းသီး၊ မုဒရက်သီးဖျော်ရည် နော်။ သိချင်ရင်တော့ ဦးဇင်းတို့ အဲ့ဒီမှာ ဒီရှင်နာရီမှာ နည်းနည်းကြည့် မြန်မာဒီရှင်နာရီမှာ ကြည့်လို့ရတယ် အဲ့ဒီသီး ပုံစံတွေ ပါလိမ့်မယ်။ 3. Số ba là nước ép quả sung (thaphan-thee) và nước ép nho (mudarat-thee) nhé. Nếu muốn biết thì quý sư có thể xem thêm trong từ điển, từ điển Myanmar ấy, sẽ có hình dáng của những loại quả đó. [144] နောက် မြားရာသီး၊ ဖက်သက်သီးဖျော်ရည်။ မြားရာသီးဆိုတာကတော့ ဦးဇင်းပြောလို့ရတာက ဦးဇင်းငယ်ငယ်တုန်းက ဘာလဲ ဘောင်ဖောက်တာလေ သိလား။ ဘောင်သီးလေ။ Tiếp theo là nước ép quả mây (myar-yar-thee) và quả phak-thet-thee. Về quả mây thì điều sư có thể nói là hồi nhỏ sư hay dùng nó để bắn ống thụt đấy, quý vị biết không? Quả mây (baung-thee) ấy. [145] ဘောင်သီးလို့ ခေါ်တယ်၊ သူတို့ ဟို ဝါးထဲမှာ ထုပြီး ထည့်ပြီးတော့ ဖောက်ဖောက်တာလေ။ Gọi là quả baung-thee, người ta cho vào trong ống tre rồi thụt cho nó nổ kêu "phụp phụp" đấy. [146] သိလား၊ ဘောင်သီးလို့ ခေါ်တယ်နော်။ အဲ့ဘောင်သီး၊ အေး၊ အဲ့ဒီ အသီးလေးတွေ သူက ချိုတယ် သူက။ Quý vị biết không, gọi là quả baung-thee nhé. À, những quả đó nó có vị ngọt. [147] ဦးဇင်းတို့ ကျောင်းတွေမှာဆို အဲ့ဒီ အပင်တွေက ပေါတယ်၊ သဘာဝအပင်တွေ သူက။ Ở các ngôi chùa của quý sư thì loại cây đó rất nhiều, đó là loại cây mọc tự nhiên. [148] အဲ့တော့ မှည့်ပြီဆိုလို့ရှိရင် သူက အမည်းရောင်လေး ဖြစ်သွားပြီးတော့ ချိုတယ် သူက။ Khi nó chín thì sẽ chuyển sang màu đen và có vị ngọt. [149] ရင်တော့ တော်တော်နာတယ်၊ ချိုလွန်းလို့ သူက။ မြည်းဖူးတာ အသီးပေါ့နော်။ Ăn vào thì thấy rất đã vì nó rất ngọt. Đó là loại quả mà sư đã từng nếm thử. [150] နံပါတ် ၅ ကတော့ မယ်ဇယ်သီး၊ နောက် သစ်မိသီးလို့လည်း ခေါ်ပါတယ်နော်။ သူက အရည် တော်တော်ထွက်တယ် အဲ့အသီးကတော့။ Thứ năm là quả Mạy-dẻ (Mè-zè), còn được gọi là quả Thit-mi nhé. Quả đó chiết xuất được rất nhiều nước. [151] နောက် ၆ ကတော့ အိမ်ငှက်ပျောသီး၊ ဒါ အယခုခေတ် သုံးနေတဲ့ အသီးမျိုးစုံပေါ့၊ သီးမွှေးတို့၊ Tiếp theo, thứ sáu là quả chuối nhà, đây là các loại chuối mà thời nay chúng ta thường dùng, như chuối thơm, [152] ဖီးကြမ်းတို့ပေါ့၊ မျိုးစုံပေါ့။ chuối mật (phí-kyam), vân vân, có rất nhiều loại. [153] နံပါတ် ၇ ကတော့ တောငှက်ပျောသီး၊ ဒါကတော့ အစေ့များတယ်၊ တောထဲမှာ အသီးတဲ့ အသီးလေး သေးသေးလေးတွေနော်။ Thứ bảy là quả chuối rừng, loại này có rất nhiều hạt, là những quả nhỏ mọc trong rừng nhé. [154] တောငှက်ပျောသီး အစေ့များတယ်။ Chuối rừng có rất nhiều hạt. [155] နံပါတ် ၈ ကတော့ ကြာစွယ်၊ ကြာရဲ့ ဒီ အစွယ်ကို နော် သူက အဖျော်ယမကာ လုပ်လို့ရတယ်။ Thứ tám là ngó sen, phần ngó của hoa sen này có thể dùng làm thức uống (pháp định) được nhé. [156] အဲ့တော့ ဒါ စာထဲမှာ တိုက်ရိုက်ပါတဲ့ အဖျော်ယမကာ ၈ မျိုးလို့ ခေါ်တယ်။ နော် အဖျော်ယမကာ ၈ မျိုးပေါ့။ Vì vậy, đây được gọi là 8 loại thức uống (yāmakālika) trực tiếp có trong kinh điển. Vâng, là 8 loại thức uống. [157] အဲ့တော့ ဆရာတော် ဒီမှာ ဆောင်ပုဒ်ကလေး တစ်ခု လုပ်ထားပါတယ်ပေါ့နော်။ အားလုံးလေး ဆိုကြည့်လိုက်ပါဦး။ Ở đây Ngài (Sayadaw) đã lập ra một bài kệ để ghi nhớ. Mời quý vị cùng đọc thử xem nào. [158] သပြေ၊ သရက်၊ မြေဇာ၊ ဖက်သက်၊ သစ်မိသီး၊ တောအိမ်ငှက်ပျော၊ ကြာစွယ်နော၊ မှတ်လော ရှစ်ဖျော်ရည်။ Thạnh quất, xoài, cỏ ống, lá trâm, quả thit-mi, chuối rừng và chuối nhà, ngó sen nữa, hãy ghi nhớ đủ tám loại thức uống. [159] အဲ့တော့ ဒီ အဖျော်ယမကာ ၈ မျိုးပဲ ရတာလား၊ တခြား အဖျော်ယမကာ မရဘူးလားဆိုတော့ အောက်မှာ Vậy thì chỉ được dùng 8 loại thức uống này thôi sao, các loại khác không được hay sao? Thì ở phần dưới, [160] အနုလောမ အဖျော်ယမကာဆိုတာ လာတယ်နော်။ ရှေးခေတ် အဖျော်ယမကာများနှင့် အလားတူ အနုလောမ အဖျော်ယမကာ။ có nói đến các loại thức uống tương đương (Anuloma). Các loại thức uống tương tự như các loại thời xưa. [161] အနုလောမဆိုတာ အလျော်၊ အလားတူ၊ ဒီလို အဓိပ္ပာယ်ရတယ်နော်။ "Anuloma" có nghĩa là phù hợp, tương tự, mang ý nghĩa như vậy nhé. [162] အဲ့တော့ ရှေ့က တိုက်ရိုက်ပါတာတော့ ဘုရားက ၈ မျိုး ခွင့်ပြုတယ်၊ တိုက်ရိုက်ပါတယ်။ Những loại được nêu trực tiếp thì Đức Phật đã cho phép 8 loại, có ghi chép trực tiếp. [163] ဒါပေမဲ့ အဲ့ဒီနဲ့ အလျော် အဖျော်ယမကာဆိုတာ ထပ်ပြီးတော့ ခွင့်ပြုချက်တွေ ရှိသေးတယ်။ Tuy nhiên, những loại thức uống phù hợp tương đương với chúng vẫn tiếp tục được cho phép. [164] အဲ့ဒါကြောင့် ပြခဲ့ပြီးသော အဖျော်ယမကာ ၈ မျိုး၌ မန်ကျည်းဖျော်ရည်၊ နောက် ဇီးဖျော်ရည် စသည်တို့ မပါဝင်သေးပေ။ Chính vì thế, trong 8 loại thức uống đã nêu, các loại như nước me, nước táo ta (zì-pyaw) vẫn chưa được bao gồm trong đó. [165] ထို မန်ကျည်းဖျော်ရည် စသည်တို့၌ တိုက်ရိုက်ပြခဲ့ပြီးသော အဖျော်ယမကာ ၈ မျိုးတို့နှင့် တူသော အနုလောမ အပ်စပ်သော အဖျော်ယမကာ ဖြစ်သည်။ Những loại như nước me đó là các loại thức uống tương đương (Anuloma) hợp pháp, tương tự như 8 loại thức uống đã được nêu trực tiếp. [166] အဲ့တော့ အောက်က ထပ်ဖော်၊ ထပ်ထည့်ပေးထားတယ်၊ ဘာတွေလဲဆိုတော့ Vì vậy, phía dưới đã liệt kê thêm vào, đó là những loại gì? [167] သီးသီးဖျော်ရည်၊ သီးသီးဆိုတာက ဟိုလေ အစေ့တွေ အရမ်းများတယ်။ Nước quả quách (thì-thì), quả quách này có rất nhiều hạt bên trong. [168] ဟို အခွံမာမာနဲ့၊ ပိန္နဲသီး မဟုတ်ဘူး။ အစေ့တွေများတယ်၊ သူက ဘယ်လိုပြောမလဲ။ Vỏ của nó rất cứng, không phải là quả mít đâu. Nó có nhiều hạt, phải nói sao nhỉ... [169] ထန်းလျက်နဲ့ စားတာ ဟုတ်တယ်၊ ဟုတ်တယ်၊ ထန်းလျက်နဲ့ စားတာ။ သီးသီးဖျော်ရည်ဆိုတာ။ အခွံမာတယ်၊ အထဲမှာ အစေ့နဲ့ သူက ထန်းလျက်တွေဘာတွေ ရောခေါက်ပြီးတော့ စားရတာ။ Đúng rồi, thường ăn với đường thốt nốt, đúng vậy. Đó là nước quả quách. Vỏ nó cứng, bên trong có hạt, thường được đập ra trộn với đường thốt nốt để ăn. [170] နောက် ခံသီးဖျော်ရည်၊ နောက် ကြို့သီး၊ ကြိမ်သီးနော်။ ကြိမ်သီးလည်း အားလုံး သိပါတယ်။ ကြိမ်လုံးတွေ ဘာတွေ ရှိတယ်လေ။ ကြိမ်သီး အသီးသေးသေးလေးတွေ သူက ကြိမ်သီး။ ဖန်တယ် သူက အသီးက။ Tiếp theo là nước quả kham (khan-thì), rồi quả kyọ (gyo), quả mây (kyin-thì) nhé. Quả mây thì chắc mọi người đều biết rồi, như là cây song mây đấy. Quả mây là những quả nhỏ, vị của nó hơi chát. [171] နောက်တစ်ခါ မန်ကျည်းသီးဖျော်ရည်၊ ခြောက်သီးဖျော်ရည်နော်။ ဒါက နောက်ထပ် အဋ္ဌကထာ ဒါ အဋ္ဌကထာကျမ်းထဲမှာ လာတဲ့ အဖျော်ရည် ခြောက်ပါးပေါ့နော်။ Kế đến là nước quả me, nước các loại quả khô nhé. Đây là 6 loại thức uống được nêu thêm trong các bản Chú giải (Aṭṭhakathā). [172] ကဲ ဒါလေး ဆိုကြည့်ပါဦး။ သီးသီး ခံသီး၊ ကြို့ကြိမ်သီး၊ မန်ကျည်း ခြောက်သီး၊ အနုလောမ ကျမ်း၌ပြ၊ ပါနမျိုးအမည်။ Nào, mời quý vị đọc phần này. Quả quách, quả kham, quả kyọ, quả mây, quả me, quả khô, được nêu trong kinh điển tương đương, là tên các loại thức uống. [173] အဲ့တော့ ခုနက အဖျော်ရည် ရှစ်မျိုး၊ အခု ထပ်ထည့်တာ ခြောက်မျိုးပေါ့လေ။ Như vậy, lúc nãy là 8 loại thức uống, bây giờ thêm vào 6 loại nữa. [174] တကယ်တော့ ဦးဇင်းတို့ မှတ်ရတာ နောက်မှာ နည်းနည်းလေး ပြီးခါနီးလေးကျမှ ဦးဇင်း အနှစ်ချုပ်ကလေး ပြန်ပြောတဲ့အခါကျရင် ရှင်းသွားလိမ့်မယ် အဖျော်ရည်နဲ့ ပတ်သက်ပြီးတော့။ Thực ra, điều mà quý sư cần ghi nhớ là lát nữa khi gần kết thúc, tôi sẽ tóm tắt lại thì quý vị sẽ hiểu rõ về vấn đề thức uống này. [175] အောက်က ထပ်ထည့်ထားတယ် သံပရာသီးဖျော်ရည်၊ လိမ္မော်သီးဖျော်ရည်၊ ဂမ္ဗလာသီးဖျော်ရည်၊ ခြောက် ပန်းသီးဖျော်ရည်တို့ကိုလည်းပဲ ခြောက်ဖျော်ရည်၌ ရေတွက်၍ အနုလောမ အဖျော်ရည်ပင် ခေါ်ရသည်နော်။ တခြား အဖျော်ရည်တွေ အများကြီး ရှိပါသေးတယ်နော်။ Phía dưới còn bổ sung thêm nước chanh, nước cam, nước quýt (gambalā), nước táo tây (pyan-thì) cũng được tính vào nhóm 6 loại thức uống và gọi là thức uống tương đương (Anuloma) nhé. Còn rất nhiều loại thức uống khác nữa. [176] အဲ့ဒါ အဖျော်ရည် ဘယ်လိုလုပ်မလဲဆိုတဲ့ ပြဿနာလေး နည်းနည်းကြည့်ရအောင်။ ဟုတ်ပြီနော်။ Bây giờ chúng ta hãy xem qua một chút về vấn đề cách làm các loại thức uống này như thế nào. Được chứ? [177] အဓိကကတော့လေ ဦးဇင်းတို့ အဖျော်ရည် လုပ်ကောင်းတာ တော်တော်များပါတယ်။ မလုပ်ကောင်းတဲ့ ဥစ္စာလေး မှတ်လိုက်ရင် ကျန်တာ လုပ်ကောင်းတဲ့ ဥစ္စာပဲ။ Điều quan trọng là hầu hết các loại thức uống quý sư đều có thể làm được. Chỉ cần ghi nhớ những thứ không được làm, thì những thứ còn lại đều làm được cả. [178] နောက်မှာ စာမျက်နှာ ၁၉ ကျလို့ရှိရင် ဟို မလုပ်ကောင်းတဲ့ အဖျော်ရည် မှတ်လိုက်ရင် ပြီးပြီ။ အဲ့ဒီ အဖျော်ရည်ကလွဲရင် ကျန်တာ ဘယ်ဟာကိုမဆို အဖျော်ရည် လုပ်လို့ရတယ်။ Ở trang 19, khi ghi nhớ những loại thức uống không được phép dùng thì coi như xong. Ngoài những loại đó ra, bất cứ thứ gì cũng có thể làm thành thức uống được. [179] နော် အဲ့ဒါလေး မှတ်လိုက်ရင် ရတယ်။ အခု နည်းနည်း လောလောဆယ် အဖျော်ရည် ဘယ်လိုလုပ်မလဲ၊ အဖျော်ရည် လုပ်ပုံလုပ်နည်း။ Vâng, chỉ cần ghi nhớ điều đó là được. Bây giờ chúng ta hãy xem tạm cách làm thức uống, phương pháp chế biến thức uống như thế nào. [180] အဖျော်ရည် ပြုလုပ်ရာ၌ ရေအေးဖြင့် ပြုလုပ်ရပါသည်တဲ့နော်။ Khi làm nước trái cây, phải pha bằng nước lạnh nhé. [181] အဖျော်ပြုလုပ်မည့် အသီးသီးတို့ကိုလည်း မီးဖြင့် မချက်ပြုတ်ဘဲ သူ့ချည်းပင် အတိုင်း ပြုလုပ်ရပါသည်တဲ့နော်။ Các loại trái cây dùng làm nước giải khát cũng không được nấu bằng lửa, mà phải để nguyên như vậy mà làm nhé. [182] ဒါ သတိထားစရာပဲ။ ဦးဇင်းတို့ ရေနွေးနဲ့ အဖျော်မဖျော်ရဘူး။ Đây là điều cần lưu ý. Quý sư không được pha nước giải khát bằng nước nóng. [183] ဟုတ်ပြီနော်။ ရေနွေးနဲ့ အဖျော်မဖျော်ရဘူး။ အဲ့တော့ ရေအေးနဲ့ပဲ ဖျော်ရတယ်။ ရေကျက်အေး ရတယ်။ ရေကျိုလိုက်တယ်၊ ရေမသန့်လို့ ကျိုလိုက်တယ်။ အေးခံပြီးတော့ ဖျော်ရတယ်။ Đúng vậy nhé. Không được pha nước giải khát bằng nước nóng. Vì thế, chỉ được pha bằng nước lạnh thôi. Nước đun sôi để nguội thì được. Nếu nước không sạch nên đem đun sôi, thì phải để nguội rồi mới pha. [184] အပူနဲ့လုပ်လို့... ဟမ် မရဘူး။ ရေအပူနဲ့ မဖျော်ရဘူး။ ပြီးရင် မီးနဲ့ မချက်ရဘူး။ မလုပ်ရဘူး။ Làm bằng nhiệt thì... hửm, không được. Không được pha bằng nước nóng. Và sau đó, không được nấu bằng lửa. Không được làm vậy. [185] သူ့သဘာဝအတိုင်းပဲ သူဖျော်ရမယ်။ ရေကျက်အေးနဲ့ပဲ ဖျော်ရမယ်နော်။ အဲ့ဒါလေး သတိထားစရာ အဖျော် ဒါ ဒကာ ဒကာမတွေ သံဃာတွေကို ညနေပိုင်း အဖျော်ကပ်တဲ့အခါမှာ သတိထားဖို့ပေါ့နော်။ အဖျော်ကပ်တဲ့အခါမှာ။ Phải pha theo đúng trạng thái tự nhiên của nó. Phải pha bằng nước đun sôi để nguội nhé. Đó là điều cần lưu ý về nước giải khát khi các nam nữ thí chủ dâng nước giải khát cho chư Tăng vào buổi chiều nhé. Khi dâng nước giải khát đấy. [186] အဲ့တော့ မန်ကျည်းသီး၊ ခြောက်သီး၊ လိမ္မော်သီးများကို မီးဖြင့်ချက်၍ အဖျော်ရည်လုပ်လျှင် အပြစ်ရှိ၏။ Vì thế, nếu làm nước trái cây từ me, trái khô, cam mà nấu bằng lửa thì có tội (phạm tội). [187] အဖတ်မပါသော်လည်း တရက်သုံး ယာမကာလိက မဟုတ်။ Dù không có bã (xác trái cây) nhưng đó không phải là yāmakālika (vật thực một đêm) dùng trong một ngày. [188] တနင်္ဂနွေသုံး ယာမကာလိက ဖြစ်သွားတော့သည်တဲ့။ Nó sẽ trở thành yāvakālika (vật thực dùng đến trưa) dùng trong buổi sáng thôi. [189] သူက မကျည်းသီးက သူက အဖျော်ယမကာ လုပ်တဲ့အခါမှာ အဖတ်တွေ မပါစေရဘူး။ Với trái me, khi làm nước giải khát thì không được để lẫn bã vào. [190] မကျည်းသီး မဟုတ်ပါဘူး ဘယ်အဖျော်ယမကာမဆိုပါနော်။ သူက အဖတ်မပါရဘူး။ Không chỉ trái me mà bất kỳ loại nước giải khát nào cũng vậy nhé. Không được có bã. [191] အဖတ်ပါသွားရင် ဘာဖြစ်သလဲဆိုတော့ ဝိကာလဘောဇန ဖြစ်သွားတာ။ Nếu có bã lẫn vào thì chuyện gì xảy ra? Nó sẽ trở thành vikālabhojana (ăn phi thời). [192] ဟုတ်ပြီနော်။ သရက်သီးဖျော်တယ် အနှဲတွေပါတယ်။ အနှဲတွေ မပါအောင် စစ်ရမယ်။ Đúng vậy nhé. Khi pha nước xoài mà có xơ, phải lọc để không còn xơ nữa. [193] ခြောက်သီးဖျော်တယ် ခြောက်သီးအဖတ်တွေ မပါစေနဲ့။ Khi pha trái khô, đừng để lẫn bã trái khô vào. [194] အဲ့တော့ အဖတ် လုံးဝမပါအောင် စစ်ရမယ်။ Vì thế, phải lọc sao cho hoàn toàn không còn bã. [195] အဲ့ဒါကြောင့် ဦးဇင်းတို့ ဝိနည်းလေးစားတဲ့ ဆရာတော်ကြီးတွေက အဖျော်ယမကာကိုလေ သူက အကပ်မခံခင် မွှေခိုင်းတယ် ဆရာတော်ကြီးတွေက။ Do đó, các vị đại trưởng lão tôn trọng Luật Tạng (Vinaya), trước khi nhận dâng cúng nước giải khát, các ngài thường bảo khuấy lên xem. [196] အဲ့မှာ ဒကာတစ်ယောက်က အဖျော်ယမကာ လာကပ်တယ်။ ဘာလို့လဲဆိုတော့ တစ်ခါတလေ အဖျော်ယမကာ ဖျော်ပြီးတော့ အနှဲထိုင်ပြီးတော့ ရှိနေတာ ရှိတယ်လေ။ Có trường hợp một thí chủ đến dâng nước giải khát. Bởi vì đôi khi nước giải khát pha xong, bã trái cây bị lắng xuống dưới đáy. [197] အဲ့တော့ မမြင်ရဘူး အဖတ်တွေ ပါနေရင်။ Thế nên không nhìn thấy được nếu có bã lẫn trong đó. [198] အဲ့တော့ ဆရာတော်ကြီးတွေက အဲ့ဒါကြောင့် မကပ်ခင် ခဏနေဦး ခဏနေဦး မွှေပြစမ်း မွှေပြစမ်းဆိုပြီး မွှေခိုင်းတယ် သူက။ Vì lý do đó, các vị đại trưởng lão trước khi nhận dâng cúng thường bảo: "Chờ chút, chờ chút, hãy khuấy lên cho sư xem, khuấy lên xem nào". [199] အဖျော်ယမကာကို မွှေကြည့်တယ်။ မွှေကြည့်တော့ အဖတ်တွေ အောက်မှာရှိရင် တက်လာဦးမှာပေါ့။ Ngài quan sát khi khuấy nước giải khát. Khi khuấy lên, nếu có bã ở dưới thì nó sẽ nổi lên thôi. [200] အဲ့ဒါဆိုရင် ပြန်စစ်ခိုင်းတယ် ပြန်စစ်။ Nếu như vậy thì ngài bảo đi lọc lại, lọc lại đi. [201] အဲ့ဒါ သေချာပြီဆိုတဲ့ အခါကျမှ ဆရာတော်ကြီးတွေက အဖတ်ကပ်ခံတယ် အဖျော်ယမကာ ကပ်ခံတယ်။ Đến khi chắc chắn rồi, các vị đại trưởng lão mới nhận dâng cúng bã... à, nhận dâng cúng nước giải khát. [202] ဘာဖြစ်လို့လဲဆိုတော့ ဦးဇင်းတို့ ဝိနည်းတော်မှာ အဖတ်ပါတဲ့ အဖျော်ယမကာကို ကပ်လိုက်လို့ရှိရင် သူက အဲ့ဒါကို သောက်ခွင့်မရှိဘူး။ Bởi vì trong Luật Tạng của chúng ta, nếu nhận dâng cúng nước giải khát có lẫn bã thì vị sư đó không có quyền uống thứ đó. [203] ပြန်စစ်ခိုင်းလို့လည်း မရတော့ဘူး သူက။ Bảo đi lọc lại cũng không được nữa. [204] ဘာဖြစ်လို့လဲဆိုတော့ ဦးဇင်းတို့ ခုနက ဟိုဒကာကြီး ခုနက ဒကာကြီးမေးတာ ညနေဘက် မွန်းလွဲပိုင်း ရောက်သွားပြီဆိုရင် ဘယ်စားစရာကိုမှ အကပ်ခံလို့ မရတော့ဘူးလေ။ Bởi vì như lúc nãy ông thí chủ có hỏi, khi đã sang buổi chiều, sau giờ chính ngọ rồi thì không được phép nhận dâng cúng bất kỳ loại đồ ăn (vật thực) nào nữa. [205] အဖတ်တွေ အကပ်ခံခွင့် မရှိဘူး။ Không được phép nhận dâng cúng các loại bã (đồ ăn dạng đặc). [206] မွန်းလွဲသွားရင် အဖတ်တွေ အကပ်ခံခွင့် မရှိတဲ့အခါကျတော့ ဒီအဖတ်တွေကို အကပ်ခံလိုက်သောအားဖြင့် ဒီအဖျော်ယမကာကလည်း မအပ်ဖြစ်သွားတာ။ မအပ်တော့ဘူး။ Khi đã quá trưa, không được phép nhận dâng cúng bã, nên việc nhận dâng cúng những phần bã này làm cho nước giải khát đó cũng trở thành phi như pháp (akappiya). Không còn hợp lệ nữa. [207] ဘာလို့လဲဆိုတော့ ခုနက အဖတ်သည် ခုနက ဘယ်ကာလိကလဲ ယာဝကာလိက။ Tại sao? Vì phần bã đó thuộc về loại kālika nào? Đó là yāvakālika (vật thực đến trưa). [208] မနက်ပဲ အကပ်ခံရမှာလေ။ အဲ့ဒါ မနက်အကပ်ခံရမယ့်ဟာကို ညနေဘက် အကပ်ခံတဲ့အခါကျတော့ အဖတ်လည်း မအပ် အရည်လည်း မအပ် ဖြစ်သွားတာ။ Lẽ ra chỉ được nhận dâng cúng vào buổi sáng thôi. Khi đem phần lẽ ra phải nhận vào buổi sáng đó dâng vào buổi chiều, thì cả phần bã và phần nước đều trở thành không hợp lệ. [209] သူက ရောသွားတဲ့အတွက်ကြောင့်။ Vì chúng đã bị trộn lẫn với nhau rồi. [210] အဲ့ဒါကြောင့် သူက စွန့်ပစ်လိုက်ရတော့တာပဲ။ Vì vậy, vị ấy phải từ bỏ (vật thực đó) thôi. [211] သဘောပေါက်လား။ အဲ့ဒါကြောင့် ဦးဇင်းတို့ အကပ်မခံခင် သေချာအောင် စစ်ပြီးခါမှ အကပ်ခံရတာ။ Quý vị hiểu không? Chính vì thế, quý sư phải kiểm tra kỹ lưỡng trước khi thọ nhận (vật thực dâng cúng). [212] သောက်လိုက်တဲ့ အခါကျမှ ဟာ အဖတ်တွေ ပါလာတယ်ဆိုပြီးတော့ ပြန်စစ်ခိုင်း မရတော့ဘူး။ Đến khi uống vào rồi mà thấy: "Ồ, vẫn còn cặn/xác trái cây" rồi mới bảo kiểm tra lại thì không được nữa rồi. [213] နောက် အသစ်တစ်ခု ပြန်ဖျော်။ Phải pha chế lại cái mới. [214] အဲ့ဒါကြောင့် ဦးဇင်းတို့ သေချာအောင် စစ်ပြီးခါမှ ဆရာတော်တွေကို အဖျော်ယမကာ ကပ်ရမယ်။ အဖတ်မပါစေနဲ့နော်။ Vì vậy, quý sư phải kiểm tra thật kỹ rồi mới dâng cúng nước giải khát đến các Ngài. Đừng để lẫn cặn/xác trái cây nhé. [215] ပြီးရင် နောက်တစ်ခု မီးနဲ့ မချက်မိစေနဲ့နော်။ Kế đến, một điều nữa là đừng nấu bằng lửa nhé. [216] အဖျော်ယမကာတွေကို ဟာ မိုးတွင်း ဟို အရမ်းချမ်းနေလို့ နွေးသွားအောင်ဆိုပြီးတော့ အပူပေးဦးမယ်ဆိုတော့ မလုပ်နဲ့လေနော်။ မလုပ်နဲ့။ Đối với các loại nước giải khát, đừng vì thấy mùa mưa trời lạnh quá mà đem đi hâm nóng cho ấm nhé. Đừng làm vậy nhé. [217] နောက်တစ်ခါ ဦးဇင်းတို့... Tiếp theo, quý sư... [218] ယခု အသုတ်ဖျော်ရည်တဲ့နော်၊ ယခုအခါ Bây giờ là về các loại nước trái cây pha chế nhé, hiện nay... [219] နိုင်ငံခြားမှလာသော ကဗလာသီးဖျော်ရည် ဘူးစသည်၌ အဖတ်များ ပါလာလျှင် Nếu trong các hộp nước trái cây Kambala nhập khẩu từ nước ngoài mà có lẫn cặn/xác trái cây... [220] အဖတ်မပါအောင် စစ်၍ ကပ်ရမည်ကို သတိပြုသင့်သည်၊ နော် တချို့ Cần lưu ý rằng phải lọc sạch không để còn cặn/xác trái cây rồi mới dâng cúng, nhé. Một số... [221] ဟို ready-made ဘူးတွေမှာ အဖတ် အသီးဖတ်တွေပါလဲ၊ အဖတ်အတုတွေလဲပါလဲ၊ အစစ်တွေလဲရှိတယ်ပေါ့၊ ဒါက နှစ်မျိုးလုံးရှိတယ်ပေါ့။ Trong các hộp (nước trái cây) pha sẵn (ready-made), có thể có xác trái cây nhân tạo hoặc xác trái cây thật; cả hai loại đều có thể có. [222] အဲ့တော့ ဘယ်အဖတ်ကိုမှ မရပါဘူး၊ အတုလဲမရဘူး၊ အစစ်လဲမရဘူး၊ အဖတ်မှန်သမျှ ဘယ်အဖတ်မှမရဘူး။ Khi đó, bất kể loại cặn/xác nào cũng không được phép dùng, nhân tạo cũng không được mà thật cũng không được; phàm là cặn/xác trái cây thì không được loại nào cả. [223] အဲ့တော့ စစ်ပြီးခါမှ ကပ်သင့်တယ်၊ ဒါကြောင့် ready-made တွေကို သတိထားသင့်တယ်ပေါ့နော်၊ ဆရာတော်တွေကပ်တဲ့အခါမှာ။ Thế nên, cần phải lọc sạch rồi mới nên dâng cúng; vì vậy đối với các loại pha sẵn (ready-made) cần phải cẩn trọng khi dâng cúng đến các Ngài. [224] ဖျော်ရည်ဖျော်ရန် မကျီးသီး၊ ခြောက်သီးစသည်တို့ကို နေမွန်းလွဲ၍ မဆက်ကပ်ကောင်းတော့ပါ၊ နော်။ Để pha nước giải khát, các loại như me, trái khô v.v... sau giờ ngọ (quá trưa) thì không được phép dâng cúng nữa, nhé. [225] အဲ့တော့ ရဟန်းတွေကိုယ်တိုင် ဖျော်ရည်ဖျော်လို့မရဘူးလေ၊ နော်။ Khi đó, tự thân chư Tăng không thể tự mình pha chế nước giải khát được, nhé. [226] ရဟန်းတွေ ဦးဇင်းတို့မှာ မနက်ပိုင်း ဆွမ်းခံတဲ့အခါမှာ သရက်သီးတွေပါလာတယ်၊ မရမ်းသီးတွေပါလာတယ်။ Khi chư Tăng đi khất thực vào buổi sáng, nếu có mang về xoài hay thanh trà (marian plum)... [227] ညနေပိုင်း ဦးဇင်းတို့ကိုယ်တိုင် အဲ့အသီးတွေဖျော်လို့မရဘူး၊ ကိုရင်တွေတော့ ဖျော်လို့ရတယ်။ Vào buổi chiều, tự thân quý sư không được phép pha chế những trái cây đó, nhưng các Sa-di (Koyin) thì có thể pha chế được. [228] ဦးဇင်းတို့ဖျော်လို့မရဘူး၊ ဘာဖြစ်လို့လဲဆိုတော့ ခုနလို အသီးတွေက ရဟန်းတွေ ညနေပိုင်း ထိလို့မရတော့ဘူး။ Quý sư không được phép pha chế, bởi vì như đã nói, những loại trái cây đó chư Tăng không được phép chạm vào vào buổi chiều nữa. [229] အဲ့တော့ စားစရာမှန်သမျှ ရဟန်းတို့သည် မွန်းလွဲလျှင် လုံးဝမထိရတော့ဘူး၊ လုံးဝမထိရဘူးနော်။ Vì vậy, đối với tất cả các loại đồ ăn (vật thực), chư Tăng sau giờ ngọ là tuyệt đối không được chạm vào nữa, tuyệt đối không được chạm vào nhé. [230] ဒါကြောင့် ဦးဇင်းတို့ အသီးတွေကို လုံးဝမကပ်ရဘူး၊ ညနေပိုင်းမကပ်ရဘူး၊ ဦးဇင်းတို့ကိုယ်တိုင်မဖျော်ရဘူး။ Do đó, quý sư tuyệt đối không được nhận trái cây vào buổi chiều, và tự thân không được phép pha chế. [231] အထူးသဖြင့် အထူးသတိပြုရမှာ ဖျော်ရည်ကို ဆက်ကပ်လှူဒါန်းသောအခါ အဖတ်မပါအောင် စင်ကြယ်စွာ စစ်၍ ဆက်ကပ်လှူဒါန်းရမည်ကို သတိပြုသင့်ပါသည်တဲ့။ Đặc biệt, điều cần hết sức lưu ý là khi dâng cúng nước giải khát, cần phải lưu ý lọc thật sạch không để lẫn cặn/xác trái cây rồi mới dâng cúng. [232] ခုနဦးဇင်းပြောတာနော်၊ အဖျော်ရည်ဖျော်တဲ့ ဆက်ကပ်တဲ့အခါမှာ အဖတ်လုံးဝမပါမိစေနဲ့။ Như quý sư vừa nói đấy, khi pha chế và dâng cúng nước giải khát, tuyệt đối đừng để lẫn cặn/xác trái cây vào. [233] ဖျော်ရည်ကို ရဟန်းတော်များ ဆာလောင်သည်ဆိုမှသာ ဆက်ကပ်လှူဒါန်းရပါမည်တဲ့၊ အဲ့ဒါလဲ သတိထားချက်။ Chỉ khi chư Tăng thấy đói thì mới nên dâng cúng nước giải khát; đó cũng là một điểm cần lưu ý. [234] ဦးဇင်းတို့ တစ်ခါတလေ အခုပဲဆွမ်းစားပြီးပြီ၊ အခုပဲဖျော်ရည်ထပ်ကပ်ပြန်ပြီ တချို့က။ Đôi khi quý sư vừa mới thọ thực xong, một số người lại dâng cúng nước giải khát ngay lập tức. [235] ဒကာ ဒကာမတွေလေ၊ အဲ့ဒါကြောင့် ဆရာတော်ကြီးတွေ အဖျော်ရည်ကပ်တဲ့အချိန် သတ်မှတ်ကြတာ ညနေ ၃ နာရီတို့ သတ်မှတ်ကြတာ၊ ၄ နာရီတို့ သတ်မှတ်ကြတာ။ Này các thí chủ, đó là lý do vì sao các bậc Trưởng lão thường ấn định thời gian dâng nước giải khát là 3 giờ chiều hoặc 4 giờ chiều. [236] ဘာလို့လဲဆိုတော့ အဖျော်ရည်က ညနေပိုင်းသောက်ကောင်းတာမှန်တယ်၊ ဝိနည်းအရ အပြစ်မရှိဘူး၊ ဒါပေမဲ့ အကြောင်းမရှိဘဲနဲ့ သောက်လို့မရဘူး။ Bởi vì nước giải khát uống vào buổi chiều là đúng, theo Vinaya (Luật Tạng) thì không có tội, nhưng nếu không có lý do thì không được phép uống. [237] သူက အကြောင်းရှိရမယ်၊ အဲ့တော့ အဖျော်ရည်ဆိုတာ ဗိုက်ဆာမှသောက်ရမှာ။ Phải có lý do (nguyên nhân), nghĩa là nước giải khát chỉ được uống khi thấy đói. [238] အဲ့တော့ ဗိုက်မဆာဘဲနဲ့ သောက်ကောင်းတိုင်း သောက်လို့မရဘူး။ Vì vậy, không phải cứ thấy ngon là uống khi không đói được. [239] အဲ့တော့ တချို့ဒကာ ဒကာမတွေက တအားကပ်တာပဲ ဘုန်းကြီးတွေကို၊ ဆရာတော်တွေကလဲ အားနာတယ်၊ ဖျော်ပြီးသွားပြီဆိုတော့လဲ ဘယ်လိုလုပ်ရမှန်းမသိဘူး။ Thế nên, một số thí chủ cứ cố dâng cúng thật nhiều cho chư Tăng, các Ngài cũng nể nang, khi đã pha xong rồi thì cũng không biết phải làm sao. [240] အဲ့ကျတော့ အားနာပြီး သောက်လိုက်ကြပြန်ရော၊ အဲ့ဒါတစ်ခုရှိတာက ဗိုက်ဆာရင်သောက်လို့ရတယ်၊ ရေဆာရင်သောက်လို့ရတယ်။ Khi đó vì nể nang nên họ lại uống, có một điều là nếu thấy đói thì có thể uống được, nếu thấy khát nước thì có thể uống được. [241] အဲ့တော့ ဆရာတော်တွေက နောက်ကျတော့ ဘယ်လိုလုပ်ရလဲဆိုတော့ ဝိနည်းချောင်တဲ့အနေနဲ့ ရေဆာတာကို ရေမသောက်ဘဲနဲ့ အဖျော်ရည်သောက်ကြတာပေါ့၊ အဲ့သဘောမျိုးပေါ့။ Vì vậy, sau này quý sư phải làm thế nào, để cho đúng với Luật Tạng thì thay vì uống nước khi khát, quý sư uống nước trái cây (phèo-rề) vậy, kiểu như thế đấy. [242] ရေဆာရင် လည်း သူက အဖျော်ယမကာ သောက်ခွင့်ရှိတယ်။ Nếu khát nước, ngài cũng có quyền uống nước trái cây (yāmakālika). [243] ရေဆာရင် အဖျော်ယမကာ သောက်ခွင့်ရှိတယ်၊ ဗိုက်ဆာရင် အဖျော်ယမကာ သောက်ခွင့်ရှိတယ်။ Nếu khát nước thì được phép uống nước trái cây, nếu đói bụng thì được phép uống nước trái cây. [244] အရေလည်း မဆာဘူး၊ ဗိုက်လည်း မဆာဘူးဆိုရင်တော့ မသောက်ရဘူး။ Nếu không khát nước cũng không đói bụng thì không được uống. [245] ဟို ဒကာ ဒကာမတွေကို အားနာလို့ သောက်တာမျိုးလည်း မရဘူး။ Kiểu như vì nể nang các thí chủ mà uống thì cũng không được. [246] နော်၊ အာ သူတို့ကို အားနာလို့ ငါဗိုက်မဆာဘဲ ငါသောက်ပေးလိုက်မယ်ဆိုလို့ မရဘူး။ Nhé, kiểu vì nể họ mà "tôi không đói nhưng tôi sẽ uống cho họ vui" thì không được đâu. [247] အကြောင်းရှိရမယ်။ မြတ်စွာဘုရားက အာဟာရနဲ့ ပတ်သက်လာရင် သူက limit ရှိတယ်၊ Phải có lý do. Đức Thế Tôn khi nói về vật thực, Ngài có giới hạn (limit), [248] နောက်တစ်ခါ မလွဲမသွေ ဖြစ်ရမယ် နော်။ Hơn nữa, đó phải là điều bất khả kháng nhé. [249] အဲ့ဒါကြောင့် ဦးဇင်းတို့ အဖျော်ယမကာ ညနေ သောက်ကောင်းတယ် သောက်ကောင်းတယ် ဆိုပေမယ့်လည်း Vì thế, dù quý sư nói rằng uống nước trái cây vào buổi chiều là tốt, là tốt, nhưng mà [250] အကြောင်း reason တစ်ခုတော့ ပြရမယ်။ reason ပြရမယ်။ Phải đưa ra một lý do (reason). Phải đưa ra lý do. [251] အဲ့တော့ ဆင်ခြင်ပေးရမယ်။ အဖျော်ယမကာ သောက်တော့မယ်ဆိုရင် မသောက်ခင် ဆင်ခြင်။ Vì vậy phải có sự quán xét. Nếu định uống nước trái cây thì trước khi uống hãy quán xét. [252] ငါ ဘာကြောင့် သောက်နေလဲ ကိုယ့်ဘာကိုယ် ပြန်မေး။ မလိမ်နဲ့ ကိုယ့်ဘာကိုယ် မလိမ်နဲ့ နော်။ Hãy tự hỏi mình "Tại sao tôi lại uống?". Đừng có dối lòng, đừng tự lừa dối mình nhé. [253] ဗိုက်ဆာလို့ သောက်မှာလား၊ ရေဆာလို့ သောက်မှာလား။ တစ်ခုခု အကြောင်းရှိရမယ်။ Uống vì đói hay uống vì khát? Phải có một lý do nào đó. [254] အဲ့ဒါဆိုရင် သောက်လို့ရတယ်။ Nếu như vậy thì có thể uống được. [255] နောက်တစ်ခု ဒါမှမဟုတ် ဦးဇင်းတို့ ဟို ဆေးတွေဘာတွေ သောက်ဖို့ လိုလို့။ Một điều nữa là hoặc khi quý sư cần uống các loại thuốc men chẳng hạn. [256] ဗိုက်တော့ မဆာဘူး ပေါ့၊ ဒါပေမယ့် ဆေးတွေက နည်းနည်း ပြင်းတယ်၊ အင်္ဂလိပ်ဆေးတွေ။ Tuy không đói, nhưng các loại thuốc đó hơi mạnh, như các loại thuốc Tây. [257] ဆိုတော့ ညနေ အစာခံရမယ် ဆိုတော့ ညနေ စားလို့လည်း မရဘူးဆိုတော့ အဖျော်ယမကာ သောက်ပြီး သောက်မယ်။ Vì buổi chiều cần có gì đó trong bụng mà buổi chiều lại không được ăn, nên sẽ uống nước trái cây rồi mới uống thuốc. [258] အဲ့ဒါဆိုရင်လည်း ရတယ်။ ဆေးအနေနဲ့ ပေါ့နော် သောက်တာ။ အဲ့ဒါမျိုးလည်း ရတယ်။ Nếu như vậy thì cũng được. Uống với tư cách là thuốc men nhé. Kiểu đó cũng được. [259] အဲ့ဒါကြောင့် ဦးဇင်းတို့ ရဟန်းတော်များ ဆာလောင်သည်ဟု ဆိုမှသာ ဆက်ကပ်လှူဒါန်းရပါမည် ဆိုတာ။ Vì thế, đối với chư Tăng chúng ta, chỉ khi nói rằng đang đói thì thí chủ mới nên dâng cúng. [260] အဲ့ဒါကြောင့် အရမ်း စောစော မကပ်သင့်ဘူး အဖျော်ယမကာက။ Vì vậy, không nên dâng nước trái cây quá sớm. [261] ၃ နာရီလောက် ဆိုရင်တော့ အစာအိမ် ဝမ်းမီး ကောင်းတဲ့ ဆရာတော်တွေ ဆိုရင်တော့ ဒါ ဗိုက်ဆာလောက်ပြီ ပေါ့နော်။ Khoảng 3 giờ chiều, đối với quý sư có hệ tiêu hóa (lửa trong bụng) tốt thì chắc là đã thấy đói rồi nhé. [262] ၃ နာရီ၊ ၄ နာရီလောက်ဆိုရင် အဲ့အချိန် ကပ်လို့ရတယ်။ Tầm 3 giờ, 4 giờ chiều thì lúc đó có thể dâng cúng được. [263] ၂ နာရီလောက်ဆိုရင် နည်းနည်း စောသေးတယ်လေ။ Tầm 2 giờ chiều thì vẫn còn hơi sớm mà. [264] ဆွမ်းစားပြီးတာက ၁၁ နာရီခွဲလောက် ဆွမ်းစားပြီးတာဆိုတော့ ကြားမှာ ၂ နာရီလောက်ပဲ ရှိသေးတယ်ဆိုတော့ Vì dùng ngọ xong lúc khoảng 11 giờ rưỡi, ở giữa mới chỉ có khoảng 2 tiếng đồng hồ thôi nên [265] ဗိုက်မဆာသေးဘူး။ အဲ့အချိန် မကပ်သင့်ဘူး နော်။ Vẫn chưa thấy đói. Lúc đó không nên dâng cúng nhé. [266] အကယ်၍ ခရီးတွေဘာတွေ သွားတဲ့အချိန်ဆိုရင်တော့ ဒါ နေပူလို့ ရေဆာတယ်ဆိုရင်တော့ ဒါ ကပ်လို့ အဖျော်ယမကာ ကပ်လို့ရတယ်လေ နော်။ Nếu trong lúc đi đường chẳng hạn, vì trời nắng nên thấy khát nước thì khi đó có thể dâng, có thể dâng nước trái cây được đấy nhé. [267] အရမ်း နေပူလို့ ဆိုရင်တော့ ဒါ အဖျော်ယမကာတွေ ကပ်လို့ရတယ်။ Nếu vì trời quá nắng thì có thể dâng các loại nước trái cây. [268] အဲ့ဒါကြောင့် ဗိုက်ဆာတယ် ထင်ရင် ကပ်လို့ရတယ်၊ ရေဆာတယ်ဆိုရင် ကပ်လို့ရတယ် အဖျော်ယမကာ။ Vì thế, nếu thấy đói thì có thể dâng, nếu thấy khát nước thì có thể dâng nước trái cây. [269] အဲ့တော့ အဲ့ဒီ အဖျော်ယမကာသည်လည်း ခုနက ဦးဇင်းတို့ အဖတ်မပါစေရဘူး၊ ရေအေးနဲ့ ဖြစ်ရမယ် နော်။ ဒါ ဖြစ်ရမယ်။ Hơn nữa, nước trái cây đó cũng như quý sư đã nói lúc nãy là không được lẫn phần xác, và phải là nước lạnh nhé. Phải như vậy. [270] ရဟန်းတော်များအား မဆက်ကပ် မလှူဒါန်းကောင်းသော အဖျော်ယမကာ ၉ မျိုး ရှိပါသည်၊ ဒါ အဓိက point ပဲ နော်။ Có 9 loại đồ uống không nên dâng cúng cho chư Tăng, đây là điểm chính yếu nhé. [271] အဲ့ဒါလေးကို မှတ်လိုက်ရင် ကျန်တာ ဦးဇင်းတို့ ကပ်ကောင်းတဲ့ အထဲမှာ ပါသွားတယ်။ Nếu ghi nhớ điều đó, những thứ còn lại sẽ nằm trong nhóm quý sư có thể nhận. [272] ၁ က ဘူးသီးဖျော်ရည် နော်၊ ဘူးသီးကို အဖျော်ယမကာ မလုပ်ရဘူး။ Thứ nhất là nước bầu nhé, không được làm đồ uống từ quả bầu. [273] နောက် ဖရုံသီး။ ဖရုံသီးဆိုရင်တော့ ကျောက်ဖရုံသီး၊ ရွှေဖရုံသီး၊ ဖရုံသီး အကုန်ပါမယ် နော်။ Tiếp theo là bí. Về bí thì bao gồm tất cả các loại như bí đao, bí đỏ, tất cả các loại bí nhé. [274] ဘယ်ဖရုံသီးမဆို အဖျော်ယမကာ မလုပ်ကောင်းဘူး။ နောက် အုန်းသီးဖျော်ရည်။ Bất kể loại bí nào cũng không nên làm đồ uống. Tiếp theo là nước dừa. [275] နောက် အိမ်ပိန္နဲသီးဖျော်ရည်၊ တောင်ပိန္နဲသီး၊ သခွားငကျောင်းသီး၊ သခွားငပြုတ်၊ သခွားငစစ် ပေါ့ နော်။ Tiếp theo là nước mít nhà, mít rừng, dưa leo, dưa gang, dưa chuột nhé. [276] အဲ့တော့ အုန်းသီးဖျော်ရည် ဆိုတဲ့ နေရာမှာ... Vậy thì, ở phần nước dừa... [277] ဦးဇင်းတို့ မြန်မာနိုင်ငံက ဆရာတော်ကြီးတွေကတော့ Các bậc trưởng lão ở Myanmar chúng ta thì... [278] အုန်းရည်ကိုလည်း မသောက်ကြဘူး ညနေပိုင်း။ Các ngài cũng không uống nước dừa vào buổi chiều. [279] ဦးဇင်းတို့ ယူဆတာ တစ်မျိုးတော့ ရှိတာပေါ့နော်။ Về phía quý sư, cũng có một cách hiểu khác. [280] အုန်းသီးဖျော်ရည်ဆိုတဲ့ နေရာမှာ အုန်းသီးကို ခြစ်ပြီးတော့ ဖျော်တာမျိုးများ ဆိုနေသလားဆိုတာမျိုးတော့ ယူဆမိတယ်ပေါ့။ Ở phần nước dừa, quý sư đồ rằng có lẽ là đang nói đến loại dừa nạo rồi pha ra. [281] အုန်းနို့လိုမျိုးပေါ့လေ။ အုန်းနို့လိုမျိုး အုန်းသီးကို ခြစ်ခြစ်ပြီးတော့ အရည်ညှစ်တာမျိုးများ အုန်းသီးဖျော်ရည်လို့ ဆိုသလားပေါ့နော်။ Giống như nước cốt dừa vậy. Liệu nước dừa nạo rồi ép lấy nước cốt như vậy có được gọi là nước dừa (đồ uống từ dừa) hay không. [282] ဘာကြောင့်လဲဆိုတော့ တခြားအဖျော်ရည် လုပ်တာကို အဲလိုလုပ်တာကိုး။ Bởi vì việc làm các loại nước trái cây khác cũng được thực hiện theo cách đó mà. [283] ဦးဇင်းတို့ တခြားအသီးတွေ ဖျော်ရည်လုပ်မယ်ဆိုရင်လည်း ခြစ်ပြီးခါမှ ရေနဲ့နယ်ပြီးတော့ လုပ်ရတာကိုး။ Khi quý sư làm nước từ các loại trái cây khác, cũng phải nạo ra rồi trộn với nước để làm. [284] အဲတော့ အုန်းသီးဖျော်ရည်ဆိုတာလည်း အဲလိုမျိုးများ ဖြစ်လိမ့်မလားလို့တော့ ယူဆမိတယ်ပေါ့။ Vì vậy, quý sư đồ rằng nước dừa (trong giới luật) có lẽ cũng thuộc loại như vậy chăng. [285] ဒါပေမဲ့ ဆရာတော်ကြီး မြန်မာနိုင်ငံမှာတော့ ဆရာတော်ကြီးတွေက သံသယရှိတော့ Tuy nhiên, vì các bậc trưởng lão ở Myanmar có sự nghi ngờ (về điều này), [286] အဲလိုခြစ်ပြီးတော့ အုန်းသီးဖျော်ရည်ကိုလည်း မသောက်ဘူး။ Nên các ngài cũng không uống nước dừa nạo như vậy. [287] နောက် အုန်းရည်ကိုလည်း မသောက်တော့ဘူး ညနေပိုင်း မသောက်တော့ဘူး သံသယရှိလို့။ Và cả nước dừa (tự nhiên) các ngài cũng không uống vào buổi chiều nữa vì có sự nghi ngờ. [288] စာထဲမှာတော့ အုန်းသီးရည်လို့ မလွဲမသွေ မပြောဘူးပေါ့နော်။ Trong văn bản thì không nói một cách chắc chắn là nước dừa nhé. [289] အုန်းသီးလို့ မအပ်ဘူးလို့ပဲ ပြောထားတာ သူက။ Văn bản chỉ nói rằng quả dừa là không hợp lẽ (akappiya) thôi. [290] ဒါကြောင့် ဆရာတော်တွေကတော့ နှစ်ခုလုံး မသောက်တော့ဘူးပေါ့။ အဲလိုမျိုးပေါ့။ Vì thế, các bậc trưởng lão không uống cả hai loại. Kiểu như vậy đó. [291] အဲဒါ ဦးဇင်းတို့ ဒါကို စာပေထဲမှာ အသီးကြီး ၉ မျိုးလို့ ခေါ်တယ်နော်။ အသီးကြီး ၉ မျိုး။ Điều đó quý sư gọi trong kinh sách là 9 loại quả lớn nhé. 9 loại quả lớn. [292] ကဲ အားလုံး ဆိုကြည့်ပါဦး။ ထန်း အုန်း နှစ်တွဲ၊ Nào, tất cả hãy cùng đọc theo nhé. Thốt nốt, dừa là một cặp, [293] ပိန္နဲ နှစ်စုံ၊ ဘူး ဖရုံ၊ မက်မွန် သခွား။ Mít có hai loại, bầu, bí, đào và dưa. [294] အဲဒီမှာ သူက ဆောင်ပုဒ်ထဲမှာ ထန်းလို့ ပါတယ်နော်ဟေ့။ Trong đó, ở bài kệ có nhắc đến thốt nốt nhé. [295] သူက ထန်းသီးပါတယ်။ ဆောင်ပုဒ် ဟိုမှာ ထန်းသီးမပါဘူး ထင်တယ် ဟုတ်လား။ Có quả thốt nốt. Hình như trong bài kệ đằng kia không có quả thốt nốt phải không? [296] ဘူးသီးရယ်၊ ဖရုံသီးရယ်၊ အုန်းသီး၊ ပိန္နဲ၊ တောင်ပိန္နဲ၊ သခွားငကျောင်၊ သခွားငပျော၊ သခွားငစစ် တဲ့။ Quả bầu, quả bí, quả dừa, mít, mít rừng, dưa leo, dưa gang, dưa chuột. [297] နာမည် လေးခု ကျန်ခဲ့တာ။ နာမည် လေးခု။ ၁၊ ၂၊ ၃၊ ၄ လေးခု ကျန်ခဲ့တယ် သိလား။ Còn thiếu bốn cái tên. Bốn cái tên. 1, 2, 3, 4 còn thiếu bốn cái tên đấy. [298] ထန်းသီး တစ်ခု ထည့်လိုက်ဦး။ ထည့်လိုက်ဦး။ ထန်းသီး ထည့်ခဲ့လိုက်ဦး။ Hãy thêm thốt nốt vào nữa. Thêm vào đi. Hãy thêm quả thốt nốt vào. [299] အဲဒါကြောင့် ကြည့်နေတာ ၉ မျိုးပါလို့။ Chính vì thế nên tôi đang xem xét kỹ vì có đến 9 loại. [300] အဲဒါဆို သခွားမွှေးတို့ ဘာတို့... Vậy thì đối với các loại như dưa gang và các loại tương tự... [301] သူက ဒီလို သခွားငကျောင်ရယ်၊ သခွားငပျောရယ်၊ သခွားငစစ်ရယ် ၃ မျိုးပဲ ပြောထားတာကိုး။ Ở đây chỉ đề cập đến 3 loại là dưa chuột, dưa gang và dưa sọc thôi đấy. [302] ပြောထားတာဆိုတော့ တခြားသခွားသီးကို ဦးဇင်းတို့ မအပ်ဘူးလို့တော့ ပြောလို့မရတော့ဘူးပေါ့။ Vì đã đề cập như vậy, nên quý sư không thể nói rằng các loại dưa khác là không hợp pháp (akappiya) đâu nhé. [303] အဲတော့ သခွား ခုနက အခါ သခွားမွှေး။ Vậy thì loại dưa lúc nãy là dưa thơm (dưa lưới). [304] သခွားမွှေး ဒီထဲမှာ မပါဘူးလေနော်။ Dưa thơm không có trong danh sách này đâu nhé. [305] သခွားငကျောင်၊ သခွားငပျော၊ သခွားငစစ် ဆိုတာ သခွားမွှေး မဟုတ်ဘူး သူက။ Dưa chuột, dưa gang, dưa sọc không phải là dưa thơm. [306] သူက ဒီလို တို့စရာ သခွားသီးပဲ။ Nó là loại dưa dùng để ăn kèm (làm rau) thôi. [307] မြန်မာအဘိဓာန်မှာ ကြည့်ကြည့်လိုက်။ မြန်မာအဘိဓာန်မှာ သူက အဲဒီ သခွားသီး တို့စားတဲ့ သခွားသီး တစ်မျိုးပဲ သူက။ Hãy thử xem trong từ điển Myanmar xem. Trong từ điển Myanmar, đó là một loại dưa dùng để ăn kèm đấy. [308] အင်း ဟုတ်တယ် ဟုတ်တယ်။ ဒါ စားစရာ သခွားသီးပေါ့နော်။ Đúng vậy, đúng vậy. Đây là loại dưa dùng để ăn nhé. [309] အဲတော့ အဲဒီ သခွားသီး ၃ မျိုးကတော့ မအပ်ဘူးပေါ့။ Do đó, 3 loại dưa này thì không được phép (dùng làm nước trái cây - yāmakālika). [310] သခွားသီးတွေကို အဖျော်ယမလုပ်ရဘူး။ Không được dùng các loại dưa này để làm nước giải khát (nước quả). [311] သခွားသီးကတော့ အမျိုးပေါင်းများစွာ ရှိတယ်လေ။ Dưa thì có rất nhiều loại khác nhau. [312] သခွားသီးက အမျိုးအစားများစွာ ရှိပေမယ့် ဒီထဲမှာ ဘုရား အဋ္ဌကထာထဲမှာ တိုက်ရိုက်ပြောထားတာက Mặc dù có nhiều loại dưa, nhưng trong Chú giải (Atthakathā) của Đức Phật đã nói trực tiếp rằng: [313] သခွား သုံးမျိုးပဲ ပြောထားတာ သူက။ ငါးကျောက်... Chỉ đề cập đến 3 loại dưa thôi. Dưa chuột... [314] အဲ့ဒါကတော့ စာပေထဲမှာ မပါဘူး။ သူက မလုပ်ကောင်းတဲ့ အသီးကြီးဖျော်ရည် ဆိုပြီးတော့ Điều đó thì không có trong kinh điển. Đó là về các loại nước trái cây từ quả lớn không nên làm. [315] သံဂါယနာတင်တဲ့ ရဟန္တာအရှင်သူမြတ်တွေက ပြောခဲ့တာ သူက။ Các bậc A-la-hán trong các kỳ Kết tập (Saṅghāyana) đã nói như vậy. [316] ဟို ပါဠိတော်ထဲမှာတော့ တိုက်ရိုက်မပါဘူး။ Trong Pāli gốc thì không có trực tiếp. [317] ဒီ ရဟန္တာအရှင်သူမြတ်တွေက သံဂါယနာတင်တဲ့အခါမှာ ဒီအသီးတွေဟာလည်း မအပ်တဲ့အထဲမှာ ပါတယ်ဆိုပြီးတော့ ပယ်ထားခဲ့ကြတာ သူက။ Khi các bậc A-la-hán tiến hành Kết tập, các ngài đã loại bỏ và cho rằng những loại quả này cũng nằm trong số những thứ không hợp pháp (akappiya). [318] အဲ့တော့ အကြောင်းကတော့ မပါခဲ့ဘူးပေါ့။ ဘာကြောင့်လဲဆိုတာတော့ စာထဲမှာ မဖော်ပြထားဘူး သူက။ Tuy nhiên, nguyên nhân thì không được bao gồm. Trong sách không nêu rõ lý do tại sao. [319] မအပ်ဘူးလို့ပဲ ဒီအတိုင်း မှတ်တမ်းတင်ထားခဲ့ကြတာ။ အဲ့ဒီလိုမျိုး အသီးကြီးကိုးလုံးပေါ့နော်။ Các ngài chỉ ghi lại là không hợp pháp như vậy thôi. Đó là về chín loại quả lớn đấy. [320] အဲ့တော့ ဒီအသီးကြီးကိုးမျိုးကလွဲရင် ကျန်တဲ့ အသီး၊ အနှံ၊ အရွက်တွေ အကုန်လုံး ရတယ်။ Vì vậy, ngoại trừ chín loại quả lớn này, tất cả các loại trái cây, hạt và lá còn lại đều được. [321] အဲ့တော့ တချို့ ဆရာတော်တွေက ဟိုပေါ့နော် နားလည်မှုလွဲတာက Do đó, một số vị thầy đã có sự hiểu lầm rằng: [322] ဟင်းသီးဟင်းရွက် ချက်စားလို့ရရင် အဖျော်ယမလုပ်ကောင်းဘူးလို့ ယူဆခဲ့ကြတာ။ Nếu là rau củ có thể nấu ăn được thì không nên làm nước giải khát. [323] တကယ်တော့ မဟုတ်ဘူး။ ဦးဇင်းတို့ ဝိနည်းဆွေးနွေးပွဲတွေ လုပ်တဲ့အခါမှာ တော်တော်လေး ရှင်းပြခဲ့ရတယ် အဲ့ကိစ္စ အထောက်အထားတွေပေါ့နော်။ Thực ra không phải vậy. Khi quý sư tổ chức các buổi thảo luận về Luật Tạng (Vinaya), quý sư đã phải giải thích rất nhiều về các bằng chứng của vấn đề đó. [324] ဦးဇင်း မှတ်မိနေတယ် အလွတ်ရနေတယ် အဲ့ကိစ္စကို။ Quý sư vẫn còn nhớ, vẫn thuộc lòng chuyện đó. [325] ဒီ ဝိနယသင်္ဂဟ အဋ္ဌကထာ စာမျက်နှာ ၉၂ မှာ သူက ယာဝကာလိက ပတ္တာနမ္ပိ ပါနံ ကာတုံ ဝဋ္ဋတိ ဆိုတာ Trong Chú giải Vinayasaṅgaha trang 92 có đoạn "yāvakālika pattānampi pānaṃ kātuṃ vaṭṭati". [326] အဲ့ဒီ စာမျက်နှာ ၉၂ မှာ တိတိကျကျ ဦးဇင်း မှတ်မိနေတယ်။ Quý sư nhớ chính xác là ở trang 92 đó. [327] ဟို အသီးအရွက်တွေကို အဖျော်ယမလုပ်လို့ စားလို့ရတဲ့ ဟင်းချက်လို့ရတဲ့ အရွက်တွေကို အဖျော်ယလုပ်လို့ရတယ်ဆိုတာလေ Việc các loại lá có thể nấu ăn được cũng có thể dùng làm nước giải khát (nước quả). [328] အထောက်အထား ရှိတယ်ပေါ့နော်။ အဲ့ကြောင့်မို့လို့ ယနေ့ခေတ် ဟို မြင်းခွာရွက်တွေကို လုပ်လို့မရဘူးလား မေးကြတယ်။ Có bằng chứng (hỗ trợ) đấy nhé. Chính vì vậy, ngày nay người ta hay hỏi là lá rau má có làm được không. [329] မြင်းခွာရွက်ကို ကြိတ်ပြီးတော့ အဖျော်ယလုပ်ရင်ရော ရလားဆို ရတယ်ပေါ့နော်။ Nếu giã lá rau má ra để làm nước giải khát thì có được không, câu trả lời là được nhé. [330] မြင်းခွာရွက်အဖျော်ယ၊ မုန်လာဥနီတို့ဘာတို့ ရတယ် အဖျော်ယကပ်လို့ရတယ်။ Nước rau má, nước cà rốt vân vân đều được, có thể dâng làm thức uống yāmakālika. [331] တစ်ခုတော့ရှိတာက ဒီအတိုင်းကပ်လို့တော့ မရဘူး။ ရေရောဖို့တော့ လိုတယ်။ Có một điều là không thể dâng như thế này được. Cần phải pha thêm nước. [332] ရေမရောရင် အဖျော်ယမဟုတ်ဘူး။ နော် အဲ့ဒါ သတိထားဖို့လိုတယ်။ ဒီအတိုင်းကပ်လို့ မရဘူး။ Nếu không pha nước thì không phải là thức uống yāmakālika đâu nhé. Cần phải lưu ý điều đó. Không thể dâng nguyên chất như vậy được. [333] အဲ့ကြောင့် ရေရောရမယ်။ အဲ့တော့ မြင်းခွာရွက်တို့၊ မုန်လာဥနီတို့ Do đó phải pha thêm nước. Vậy nên với rau má, cà rốt... [334] ဖတ်မပါအောင်စစ်၊ ပြီးရင်လည်း ရေနဲ့ရောပြီး ဖျော်ပေး။ အဲ့ဒါဆိုရင် ရဟန်းတော်တွေ သောက်ကောင်းပါတယ်။ Hãy lọc sạch bã, sau đó pha với nước rồi dâng. Như vậy thì chư Tăng uống được. [335] အဲ့ကြောင့် ဟင်းချက်စားလို့ရတဲ့ အသီးအရွက်တွေကိုလည်း အဖျော်ယလုပ်ကောင်းပါတယ်။ Vì thế, các loại rau củ nấu ăn được cũng có thể làm thành thức uống yāmakālika. [336] ဝိနယသင်္ဂဟ အဋ္ဌကထာ စာမျက်နှာ ၉၂ မှာ ပါပါတယ်။ Điều này có trong Vinayasangaha Aṭṭhakathā trang 92. [337] အဲ့တော့ မအပ်တဲ့ အသီးကိုးမျိုးကို မှတ်လိုက်ရင် ပြီးပြီလေနော်။ Vậy thì chỉ cần ghi nhớ chín loại quả không được phép là xong rồi đấy nhé. [338] ဒီအသီးကိုးမျိုးကလွဲရင် ကျန်တဲ့အသီး၊ ကျန်တဲ့အရွက် အကုန်လုံး အဖျော်ယလုပ်လို့ရတယ်။ Ngoại trừ chín loại quả này, các loại quả khác và tất cả các loại lá khác đều có thể làm thức uống yāmakālika. [339] အဖျော်ယမလုပ်ကောင်းတာ မရှိဘူး။ သူက ဒီမှာ တစ်ခုမပါခဲ့တာ ဘာလဲဆိုတော့ စပါး၊ စပါး။ Không có loại nào là không làm thức uống yāmakālika được cả. Có một thứ không được nêu ở đây là gì, đó là ngũ cốc, lúa gạo. [340] နည်းနည်းလေး ဘေးနားလေးမှာ ကပ်ရေးလိုက်။ စပါးနဲ့ပဲ တစ်ချက်လောက် ကပ်ရေးထားလိုက်နော်။ စပါး... Hãy viết chú thích nhỏ ở bên cạnh nhé. Hãy ghi chú một chút về lúa gạo và các loại đậu nhé. Lúa gạo... [341] စပါးကို အဖျော်ယမကာ မလုပ်ရဘူး။ Không được dùng lúa gạo làm thức uống yāmakālika. [342] ပဲကို အဖျော်ယမကာ မလုပ်ရဘူး။ အဲ့ဒါ တစ်ချက် ထည့်ထားလိုက်ဦးနော်။ Không được dùng các loại đậu làm thức uống yāmakālika. Hãy thêm điểm đó vào nữa nhé. [343] စပါးနဲ့ ပဲ အမျိုးမျိုး ထည့်ထားလိုက်ပါဦး။ Hãy ghi thêm các loại lúa gạo và các loại đậu vào. [344] စပါးနဲ့ ပဲကို အဖျော်ယမကာ မလုပ်ကောင်းဘူး။ အဲ့ဒါလေး ထည့်ရေးထားလိုက်။ Không được dùng lúa gạo và các loại đậu làm thức uống yāmakālika. Hãy viết thêm điều đó vào. [345] အဲ့တော့ ခုနက ပဲနို့ မရဘူးဆိုတာ အဲ့ဒါ ပြောတာနော်။ မရဘူး။ Vì thế, việc nói lúc nãy là sữa đậu không được phép là ý đó đấy nhé. Không được phép. [346] အဲ့တော့ ဦးဇင်းတို့ ဟိုဟာ တစ်ချို့က မေးတယ် ဆန်ဆေးရည် မရဘူးလားဆိုတာ ခုန ပြောပြီးပြီလေ။ Do đó, có một số vị hỏi quý sư rằng nước vo gạo có được không, thì lúc nãy đã nói rồi đấy. [347] စပါးကို အဖျော်ယမကာ မလုပ်ကောင်းဘူးဆိုတော့ ဆန်ဆေးရည် ပါသွားပြီ။ Vì không được dùng lúa gạo làm thức uống yāmakālika nên nước vo gạo cũng nằm trong đó rồi. [348] တစ်ချို့က အဲ့ဒါ အရှင်ဘုရား ဆန်ဆေးရည် သောက်လို့ မရဘူးလားဆိုတော့ မရဘူးနော်။ Có một số người hỏi rằng "Bạch Ngài, nước vo gạo không uống được sao?", là không được nhé. [349] ညနေပိုင်း ဆန်ဆေးရည် မသောက်ကောင်းဘူး။ မသောက်ကောင်းဘူး။ Buổi chiều không được uống nước vo gạo. Không được uống. [350] အဲ့ဒါ ဥပုသ်သည်တွေနဲ့လည်း ဆိုင်တယ်နော် ဒီဥစ္စာက။ ဒါ ရဟန်းတော်တွေတင်မကဘူး ဥပုသ်သည်တွေနဲ့လည်း ဆိုင်တယ်နော်။ Điều này cũng liên quan đến các vị hành giả giữ giới Uposatha (bát quan trai) nữa nhé. Không chỉ chư Tăng mà còn liên quan đến cả các vị giữ giới Uposatha nữa. [351] ဥပုသ်သည်တွေ ဝိကာလဘောဇန သီလ ဆိုင်တယ် ဒါ။ Các vị giữ giới Uposatha có liên quan đến giới Vikālabhojana (không ăn phi thời). [352] အဲ့တော့ ဆန်ဆေးရည် ညနေပိုင်း မသောက်ကောင်းဘူး၊ ပဲနို့ ညနေပိုင်း မသောက်ကောင်းဘူးနော်။ Vậy nên, buổi chiều không được uống nước vo gạo, buổi chiều không được uống sữa đậu nhé. [353] ဆန်အမျိုးမျိုး ပဲအမျိုးမျိုးသည် အဖျော်ယမကာ မလုပ်ကောင်းဘူး။ Tất cả các loại lúa gạo và các loại đậu đều không được làm thành thức uống yāmakālika. [354] အဲ့တော့ အဲ့ဒီ နောက်တစ်ခါ ဦးဇင်းတို့ ဟင်းရွက်ပြုတ်ရည်ဆိုတာ ရှိတယ်။ Tiếp theo, quý sư nói về nước luộc rau. [355] ဒီဟင်းသီးဟင်းရွက်တွေကို ကြိတ်ပြီးတော့ ရေအေးနဲ့ ဖျော်ရင် ရတယ်။ Nếu nghiền các loại rau củ này rồi pha với nước lạnh thì được. [356] ဒါပေမဲ့ ရေနွေးနဲ့ မလုပ်ရဘူး။ ဟုတ်ပြီနော်။ Nhưng không được làm với nước nóng. Đúng không nào. [357] ဟင်းသီးဟင်းရွက်တွေကို အစိမ်းလိုက် ကြိတ်ပြီးတော့ အရည်ဖျော်ရင် ရတယ်။ Nếu nghiền rau củ tươi rồi pha nước thì được. [358] ဒါပေမဲ့ ရေနွေးနဲ့ ဆိုလို့ရှိရင် ဟင်းရွက်ပြုတ်ရည် ဖြစ်သွားမယ်။ Nhưng nếu dùng nước nóng thì sẽ thành nước luộc rau. [359] ဟုတ်ပြီနော်။ ရေနွေးနဲ့ မလုပ်ရဘူး။ ရေနွေးလုပ်ရင် ဟင်းရွက်ကို ပြုတ်သလို ချက်သလို ဖြစ်သွားမယ်။ Đúng không nào. Không được làm với nước nóng. Nếu dùng nước nóng thì sẽ giống như là luộc hay nấu rau vậy. [360] အဲ့ဒါဆိုရင် မအပ်စပ်ဘူး။ Như vậy thì không hợp pháp (akappiya). [361] အဲ့တော့ အဲ့ဒါကို အကြောင်းပြုပြီးတော့ ယနေ့ လက်ဖက်ခြောက် ပြဿနာပဲ။ Vì nguyên nhân đó mà ngày nay nảy sinh vấn đề về trà khô. [362] လက်ဖက်ခြောက်ကို မြန်မာနိုင်ငံမှာက အစားအဟာရ တစ်ခုအနေနဲ့ သတ်မှတ်ထားတယ်။ Trà khô ở Myanmar được xem là một loại vật thực (āhāra). [363] လက်ဖက်သုပ် လက်ဖက်သုပ် ဆောရီးနော်။ လက်ဖက် လက်ဖက်က ဦးဇင်းတို့ မြန်မာနိုင်ငံမှာ သရေစာအဖြစ် လက်ဖက်သုပ်ဆိုပြီးတော့ စားကြတယ်။ Trà trộn, xin lỗi nhé. Trà, ở Myanmar, quý sư và mọi người thường ăn trà trộn như một món ăn nhẹ. [364] အဲ့ဒါကြောင့် ရှေးဆရာတော်ကြီးများက ဝိနည်းဓိုရ် ဆရာတော်ကြီးများက လက်ဖက်သည် သရေစာ ယာဝကာလိက ခုနက နံနက်သုံး အဟာရထဲမှာ ပါတယ်။ Vì thế, các bậc trưởng lão Luật sư đã quyết định rằng trà là món ăn nhẹ thuộc loại yāvakālika (vật thực dùng đến trưa), nằm trong nhóm vật thực dùng buổi sáng. [365] အဲ့တော့ သူ့ကို ညနေပိုင်း သောက်မယ် အကယ်၍ အဖျော်ယမကာ လုပ်ချင်တယ်ဆိုရင် ရေအေးနဲ့ ဖျော်ရင် ရတယ်။ Do đó, nếu muốn dùng vào buổi chiều như một loại đồ uống (phụ dược), nếu pha với nước lạnh thì được. [366] ဒီလက်ဖက်ကို။ အဲ့ဒါကြောင့် ဦးဇင်းတို့ ဟိုဘက် ထိုင်းတို့ သီရိလင်္ကာတို့မှာဆို Green Tea ဆိုပြီးတော့ သောက်ကြတာ ရှိတယ်။ Đối với loại trà này. Vì vậy, ở những nơi như Thái Lan hay Sri Lanka, quý sư thấy họ có dùng trà xanh (Green Tea). [367] ညနေပိုင်း Green Tea ပေါ့။ ရေအေးနဲ့ အဖျော်ထားတာ။ ထိုင်းနိုင်ငံက အခု မြန်မာနိုင်ငံနဲ့ ရောက်လုပ် ပေါများနေတာတွေ။ Trà xanh dùng buổi chiều đấy. Pha với nước lạnh. Ở Thái Lan hiện nay, loại này cũng rất phổ biến tại Myanmar. [368] ဒီ Green Tea ဆိုပြီးတော့ လက်ဖက်ကို သူတို့က အဖျော်ယမကာ လုပ်ထားတာ လက်ဖက်ဖျော်ရည်။ Với loại trà xanh này, họ chế biến trà thành đồ uống, tức là nước trà. [369] ရေအေးနဲ့ လုပ်ရင် ရတယ်။ ရေနွေးနဲ့ လုပ်ရင် မရဘူး။ Nếu làm với nước lạnh thì được. Nếu làm với nước nóng thì không được. [370] ယနေ့ လက်ဖက်ရည်ကြမ်းနော်။ လက်ဖက်ရည်ကြမ်း။ Về nước trà đậm ngày nay nhé. Nước trà đậm. [371] အဲ့ဒါ ဘာဖြစ်လို့ ရေနွေးနဲ့ မရသလဲ မေးတော့ ဟင်းရွက်ပြုတ်ရည် ဖြစ်သွားလို့။ Khi hỏi tại sao dùng với nước nóng lại không được, đó là vì nó trở thành nước luộc rau. [372] သူက လက်ဖက်ကို ဟင်းသီးဟင်းရွက်ထဲမှာ ထည့်ထားတယ်။ Họ xếp trà vào nhóm các loại rau củ. [373] အဲ့တော့ ဒီဟင်းသီးဟင်းရွက်ကို အဖျော်ယမကာ လုပ်မယ်ဆိုရင် ရတယ် ရေအေးနဲ့ လုပ်ရမယ်။ Vì vậy, nếu muốn dùng loại rau củ này làm đồ uống thì được, nhưng phải làm với nước lạnh. [374] အဲ့တော့ ရေနွေးထဲမှာ ထည့်လိုက်တဲ့ အခါကျတော့ ဟင်းသီးဟင်းရွက် သွားပြုတ်သလို ဖြစ်သွားတယ်။ Do đó, khi cho vào nước nóng, nó giống như việc đi luộc rau củ vậy. [375] ဟင်းရွက်ပြုတ်ကြီး ဖြစ်သွားတာ။ Nó trở thành món rau luộc rồi. [376] အဖျော်ယမကာ မဟုတ်တော့ဘူး။ Không còn là đồ uống (phụ dược) nữa. [377] အဲ့ဒါကြောင့် လက်ဖက်ရည်ကို ဒီလက်ဖက်ရည်ကြမ်းသည် ညနေပိုင်း ပုဒ်သည်တွေ မသောက်ကောင်းဘူးဆိုတာ ဆရာတော်ကြီးတွေ ဆုံးဖြတ်ချက် ချမှတ်ကြတယ်။ Vì lý do đó, các bậc trưởng lão đã đưa ra quyết định rằng chư Tăng không nên uống nước trà đậm này vào buổi chiều. [378] ဟုတ်ပြီနော်။ အဲ့တော့ ဘာဖြစ်လို့ မအပ်လဲမေးရင် ဟင်းရွက်ပြုတ်ကြီး ဖြစ်လို့ မအပ်တာ။ Đúng vậy nhé. Vậy nếu hỏi tại sao không hợp pháp, thì vì nó trở thành món rau luộc nên không hợp pháp. [379] အဲ့တော့ လက်ဖက်ကို အဖျော်ယမကာ လုပ်ချင်တယ်ဆိုရင် ရေအေးနဲ့လုပ်။ ရတယ်။ Thế nên, nếu muốn dùng trà làm đồ uống thì hãy pha với nước lạnh. Như vậy thì được. [380] ဂျင်းသုပ်တို့ မြင်းခွာရွက်သုပ်တို့ ညနေပိုင်း မရဘူး။ Gỏi gừng hay lá rau má thì không được dùng vào buổi chiều. [381] သူက မရဘူး။ မြင်းခွာရွက်က သူက ဆေးထဲမှာ မပါဘူး။ Những thứ đó không được. Rau má không nằm trong danh mục thuốc men. [382] အဲ့တော့ မြင်းခွာရွက်က သူက ဆေးမဟုတ်ဘူး။ သူက စားစရာထဲမှာ ပါသွားပြီ။ ညနေပိုင်း စားလို့မရဘူး။ Vì vậy, rau má không phải là thuốc. Nó đã nằm trong nhóm đồ ăn rồi. Buổi chiều không được ăn. [383] ဂျင်းက ဆေးထဲမှာ ပါတယ်၊ ဒါပေမဲ့ သူ့ချည်းသက်သက် ဆေး။ Gừng thì có trong danh mục thuốc, nhưng chỉ riêng bản thân nó mới là thuốc. [384] ဆီတွေ ကြက်သွန်တွေ နှမ်းတွေ ပဲတွေ ပါရင် ဆေးမဟုတ်တော့ဘူး။ ဒါ လက်ဖက်သုပ် စားစရာ ဖြစ်သွားပြီ။ Nếu có thêm dầu, hành, mè, đậu thì không còn là thuốc nữa. Đây đã trở thành món gỏi gừng để ăn rồi. [385] အဲ့ဒါ ဝိကာလဘောဇန ဖြစ်သွားပြီ။ အဲ့တော့ ညနေ ဂျင်းသုပ် မကပ်ရဘူးနော်။ Khi đó nó trở thành phi thời thực (vikālabhojana). Vì vậy, buổi chiều không được dâng gỏi gừng nhé. [386] ပြီးတော့ ရဟန်းဝတ်တုန်းက ဂျင်းသုပ်စားလို့ရတယ် စသဖြင့်။ Rồi lại nói lúc mới xuất gia vẫn ăn gỏi gừng được, vân vân. [387] အဲ့တော့ ဂျင်းသုပ်တို့ ခရမ်းချဉ်သီးသုပ်တို့ လက်ဖက်သုပ်တို့ ပေါ့နော်။ Những thứ như gỏi gừng, gỏi cà chua, trà trộn đấy. [388] အဲ့ဒါတွေက ဦးဇင်းတို့ ခုနက ယာဝကာလိက နံနက်စာနော်။ Những thứ đó như quý sư đã biết, là vật thực yāvakālika dùng buổi sáng nhé. [389] နံနက်စာထဲမှာ ပါ။ ညနေထဲမှာ မပါဘူး အဲ့ဒါတွေက။ Chúng nằm trong nhóm vật thực buổi sáng. Không được dùng vào buổi chiều. [390] အဲ့တော့ ဟို ဆေးခုန ဂျင်းက ဆေးထဲမှာ ပါတယ်၊ စားချင်တယ်ဆိုလို့ရှိရင် ညနေဘက် ရိသန့် အကြောင်းပြချက် ခုနပြောသလိုဆိုရင် ဆေးပစ္စည်းမှန်သမျှ အကြောင်းပြဖို့ လိုတယ်။ Thế nên, gừng vừa rồi được xếp vào thuốc, nếu quý vị muốn ăn vào buổi chiều vì lý do sức khỏe như vừa nói, thì tất cả các loại dược phẩm đều cần có lý do chính đáng. [391] အသံဝင်လို့ စားမှာလား၊ ခုန အဖျားတက်လို့ စားမှာလား၊ အကြောင်းတစ်ခုခုတော့ ကိုယ့်ကိုယ်ကိုယ် ဆင်ခြင်ပေးရမယ်။ Chẳng hạn ăn vì bị mất giọng, hay ăn vì bị sốt, quý vị phải tự suy xét về lý do của mình. [392] အကြောင်းမပြဘဲနဲ့ စားလို့ ခွင့်မရှိဘူး ဆေးပစ္စည်းကိုလည်း။ အဲ့ဒါမျိုး။ Nếu không có lý do thì không được phép ăn, kể cả là dược phẩm cũng vậy. [393] နောက်မှာ အဲ့ဒါ ဆေးကဏ္ဍ ပါမယ်လေ တစ်ကဏ္ဍ ပါမယ်နော်။ Sau này sẽ có một phần riêng về dược phẩm, sẽ có một chương riêng nhé. [394] အဲ့ဒါဆိုရင် အဖျော်ယမကာ ဦးဇင်းတို့ ဒီအသီးကြီး ကိုးလုံးကလွဲရင် နောက်တစ်ခါ စပါးရယ် ပဲရယ်။ Như vậy, về các loại đồ uống, ngoại trừ chín loại quả lớn ra, còn có lúa gạo và các loại đậu. [395] အဲ့ဒီကလွဲရင် ကျန်တဲ့ ဥစ္စာအားလုံးကို ရေအေးနဲ့ အဖျော်ယမကာ လုပ်လို့ရတယ်။ Ngoại trừ những thứ đó, tất cả những thứ còn lại đều có thể dùng nước lạnh để làm thành đồ uống (nước trái cây). [396] ဒါ အနှစ်ချုပ် မှတ်မိနေရမယ်နော် အဖျော်ယမကာ လုပ်လို့ရတဲ့ ဥစ္စာ။ Quý sư phải ghi nhớ tóm tắt này nhé về những thứ có thể làm đồ uống. [397] အဲ့တော့ ကျန်တာ ကိုယ့်ဘာသာကိုယ် စဉ်းစားလို့ရတယ်။ ဪ ဒီဟာ လုပ်ကောင်းမလား မလုပ်ကောင်းဘူးလား သိချင်တယ်ဆိုရင် ဒီဟာလေး ကြည့်လိုက်။ Còn lại thì quý vị có thể tự mình suy xét. Ồ, nếu muốn biết thứ này nên làm hay không nên làm, hãy nhìn vào danh sách này. [398] ဒီကိုးမျိုး ဆယ်မျိုး ၁၁ မျိုး ပေါ့နော်။ အဲ့ ၁၁ မျိုးထဲမှာ မပါဘူးဆိုရင် ဦးဇင်းတို့ အဖျော်ယမကာ လုပ်လို့ရတယ်လို့ မှတ်။ Có khoảng 9, 10 hay 11 loại quả lớn đấy. Nếu không nằm trong 11 loại đó thì quý sư hãy nhớ rằng chúng ta có thể làm thành đồ uống. [399] အဲ့ လုပ်တဲ့အခါမှာတော့ ရေအေးနဲ့ လုပ်ရမယ်၊ နောက်တစ်ခါ အဖတ်မပါစေရအောင် စစ်ရမယ်။ Khi làm thì phải làm bằng nước lạnh, và phải lọc sạch để không còn xác quả. [400] အဲ့တော့ တချို့ပြောတယ် အရှင်ဘုရား ထောပတ်သီးဖျော်ရည် ရသလားတဲ့။ ရတယ်၊ ဒါပေမဲ့ ဖျော်ရတာ အင်မတန် ခက်တဲ့ကိစ္စ။ Có người hỏi rằng: "Bạch ngài, sinh tố bơ có được không?". Được, nhưng việc pha chế nó vô cùng khó khăn. [401] ထောပတ်သီးက အနှစ်တွေလေ။ အဲ့တော့ စစ်ဖို့ တော်တော်ခက်တဲ့ကိစ္စ ထောပတ်သီးကလေ။ Bơ toàn là phần thịt quả thôi. Thế nên việc lọc bơ là chuyện rất khó khăn. [402] အဲ့တော့ ဒီထဲမှာ ခုနကြည့်လေ အသီးကြီး ကိုးလုံးထဲမှာ ထောပတ်သီး မပါဘူး။ မပါတော့ အဖျော်ယမကာ လုပ်လို့ရတယ်။ ဒါပေမဲ့... Quý vị hãy xem lại đi, trong chín loại quả lớn không có quả bơ. Vì không có nên có thể làm thành đồ uống. Nhưng mà... [403] ကဲ ဦးဇင်းတို့ စာမျက်နှာ ၇၂ နော်။ Nào, mời quý sư xem trang 72 nhé. [404] စာမျက်နှာ ၇၂ ထီးတောင်ဝှေး ဓားစသည်... Trang 72, về việc cầm dù, gậy chống, dao, v.v. [405] တရားတော် နာယူသည့် ယောဂဝေဒနာ... Hành giả nghe Pháp... [406] အဖတ်ကြီး ပါနေတာ အဲ့ဒါ သောက်လို့ မရဘူး။ Nếu còn xác quả lớn như vậy thì không được uống. [407] မလွယ်ဘူး ဒကာကြီး တော်တော်ခက်တယ်။ Không dễ đâu ông thí chủ, việc đó rất khó. [408] ဦးဇင်း စမ်းကြည့်ပြီးပြီ တော်တော်ကို ခက်တာ။ Sư đã thử rồi, thật sự rất khó. [409] ဘာလို့လဲဆိုတော့ အနယ်အဖတ်က ဘယ်လိုပြောမလဲ ပစ်ဖတ်ပစ်ဖတ် ဖြစ်ကိုဖြစ်တယ် သူက။ Bởi vì phần bã hay xác quả đó, nói thế nào nhỉ, nó cứ sền sệt đặc quánh lại vậy. [410] တကယ်လို့ အရည်အတိုင်း ဖျော်ပြန်တော့လည်း အရသာက မရရင် မရှိတော့ဘူး။ Nếu pha loãng như nước thì lại chẳng còn hương vị gì cả. [411] မရှိတော့ဘူး အရသာက မကောင်းဘူး။ Hương vị sẽ không còn ngon nữa. [412] ဟုတ်တယ် ထောပတ်သီးက သူ့အနှစ်ကလေး ပါနေမှ ကောင်းတာ။ Đúng vậy, quả bơ phải có phần thịt quả (cái cốt) mới ngon. [413] အဲ့တော့ အနှစ်မပါအောင် ဖျော်လို့မရဘူး တော်တော်ခက်တယ်။ Thế nên rất khó để pha mà không để lại phần xác bơ, cực kỳ khó. [414] တော်တော်ခက်တာ ဦးဇင်း စမ်းကြည့်ပြီးပြီ မရဘူး သူက တော်တော်ကို ခက်တာ။ Rất khó khăn, sư đã thử nghiệm rồi nhưng không được, thực sự là rất khó. [415] ငါပြောသီးကတော့ နည်းနည်း ရသေးတယ်။ Còn quả chuối thì vẫn còn tạm được. [416] ငါပြောသီးကတော့ အဲ့ဒီ ဟိုမပါအောင် အနယ်မပါအောင်တော့ သူလည်း တော်တော်စစ်ရတယ် ဒါပေမဲ့ ရတယ် စစ်လို့ရတယ်။ Quả chuối thì để không còn xác hay cặn cũng phải lọc rất kỹ, nhưng vẫn có thể lọc được. [417] အဲ့ဒီ ထောပတ်သီးက တော်တော် စစ်ရခက်တာ။ Còn quả bơ đó thì cực kỳ khó lọc. [418] မလွယ်ဘူးပေါ့နော်။ Không hề dễ dàng đâu nhé. [419] အရမ်းကြိုးစားပြီး စစ်ရင်တော့ ရကောင်းရမှာပေါ့ ဒါပေမဲ့ ခုနလို အရသာမျိုးကျတော့ မဟုတ်ဘူးပေါ့။ Nếu cố gắng lọc hết sức thì chắc cũng được thôi, nhưng hương vị sẽ không còn giống như ban đầu nữa. [420] အဲ့ဒါကြောင့် ထောပတ်သီးကတော့ ဖျော်လို့ရပါတယ် ဒါပေမဲ့ ဟိုအဖတ်မပါအောင် စစ်နိုင်ရင်တော့ ကောင်းတယ်ပေါ့နော်။ Vì vậy, đối với quả bơ thì có thể pha chế được, nhưng nếu có thể lọc sạch để không còn bã thì tốt nhé. [421] ဒါဆို ဦးဇင်းတို့ ယာမကာလိက အဖျော်ယမကာကဏ္ဍ ပြီးပြီနော်။ Như vậy là quý sư đã học xong phần Yāmakālika (vật thực hạn kỳ một đêm) về các loại nước giải khát rồi nhé. [422] အဖျော်ယမကာကဏ္ဍ ပြီးလောက်ပါပြီ။ Phần nước giải khát chắc là xong rồi đấy. [423] ဒါပေမဲ့ နည်းနည်း အဖျော်ယမကာ နည်းနည်းကျန်သေးတယ် ဒါပေမဲ့ ဦးဇင်း နောက်ကဏ္ဍတစ်ခုနဲ့ တွဲပြောမှ အဲ့ဒါ ပြည့်စုံမှာမို့လို့ နောက်တစ်ခု ဆက်သွားကြည့်လိုက်။ Tuy nhiên vẫn còn sót lại một chút về nước giải khát, nhưng quý sư sẽ đợi đến phần tiếp theo tôi nói kết hợp luôn thì mới đầy đủ, vậy nên chúng ta hãy xem phần tiếp theo nhé. [424] ခုနစ်ရက်အတွင်း သုံးဆောင်ကောင်းသော အာဟာရ အဲ့ဒါကို ပါဠိလို သတ္တာဟကာလိက ခုနစ်ရက်ခံတဲ့ ပစ္စည်း။ Vật thực được phép thọ dụng trong vòng bảy ngày, trong tiếng Pāli gọi là Sattāhakālika (vật thực hạn kỳ bảy ngày). [425] တစ်နံနက်သုံး အာဟာရ ပြီးသွားပြီ တစ်ရက်သုံး အာဟာရ ပြီးသွားပြီ အခု ခုနစ်ရက်သုံး အာဟာရ ရောက်ပြီနော်။ Phần vật thực dùng trong một buổi sáng (Yāvakālika) đã xong, vật thực dùng trong một ngày (Yāmakālika) cũng xong, bây giờ đến phần vật thực dùng trong bảy ngày nhé. [426] ခုနစ်ရက်သုံး အာဟာရ။ Vật thực dùng trong bảy ngày. [427] ခုနစ်ရက်သုံး အာဟာရဆိုတာက တစ်ခါ အကပ်ခံပြီးလို့ရှိရင် ခုနစ်ရက်အထိ အသုံးခံတယ်လို့ ဆိုလိုတာ။ Vật thực dùng trong bảy ngày nghĩa là sau khi đã nhận sự cúng dường (thọ lãnh) một lần thì có thể sử dụng cho đến bảy ngày. [428] ခုနစ်ရက်မပြည့်ခင် စွန့်ရမှာနော် ခုနစ်ရက်ပြည့်တဲ့နေ့မှာ အဲ့ဒီပစ္စည်းကို စွန့်ရမယ်။ Phải từ bỏ trước khi đủ bảy ngày nhé, vào ngày thứ bảy thì phải từ bỏ món đồ đó. [429] ဆက်ပြီး သုံးဆောင်ခွင့်မရှိဘူး အဲ့ဒါ ဘာတွေလဲဆိုတော့ အောက်မှာ... Không được phép tiếp tục thọ dụng nữa, những thứ đó gồm có những loại dưới đây... [430] တစ်က ထောပတ်၊ နှစ် ဆီဦး။ Thứ nhất là bơ tươi (thoa-pát), thứ hai là bơ lọc (xì-u). [431] ဆီဦးဆိုတာ ထောပတ်ချက်တဲ့အခါမှာ အပေါ်ကို တက်လာတဲ့ ဆီအကြည်တစ်မျိုးကို ပြောတာ။ Bơ lọc (xì-u) nghĩa là loại dầu trong nổi lên phía trên khi nấu bơ. [432] နံပါတ်သုံးကတော့ ဆီ စားသုံးဆီ အမျိုးမျိုးပေါ့နော် ယနေ့ခေတ် နှမ်းဆီ ပဲဆီ ဆီအမျိုးမျိုး။ Số ba là dầu, các loại dầu ăn khác nhau nhé, như thời nay là dầu mè, dầu đậu, các loại dầu khác nhau. [433] နောက် နံပါတ်ငါး ပျားရည်။ Tiếp theo, số bốn là mật ong. [434] နံပါတ်လေး ပျားရည်၊ နံပါတ်ငါးက တင်လဲ သကြား သကာ သကြား ထန်းလျက် ချိုချဉ်။ Số bốn là mật ong, số năm là đường mật, đường cát, mật đường, đường mía, đường thốt nốt, kẹo ngọt. [435] အဲ့ဒါတွေက ဦးဇင်းတို့ ငါးမျိုး။ Đó là năm loại của quý sư chúng ta. [436] သတ္တာဟကာလိက မြန်မာလိုပြောရင်တော့ ခုနစ်ရက်သုံးပစ္စည်းလို့ ခေါ်တယ်။ Sattāhakālika, nói theo tiếng Myanmar thì gọi là vật dụng dùng trong bảy ngày. [437] အဲ့တော့ ဒီပစ္စည်းတွေကို ရဟန်းတစ်ပါးသည် ခုနစ်ရက် အကပ်ခံထားလို့ရတယ် ဒီနေ့ အကပ်ခံလိုက်ပြီဆိုရင် ဒီနေ့ကစပြီးတော့ ခုနစ်ရက်။ Vì vậy, một vị Tỳ-khưu có thể nhận cúng dường các vật dụng này trong bảy ngày; nếu hôm nay nhận cúng dường thì tính từ hôm nay là bảy ngày. [438] ခုနစ်ရက်အထိ သုံးစွဲလို့ရတယ်။ ခုနစ်ရက်ကျော်ရင်တော့ စွန့်ရမယ်။ Có thể sử dụng cho đến bảy ngày. Nếu quá bảy ngày thì phải từ bỏ. [439] ဆက်သုံးစွဲခွင့် မရှိတော့ဘူး။ ဥပမာ ငါးကြီးဆီမျိုး။ Không còn quyền tiếp tục sử dụng nữa. Ví dụ như loại dầu gan cá. [440] ငါးကြီးဆီဆိုရင် ဦးဇင်းတို့ နံပါတ်သုံးထဲမှာ ပါသွားတယ်နော်။ Dầu gan cá thì nằm trong mục số ba của quý sư chúng ta nhé. [441] အဲ့ဒါကြောင့် ရဟန်းတော်တွေကို ငါးကြီးဆီဘူးလိုက် မကပ်သင့်ဘူး။ သဘောပေါက်လား။ Vì vậy, không nên dâng cả hộp dầu gan cá cho chư Tăng. Quý vị có hiểu ý không? [442] ငါးကြီးဆီကို ဘူးလိုက်ကပ်လိုက်လို့ရှိရင် အဲ့ဒီငါးကြီးဆီကို ခုနစ်ရက်အတွင်း ကုန်အောင် သုံးရမယ့်အပိုင်း ရှိတယ်။ Nếu dâng cả hộp dầu gan cá thì có phần phải sử dụng cho hết lượng dầu gan cá đó trong vòng bảy ngày. [443] သဘောပေါက်လား။ အဲ့ဒါကြောင့် ဦးဇင်းတို့က ဘူးလိုက်မကပ်တော့ဘဲနဲ့ စားပွဲခုံမှာ တင်ထားခဲ့လိုက်။ Quý vị hiểu không? Vì thế quý sư chúng ta không nên nhận cả hộp mà hãy để nó trên bàn. [444] နောက်မှ ကိုရင်နဲ့ ခွဲခွဲပြီးတော့ အကပ်ခံပြီး သုံးပေါ့။ Sau đó hãy cùng chia với các Sa-di rồi thọ lãnh và sử dụng sau. [445] ခုနစ်ရက်စာ ခုနစ်ရက်စာ ခွဲပြီး အကပ်ခံပြီး သုံးရတယ်။ Phải chia ra từng phần đủ dùng trong bảy ngày, bảy ngày rồi mới thọ lãnh và sử dụng. [446] ဘာလို့လဲဆိုတော့ ငါးကြီးဆီက သူက တစ်ဘူးမှာဆို အလုံးသုံးရာလောက် ပါချင်ပါမယ်လေ။ Bởi vì trong một hộp dầu gan cá có thể chứa đến khoảng ba trăm viên. [447] အဲ့တော့ ခုနစ်ရက်အတွင်း ဒါ မဖြစ်နိုင်ဘူး ဒါက။ Vậy nên việc dùng hết trong vòng bảy ngày là điều không thể. [448] အကယ်၍ ရဟန်းတွေ ခွဲပြီးတော့ ပေးလိုက်ရင်တော့ ပြီးတာပေါ့ ခုနစ်ရက်အတွင်း ပြီးသွားတာပေါ့။ Nếu chư Tăng chia ra rồi đưa cho vị khác thì xong, nghĩa là kết thúc trong vòng bảy ngày. [449] အကယ်၍ တစ်ပါးတည်း သုံးချင်တယ်ဆိုရင်တော့ ဒါ ဒီဟာ အကပ်ခံလို့ မရဘူး ငါးကြီးဆီကိုနော်။ Nếu muốn tự mình sử dụng một mình thì không được phép thọ lãnh cả hộp dầu gan cá này đâu nhé. [450] နောက် စတုမဓူလည်း အဲ့အတိုင်းပါပဲ။ စတုမဓူဆိုတာ ဒီ တင်လဲတို့၊ ပျားရည်တို့၊ ထောပတ်တို့နဲ့ လုပ်ထားတာလေ။ Tiếp theo là Catumadhū cũng tương tự như vậy. Catumadhū nghĩa là thứ được làm từ mật đường, mật ong, bơ... đấy. [451] အဲ့ဒါကြောင့် စတုမဓူသည်လည်း ဘယ်ပစ္စည်းထဲမှာ ပါသွားလဲမေးရင် ဒီ သတ္တာဟကာလိက။ Vì vậy, nếu hỏi Catumadhū thuộc vào nhóm vật phẩm nào thì đó là Sattāhakālika. [452] ခုနစ်ရက်သုံးပစ္စည်းပေါ့နော် စတုမဓူလေ။ Catumadhū là vật phẩm hạn kỳ bảy ngày nhé. [453] အဲ့ဒါကြောင့် စတုမဓူသည် ဦးဇင်းတို့ ဆေးပစ္စည်းထဲမှာ ပါတယ်၊ ခုနစ်ရက်သုံး အာဟာရ စတုမဓူပါပဲ။ Do đó, Catumadhū nằm trong nhóm dược phẩm của quý sư, chính là Catumadhū — vật thực dùng trong bảy ngày. [454] အဲ့တော့ သကြားတွေ၊ ထန်းလျက်ခဲတွေ၊ သကာခဲတွေနော်၊ ထောပတ်၊ ဆီဦး၊ ဆီ၊ ပျားရည်။ Vậy thì đường cát, đường thốt nốt, mật đường nhé, rồi bơ, váng sữa, dầu, mật ong. [455] အဲ့ဒါတွေက ခုနစ်ရက်သုံး အာဟာရ။ သူက ညနေပိုင်းလည်း စားလို့ရတယ်။ Những thứ đó là vật thực hạn kỳ bảy ngày. Những thứ này buổi chiều cũng có thể dùng được. [456] အဲ့တော့ ခုနက ဦးဇင်းပြောသလို ညနေပိုင်းစားတယ်ဆိုပေမယ့်လည်း ဘာလုပ်ရမလဲ အကြောင်းရှိရမယ်။ Tuy nhiên, như quý sư đã nói lúc nãy, dù nói là dùng vào buổi chiều nhưng phải có lý do (duyên). [457] ဟာ စတုမဓူပဲကွာ ဒါဆေးပဲ ညနေပိုင်းစားမယ် စားလို့မရဘူး။ Nếu nghĩ rằng "À, đây là Catumadhū, đây là thuốc nên mình cứ dùng vào buổi chiều" thì không được phép dùng đâu. [458] ထန်းလျက်ခဲ ဆေး ညနေပိုင်းစားလို့မရဘူး။ အဲ့ဒါ အကြောင်းရှိရမယ်။ Đường thốt nốt là thuốc nhưng không được dùng vào buổi chiều (nếu không có bệnh). Phải có lý do mới được. [459] သူက ဒီထန်းလျက် ဘာကြောင့်စားမလဲ၊ သက်ဆိုင်တဲ့ ရောဂါရှိမှ စားရမှာ။ Vì sao dùng đường thốt nốt này, phải có bệnh liên quan thì mới được dùng. [460] အဲ့ရောဂါမရှိဘဲနဲ့ ဒါ စားခွင့်မရှိဘူးလေ။ Nếu không có bệnh đó thì không có quyền dùng đâu nhé. [461] ဟို မြန်မာတွေ ပြောပါတယ် ဘာလဲ ဇီးဖြူဖန်ခါး ရဟန်းစားဆိုပြီးတော့လေ ပြောကြတယ်။ Người Myanmar thường hay nói câu gì nhỉ, "Quả me rừng, quả tử mặc là đồ ăn của chư Tăng" đấy. [462] အဲ့တော့ ဇီးဖြူသည်လည်း ဆေးထဲမှာ ပါတာမှန်တယ်၊ ဖန်ခါးသီး ဆေးထဲမှာ ပါတာမှန်တယ်။ Việc me rừng nằm trong nhóm thuốc là đúng, tử mặc nằm trong nhóm thuốc cũng là đúng. [463] ဒါပေမယ့် ဦးဇင်းတို့ အကြောင်းရှိမှ စားရမယ်။ အကြောင်းမရှိရင် ခုန အဖျော်ယမကာတောင်မှ အကြောင်းမရှိ မသောက်ရဘူးလေ။ Nhưng quý sư phải có lý do mới được dùng. Nếu không có lý do thì ngay cả nước trái cây (yāmakālika) cũng không được uống mà. [464] ဒီအတိုင်းပဲ ဒီဆီတို့၊ ထန်းလျက်တို့၊ ကြံသကာတို့၊ ပျားရည်တို့၊ ထောပတ်တို့ကိုလည်းပဲ ဒါ ညနေပိုင်းစားမယ်ဆိုရင် အကြောင်းတစ်ခုခု ပြရမယ်တဲ့။ Tương tự như vậy, đối với dầu, đường thốt nốt, mật đường, mật ong, bơ, nếu muốn dùng vào buổi chiều thì phải đưa ra được một lý do nào đó. [465] ဟို ဗိုက်ဆာလို့တော့ မရဘူးနော်။ ဗိုက်ဆာလို့ အကြောင်းပြချက်မရဘူး။ ဗိုက်ဆာရင်တော့ အဖျော်ယမကာပဲ ရမယ်။ Chỉ vì đói bụng thì không được nhé. Đói bụng không được tính là lý do (để dùng thuốc). Nếu đói bụng thì chỉ được dùng nước trái cây thôi. [466] နော် ဗိုက်ဆာရင် အဖျော်ယမကာပဲ ရမယ်။ အဲ့တော့ ဒီဟာက ဦးဇင်းတို့ အစာအိမ်ရောဂါတို့၊ တခြား အားနည်းတဲ့အခါပေါ့။ Nhé, nếu đói bụng thì chỉ được dùng nước trái cây thôi. Còn những thứ này là dùng khi quý sư bị đau dạ dày hoặc các lúc cơ thể suy nhược khác. [467] တကယ်တော့ ဒီဥစ္စာက ဘုရားလက်ထက်တုန်းက သူက အားဆေးတစ်မျိုးပဲ သူက။ ဒါတွေက အားဆေးတွေ သူက။ Thực tế thì vào thời Đức Phật, đây chính là một loại thuốc bổ đấy. Những thứ này là thuốc bổ. [468] ဒါကြောင့် ဦးဇင်းတို့ ဂိလာန ဖြစ်ပြီးတော့ အစားအသောက် မဝင်တဲ့ ရဟန်းတော်တွေ ဆိုရင် ညနေပိုင်း ဒါ စားလို့ရတယ်။ Vì vậy, đối với các bậc Tỳ-khưu bị bệnh (gilāna) mà không dùng được vật thực thì buổi chiều có thể dùng những thứ này. [469] အဲ့လိုမျိုး မဟုတ်ဘဲနဲ့ ဒီအတိုင်း စားခွင့်မရှိဘူး။ Nếu không phải trường hợp như vậy thì không được phép dùng. [470] တချို့ အဲ့ဒါ ဦးဇင်းတို့ သတိထားစရာလေးတွေ ပေါ့နော်။ Đó là một số điều quý sư cần lưu ý nhé. [471] အဲ့ဒါ ဒကာ ဒကာမတွေ အဲ့ဒါ ပြောရမယ်။ မလိုအပ်ဘဲနဲ့ သံဃာတွေကို ညနေပိုင်း စတုမဓူ မကပ်ရဘူး။ Điều đó cũng phải nói với các nam nữ thí chủ. Nếu không cần thiết thì không nên dâng cúng Catumadhū cho chư Tăng vào buổi chiều. [472] တချို့က အား စတုမဓူက ဆေးပဲလေ ဆို ညနေပိုင်း ကပ်ကြတာလေ။ ထန်းလျက်ခဲတွေ ကပ်ကြတာလေ။ Một số người cứ nghĩ "Ôi, Catumadhū là thuốc mà" rồi dâng cúng vào buổi chiều đấy. Họ dâng cúng các viên đường thốt nốt đấy. [473] အဲ့တော့ ညနေပိုင်း မလိုအပ်ဘဲနဲ့ ထန်းလျက်ခဲတို့ စတုမဓူတို့ မကပ်ရဘူး။ အပြစ်ရှိတယ် ပေါ့နော်။ ရဟန်းတော်တွေမှာ အပြစ်ရှိတယ်။ Vì vậy, nếu không cần thiết thì buổi chiều không được dâng cúng đường thốt nốt hay Catumadhū. Làm vậy là có lỗi đấy nhé. Chư Tăng sẽ bị phạm tội. [474] အထက်ပါ အာဟာရတို့ကို အချိန်မရွေး ဆက်ကပ်ကောင်းပါသည်၊ အချိန်မရွေး ဆိုတာ မနက်ပိုင်း ကပ်လည်းရတယ်၊ ညနေပိုင်း ကပ်လည်းရတယ် နော်။ Các loại vật thực nêu trên có thể dâng cúng bất cứ lúc nào; bất cứ lúc nào nghĩa là dâng buổi sáng cũng được, dâng buổi chiều cũng được nhé. [475] အဲ့ဒီ ထောပတ်တို့ ညနေပိုင်း ကပ်လို့ရတယ်၊ စတုမဓူ ညနေပိုင်း ကပ်လို့ရတယ်။ Những thứ như bơ có thể dâng vào buổi chiều, Catumadhū có thể dâng vào buổi chiều. [476] သို့သော် တစ်ခုရှိတာကတော့ ခုနစ်ရက်အထိပဲ ခံတယ် ဆိုတဲ့ အချက်လေး တစ်ခု ရှိတယ် ပေါ့။ Tuy nhiên có một điểm là chúng chỉ có hiệu lực (cất giữ) được đến bảy ngày thôi. [477] ဆက်ကပ်ပြီးနောက် ခုနစ်ရက်အတွင်းသာ သုံးဆောင်ကောင်းသည်၊ ခုနစ်ရက်ကျော်မှ သုံးဆောင်လျှင် ရဟန်းတော်များ၊ ရဟန်းတော်များမှာ အာပတ်အပြစ်သင့်သည် နော်။ Sau khi được dâng cúng, chỉ được sử dụng trong vòng bảy ngày thôi; nếu sử dụng quá bảy ngày thì chư Tăng sẽ bị phạm tội (āpatti) nhé. [478] အဲ့တော့ ဦးဇင်းတို့ အဲ့ဒါကြောင့် ဘာလုပ်ရလဲ ဆိုတော့ ခုနပြောသလို ခုနစ်ရက် မပြည့်ခင် ဘာလုပ်ရလဲ စွန့်ပစ်လိုက်ရတယ်။ Vì thế, lý do mà quý sư phải làm là, như đã nói, trước khi đủ bảy ngày thì phải xả bỏ (từ bỏ quyền sở hữu) đi. [479] စွန့်တဲ့အခါကျတော့ ကပ္ပိယ ဆိုတဲ့ ကပ္ပိယ ဒကာကြီး စွန့်လိုက်တယ် ပေါ့၊ ဦးဇင်း ဒါ ခုနစ်ရက် ပြည့်တော့မယ်၊ မအပ်စပ်တော့ဘူး စွန့်လိုက်ပေါ့။ Khi xả bỏ thì xả cho người hộ tăng (kappiya), nói rằng "Này ông thí chủ, món này sắp đủ bảy ngày rồi, không còn hợp lẽ (akappiya) nữa, hãy nhận lấy đi". [480] အဲ့ဒါဆိုရင် ကပ္ပိယ ပြန်ကပ်မယ် ဆိုရင် ရတယ်။ ခုန ကပ္ပိယ လိမ္မာရင် ရတယ် ဆိုတာ အဲ့ဒါ ပြောတာနော်။ Như vậy, nếu người hộ tăng (kappiya) dâng lại thì được. Vừa rồi tôi nói nếu người hộ tăng hiểu biết thì được là nói về điều đó nhé. [481] ခုနက ခုနက Chapter 1 နဲ့ ပြန်စလိုက်တာ နော်။ အဲ့ဒါကြောင့် ရဟန်းဘက်က လူတွေကို စွန့်လိုက်ပြီ ဆိုရင် ဒါ အကပ်ပြတ်သွားပြီလေ။ Vừa rồi chúng ta bắt đầu lại với Chương 1 nhé. Vì vậy, phía Tỳ-khưu nếu đã từ bỏ rồi thì khi đó sự dâng cúng (akappiya) sẽ bị đứt đoạn. [482] ပြတ်သွားပြီ ဆိုတော့ ကပ္ပိယက အနားလည်စွာနဲ့ နောက်နေ့မနက် ပြန်ကပ်၊ အော် ရတယ် သူက။ နော် အဲ့လိုမျိုး။ Vì đã đứt đoạn rồi nên người hộ tăng, với sự hiểu biết, sáng hôm sau sẽ dâng lại, ồ như vậy là được đấy. Nhé, là như vậy. [483] အဲ့တော့ ခုနစ်ရက် မပြည့်ခင် ရဟန်းက ပြန်စွန့် ပေါ့။ အဲ့ဒါကို ရဟန်းက အဲ့ဒါကို မစွန့်ဘဲနဲ့ ဆက်လက်ပြီး သုံးစွဲနေတယ် ဆိုရင်တော့ အာပတ်သင့်ပြီ နော်၊ အာပတ်သင့်ပြီ။ Thế nên trước khi đủ bảy ngày, vị Tỳ-khưu hãy từ bỏ đi. Nếu vị Tỳ-khưu không từ bỏ mà cứ tiếp tục sử dụng thì sẽ phạm tội (āpatti) nhé, phạm tội đấy. [484] ကပ်တာကတော့ အချိန်မရွေး ကပ်လို့ရတယ် နော်။ မနက်ပိုင်း ကပ်လည်းရတယ်၊ ညနေလည်း ကပ်လို့ရတယ်။ Việc dâng cúng thì có thể dâng bất cứ lúc nào nhé. Dâng vào buổi sáng cũng được, dâng vào buổi chiều cũng được. [485] နောက်တစ်ခါ ဒီဘက် တစ်သက်လုံး သုံးဆောင်ကောင်းသော ဆေးပစ္စည်းများ။ Tiếp theo là các loại dược phẩm có thể sử dụng trọn đời (yāvajīvika). [486] တစ်ကြိမ် အကပ်ခံပြီးလျှင် တစ်သက်လုံး ထား၍ ဖုံးပေး သုံးဆောင်အပ်သော အာဟာရတို့သည် တစ်သက်လုံးသုံး အာဟာရ ပါဠိလိုပြောရင် ယာဝဇီဝိက။ Những vật thực sau khi được thọ nhận một lần mà có thể cất giữ và thọ dụng trọn đời thì gọi là vật thực dùng trọn đời, tiếng Pāli gọi là yāvajīvika. [487] အဲ့တော့ အားလုံးပေါင်း ဦးဇင်းတို့ လေးမျိုး ဖြစ်သွားပြီ။ Như vậy, tổng cộng quý sư có bốn loại rồi. [488] တစ်မနက်သုံး အာဟာရကို ကျတော့ ယာဝကာလိက၊ တစ်ရက်သုံးကို ဆိုရင် ယာမကာလိက၊ Vật thực dùng trong một buổi sáng gọi là yāvakālika, dùng trong một ngày gọi là yāmakālika, [489] ခုနစ်ရက်သုံးကို သတ္တာဟကာလိက၊ တစ်သက်လုံးသုံးကို ယာဝဇီဝိက။ dùng trong bảy ngày gọi là sattāhakālika, và dùng trọn đời gọi là yāvajīvika. [490] အဲ့တော့ သာသနာမှာ အဲ့လို လေးမျိုး ခွဲထားပါတယ် ဦးဇင်းတို့။ Trong Giáo Pháp (Sāsana) được chia thành bốn loại như vậy thưa quý sư. [491] ဥပမာလေး တစ်ခု ထပ်ပြောရရင် တစ် ငရုတ်ကောင်း၊ Để nêu một ví dụ khác, thứ nhất là tiêu đen, [492] နှစ်က လေးညှင်း၊ သုံး ဆား၊ thứ hai là đinh hương, thứ ba là muối, [493] လေးက ဂျင်း၊ ခုနက ဂျင်းပါပြီနော်၊ thứ tư là gừng, vừa rồi có gừng rồi nhé, [494] ငါး ကြက်သွန်။ thứ năm là hành tây. [495] အဲ့ဒါတွေက ဆေးဘက်ဝင်တဲ့ ပစ္စည်းတွေ ဖြစ်ပါတယ်။ Đó là những thứ thuộc về dược phẩm (dược bảo). [496] အဲ့တော့ ဒါပေမဲ့ တစ်ခုရှိတာက အဲ့ဒီ ဆေးဘက်ဝင်တဲ့ ဥစ္စာတွေကို Tuy nhiên có một điều là, những thứ thuộc về dược phẩm đó [497] ဆွမ်းနဲ့ ရောစားလို့ မရဘူး။ ဟုတ်ပြီနော်။ không được trộn ăn cùng với cơm (vật thực chính). Đúng không nào. [498] ဥပမာ ဆားဆိုတာ ဆေးထဲမှာ ပါတယ်၊ Ví dụ, muối nằm trong danh mục thuốc, [499] အဲ့တော့ ဦးဇင်းက ဆားကို အကပ်ခံထားတယ်။ và quý sư đã thọ nhận muối đó rồi. [500] မနက်ပိုင်း ဆွမ်းစားတဲ့အခါမှာ ဆွမ်းက နည်းနည်း ဟင်းပေါ့နေတယ်၊ Buổi sáng khi dùng bữa, nếu cơm hay thức ăn hơi nhạt, [501] အငန်ဓာတ် ပေါ့နေတယ်၊ အဲ့တော့ အဲ့ဒီ အကပ်ခံထားတဲ့ ဆေးဆားကို ထည့်စားလို့ မရဘူး။ vị mặn bị thiếu, thì quý sư không được phép lấy muối đã thọ nhận theo diện thuốc đó để thêm vào ăn. [502] အဲ့လိုမျိုး ရှိတယ်၊ နော်၊ ထည့်စားလို့ မရဘူး။ Có quy định như vậy nhé, không được thêm vào ăn đâu. [503] ဘာလို့လဲဆိုတော့ ဆွမ်းနဲ့ မရောရဘူး၊ ရောစားခွင့်မရှိဘူး၊ သူက ဆေးအဖြစ်ပဲ သီးသန့်သုံးရမှာ သူက။ Tại sao vậy, vì không được trộn với cơm, không có phép trộn ăn chung, nó chỉ được dùng riêng biệt như là thuốc thôi. [504] အာဟာရအနေနဲ့ စားခွင့်မရှိဘူး၊ Không được phép ăn với tư cách là vật thực (āhāra), [505] ဆေးအနေနဲ့ပဲ သူ့ကို သုံးစွဲရမှာ။ chỉ được sử dụng nó với tư cách là thuốc (dược phẩm) thôi. [506] ဟုတ်ပြီနော်၊ အဲ့ဒါလေး သတိထားဖို့။ Đúng vậy nhé, điều này cần phải lưu ý. [507] ဒါကြောင့် ဂျင်း၊ ခုနက ဂျင်းက ဆေးထဲမှာ ပါတယ်၊ Vì thế gừng, lúc nãy gừng nằm trong danh mục thuốc, [508] ဒါပေမဲ့ ညနေဘက် သရေစာ ပုံစံမျိုး ကြက်သွန်နီ ဆီတွေနဲ့ သုပ်စားတာမျိုး မလုပ်ရဘူး။ nhưng vào buổi chiều không được làm kiểu như món ăn vặt, trộn với hành tây và dầu để ăn đâu. [509] ဒါဆိုရင် ဆေးမဟုတ်တော့ဘူး၊ အာဟာရ ဖြစ်သွားပြီ။ Nếu làm vậy thì không còn là thuốc nữa, mà đã trở thành vật thực (āhāra) rồi. [510] ဟုတ်ပြီနော်၊ အာဟာရ ဖြစ်သွားပြီ။ အဲ့ဒါလေး၊ ကြက်သွန်လည်း အဲ့အတိုင်းပဲ၊ ကြက်သွန်သုပ် ယနေ့ခေတ် ပြောကြတာလေ။ Đúng vậy nhé, nó đã trở thành vật thực rồi. Về hành cũng tương tự như vậy, như ngày nay người ta hay nói về món gỏi hành đấy. [511] သူလည်း ကြက်သွန်က ဆေးထဲမှာ ပါတယ်၊ သူ့ချည်း သီးသန့် ရတယ်၊ Bản thân hành cũng nằm trong thuốc (dược phẩm), có thể dùng riêng biệt được, [512] ဒါပေမဲ့ ခုနလို ဆီတွေ ကြက်သွန်တွေ မထည့် အဲ့ဒါတွေ မရတော့ဘူး၊ Nhưng nếu trộn thêm dầu và các thứ khác như vừa rồi thì không được nữa, [513] အဲ့လို မလုပ်ရဘူး၊ အဲ့ဒါမျိုးပေါ့၊ အဲ့ဒါ သတိထားစရာပေါ့။ Không được làm như vậy, kiểu đó đấy, đó là điều cần phải cẩn thận. [514] ဒါကြောင့် ဦးဇင်းတို့ ဒီ ပဋ္ဌာန်းပွဲတွေ ဘာတွေ လုပ်တဲ့အခါမှာ Vì vậy khi quý sư tổ chức các buổi lễ tụng Paṭṭhāna hay các lễ tương tự [515] အဲ့ဒီ ကြက်သွန်သုပ်တို့၊ ခရမ်းချဉ်သီးသုပ်တို့ မလုပ်ရဘူးနော်။ Thì không được làm món gỏi hành hay gỏi cà chua đâu nhé. [516] ဒါ ဆရာတော်တွေကို ဝိကာလဘောဇန ညနေစာ ကပ်တာနဲ့ အတူတူပဲ။ Việc này cũng giống như việc dâng bữa tối phi thời (vikālabhojana) cho các bậc Trưởng lão vậy. [517] အဲ့တော့ ကပ်ချင်တယ်ဆိုရင် အဖျော်ယမကာ ကပ်ပါ၊ Do đó, nếu muốn dâng cúng thì hãy dâng nước giải khát (đồ uống), [518] အဖျော်ယမကာ အဖတ်မပါတဲ့ အဖျော်ယမကာ ကပ်ပေးပါ၊ Hãy dâng loại nước giải khát không còn xác (bã) nhé, [519] အကယ်၍ အဲ့ဒီမှာ သက်တော်ကြီးတဲ့ ဆရာတော်တွေ ပါတယ်၊ အားနည်းတဲ့ ဆရာတော်တွေ ပါတယ်ဆိုရင် Trong trường hợp có các bậc Trưởng lão cao hạ hoặc các ngài đang bị yếu sức [520] စတုမဓူတို့၊ ထောပတ်တို့ ကပ်ရင် ကပ်လို့ ရသေးတယ်၊ Thì vẫn có thể dâng cúng tứ vị ngọt (catumadhū) hay bơ (thoa-bát), [521] ညနေပိုင်း အကယ်၍ အားမရှိတဲ့ ဆရာတော်တွေ ပါခဲ့ရင်ပေါ့၊ Nếu vào buổi chiều có các vị sư không có sức lực, [522] ဒါ အားဆေးအနေနဲ့ ထောပတ်တို့၊ စတုမဓူတို့ ကပ်လို့ရတယ်။ Thì có thể dâng bơ hoặc tứ vị ngọt (catumadhū) như là thuốc bổ vậy. [523] လူငယ်တွေနဲ့ကတော့ မလိုဘူးပေါ့၊ ဒါ အဖျော်ယမကာ ကပ်ရင် ရပြီ။ Với những vị trẻ tuổi thì không cần thiết, chỉ cần dâng nước giải khát là được rồi. [524] ဒါကြောင့် ကြက်သွန်သုပ်တို့၊ လက်ဖက်သုပ်တို့၊ ဂျင်းသုပ်တို့ဟာ ဆေးမဟုတ်ပါဘူး၊ Vì vậy các món gỏi hành, gỏi trà, gỏi gừng không phải là thuốc đâu, [525] ဝိကာလဘောဇန၊ ဒီ ကာလိက လေးပါးထဲမှာ ခွဲမယ်ဆိုရင် နံပါတ် ၃ အာဟာရထဲမှာ ပါသွားတယ်။ Nếu phân chia trong bốn loại vật thực hạn kỳ (kālika) thì chúng thuộc về loại số 3, tức là vật thực bổ dưỡng (āhāra). [526] သူ့ချည်း သီးသန့်ဆိုရင်တော့ ယာဝဇီဝိက နံပါတ် ၄ ထဲမှာ ပါတယ်၊ Nếu chỉ riêng bản thân chúng thì thuộc về loại số 4, dược phẩm trọn đời (yāvajīvika), [527] ဒါပေမဲ့ သရေစာတွေနဲ့ ပေါင်းလိုက်မယ်ဆိုရင်တော့ နံပါတ် ၁ ယာဝကာလိက၊ Nhưng nếu kết hợp với các món ăn nhẹ khác thì sẽ trở thành loại số 1, vật thực hạn kỳ đến trưa (yāvakālika), [528] တစ်နပ်စာ သုံးဆောင်တဲ့ အာဟာရထဲမှာ ပါသွားတယ်။ Tức là nằm trong phần vật thực dùng cho một bữa ăn. [529] ဒါကြောင့် ညနေပိုင်း ဗုဒ္ဓဘာသာဝင် ဒကာ ဒကာမတွေ ဦးဇင်းတို့ Vì thế, quý sư khuyến tấn các nam nữ thí chủ Phật tử rằng vào buổi chiều [530] ဂျင်းသုပ်၊ လက်ဖက်သုပ်၊ ခရမ်းချဉ်သီးသုပ်၊ အဲ့ဒါတွေကို မကပ်ကြဖို့ တိုက်တွန်းပါတယ်။ Không nên dâng cúng gỏi gừng, gỏi trà, gỏi cà chua, những món như vậy. [531] အဲ့ဒါတွေကို သံဃာတော်များအား မြည်းစမ်းခွင့် မပြုဘူးနော်။ Không được phép để chư Tăng nếm thử những món đó đâu nhé. [532] အဲ့ဒါတွေက မကပ်ကောင်းတဲ့အထဲမှာ ပါပါတယ် ညနေပိုင်းမှာနော်။ Những thứ đó nằm trong danh sách không nên dâng cúng vào buổi chiều nhé. [533] ကပ်လိုက်လို့ရှိရင် ဝိကာလဘောဇန ဆွမ်းကပ်တာနဲ့ အတူတူ ဖြစ်သွားလိမ့်မယ် သံဃာတော်တွေကို။ Nếu dâng cúng thì cũng giống như việc dâng vật thực phi thời (vikālabhojana) cho chư Tăng vậy. [534] အဲ့ဒါလေး သတိထားဖို့ လိုပါတယ်နော်။ Điều đó cần phải lưu tâm cẩn thận nhé. [535] ဒါ တပည့်လိမ္မာမှ ဦးဇင်းတို့ ဆရာတော်သံဃာတော်များမှာ အာပတ်လွတ်မှာပါ။ Chỉ khi người đệ tử biết vâng lời thì quý sư và chư Tăng mới thoát khỏi phạm tội (āpatti). [536] အဲ့တော့ အောက်က နည်းနည်းလေး ဆက်ဖတ်ကြည့်ရအောင်နော်။ Bây giờ chúng ta hãy cùng đọc tiếp phần bên dưới một chút nhé. [537] အထက်ပါ ပစ္စည်းများကိုလည်းပဲ မည်သည့်အချိန်အခါမဆို ဆက်ကပ်ကောင်းပါသည်ဆိုတော့ "Các vật dụng nêu trên cũng có thể dâng cúng vào bất cứ lúc nào" có nghĩa là [538] ဟို မည်သည့်အချိန်အခါမဆိုဆိုတာ မနက်ပိုင်းကပ်လိုက်ရတယ်၊ ညပိုင်းကပ်လိုက်ရတယ်၊ နေ့လယ်ပိုင်းကပ်လိုက်ရတယ်ပေါ့နော်။ Bất cứ lúc nào ở đây là có thể dâng vào buổi sáng, buổi chiều, hay buổi trưa vậy. [539] တစ်ကြိမ်ကပ်ခံပြီးလျှင် တစ်သက်လုံး အလိုရှိသလို သုံးဆောင်နိုင်ပါသည်ပေါ့။ "Sau khi đã được thọ nhận một lần thì có thể sử dụng tùy ý suốt đời". [540] အဲ့ဒါတွေကို ဦးဇင်းတို့ ဆောင်ထားလို့ရတယ်နော်၊ အကပ်ခံပြီးတော့ သိမ်းထားလို့ရတယ်။ Quý sư có thể giữ những thứ đó nhé, có thể nhận sự cúng dường rồi cất giữ lại. [541] အကြောင်းမဲ့ သက်သက် မသုံးကောင်းပါနော်၊ ဒါ ခုနက ပြောပြီးပြီ။ Không nên sử dụng khi không có lý do chính đáng nhé, điều này tôi đã nói lúc nãy rồi. [542] ဆေးဆိုပေမယ့်လည်း ဟာ ဂျင်းပဲကွာ စားလို့ရတယ်ကွာ၊ ငရုတ်သီးစားလို့ရတယ်ကွာ၊ မဟုတ်ဘူး အကြောင်းပြချက်ရှိဖို့လိုတယ်။ Dù nói là thuốc nhưng nếu nghĩ rằng "ồ, là gừng thôi mà, ăn được mà; là ớt mà, ăn được mà", thì không phải vậy, cần phải có lý do chính đáng. [543] ဂျင်းစားမယ်ဆိုရင် ဘာကြောင့်စားမှာလဲ ဆင်ခြင်ရမယ်နော်။ Nếu muốn ăn gừng thì phải suy xét xem tại sao mình lại ăn nhé. [544] အဲ့တော့ လင်းညှိပွင့်စားမယ်ဆိုရင် လင်းညှိပွင့်ကို ဘာကြောင့်စားမှာလဲ ဆင်ခြင်ရမယ်ပေါ့။ Vậy nên, nếu muốn ăn hoa địa y (lင်းညှိပွင့်) thì cũng phải suy xét xem tại sao mình lại ăn vậy. [545] အဲ့တော့ ဆင်ခြင်ပြီးခါမှ အကြောင်းတစ်ခုပြပြီးခါမှ စားရမယ်၊ မဟုတ်ဘူးဆိုလို့ရှိရင် ဦးဇင်းတို့ အာပတ်သင့်တယ်ပေါ့။ Phải suy xét rồi đưa ra một lý do cụ thể mới được ăn, nếu không thì quý sư sẽ phạm tội (āpatti) đấy. [546] ယာမကာလိက ဖျော်ရည်တို့ကို ရဟန်းတော်များ ဆာလောင်သောအခါ၌ဖြစ်စေ၊ Đối với các loại nước giải khát Yāmakālika, khi chư Tăng cảm thấy đói, [547] မကျန်းမာသောအခါ၌ဖြစ်စေ ဆက်ကပ်ကောင်းပါသည်၊ Hoặc khi không được khỏe, thí chủ có thể dâng cúng. [548] သတ္တာဟကာလိက ယာဝဇီဝိကတို့ကို ရဟန်းတော်များ မကျန်းမာမှသာ ဆက်ကပ်ကောင်းပါသည်။ Còn đối với Sattāhakālika và Yāvajīvika, chỉ khi chư Tăng không khỏe mới nên dâng cúng. [549] အဖျော်ရည်ဆိုရင် မကျန်းမာရင် ကပ်လို့ရတယ်၊ ဗိုက်ဆာရင် ကပ်လို့ရတယ်၊ ရေဆာရင် ကပ်လို့ရတယ်။ Nếu là nước giải khát thì khi không khỏe có thể dâng, khi đói có thể dâng, khi khát cũng có thể dâng. [550] ဆေးပစ္စည်းကျတော့ ဗိုက်ဆာရုံနဲ့ မရဘူး၊ ကျန်းမာရေးမကောင်းမှ။ Nhưng với dược phẩm (dược liệu) thì chỉ đói thôi là không được, mà phải khi sức khỏe không tốt. [551] အဲ့ဒါလည်း ဆိုင်ရာဆိုင်ရာ ကျန်းမာရေးပေါ့နော်၊ ဖြစ်နေတဲ့ရောဂါက တစ်ခြား ဆေးက တစ်ခြား မရဘူး အဲ့ဒါကနော်။ Điều đó cũng phải tương ứng với từng loại bệnh nhé; nếu bệnh một đằng mà dùng thuốc một nẻo là không được đâu nhé. [552] ဥပမာ ခြေထောက်ကလေးနာတာကို စတုမဓူစားရင် ဘာမှမဆိုင်ဘူးလေ၊ ဟုတ်တယ်မလား။ Ví dụ, nếu bị đau chân mà lại ăn mật đường (catumadhū) thì chẳng liên quan gì cả, đúng không nào? [553] ငါ ဂိလာန ငါ နေမကောင်းဘူး ငါ့ စတုမဓူကပ်ကြပါဦးကွာဆို ဟုတ်လား၊ ခြေထောက်က နာနေတာနဲ့ စတုမဓူ ဘာမှမဆိုင်ဘူးပေါ့။ Nếu nói "Tôi là bệnh nhân (gilāna), tôi không khỏe, hãy dâng mật đường cho tôi đi", thì việc đau chân và mật đường không có liên quan gì với nhau cả. [554] အဲ့တော့ ဆိုလိုတာက ဂိလာနဆိုတဲ့နေရာမှာ ဘာလဲ ဆိုင်ရာဆိုင်ရာ ဂိလာန၊ မဆိုင်တဲ့ ဂိလာနနဲ့ မပြောနဲ့နော်၊ အဲ့ဒါမျိုးပေါ့။ Ý tôi muốn nói là, khi nói đến bệnh nhân (gilāna) thì phải là bệnh tương ứng, đừng nói đến những bệnh không liên quan nhé, kiểu như vậy đó. [555] အဲ့တော့ ဆိုင်ရာဆိုင်ရာ ဂိလာန ဆိုလိုပါတယ်။ ဒါ ဦးဇင်းတို့ မြတ်စွာဘုရား ဝိနည်းကို လိမ်လို့မရဘူးနော်၊ တိကျတယ် တိကျတယ်။ Ý tôi là phải đúng loại bệnh tương ứng. Chúng ta không thể lừa dối Luật Tạng (Vinaya) của Đức Thế Tôn được đâu nhé, rất chính xác, cực kỳ chính xác. [556] အဲ့တော့ ရှေ့ဆက်မသွားခင် အခု ကာလိက လေးပါး နည်းနည်း ပြီးသွားပါပြီ။ Vậy thì, trước khi đi tiếp, chúng ta vừa hoàn thành sơ qua về bốn loại Kālika (thời hạn sử dụng vật thực). [557] ယာဝကာလိက အာဟာရ ခဲဖွယ်ဘောဇဉ်များ ဆန်၊ ဂျုံ၊ နောက် ဘာလဲ ဦးဇင်းတို့ ဒီဘက်မှာ... Yāvakālika là các loại vật thực, đồ ăn như gạo, lúa mì, rồi cái gì nữa nhỉ, ở phía bên này... [558] ထမင်း မလား သူက။ ထမင်းရယ်၊ ဆန်ရယ်၊ ဂျုံရယ်၊ ငါးရယ်၊ အသားရယ်။ Là cơm đúng không? Cơm, gạo, lúa mì, cá và thịt. [559] အဲ့ဒီ ငါးမျိုးကို ဘောဇဉ်လို့ ခေါ်ပြီးတော့ ကျန်တဲ့ စားစရာတွေကို ခဲဖွယ်လို့ ခေါ်တယ်။ Năm loại đó được gọi là vật thực (bhojana), còn các đồ ăn khác thì gọi là đồ ăn nhẹ (khajjaka). [560] အဲ့နှစ်ခုပေါင်းကို ယာဝကာလိက နော်။ တစ်နပ်စာ သုံး အာဟာရ။ Kết hợp cả hai loại đó lại gọi là Yāvakālika nhé. Là vật thực dùng trong một bữa (đến trước giờ ngọ). [561] ပြီးရင် အဖျော်ယမကာများ၊ မလုပ်ကောင်းတဲ့ အဖျော်ယမကာ ၉ မျိုး ရှိတယ်။ Tiếp đến là các loại nước giải khát, có 9 loại nước giải khát không được phép làm. [562] ဆန်နဲ့ ဂျုံ၊ ပဲကို ထည့် ၁၁ မျိုး။ အဲ့ဒါကလွဲရင် ကျန်တဲ့ အသီးအရွက်မှန်သမျှကို ရေအေးနဲ့ အဖျော်ယမကာ လုပ်ကောင်းတယ်။ Nếu tính cả gạo, lúa mì và các loại đậu thì là 11 loại. Ngoài những loại đó ra, tất cả các loại trái cây và rau củ khác đều có thể làm thành nước giải khát với nước lạnh. [563] အဲ့ဒါကျတော့ ဘယ်လောက်ခံလဲ မေးရင် တစ်ရက်သုံး၊ တစ်ရက်သုံး ပေါ့။ Nếu hỏi loại đó giữ được bao lâu, thì câu trả lời là dùng trong một ngày (một đêm), dùng trong một ngày nhé. [564] နောက်တစ်ခုက ဦးဇင်းတို့ သကြား၊ ထန်းလျက်၊ စတုမဓူ၊ ထောပတ်၊ ပြားရည်၊ ဆီ။ Một loại khác là đường, đường thốt nốt, mật đường (catumadhū), bơ tươi, mật ong và dầu. [565] အဲ့ဒီ ငါးမျိုးကိုကျတော့ ဦးဇင်းတို့ သတ္တာဟကာလိက၊ ၇ ရက်သုံး ပေါ့။ Năm loại này đối với chúng ta là Sattāhakālika, được dùng trong 7 ngày nhé. [566] အဲ့ကျန်တဲ့ ဆေးဖက်ဝင်တဲ့ ပစ္စည်းတွေ၊ တိုင်းရင်းဆေး၊ အင်္ဂလိပ် အနောက်တိုင်းဆေးတွေ အကုန်လုံးသည် ယာဝဇီဝိက၊ တစ်သက်သုံးလို့ ခေါ်တယ်။ Còn lại các thứ có tính chất làm thuốc, thuốc y học cổ truyền, hay các loại thuốc tây phương hiện đại, tất cả đều là Yāvajīvika, gọi là dùng trọn đời. [567] အဲ့တော့ အားလုံးပေါင်း ၄ မျိုး ဖြစ်သွားတယ်။ Như vậy tổng cộng có 4 loại. [568] အဲ့တော့ ၈၄ မသွားခင် နည်းနည်းလေး ပြောကြည့်ရအောင်။ Trước khi sang trang 84, chúng ta hãy nói thêm một chút nhé. [569] အဖျော်ယမကာ ကိစ္စလေး နည်းနည်း ဆွေးနွေးရအောင်။ Hãy thảo luận thêm một chút về vấn đề nước giải khát này. [570] အဖျော်ယမကာမှာ ဦးဇင်းတို့ ခုနက ဦးဇင်း ပြောတယ်၊ ရေအေးနဲ့ ဖျော်ရမယ်လို့ ပြောခဲ့တယ်လေ နော်။ Về các loại đồ uống, khi nãy quý sư đã nói rồi, đã nói là phải pha bằng nước lạnh nhé. [571] အဖတ်မပါရဘူး၊ ရေအေးနဲ့ ဖျော်ရမယ် ဆိုတော့။ Không được có bã, vì quý sư đã nói là phải pha bằng nước lạnh mà. [572] ယနေ့ခေတ် ပုလင်းဖျော်ရည်တွေ၊ Ready-made ဘူးတွေ ပေါ့။ Các loại nước ngọt đóng chai thời nay, hay các loại đồ đóng hộp pha sẵn vậy. [573] အဲ့ဒါတွေ နောက်တစ်ခါ ဂျင်းပြုတ်ရည်၊ ထန်းလျက် ကြိုထားတဲ့ အရည်။ Rồi tiếp đến là nước gừng nấu, nước đường thốt nốt đã đun sôi. [574] ဦးဇင်းတို့ ငယ်ငယ်တုန်းကပေါ့၊ ဝိနည်းမကျွမ်းကျင်တုန်းက၊ ကလေးဘဝတုန်းက၊ ကိုရင်ဘဝတုန်းက။ Hồi quý sư còn nhỏ đấy, khi chưa thông thạo Luật Tạng, hồi còn trẻ con, hồi còn là Sa-di. [575] ထန်းလျက်ရည်ကိုကျ သံသယရှိတယ်၊ ကျဉ်းကျဉ်းဖတ်ဖတ် ပေါ့နော်။ Đối với nước đường thốt nốt thì lại có sự hoài nghi, thấy nó cứ lấn cấn sao đó. [576] ဟို မှတ်ထားခဲ့တာက မီးနဲ့ မချက်ရဘူးလို့ ကိုယ်က မှတ်ထားခဲ့တာလေ။ Vì mình đã ghi nhớ rằng không được nấu bằng lửa mà. [577] အဲ့တော့ ဟာ ဆရာတော်တွေ ဘာဖြစ်လို့ ထန်းလျက်ရည် သောက်သလဲ ပေါ့နော်၊ မီးနဲ့ ချက်ထားတာကို။ Thế nên, ồ tại sao các ngài Trưởng lão lại uống nước đường thốt nốt, thứ vốn đã được nấu bằng lửa. [578] ဆိုတော့ မေးခွန်းမေးစရာ ဖြစ်လာရော၊ ဟာ ထန်းလျက်ရည် ဘာလို့ သောက်သလဲ၊ မီးနဲ့ ချက်ထားတယ် ပေါ့။ Cho nên mới nảy sinh câu hỏi là: tại sao lại uống nước đường thốt nốt khi nó đã được nấu bằng lửa? [579] ဆိုတော့ သူက အသီးအရွက်တွေကို အဖျော်ယမကာ လုပ်ရင်သာ သူက ရေအေးနဲ့ လုပ်ရတာ၊ မီးနဲ့ မချက်ကောင်းတာ။ Nghĩa là, nếu làm đồ uống từ các loại rau củ quả thì mới phải làm bằng nước lạnh, không được nấu bằng lửa. [580] သတ္တာဟကာလိက ခုနက ၇ ရက်သုံး ပစ္စည်း၊ ထောပတ်၊ ဆီ၊ ပြားရည်၊ သကြား နော်။ Còn Sattāhakālika, những thứ dùng trong 7 ngày như khi nãy đã nói: bơ, dầu, mật ong, đường nhé. [581] အဲ့ဒါတွေကျတော့ သူက မီးနဲ့ ချက်လို့ ရတယ်။ Những thứ đó thì có thể nấu bằng lửa được. [582] ဟုတ်ပြီနော်။ အဲ့တော့ မီးနဲ့ ချက်ကောင်းတဲ့ ဥစ္စာက ၂ မျိုး ရှိတယ်။ Đúng chưa nào? Vậy nên, có 2 loại có thể nấu bằng lửa được. [583] ၇ ရက်သုံး သတ္တာဟကာလိက ပစ္စည်းနဲ့ တစ်သက်သုံး ယာဝဇီဝိက ပစ္စည်း။ Đó là Sattāhakālika dùng trong 7 ngày và Yāvajīvika dùng trọn đời. [584] အဲ့ပစ္စည်း ၂ မျိုးက မီးနဲ့ ချက်လို့ ရတယ်။ အဲ့ဒါလေးကို မှတ်ထား။ Hai loại vật dụng đó thì có thể nấu bằng lửa. Hãy ghi nhớ điều đó nhé. [585] အဲ့ဒါလေး ကိုယ့်ဟာကိုယ် နည်းနည်း မှတ်ထုတ်ထားလိုက်နော်။ Mọi người hãy tự mình ghi chú lại một chút nhé. [586] အဲ့တော့ ညနေပိုင်း မီးနဲ့ချက်ကောင်းတဲ့ ဥစ္စာက Vậy nên, những thứ có thể nấu bằng lửa dùng cho buổi chiều là [587] ခုန သတ္တာဟကာလိက ပစ္စည်းနဲ့ ယာဝဇီဝိက ပစ္စည်းလေ ခုနက အဲ့ဒါလေး မှတ်လိုက်ပေါ့။ Các vật dụng Sattāhakālika và Yāvajīvika như khi nãy, hãy ghi nhớ như vậy nhé. [588] ခုနစ်ရက်သုံး ပစ္စည်းနဲ့ တစ်သက်သုံး ပစ္စည်းနော်။ Những thứ dùng trong bảy ngày và những thứ dùng trọn đời nhé. [589] အဲ့တော့ ခုနစ်ရက်သုံးနဲ့ တစ်သက်သုံးက ဘာလုပ်လို့ရလဲဆိုတော့ မီးနဲ့ချက်လို့ ရတယ်။ Vậy thì, những thứ dùng trong bảy ngày và trọn đời có thể làm gì? Đó là có thể nấu bằng lửa. [590] မီးနဲ့ချက်လို့ ရတယ်။ Có thể nấu bằng lửa được. [591] အဲ့တော့ ထန်းလျက်သည် ဦးဇင်းတို့ ခုန ဘယ်ထဲမှာ ပါသွားလဲဆိုတော့ ခုနစ်ရက်သုံးထဲမှာ ပါသွားတယ်လေ။ Thế nên, đường thốt nốt khi nãy quý sư đã xếp vào loại dùng trong bảy ngày rồi mà. [592] နောက် ဂျင်းစိမ်း ဘယ်ထဲမှာ ပါတုန်း ဂျင်းက Tiếp theo, gừng tươi nằm trong loại nào? Gừng ấy [593] တစ်သက်သုံးထဲမှာ ပါသွားတယ်။ အဲ့ဒါကြောင့် သူတို့ကို မီးနဲ့ချက်လို့ ရတယ်။ Nằm trong loại dùng trọn đời. Vì lý do đó, chúng có thể được nấu bằng lửa. [594] ဟုတ်ပြီနော်။ အဲ့ဒါကြောင့် ဂျင်းပြုတ်ရည်တို့ ထန်းလျက်ရည်တို့ ဆိုတာက မီးနဲ့ချက်လို့ ရသွားတယ်။ Đúng chưa nào? Vì vậy, nước gừng nấu hay nước đường thốt nốt đều có thể nấu bằng lửa được. [595] ဟုတ်ပြီနော်။ မီးနဲ့လုပ်လို့ရတဲ့ ဥစ္စာ။ အဲ့ဒါကြောင့် အဲ့ဒါက အပ်သွားတယ်။ Đúng chưa? Những thứ có thể làm bằng lửa. Vì thế nên điều đó là hợp pháp (kappiya). [596] အဲ့တော့ ဆရာတော်ကြီးတွေ ဦးဇင်းတို့ ငယ်ငယ်တုန်းကပေါ့ ရွှေကျင်ဂိုဏ်းဝင် ဆရာတော်ကြီးတချို့ပေါ့။ Hồi quý sư còn nhỏ, có một số vị Trưởng lão thuộc hệ phái Shwegyin. [597] အခုခေတ်တော့ မပြောတတ်ဘူး။ ရှေးခေတ်က ဆရာတော်ကြီးတွေက ဒီ Ready-made ဘူးတွေ မသောက်ကြဘူး။ Thời nay thì không rõ, nhưng các vị Trưởng lão thời xưa không uống các loại đồ đóng hộp pha sẵn này. [598] ကျန်းမာရေးကြောင့် မဟုတ်ဘူး။ ဝိနည်းသံသယရှိတယ်။ Không phải vì lý do sức khỏe đâu, mà là vì họ có sự hoài nghi về Luật (Vinaya). [599] မီးနဲ့ချက်ထားတယ်ဆိုတဲ့ သံသယရှိတာ သူတို့က။ Họ có sự hoài nghi rằng những thứ đó đã được nấu bằng lửa. [600] အသီး ဒီ ပုလင်းဖျော်ရည်ပေါ့ စပျစ်ဖျော်ရည်တို့ လိမ္မော်သီးဖျော်ရည်ဆိုပြီးတော့ ဘူးတွေ လာကြတယ်ပေါ့။ Những loại nước đóng chai này, như nước ép nho hay nước ép cam, thường được mang đến cúng dường. [601] ဒါတွေက ရေရှည်ခံထားအောင် ခံအောင်ပေါ့နော် မီးနဲ့ချက်ထားတယ်လို့ ဆရာတော်ကြီးတွေက ယူဆတယ်။ Để bảo quản được lâu, các Ngài trưởng lão cho rằng chúng đã được nấu qua lửa. [602] အဲ့တော့ အသီးဖျော်ရည်ဆိုရင်တော့ ဒါ မီးနဲ့ချက်ထားရင် မအပ်ဘူး ဒါမှန်တယ်။ ဟုတ်ပြီနော်။ Vì vậy, nếu là nước ép trái cây mà đã nấu qua lửa thì không hợp lẽ đạo (akappiya), điều này là đúng. Các thí chủ hiểu chứ? [603] ဒီ လိမ္မော်သီးဖျော်ရည် စပျစ်သီးဖျော်ရည်ကို ကြာရှည်ခံအောင်ဆို မီးနဲ့ပေါင်းလိုက်တယ် ချက်လိုက်တယ်ဆိုရင်တော့ ဒါ မအပ်ဘူး မှန်တယ်။ Việc cho rằng nước cam hay nước nho này, để giữ được lâu mà đem đi hấp hay nấu qua lửa thì không hợp lệ, đó là quan điểm đúng. [604] ဒါပေမဲ့ နောက်ပိုင်း ခေတ်မီလာတဲ့ ဆရာတော်တွေက သုတေသနပြုလိုက်တဲ့အခါမှာ လိမ္မော်သီးက အစစ်မဟုတ်ဘူး ဖြစ်နေတယ် ဒီခေတ်က။ Tuy nhiên, sau này các vị sư hiện đại khi nghiên cứu kỹ lại thì thấy rằng, nước cam thời nay không phải là nước cam nguyên chất hoàn toàn. [605] လိမ္မော်သီးဖျော်ရည်က ဘာလဲဆိုတော့ အနံ့တို့ အရသာတို့ ထည့်ထားတာပဲ ရှိတာ။ တကယ်တော့ ဘာလဲ သကြားရည်တွေပဲ။ Nước cam đóng chai thực chất chỉ là hương liệu và mùi vị được thêm vào thôi. Thật ra chúng chỉ là nước đường. [606] အင်း သကြားရည်ပဲ။ အဲ့တော့ သကြားရည် ဘယ်ထဲမှာ ပါလဲမေးရင် Vâng, chỉ là nước đường thôi. Vậy nếu hỏi nước đường thuộc loại nào, [607] ခုနစ်ရက်သုံးထဲမှာ ပါတာ။ ခုနစ်ရက်သုံးမှာ ပါတော့ ဒီသကြားရည်ကို မီးနဲ့ချက်လိုက်ရင်လည်း Thì nó thuộc nhóm vật thực dùng trong 7 ngày (sattāhakālika). Vì thuộc nhóm 7 ngày nên nước đường này dù có nấu qua lửa, [608] အပ်သွားတယ်။ ဟုတ်ပြီနော်။ အဲ့ဒါကြောင့် ယနေ့ခေတ် ပုလင်းဖျော်ရည် အပ်လားမေးရင် အပ်တယ်။ Thì vẫn hợp lệ (kappiya) để sử dụng. Đúng vậy không? Đó là lý do tại sao nếu hỏi nước đóng chai ngày nay có dùng được không, thì câu trả lời là có. [609] ဘာလို့လဲဆိုတော့ သကြားရည် ဖြစ်နေလို့။ သဘောပေါက်လား မသိဘူး။ Bởi vì bản chất của nó là nước đường. Không biết quý vị có hiểu ý này không. [610] အဲ့တော့ သူက အသီးဖျော်ရည် အစစ်မဟုတ်ဘူး။ အကယ်၍ အသီးဖျော်ရည် အစစ်ဖြစ်ခဲ့ရင်တော့ မီးနဲ့ချက်လိုက်ရင် မအပ်ဘူး။ Nghĩa là nó không phải nước ép trái cây nguyên chất. Nếu là nước ép trái cây nguyên chất mà nấu qua lửa thì sẽ không được phép dùng (sau giờ ngọ). [611] ဟုတ်ပြီနော်။ တကယ် အဲ့ဒီပုလင်း အဲ့ဒီဘူးတွေ အနောက်တိုင်းနိုင်ငံက လာတဲ့ Ready-made ဘူးတွေသည် တကယ် အသီးက အမှန် အစစ်ဖြစ်ခဲ့ရင် နောက် မီးနဲ့ချက်လိုက်ရင် မအပ်ဘူး။ Đúng vậy, những chai hay hộp nước đóng sẵn (Ready-made) từ phương Tây mang về, nếu thực sự là nước trái cây nguyên chất mà đã nấu qua lửa thì không được dùng. [612] မီးနဲ့ချက်ထားခဲ့ရင်တော့ အဲ့အဖျော်ယမကာ မသောက်ကောင်းဘူး။ Nếu đã nấu bằng lửa thì loại thức uống đó không được phép uống đâu. [613] နော် မသောက်ကောင်းဘူး။ Nhé, không được phép uống đâu. [614] ဒါပေမဲ့ ယနေ့ခေတ် အဖျော်ယမကာ တော်တော်များများက သကြားတွေ လုပ်ထားတာ။ Thế nhưng phần lớn các loại thức uống ngày nay đều được làm từ đường. [615] သကြားကို လုပ်ထားတာ။ ဟို Sprite တို့ ဘာတို့ ဆိုရင် နော် သကြားကို လုပ်ထားတာ။ Được làm từ đường. Như là Sprite hay các loại khác chẳng hạn, nhé, đều được làm từ đường. [616] အဲ့တော့ သကြားဖျော်ရည် ဖြစ်တဲ့အတွက်ကြောင့် သူက သောက်ကောင်း ညနေပိုင်း သောက်လို့ ရသွားတယ်။ Vì vậy, vì là nước đường nên có thể uống được vào buổi chiều tối đấy. [617] မီးနဲ့ချက်ထားလည်း သောက်လို့ ရတယ်။ Dù có nấu bằng lửa thì vẫn có thể uống được. [618] အရှင်ဘုရား ကြံရည်ကျတော့။ Bạch ngài, còn nước mía thì sao ạ? [619] အေး လာပြီ လာပြီ။ ဟုတ်တယ်၊ သူက ကြံရည် ခုနက မအပ်တဲ့ထဲမှာ မပါတော့ဘူးလေ။ À, đến rồi đây, đến rồi đây. Đúng vậy, nước mía không còn nằm trong danh sách không được phép lúc nãy nữa rồi. [620] မအပ်တဲ့ထဲမှာ မဟုတ်ဘူးဆိုတော့ သူက အပ်တဲ့ထဲ ပါသွားပြီပေါ့။ Vì không nằm trong danh sách không được phép nên nó đã thuộc về danh sách được phép rồi đấy. [621] ခုန မအပ်တဲ့ အသီး ၉ မျိုး ရှိတယ်လေ။ ၁၁ မျိုးပေါ့။ အဲ့ထဲမှာ ကြံရည် မပါဘူး။ Lúc nãy có 9 loại quả không được phép, à 11 loại chứ. Trong đó không có nước mía. [622] အဲ့ဒါကြောင့် ကြံရည် ညနေပိုင်း သောက်လို့ ရတာပေါ့။ Chính vì thế mà nước mía có thể uống được vào buổi chiều tối vậy. [623] ကြံသကာခဲတောင် ရသေးတာပဲလေ။ Ngay cả đường phèn (đường mía miếng) còn được mà. [624] ကြံသကာခဲကိုတောင်မှ ဆေးပစ္စည်းထဲမှာ ထည့်ထားတာဆိုတော့ သူ့ကို အရည်ဖျော်လိုက်လို့ရှိရင် ဒါ ကြံရည်ပဲပေါ့ သူက။ Ngay cả đường phèn cũng được xếp vào hàng dược phẩm, nên khi hòa tan nó ra thì đó chính là nước mía thôi. [625] အဲ့ဒါကြောင့် ကြံရည်ကျတော့ နဝါဒ ရှိတယ် အဲ့ဒါက။ Vì vậy, riêng về nước mía thì có quan điểm (vāda) khác nhau về việc đó. [626] သူက ကြံရည်ကို နဝါဒ ခွဲတယ်ဆိုတာက... Việc họ phân chia quan điểm về nước mía là... [627] ရေရောရင် ရော၊ မရောရင် မရော။ Có pha nước hay không pha nước. [628] အင်း ဒီလို ဒီလို သူက... Ừm, như thế này, như thế này... [629] ခုနက ဦးဇင်းတို့ တနင်္ဂနွေ ၃ အာဟာရ၊ နော် တစ်ရက်သုံး အာဟာရ၊ ခုနစ်ရက်သုံး အာဟာရ၊ တစ်သက်သုံး အာဟာရလို့ လေးမျိုးခွဲတယ်။ Lúc nãy quý sư đã chia làm bốn loại là: vật thực dùng trong ngày (yāvakālika), vật thực dùng trong một đêm (yāmakālika), vật thực dùng trong bảy ngày (sattāhakālika), và vật thực dùng trọn đời (yāvajīvika). [630] အဲ့တော့ ကြံရည်သည် ဘယ်ထဲမှာ ပါသလဲလို့ မေးကြတဲ့အခါမှာ ခုနစ်ရက်သုံး ပါတယ်လို့ ပြောလို့ရတယ်ပေါ့ နော်။ Thế nên khi có người hỏi nước mía nằm trong loại nào, thì có thể nói là thuộc loại dùng trong bảy ngày (sattāhakālika) nhé. [631] ခုနစ်ရက်သုံး ပါတယ်လို့ ပြောကြတဲ့အခါ ခုနစ်ရက်သုံး ဆိုလို့ရှိရင်တဲ့ သူက ဒီတိုင်း စားလို့ မရဘူး။ Khi nói là thuộc loại dùng trong bảy ngày thì không thể ăn trực tiếp như vậy được. [632] ဘာလို့လဲဆိုတော့ သူက ရောဂါရှိမှ စားရမှာကိုး ခုနစ်ရက်သုံး ဆိုလို့ရှိရင်လေ။ Bởi vì nếu là loại dùng trong bảy ngày thì chỉ được dùng khi có bệnh thôi mà. [633] အဲ့တော့ အဖျော်ယမကာ အနေနဲ့ သောက်ချင်တယ်ဆိုရင် ရေရောရမယ်။ Thế nên nếu muốn uống như một loại thức uống giải khát (yāmakālika) thì phải pha thêm nước vào. [634] ခုန စတုမဓူကို ရောဂါမရှိဘဲနဲ့ စားချင်တယ်ဆိုရင် ဘာလုပ်ရမလဲ ရေနဲ့ဖျော်ရမယ်။ Tương tự như cattumadhū (tứ mật) lúc nãy, nếu muốn dùng khi không có bệnh thì phải làm sao? Phải pha với nước. [635] သဘောပေါက်လား။ ပျားရည်ကို ရောဂါမရှိဘဲ စားချင်တယ်ဆိုရင် ရေရောရမယ်။ Có hiểu không? Nếu muốn dùng mật ong khi không có bệnh thì phải pha thêm nước. [636] ဟုတ်ပြီနော်။ အဲ့လိုမျိုး။ ထန်းလျက်ခဲကို ရောဂါမရှိဘဲ စားချင်တယ်ဆိုရင် ရေနဲ့ဖျော်ရမယ် ထန်းလျက်ခဲကို။ Đúng rồi nhé. Kiểu như vậy. Nếu muốn dùng đường thốt nốt khi không có bệnh thì phải hòa tan đường thốt nốt đó với nước. [637] အခဲလိုက် စားလို့ မရဘူး။ Không được ăn nguyên miếng/khối như vậy. [638] အဲ့ဒါကို ထောက်ဆပြီးတော့ ကြံရည်ဟာလည်း ခုနစ်ရက်သုံး ဖြစ်တဲ့အတွက်ကြောင့် ဒီတိုင်း သောက်လို့ မရဘူး၊ ရေရောဖို့ လိုအပ်တယ်ဆိုပြီးတော့ ဆုံးဖြတ်ကြတဲ့ ဆရာတော်များ တချို့ရှိတယ်။ Dựa trên cơ sở đó, vì nước mía cũng là loại dùng trong bảy ngày (sattāhakālika) nên không thể uống trực tiếp, mà có một số bậc trưởng lão (Sayadaw) quyết định rằng cần phải pha thêm nước. [639] တချို့ဆရာတော်များလည်း မလိုဘူး၊ သူ့အတိုင်း သောက်လို့ ရပါတယ်ဆိုတဲ့ ဆုံးဖြတ်တဲ့ ဆရာတော်တွေလည်း ရှိတယ်။ Cũng có những bậc trưởng lão khác quyết định rằng không cần, cứ để nguyên như vậy mà uống cũng được. [640] အဲ့တော့ ကြံရည်ကတော့ နှစ်မျိုးကွဲသွားတယ်ပေါ့ နော်။ Thế nên về nước mía thì có hai luồng ý kiến khác nhau nhé. [641] ကြံရည်ကတော့ အဲ့ဒါကြောင့် ခုနစ်ရက်သုံးထဲမှာ ထည့်ထားပြီးတော့ ရေရောသင့်တယ်ဆိုတဲ့ ဝါဒရှိတယ်၊ ရေမရောဘဲနဲ့ သောက်လို့ရတယ်ဆိုတဲ့ ဝါဒရှိတယ်။ Vì vậy, có quan điểm cho rằng nước mía nên được xếp vào loại dùng trong bảy ngày và cần pha thêm nước, cũng có quan điểm cho rằng có thể uống mà không cần pha nước. [642] အဲ့တော့ ဒီဟာကတော့ ဦးဇင်းတို့ မငြင်းတော့ဘူး၊ ကြိုက်တဲ့ ကြိုက်သလို ကျင့်သုံးလို့ ရတယ်ပေါ့။ ဆရာတော်ကြီးတွေ ကိုယ်တိုင်ကကို ဒီလို ဆုံးဖြတ်ခဲ့တာဆိုတော့။ Về việc này thì quý sư sẽ không tranh luận nữa, ai muốn thực hành theo cách nào cũng được. Vì chính các bậc đại trưởng lão đã quyết định như vậy mà. [643] နော် အဲ့တော့ ခုနက ထန်းလျက်ခဲတွေကို ညနေပိုင်း စားလို့ မရဘူး။ Nhé, vậy nên những miếng đường thốt nốt lúc nãy không được ăn vào buổi chiều tối đâu. [644] အဲ့တော့ အဖျော်ယမကာ လုပ်ချင်တယ်ဆိုရင် ရေနဲ့ဖျော်ပြီး သောက်လို့ ရတယ်။ Thế nên nếu muốn làm thức uống giải khát thì có thể pha với nước rồi uống. [645] ပျားရည် ဒီတိုင်းပဲ အဖျော်ယမကာ လုပ်ချင်တယ်ဆိုရင် ရေနဲ့ဖျော်ပြီးတော့ ပျားရည်သောက်လို့ ရတယ်။ Tương tự như vậy, nếu muốn dùng mật ong làm thức uống thì có thể pha với nước rồi uống mật ong được. [646] သူတို့ကျတော့ ရေနွေးနဲ့ ဖျော်လို့ရတယ်နော်။ Nhưng đối với những thứ này, có thể pha với nước nóng để dùng nhé. [647] ပျားရည်တို့ ထန်းလျက်တို့က ရေနွေးနဲ့ ဖျော်လို့ရတယ်။ ရေအေးမလိုဘူးပေါ့။ Như mật ong hay đường thốt nốt thì có thể pha với nước nóng. Không nhất thiết phải dùng nước lạnh. [648] အဲ့တော့ အောက်ကို နည်းနည်းလေး ဆက်ကြည့်ရအောင်နော်။ Bây giờ chúng ta hãy xem tiếp phần bên dưới nhé. [649] သတ္တဟကာလိက ပစ္စည်းများကို နော် ဦးဇင်းတို့ Về các vật dụng thuộc nhóm bảy ngày (sattāhakālika), thưa quý sư, [650] အခြား အချိန်ပိုင်းသုံး ပစ္စည်းဖြစ်၍ သူ့ချည်းသက်သက်သာ ဆက်ကပ် လှူဒါန်းကောင်းပါသည် တဲ့ နော်။ Vì chúng là những vật dụng dùng theo thời hạn riêng, nên tốt nhất là hãy dâng cúng riêng biệt từng loại. [651] အဲ့တော့ တခြားပစ္စည်းနဲ့ ရောမကပ်ရဘူးပေါ့။ Nghĩa là không nên để lẫn lộn với các loại vật thực khác khi dâng cúng. [652] အထက်ပါ အချိန်ပိုင်းသုံး ယာဝကာလိက လေးမျိုးတွင် တစ်ကြိမ် အပ်နှံထားလျှင် တစ်ရက်သုံး ယာမကာလိက နော်။ Trong bốn loại vật thực hạn kỳ (yāvakālika) nêu trên, nếu đã thọ nhận một lần thì vật thực một đêm (yāmakālika)... [653] ခုနက အဲ့ဒီမှာ သတ္တဟကာလိက ပစ္စည်းကို အခြား အချိန်ပိုင်းသုံး ပစ္စည်းဖြစ်၍ တဲ့ Lúc nãy, việc nói rằng vật dụng bảy ngày (sattāhakālika) là vật dụng dùng theo thời hạn khác, [654] သူ့ချည်းသက်သက်သာ ဆက်ကပ် လှူဒါန်းကောင်းပါသည် ဆိုတာ ဒီလို အဲ့ဒါ နားလည်မှု လွဲကုန်ဦးမယ်။ ဦးဇင်းတို့ ငယ်ငယ်တုန်းကလည်း လွဲတယ်။ Nên dâng cúng riêng biệt, điều này có thể gây hiểu lầm. Hồi trẻ chúng tôi cũng từng hiểu lầm chỗ này. [655] ဟို သူ့ချည်းသက်သက် ဆိုတာက ဟိုဟာပါ Cái chữ "dâng riêng biệt" đó có nghĩa là thế này: [656] စား စားစရာတွေနဲ့ ဟိုလို ရောနယ်ပြီးတော့ မကပ်ရဘူး ပြောတာပါ။ Nghĩa là đừng có trộn lẫn trực tiếp với các loại đồ ăn (dùng trước giờ ngọ) rồi mới dâng. [657] ဟို ဗန်းတစ်ဗန်းထဲမှာ ပေါ့နော်၊ ဟိုမှာ မုန့်ထုပ်လည်း ပါမယ်၊ ဆေးဘူးလည်း ပါမယ်။ အဲ့ဒါ ပြဿနာမရှိဘူး။ Còn nếu để chung trong cùng một khay, ví dụ có gói bánh và cũng có hộp thuốc, thì điều đó không có vấn đề gì cả. [658] ဟုတ်ပြီနော်။ တချို့က နားလည်မှု လွဲတယ် အဲ့မှာ ရောမကပ်ရဘူး ဆိုတာကို။ Các thí chủ hiểu chưa? Một số người hiểu lầm việc "không được dâng chung" là như vậy. [659] ရောတယ် ဆိုတာက ဒီလိုပါ ဟို ဆွမ်းထဲမှာ ဆီတွေ ပါမယ်။ ဆီဆိုတာ ဦးဇင်းတို့ သတ္တဟကာလိက ပစ္စည်း။ "Trộn lẫn" ở đây nghĩa là, ví dụ trong cơm có lẫn dầu ăn. Dầu ăn là vật dụng bảy ngày (sattāhakālika). [660] ထမင်းကျတော့ မနက်ပိုင်း ပစ္စည်း။ အဲ့ဒါတွေ ရောကပ်လိုက်မယ် ဆိုရင် တစ်ရက်ပဲ ရတော့တယ်။ Còn cơm là vật thực dùng buổi sáng (yāvakālika). Nếu trộn lẫn như vậy mà dâng cúng thì (dầu đó) chỉ còn giá trị sử dụng trong một ngày thôi. [661] အဲ့ဒါကို ပြောချင်တာ။ ဟို ဟိုလိုမျိုး သူ့ဟာသူ သီးခြား လင်ဗန်းတစ်ခုနဲ့ ခွဲခွဲပြီး ကပ်တာ၊ ဘူးတွေနဲ့ ကပ်တာ အဲ့ဒါ ပြဿနာမရှိဘူး။ Đó là điều muốn nói. Còn nếu để riêng từng thứ trên cùng một khay, hay để trong các hộp riêng rồi dâng thì không có vấn đề gì. [662] ဟို နားလည်မှု လွဲမှာစိုးလို့ ပြောတာ။ ဦးဇင်းတို့ ငယ်ငယ်တုန်းက အဲ့ဒါ နားလည်မှု လွဲခဲ့ဖူးတယ်။ Tôi nói vậy vì sợ quý vị hiểu lầm. Hồi còn nhỏ chúng tôi cũng đã từng hiểu lầm như thế. [663] ဪ အဲ့တော့ ခွဲကပ်ရမယ်လို့ ထင်ခဲ့တာလေ။ ဟို ဆေးကို ဆေးသက်သက်ကပ်၊ မုန့်ကို မုန့်သက်သက်ကပ် လို့ ထင်တာ။ အဲ့လို ပြောတာ မဟုတ်ဘူး။ Ồ, tôi cứ tưởng là phải dâng cúng riêng biệt đấy chứ. Tưởng rằng phải dâng cúng thuốc riêng, dâng cúng bánh riêng. Không phải nói như vậy đâu. [664] ဟို ပေါင်းပြီး ကပ်လို့တော့ ရပါတယ်။ သူက ဟို နယ်လိုက်တာ ရောခွဲလို့မရအောင် ရောသွားတာကို ပြောချင်တာ နော်။ Việc dâng cúng chung lại thì vẫn được nhé. Ý muốn nói là khi trộn lẫn vào nhau mà không thể tách rời được đấy. [665] ခွဲလို့မရအောင် ရောသွားတာကို ပြောတာ။ Muốn nói đến việc trộn lẫn vào nhau đến mức không thể tách rời được. [666] အထက်ပါ အချိန်ပိုင်းသုံး ကာလိက လေးမျိုးတို့တွင် တဲ့ တစ်ကြိမ် အပ်နှံထားလျှင် တစ်ရက်သုံး ယာမကာလိက၊ Trong bốn loại vật thực hạn kỳ (kālika) nêu trên, nếu đã thọ lãnh một lần thì vật thực dùng trong một ngày (yāmakālika), [667] ခုနစ်ရက်သုံး သတ္တဟကာလိက၊ တစ်သက်သုံး ယာဝဇီဝိက ပစ္စည်းသုံးမျိုးတို့သည် မွန်းလွဲအချိန်တွင် ကပ်ကောင်း ဖုံးပေးကောင်းသော အာဟာရပစ္စည်းများ ဖြစ်ပါသည်။ vật thực dùng trong bảy ngày (sattāhakālika), và vật thực dùng trọn đời (yāvajīvika) - ba loại này là những vật phẩm dinh dưỡng có thể dâng cúng và thọ thực vào buổi chiều (sau giờ ngọ). [668] အဲ့တော့ အဲ့ဒီ လေးမျိုးကို ဦးဇင်းတို့ အချိန်နဲ့ ခွဲတဲ့အခါမှာ ယာဝကာလိက ပစ္စည်း စားစရာ ခဲဖွယ်ဘောဇဉ်တွေ ဆိုလို့ရှိရင် Vậy nên, khi quý sư phân chia bốn loại đó theo thời gian, đối với vật thực dùng trong hạn kỳ buổi sáng (yāvakālika) như các món ăn, vật thực nhai nuốt thì [669] မနက်ပိုင်း အရုဏ်တက်ချိန်ကနေ ပြီးတော့ မွန်းလွဲအချိန်ထိ ကပ်နိုင်ပါတယ်။ có thể dâng cúng từ lúc rạng đông đến trước giờ ngọ. [670] ကျန်တဲ့ ပစ္စည်းသုံးမျိုး တစ်ရက်သုံးရယ်၊ ခုနစ်ရက်သုံးရယ်၊ တစ်သက်သုံး ပစ္စည်း ဒီသုံးမျိုးကို ကျရင်တော့ Còn ba loại vật phẩm còn lại là loại dùng trong một ngày, loại dùng trong bảy ngày và loại dùng trọn đời, ba loại này thì [671] အချိန်မရွေး မနက် ညနေ ကြိုက်တဲ့အချိန်မှာ ကပ်နိုင်ပါတယ်။ có thể dâng cúng vào bất cứ lúc nào, dù là buổi sáng hay buổi chiều tùy ý. [672] ကပ်နိုင်တဲ့ ပစ္စည်းကို ဦးဇင်းတို့ ခွဲပြီနော်။ ခွဲလိုက် အဲ့ဒါ။ Tôi đã phân chia xong các vật phẩm có thể dâng cúng rồi nhé. Hãy phân chia như vậy. [673] ကဲ အဲ့တော့ သိကြားပြားရည်၊ ထောပတ်၊ ဆီ၊ အဲ့ဒါတွေ ညနေပိုင်း ကပ်လို့ရတယ်။ Nào, vậy thì nước mật ong, bơ, dầu, những thứ đó có thể dâng cúng vào buổi chiều được. [674] နော် ညနေပိုင်း ကပ်လို့ရတယ်။ Nhé, có thể dâng cúng vào buổi chiều. [675] ကျန်တဲ့ နံနက်ပိုင်း သုံး ယာဝကာလိကသည် အရုဏ်တက်သည်မှ နေမွန်းတည့် ၁၂ နာရီအထိသာ Còn lại vật thực dùng trong hạn kỳ buổi sáng (yāvakālika) chỉ được tính từ lúc rạng đông cho đến đúng 12 giờ trưa, [676] ဆပ်ကပ်ကောင်း၊ ဖုံးပေးကောင်းသော အာဟာရပစ္စည်း ဖြစ်ပါသည်။ đó là những vật phẩm dinh dưỡng có thể dâng cúng và thọ thực được. [677] မွန်းလွဲအချိန်တွင် ဆပ်ကပ်၍မရ၊ ဆပ်ကပ်၍ အကပ်ခံလိုက်လျှင် Vào buổi chiều thì không được dâng cúng, nếu dâng cúng và được thọ lãnh thì [678] ရဟန်းတော်များ ဒုက္ကဋ်အာပတ်သင့်၍ ဖုံးပေးလျှင် ပါစိတ်အာပတ် ဟူသော ဝိနည်းပြစ်သင့်ရောက်ပါမည်။ chư Tăng sẽ phạm tội Tác ác (Dukkaṭa), và nếu thọ thực thì sẽ phạm luật lỗi Ưng đối trị (Pācittiya). [679] နော် ဦးဇင်းတို့ အရေးကြီးတယ် ဒါ။ Nhé, quý sư ơi, điều này rất quan trọng đấy. [680] အရုဏ်မတက်ဘဲနဲ့ မကပ်ရဘူး။ အရုဏ်ဆွမ်းကပ်တဲ့လူတွေ သတိထားဖို့လိုတယ်။ Khi chưa rạng đông thì không được dâng cúng. Những người đi dâng cúng vật thực rạng đông cần phải lưu ý. [681] နော် သာသနာတော်မှာက နေ့တစ်နေ့ကို နာရီနဲ့မသတ်မှတ်ဘူး။ Nhé, trong giáo pháp (Sāsana), một ngày không được xác định bằng giờ giấc. [682] နေရောင်နဲ့ သတ်မှတ်တယ်။ နော်။ Mà được xác định bằng ánh sáng mặt trời. Nhé. [683] အဲ့တော့ လူ့လောကမှာဆိုရင်တော့ ၁၂ နာရီကျော်ပြီဆိုရင် ဒါ Happy New Year ဆိုပြီး ပြောကြတာပဲ၊ နေ့သစ်တစ်ခု ပြောင်းသွားပြီလို့ ပြောကြတာပေါ့။ Nếu ở thế gian, qua 12 giờ đêm là người ta nói "Chúc mừng năm mới" rồi, coi như đã sang một ngày mới rồi. [684] သာသနာမှာက ၁၂ နာရီကျော်ရုံနဲ့ မဖြစ်သေးဘူး။ နော်။ Trong giáo pháp thì chỉ qua 12 giờ đêm thôi là chưa được đâu. Nhé. [685] အဲ့တော့ အရုဏ်တက်မှ၊ အရုဏ်တက်မှ ဦးဇင်းတို့ ဒါ သံဃာတော်များကို အရုဏ်ဆွမ်းကပ်လို့ရတယ်။ Phải đợi đến lúc rạng đông, khi rạng đông rồi thì quý sư mới có thể dâng cúng vật thực rạng đông đến chư Tăng được. [686] အဲ့တော့ အရုဏ်မတက်ဘဲနဲ့ ဥပမာ ၅ နာရီထိုးမှ အရုဏ်တက်မယ့်ဥစ္စာကို ၄ နာရီခွဲလောက်က သွားဆွမ်းကပ်နေရရင် Ví dụ như khi chưa rạng đông, đến 5 giờ mới rạng đông mà khoảng 4 giờ rưỡi đã đi dâng cúng vật thực rồi thì [687] အဲ့ဒါ ဝိကာလဘောဇန ညစာကပ်တာနဲ့ အတူတူပဲ။ နော်။ điều đó cũng giống như dâng cúng vật thực phi thời (vikālabhojana) vào buổi tối vậy. Nhé. [688] ညဆွမ်းကပ်တာနဲ့ အတူတူပဲ။ ဒီ နာရီဝက်ကလေးကို မစောင့်နိုင်ကြဘူး ဖြစ်နေတာ။ Giống như dâng cúng vật thực vào ban đêm vậy. Chỉ có nửa tiếng đồng hồ đó thôi mà mọi người lại không thể chờ đợi được. [689] အဲ့တော့ ဘုန်းကြီးတွေကို အိမ်ကိုပင့်ပြီးတော့ ညစာကပ်သလို ဖြစ်သွားရော။ Như vậy, việc thỉnh chư Tăng đến nhà cũng giống như là đang dâng cúng bữa tối vậy. [690] အဲ့တော့ ကပ်သူလည်း မကောင်းဘူး၊ စားသုံးသူလည်း အဆင်မပြေဘူးပေါ့နော်။ Khi đó, người dâng cúng cũng không tốt, mà người thọ dụng cũng không ổn đâu nhé. [691] ဒါ ဒကာ၊ ဒကာမတွေဘက်က သိရမယ့် ကိစ္စလေးတွေ အရုဏ်ကပ်တာပေါ့နော်။ Đây là những việc mà các nam nữ thí chủ cần phải biết khi dâng cúng vật thực rạng đông. [692] အဲ့ကြောင့် စားစရာကို အရုဏ်မတက်ဘဲနဲ့ လုံးဝမကပ်ရဘူး။ Vì thế, tuyệt đối không được dâng cúng đồ ăn khi chưa rạng đông. [693] နောက်တစ်ခါ မွန်းလွဲ ၁၂ နာရီကျော်သွားရင် မကပ်ရတော့ဘူး။ Hơn nữa, sau 12 giờ trưa thì không được nhận vật thực nữa. [694] လုံးဝမကပ်ရတော့ဘူးနော်။ Tuyệt đối không được nhận nữa nhé. [695] ကပ်ရင် ဘာဖြစ်သလဲလို့မေးရင် ၁၂ နာရီကျော်မှ ကပ်လို့ရှိရင် အဲ့ဒီဥစ္စာကို ရဟန်းတွေက နောက်နေ့ မစားရတော့ဘူး။ Nếu hỏi nhận thì sẽ ra sao, thì nếu nhận sau 12 giờ trưa, món đồ đó các Tỳ-khưu không được ăn vào ngày hôm sau nữa. [696] နော် စားစားမစားစား အကပ်ခံလိုက်တာနဲ့ကို အာပတ်သင့်သွားပြီ။ Này, dù ăn hay không ăn, chỉ riêng việc chấp nhận đặt vào tay (thọ nhận) thôi là đã phạm tội (āpatti) rồi. [697] စားစရာပစ္စည်းတွေကို အကပ်ခံရင် အာပတ်သင့်သွားပြီ။ Nếu thọ nhận các vật thực thì đã phạm tội rồi. [698] အကယ်၍များ ဟို ငါရဟန်းမစားဘူး၊ ကျောင်းသားတွေကို စွန့်လိုက်မယ်၊ ကိုရင်တွေကို စွန့်လိုက်မယ်ဆိုတဲ့ ရည်ရွယ်ချက်နဲ့ အကပ်ခံရင်တော့ ရတယ်။ Tuy nhiên, nếu thọ nhận với ý định rằng "Ta là Tỳ-khưu sẽ không ăn, mà sẽ xả lại cho các học sinh, xả lại cho các Sa-di" thì được. [699] ဦးဇင်းတို့ ခုနက ဟို ရှေ့မှာ ပြောခဲ့တယ်။ Quý sư đã nói điều này ở phần trước rồi. [700] အကပ်မခံဘဲနဲ့ ရဟန်းတော်တွေ စားစရာတွေကို မကိုင်ကောင်း၊ မကိုင်ကောင်း ပြောခဲ့တယ်လေ နံပါတ် Chapter 1 ထဲမှာနော်။ Trong Chương 1, quý sư đã nói về việc chư Tăng không nên cầm nắm các vật thực khi chưa được đặt vào tay (chưa thọ nhận) đấy nhé. [701] ဒါပေမဲ့ အဲ့ဒါ ကိုယ့်အတွက်ပြောတာ။ အဲ့ဒါလေး တစ်ခု အခု သတိရလို့ ဖြည့်စွက်လိုက်မယ်။ Nhưng đó là nói về phần của mình. Bây giờ nhớ ra nên quý sư sẽ bổ sung thêm một chút điểm này. [702] ကိုယ့်အတွက်... Về phần của mình... [703] ကိုယ့်အတွက်သာ မကိုင်ကောင်းတာ။ အကယ်၍ ကျောင်းသားတွေအတွက် ကပ္ပိယတွေအတွက်ဆို ကောက်လို့ရတယ်။ Chỉ là không nên cầm nắm cho phần của mình thôi. Nếu là vì các học sinh hay những người hộ tăng (kappiya) thì có thể nhặt lấy được. [704] ဥပမာ အပင်က လမ်းသွားရင်းနဲ့ လမ်းခရီးမှာ ဇီးပင်တွေတွေ့တော့ ဇီးသီးတွေ ကြွေကျနေတယ်။ Ví dụ như khi đang đi trên đường, thấy cây táo ta và có những quả táo bị rụng xuống. [705] အဲ့ ဇီးသီးတွေမြင်တော့ ငါ့ကျောင်းသားတွေ ကျောင်းမှာရှိတယ်၊ ကိုရင်လေးတွေရှိတယ်၊ ငါကိုရင်လေးတွေ ကျွေးဖို့ ယူသွားဦးမယ်ဆို ကောက်သွားလို့ရတယ်။ Khi nhìn thấy những quả táo đó, nếu nghĩ rằng "Học trò của ta đang ở chùa, các chú Sa-di nhỏ đang ở đó, ta sẽ mang về cho các chú Sa-di ăn" thì có thể nhặt mang đi được. [706] အဲ့ဒါကြောင့် ကောက်ကိုင်နိုင်တဲ့ ရဟန်းတွေကို အပြစ်သိပ်မပြောကြနဲ့ဦးပေါ့နော်။ Vì thế, đối với những vị Tỳ-khưu có thể nhặt cầm như vậy thì xin đừng vội chỉ trích ngài nhé. [707] ဘာလို့လဲဆိုတော့ အကြောင်းပြချက်လေးတွေ ခြွင်းချက်လေးတွေ ရှိသေးတယ်ဆိုတာ ပြောပြတာ။ Bởi vì quý sư đang giải thích rằng vẫn còn có những lý do và những trường hợp ngoại lệ như vậy. [708] ရဟန်းအတွက်သာ မကောက်ကောင်းတာ၊ ကိုရင်အတွက် ကျောင်းသားအတွက်ဆို ကောက်သွားလို့ရတယ်။ Chỉ là không nên nhặt cho chính vị Tỳ-khưu đó thôi, còn nếu vì Sa-di hay học sinh thì có thể nhặt mang đi. [709] ငါ့မှာ ကျောင်းမှာ ကပ္ပိယတွေရှိတယ်၊ ကျောင်းသားတွေရှိတယ်၊ ကိုရင်လေးတွေ ငါကျွေးမယ်ဆိုပြီးတော့ အဲ့ဒီ ကြွေကျနေတဲ့ သရက်သီး၊ ဇီးသီးလေးတွေ ကောက်သွားလိုက်။ Nghĩ rằng "Ở chùa ta có những người hộ tăng, có học sinh, ta sẽ cho các chú Sa-di ăn" rồi nhặt những quả xoài, quả táo ta đang rụng đó đi. [710] ပြီးရင် ကိုရင်တွေ ကျောင်းသားတွေ ပေးလိုက် ရတယ်။ Sau đó mang về cho các Sa-di, học sinh thì được. [711] အဲ့ဒီ ပေးပြီးလို့ရှိရင်လည်း နောက်နေ့မနက်ကျရင် သူတို့ အဲ့ဒါ ပြန်ကပ်ခံစားလို့ ရသေးတယ်။ Sau khi đã cho như vậy, đến sáng ngày hôm sau, họ vẫn có thể dâng cúng (kappiya) lại để mình ăn được. [712] ဘာလို့လဲဆိုတော့ ကိုယ့်အတွက်မဟုတ်ဘူး၊ သူတို့အတွက် ယူလာတာ၊ သူတို့ကို ပေးလိုက်တာ။ Bởi vì đó không phải là lấy cho mình, mà là lấy cho họ và đã cho họ rồi. [713] အဲ့ဒါကို မနက်ကျမှ ကိုယ်က အေး ကိုရင် ငါ့အဲ့ဒါလေး ကပ်ဦးကွာ။ Đến sáng hôm sau mình mới bảo: "Này Sa-di, hãy dâng cái đó cho sư đi." [714] သူတို့ဆီကနေ ပြန်တောင်းစားတာ သူက။ Tức là mình xin ăn lại từ họ. [715] နော် ရိုးသားဖို့တော့ လိုတာပေါ့နော်။ မလိမ့်တပတ်တော့ မလုပ်နဲ့ပေါ့နော်။ Này, nhưng cần phải có sự chân thật nhé. Đừng có làm theo kiểu lắt léo, gian lận đấy nhé. [716] ကိုယ်စားဖို့အတွက်ကို သမင်သက်သက် ရည်စူးပြီး ကောက်တယ်၊ ပြီးရင် ရော့ကွာ ပေးတယ်၊ ကပ်ခဲ့စမ်း။ အဲ့ဒါတော့ မရဘူးပေါ့နော်။ Nếu cố tình nhắm đến việc mình ăn mà nhặt, rồi bảo "Này cầm lấy đi, rồi dâng lại cho sư", thì cái đó là không được đâu nhé. [717] လူလည်တော့ မကျနဲ့၊ ဝိနည်းမှာတော့ ရိုးသားဖို့တော့ လိုတယ်။ Đừng có lanh chanh quá mức, trong Luật Tạng (Vinaya) thì cần phải có sự chân thật. [718] လူလည်တော့ မကျနဲ့ပေါ့ ဝိနည်းကိုနော်။ Đừng có lách Luật Tạng (Vinaya) theo kiểu lanh chanh nhé. [719] အဲ့လိုလေး ခြွင်းချက်လေးတွေတော့ ရှိတယ်။ Có những trường hợp ngoại lệ như thế đấy. [720] အဲ့ဒါကြောင့် ဦးဇင်းတို့ ဝိနည်းကို ပြည့်ပြည့်စုံစုံ သိထားတော့ ဟို သံဃာတော်တွေအပေါ်မှာလည်း မပြစ်မှားမိတော့ဘူးပေါ့နော်၊ သတိထားမိတာပေါ့။ Vì vậy, khi quý sư hiểu biết đầy đủ về Luật Tạng (Vinaya) thì sẽ không phạm lỗi (xúc phạm) đối với chư Tăng, mà sẽ có sự cẩn trọng. [721] တစ်ခါတလေ ဝိနည်းကိုယ်က ပြည့်ပြည့်စုံစုံ မသိထားတဲ့အခါကျတော့ ဟယ် ဒီဘုန်းကြီး ကောက်ကိုင်နေတယ်လို့ ကိုယ်က အပြစ်တင်တတ်တယ်နော်။ Đôi khi, khi bản thân không biết đầy đủ về Luật Tạng, chúng ta thường hay chỉ trích rằng: "Kìa, vị sư này lại đi nhặt cầm đồ vật." [722] တစ်ခါတလေကျရင်လေ စားစရာတွေ ဘာတွေ ကပ်ခံတယ်ဆိုလို့ရှိရင် ဟယ် ဒီဘုန်းကြီး စားစရာတွေ ကပ်ခံနေတယ်လို့ သွားအပြစ်တင်တတ်တယ်နော်။ Đôi khi thấy ngài nhận các vật thực chẳng hạn, lại đi chỉ trích rằng: "Kìa, vị sư này lại đi nhận các vật thực (sau giờ trưa)." [723] မဟုတ်ဘူး၊ ကိုယ့်အတွက်မဟုတ်ရင် ကပ်ခံလို့ရတယ်။ ဒါမမေ့နဲ့နော်။ Không phải, nếu không phải cho bản thân mình thì có thể thọ nhận sự cúng dường. Đừng quên điều này nhé. [724] ကိုယ့်အတွက်မဟုတ်ရင် ကပ်ခံလို့ တစ်ခါတလေ ဆရာတော်တွေက ဒကာ ဒကာမတွေ အားနာတယ်လေ။ Đôi khi các vị thầy ngại với các nam nữ thí chủ khi thọ nhận cúng dường dù không phải cho mình. [725] ဥပမာ ညတရားပွဲတွေမှာ တစ်ခါတလေ လာကပ်မယ် မုန့်တွေဘာတွေ။ Ví dụ trong các buổi nghe Pháp ban đêm, đôi khi họ đến cúng dường bánh trái này nọ. [726] ဒကာ ဒကာမတွေက အလိုက်မသိဘူးလေ။ အလိုက်မသိတော့ ဘုန်းကြီးကို ညပိုင်းကြီး မုန့်လာကပ်ရော။ Các nam nữ thí chủ không hiểu rõ phép tắc đấy. Vì không hiểu rõ nên họ đến cúng dường bánh trái cho sư vào ban đêm. [727] ဆရာတော်ကလည်း ဘာမှမပြောဘဲနဲ့ ကပ်ခံလိုက်ရော။ အဲ့ဒါမျိုးတွေရှိတယ်။ Vị thầy cũng không nói gì mà cứ thọ nhận cúng dường. Có những trường hợp như vậy. [728] အဲ့ဒီအခါမှာ ဆရာတော်တွေက မသိလို့ ကပ်ခံတာလည်း ဖြစ်ကောင်းဖြစ်မယ်၊ ဒါမှမဟုတ် ဟို ကျောင်းသားတွေအတွက်လို့ ရည်ရွယ်ပြီး ကပ်ချင်လည်း ကပ်မယ်ပေါ့နော်။ Khi đó, có thể các vị thầy thọ nhận vì không biết, hoặc có lẽ họ thọ nhận với ý định dành cho các học trò vậy. [729] အဲ့လိုလည်း ရှိတယ်။ အဲ့ဒါကြောင့် အပြစ်တင်မစောကြဖို့ပေါ့။ Cũng có chuyện như vậy. Vì thế, chúng ta đừng vội trách cứ nhé. [730] အဲ ကိုယ့်ဘက်က အလိုက်သိခဲ့ရင်တော့ ဆရာတော်တွေ နောက်နေ့မှ ဖုန်းပေးလို့ရတာပေါ့နော်။ ညနေပိုင်းမကပ်ဘဲနဲ့ မနက်ကျမှ ကပ်ပေါ့။ À, nếu về phía mình mà hiểu rõ phép tắc thì các vị thầy có thể thọ dụng vào ngày hôm sau mà; thay vì cúng vào buổi chiều tối thì hãy cúng vào buổi sáng nhé. [731] အဲ့ဒါ ခုနက ဖြည့်စွက်ပြီး ပြန်ပြောလိုက်တာနော်။ အဲ့ဒါ အကပ်မခံဘဲနဲ့ ကိုင်လို့ရတယ်ဆိုတဲ့အထဲမှာ ကိုယ့်အတွက်ဆိုရင်တော့ မရဘူး၊ ကျောင်းသားတို့ ကိုရင်တို့ လူတွေအတွက်ဆိုရင်တော့ ကောက်ကိုင်လို့ရတယ်၊ သူတို့ကို ပေးပြီးတော့ အပြန်ကပ်ခံစားလို့လည်း ရတယ်။ Đó là điều tôi vừa nói bổ sung lại nhé. Trong việc có thể cầm nắm mà không cần thọ nhận cúng dường thì nếu là cho bản thân mình thì không được, nhưng nếu là cho học trò, Sa-di hay người cư sĩ thì có thể cầm lấy, rồi đưa cho họ và sau đó thọ nhận cúng dường ngược lại để thọ dụng cũng được. [732] စားလို့လည်း ရသေးတယ် နော်။ အဲ့လို အခြေအနေ။ Vẫn có thể thọ dụng được nhé. Tình huống là như vậy. [733] ဒီထဲမှာ မပါတာလေး ပါလို့ရှိရင် ကိုယ့်ဘာသာကိုယ် နည်းနည်းလေး မှတ်ထားနော်။ Nếu có điều gì không có trong đây thì quý vị hãy tự mình ghi chú lại một chút nhé. [734] ဘယ်လောက် စာအုပ်တွေ ပေးထားမလဲ မသိဘူး။ မပေးသေးဘူး ထင်တယ်။ စုတေအိမ်။ Không biết đã đưa bao nhiêu cuốn sách rồi. Tôi nghĩ là chưa đưa đâu. Cuốn Sute Ein. [735] အဲ့တော့ နည်းနည်းလေး ကိုယ့်ဘာသာကိုယ် ဒီစာအုပ်ထဲမှာ ဖြစ်ဖြစ်ပေါ့နော်။ ကပ်ကပ်ပြီးတော့ နည်းနည်း မှတ်ထားပေးပေါ့။ Vậy nên quý vị hãy tự mình ghi chú thêm một chút vào trong cuốn sách này nhé. [736] စာအုပ်ထဲမှာ မပါတာလေးတွေ ရှိရင် ဦးဇင်းကတော့ ပြည့်စုံအောင် ဖြည့်စွက်ပြီးတော့ ပြောသွားမှာပေါ့နော်။ Nếu có những điều không có trong sách, sư sẽ bổ sung thêm cho đầy đủ nhé. [737] အဲ့တော့ ခုနက အရုဏ်ကိစ္စလေးကိုတော့ နောက်မှာ ဦးဇင်း နည်းနည်း ရှင်းဖို့ ရှိပါတယ်နော်။ Về vấn đề rạng đông (aruṇ) thì lát nữa sư sẽ giải thích thêm một chút nhé. [738] အဲ့တော့ ဒီနားလေးမှာ မှတ်ချက် ပြောချင်တာ အဲ့ဒီမှာ အရုဏ်ဆွမ်း ကပ်တဲ့ ဒကာ ဒကာမတွေ၊ Ở đây, điều sư muốn lưu ý là các nam nữ thí chủ cúng dường vật thực lúc rạng đông, [739] နောက်တစ်ခါ ဝါတွင်း ဆွမ်းလောင်းအသင်းတွေ နော်။ သတိထားစရာလေးတွေပေါ့။ Và cả các hội đặt bát trong mùa An cư (Vassa) nữa nhé. Có những điều cần phải cẩn trọng. [740] ဝါတွင်း ဆွမ်းလောင်းတဲ့ သူတွေက အရုဏ်မတက်ဘဲနဲ့ ဆွမ်းမလောင်းသင့်ဘူးပေါ့နော်။ Những người đặt bát trong mùa An cư không nên đặt bát khi trời chưa rạng đông nhé. [741] အရုဏ်မတက်ဘဲ တချို့ကလည်း ပြောတယ်ပေါ့။ အရှင်ဘုရား တပည့်တော်တို့က အရုဏ်မတက်ခင် လောင်းလိုက်ပေမယ့်လည်း တဲ့၊ Có người nói rằng: "Bạch ngài, dù chúng con đặt bát trước khi rạng đông, [742] အရုဏ်တက်ပြီးမှ စားတာလေ အရှင်ဘုရားလို့ ပြောကြတယ် တချို့က။ Nhưng sau khi rạng đông mới thọ dụng mà, bạch ngài", một số người nói như vậy. [743] အရုဏ်တက်ပြီးမှ စားတယ်ဆို အဲ့ဒါက အပြစ်မရှိသော်လည်းပဲ ဘာပြဿနာ ရှိသလဲဆိုတော့ အရုဏ်မတက်ခင် အကပ်ခံလိုက်တဲ့ ပြဿနာ။ Việc thọ dụng sau khi rạng đông thì dù không có tội, nhưng vấn đề nằm ở chỗ thọ nhận cúng dường trước khi rạng đông. [744] ဥပမာ ၆ နာရီ အရုဏ်တက်တယ်၊ ၅ နာရီခွဲ ဆွမ်းလောင်းတယ်၊ ဆွမ်းကပ်တယ်။ Ví dụ 6 giờ rạng đông, mà 5 giờ rưỡi đã đặt bát, cúng dường vật thực. [745] အဲ့အချိန် ၆ နာရီကျော်မှ ဆွမ်းစားတယ်ပေါ့။ အဲ့ဒါ ဘာဖြစ်သွားသလဲဆိုတော့ ပါဠိမှာ သန္နိဓိလို့ ခေါ်တယ်။ Đến sau 6 giờ mới thọ dụng vật thực đó. Việc đó trong Pāli gọi là sannidhi (tích trữ). [746] သိမ်းဆည်းထားတာ ဖြစ်သွားတယ်။ အေး သမီးသိမ်းဆည်းတာ ဖြစ်သွားတယ်။ Trở thành việc cất giữ rồi. Đúng vậy, trở thành việc cất giữ vật thực rồi. [747] အင်း ကိုယ်တိုင်အတွက်ပေါ့။ အင်း ဟုတ်တယ်။ ဟို ပရိဘောဂ မကူးသေးဘူးလေ။ Vâng, là cho bản thân mình. Đúng vậy. Vì vẫn chưa chuyển sang thọ dụng (paribhoga) mà. [748] ဒီပရိဘောဂ တစ်မိနစ်ပဲ ဖြစ်ဖြစ် နှစ်မိနစ်ပဲ ဖြစ်ဖြစ် အဲ့ဒါ သိမ်းထားတာပဲ သူက။ Dù là một phút hay hai phút thì đó vẫn là việc cất giữ. [749] အရုဏ်တက်ဖို့ ၅ မိနစ်ပဲ လိုတော့တယ်။ အဲ့အချိန်မှာ ကပ်လိုက်တယ်။ အရုဏ်တက်ပြီးမှ စားတယ်။ Chỉ còn 5 phút nữa là đến rạng đông. Thời điểm đó mà thọ nhận cúng dường, rồi sau rạng đông mới thọ dụng. [750] ဒါဆိုရင် သိမ်းထားတဲ့ ဥစ္စာ စားသလို ဖြစ်သွားတယ်နော်။ Như vậy thì giống như thọ dụng đồ đã cất giữ vậy nhé. [751] အဲ့ဒါကြောင့် ဦးဇင်းတို့ ဆွမ်းကပ်တဲ့ ဒကာ ဒကာမတွေက အရုဏ်မတက်ဘဲနဲ့ မကပ်ရဘူး။ Vì thế, các nam nữ thí chủ cúng dường vật thực không được cúng khi trời chưa rạng đông. [752] အရုဏ်မတက်ဘဲနဲ့ ဆွမ်းမလောင်းရဘူး။ ဆွမ်းမဆွဲရဘူး။ Khi trời chưa rạng đông thì không được đặt bát, không được dâng vật thực. [753] ဒီအချက်လေး တစ်ခုကြောင့် သံဃာတော်တွေ အာပတ်မသင့်စေရဘူးနော်။ Chỉ vì điểm nhỏ này mà chư Tăng không bị phạm tội (āpatti) đâu nhé. [754] ဒါ မြန်မာတစ်နိုင်ငံလုံးနဲ့ ဆိုင်တယ်။ အရုဏ်ဆွမ်းလောင်းတဲ့ အသင်းတွေ အရုဏ်မတက်ခင် မလောင်းသင့်ဘူး။ Điều này liên quan đến toàn thể đất nước Myanmar. Những nhóm cúng dường vật thực (dāna) lúc rạng đông không nên cúng dường trước khi mặt trời mọc. [755] ဥပမာပေါ့နော်။ နံနက်ပိုင်းသုံး ပစ္စည်းကို နံနက်ပိုင်း၌ အကပ်ခံလျှင်၊ Ví dụ nhé, nếu vật dụng dùng cho buổi sáng được thọ lãnh vào buổi sáng, [756] ထိုအကပ်ခံသည့် နံနက်အချိန်၌သာ သုံးဆောင်ခွင့် ရှိသည် တဲ့ နော်။ Thì chỉ có quyền sử dụng trong khoảng thời gian buổi sáng đó thôi nhé. [757] ခုနက ဆွမ်းတို့ ဘာတို့ ကို မနက်မှ အကပ်ခံ မနက်ပိုင်းပဲ သုံး။ Như vật thực (dāna) vừa rồi, nếu thọ lãnh vào buổi sáng thì chỉ dùng vào buổi sáng thôi. [758] အကပ်ခံပြီး ရှင်သာမဏေ ကျောင်းသားတို့အား မစွန့်ဘဲ နောက်တစ်နေ့ နံနက် ရောက်မှ သုံးဆောင်လျှင် အပြစ်ရောက်တော့သည် နော်။ Sau khi thọ lãnh mà không xả (cấp-pi) cho các Sa-di hay học sinh trong chùa, mà đợi đến sáng ngày hôm sau mới dùng thì sẽ phạm tội đấy nhé. [759] ဒါကြောင့် ဦးဇင်းတို့ စွန့်ရမယ်။ စွန့်လိုက်လို့ရှိရင်တော့ ဒါ ကိုရင်ဥစ္စာ ကပ္ပိယဥစ္စာ ဖြစ်သွားပြီ။ Vì vậy, quý sư phải xả. Nếu xả rồi thì đó trở thành tài sản của Sa-di hoặc người hộ Tăng (kappiya) rồi. [760] ဤနည်းအားဖြင့် စားသောက်ဖွယ် ပစ္စည်းများကို သက်ဆိုင်ရာ အချိန်ပိုင်း လွန်အောင် ထား၍ သုံးဆောင်လျှင် အာပတ် အပြစ်သင့်စေသည်။ Theo cách này, nếu giữ các vật thực quá thời gian quy định rồi mới dùng thì sẽ bị phạm tội āpatti. [761] အဲ့တော့ မနက်သုံးကို မနက်မှာပဲ အကပ်ခံပြီး မနက်ပိုင်းပဲ သုံး၊ နောက်နေ့ မထားနဲ့။ Vậy nên, vật dùng buổi sáng thì thọ lãnh buổi sáng và dùng trong buổi sáng thôi, đừng để sang ngày sau. [762] တစ်ရက်တည်း သုံးရမယ့် အဖျော်ယမကာကိုလည်း တစ်ရက်ပဲ သုံး၊ နောက်နေ့ မထားနဲ့။ Các loại nước giải khát (yāmakālika) chỉ được dùng trong một ngày thì cũng chỉ dùng một ngày thôi, đừng để sang ngày sau. [763] အဲ့တော့ ခုနက အဖျော်ယမကာ ပုလင်းတွေပေါ့၊ ဥပမာ ချက်ဘူးတွေ ဘာတွေ ဟုတ်လား။ Ví dụ như những chai nước giải khát đó, chẳng hạn như chai Sprite hay gì đó, đúng không? [764] ချက်ဘူးတွေ ဆိုလို့ရှိရင်ကော အဲ့ဒါ ဘယ်နှစ်ရက်သုံးထဲမှာ ထည့်မလဲလို့ မေးတယ်။ Có người hỏi rằng những chai nước đó thì được xếp vào loại dùng trong mấy ngày? [765] ချက်ဘူး ဘယ်နှစ်ရက်သုံး ဘယ်နှစ်ရက်ခံလဲ ချက်ဘူးက တဲ့။ အဲ့လို ပြောတယ်။ Họ hỏi rằng chai đó dùng được mấy ngày, để được bao lâu? Họ nói như vậy. [766] Sprite တို့ ဘာတို့ ဘယ်နှစ်ရက်ခံလဲ တဲ့။ သကြားပါရင် သကြားရည်ပဲ။ Như Sprite hay các loại tương tự thì để được mấy ngày? Nếu có đường thì đó là nước đường. [767] အဲ့တော့ ချက်က သကြားရည်ပဲ တကယ်တော့။ Sprite ဆိုတာ သကြားရည်ပဲ။ Thực ra, các loại đó chỉ là nước đường thôi. Sprite chính là nước đường. [768] သကြားရည် ဆိုလို့ရှိရင် ခုနစ်ရက်သုံးထဲမှာ ပါသွားတယ်။ Nếu là nước đường thì nó thuộc vào nhóm vật thực hạn kỳ bảy ngày (sattāhakālika). [769] အဲ့ဒါကြောင့် Sprite ဘူးကို ရဟန်းတစ်ပါးသည် အကပ်ခံထားပြီးရင် ခုနစ်ရက်တိတိ သိမ်းထားခွင့်ရှိတယ်။ Vì vậy, một vị Tỳ-khưu sau khi thọ lãnh chai Sprite thì có quyền cất giữ trong đúng bảy ngày. [770] အပြစ်မပြောနဲ့ အဲ့ဒါ လာပြီးတော့။ သွားပြီးတော့ ဟာ ဒီဘုန်းကြီး အဖျော်ယမကာဘူးတွေ သိမ်းထားတယ် သွားအပြစ်မပြောနဲ့ နော်။ Đừng có chỉ trích việc đó nhé. Đừng có đi nói rằng "Vị sư này cất giữ những chai nước giải khát", đừng có chỉ trích như vậy nhé. [771] တစ်ခါတလေ ဝိနည်းမသိတော့လည်း ပြစ်မှားမိတတ်တယ် နော်။ Đôi khi vì không biết Luật Tạng (Vinaya) nên dễ nảy sinh tâm xúc phạm đấy nhé. [772] အဲ့ဒါ ဝိနည်းသိသွားတော့ ကူညီလို့လည်း ရတယ်၊ အပြစ်လည်း မပြစ်မှားတော့ဘူး။ ပိုကောင်းသွားတာပေါ့ နော်။ Khi đã hiểu Luật (Vinaya) rồi thì có thể hỗ trợ, và cũng không còn xúc phạm nữa. Như vậy sẽ tốt hơn nhiều, đúng không? [773] အဲ့ဒါမျိုး။ နောက် သကြားဖျော်ရည်ဆိုရင် ခုနစ်ရက် ထားလို့ရတာပေါ့။ Là như vậy đó. Hơn nữa, nếu là nước đường thì có thể để được bảy ngày. [774] ဤနည်းအားဖြင့် နော် ဦးဇင်းတို့ ခုနက စားသောက်ဖွယ် ပစ္စည်းများကို သက်ဆိုင်ရာ အချိန်ပိုင်း လွန်အောင် ထား၍ သုံးဆောင်လျှင် အာပတ်သင့်တော့သည်။ Theo cách này nhé, như quý sư đã biết, nếu giữ các vật thực quá thời gian quy định rồi mới dùng thì sẽ phạm tội āpatti. [775] သို့ဖြစ်ရာ အလှူရှင်တို့သည် မိမိလှူမည့် စားသောက်ဖွယ် ပစ္စည်းများကို အချိန်ပိုင်းအားဖြင့် ခွဲခြားသိပြီးမှ Do đó, các thí chủ trước khi cúng dường vật thực cần phân biệt rõ thời gian sử dụng của chúng, [776] ရဟန်းတော်များ သုံးဆောင်ကောင်းသည့် အချိန်ကို ကြည့်၍ ကပ်လှူသင့်ပေသည် နော်။ Rồi xem xét thời gian mà chư Tăng có thể sử dụng được để cúng dường cho phù hợp nhé. [777] ဒါကြောင့် ကိုယ်ကပ်မယ့် ပစ္စည်းကို နည်းနည်း နားလည်သင့်တာ။ ငါလှူမယ့် ဒီနေ့လှူမယ့် ပစ္စည်းထဲမှာ ဘာပစ္စည်းတွေ ပါသလဲ ကိုယ့်ဘာသာကိုယ် ကြည့်ပေါ့။ Vì vậy, mình nên hiểu một chút về món đồ mình sắp cúng. Tự mình xem xem trong những món đồ cúng dường hôm nay có những loại nào. [778] တစ်သက်လုံး သုံးလို့ရတဲ့ ပစ္စည်းဆို တစ်ခါတည်း ဖွင့်ပြီး ကပ်လိုက်လို့ ရတယ်။ Nếu là loại vật thực hạn kỳ trọn đời (yāvajīvika) thì có thể mở ra cúng dường ngay. [779] အကယ်၍ ရေရှည်သုံးရမယ့် ပစ္စည်းတွေ ဥပမာ မုန့်ဘူးတွေ ပါလာမယ်၊ ဒီတစ်ရက်တည်း ဘုန်းကြီး မကုန်ဘူးလေ။ Nếu là những món cần dùng lâu dài, ví dụ như các hộp bánh, mà vị sư không thể dùng hết trong một ngày. [780] တစ်ရက်တည်း မကုန်ရင် ရေရှည်စားရမယ့် ဥစ္စာဆိုရင်တော့ မကပ်ဘဲနဲ့ ဖယ်ထားပေးလိုက်၊ ဘေးမှာ ဖယ်ထားပေးလိုက်။ Nếu không dùng hết trong một ngày, đối với những món cần ăn lâu dài như vậy thì đừng cúng dường trực tiếp (thọ lãnh), mà hãy để riêng ra một bên. [781] ကပ္ပိယ လာယူလိမ့်မယ်၊ ကိုရင်တွေ လာသိမ်းထားပေးလိမ့်မယ် ပေါ့နော်။ Người hộ Tăng (kappiya) sẽ đến lấy, hoặc các Sa-di sẽ đến cất giữ giúp nhé. [782] ကိုရင်လည်း သိမ်းထားလို့ ရတာကိုး။ ရဟန်းသာ သိမ်းထားလို့ မရတာ၊ ကိုရင်က သိမ်းထားလို့ ရတယ်။ Vì Sa-di cũng có thể cất giữ được mà. Chỉ có Tỳ-khưu là không được phép cất giữ (quá thời hạn), còn Sa-di thì có thể cất giữ được. [783] အဲ့ဒါကြောင့် ကိုယ့်ဘာသာကိုယ် ခွဲပေါ့ နော်။ Vì vậy, hãy tự mình phân chia ra nhé. [784] အရှင်ဘုရား ဒါကတော့ မုန့်ဘူးပါဘုရား၊ ဒါကတော့ ဆေးပါဘုရား ဆိုပြီး ခွဲကပ်ပေါ့ နော်။ Hãy phân chia khi dâng cúng, thưa rằng: "Bạch ngài, đây là hộp bánh; bạch ngài, đây là thuốc nhuận" nhé. [785] မုန့်ဆိုလို့ရှိရင် ဘေးဖယ်ထားလိုက်၊ ဆေးတွေဆိုရင် ကပ်။ အဲ့ဒါမျိုးပေါ့။ Nếu là bánh thì hãy để riêng ra, nếu là thuốc thì hãy dâng cúng. Kiểu như vậy đấy. [786] အဲ့တော့ လူတွေက ခွဲခြားသိထားဖို့ လိုတယ်။ Do đó, mọi người cần phải biết phân biệt rõ ràng. [787] ကပ်လို့လည်း မရဘူး၊ ကပ်လို့လည်း မရဘူး။ Không thể dâng cúng chung, không thể dâng cúng như vậy được. [788] ဒီတော့ မကပ်တော့ဘဲနဲ့ ဆရာတော့်ဘေးနားမှာ ချထားခဲ့ရင် ချထားခဲ့၊ ဒါမှမဟုတ် ကပ္ပိယတွေဆီမှာ အပ်လိုက်ပေါ့။ Vì thế, thay vì dâng cúng, nếu muốn để bên cạnh Thiền sư thì cứ để, hoặc là gửi gắm cho các kappiya (người hộ Tăng). [789] မနက်ကျမှ ဆရာတော့်ကို ကပ်ပေးပါ၊ ကိုရင်ကို အပ်ထားခဲ့လိုက်နော်၊ ဆရာတော့်ကို မနက်ကပ်ပေးပါလို့ ပြောလိုက်ရင် ပြီးတာပဲပေါ့။ Chỉ cần nói: "Sáng mai xin hãy dâng lên Thiền sư giúp con, con xin gửi lại cho chú tiểu nhé, sáng mai nhờ chú dâng lên ngài" là xong thôi mà. [790] အဲ့ဒါ ကိုယ်က သိရမှာပေါ့နော်၊ ဒကာ ဒကာမတွေက သိရမှာ။ Điều đó bản thân mình phải biết chứ, các nam nữ thí chủ cần phải biết điều này. [791] ဥပမာ နံနက်ပိုင်းသုံးဖြစ်သော ကိတ်မုန့်ကို ယနေ့နံနက် ဆွမ်းပေးရန်အတွက် ဖြစ်လျှင် ယနေ့နံနက်၌ပင် ကပ်ရမည်။ Ví dụ, nếu là bánh ngọt dùng cho buổi sáng, định để cúng dường vật thực sáng nay thì phải dâng cúng ngay trong sáng nay. [792] နောက်နေ့နံနက်၌ ဆွမ်းပေးရန်အတွက် ဖြစ်လျှင် ယနေ့မကပ်ရဘူး။ Nếu định để cúng dường vật thực cho sáng ngày mai thì hôm nay không được dâng cúng. [793] နောက်နေ့ စားစေချင်ရင် နောက်နေ့အတွက်ကို ချန်ထားလိုက်။ Nếu muốn để dành cho ngày mai ăn thì hãy giữ lại cho ngày mai. [794] ရဟန်းတော်များအား လှူဒါန်းပြီး ကိုရင်၊ ကျောင်းသား၊ ကပ္ပိယတို့ကို ခေါ်ကာ နောက်တစ်နေ့နံနက် ရောက်မှ ကပ်ပါဦး အပ်နှံထားရမည်ပေါ့နော်။ Sau khi cúng dường đến chư Tăng, phải gọi chú tiểu, học trò hoặc kappiya đến và gửi gắm rằng: "Đợi đến sáng mai mới được dâng cúng" nhé. [795] အဲ့ဒါ... Cái đó... [796] ယနေ့နံနက် အကပ်ခံသည့် ကိတ်မုန့်ကို ယနေ့မွန်းလွဲ နေလယ် ဆွမ်းပေးလျှင် သိုမှီးခြင်းကြောင့် အာပတ်အပြစ်တစ်ချက်။ Nếu bánh ngọt đã được thọ nhận (kappiya) vào sáng nay mà lại đem cúng dường vào buổi chiều hoặc trưa nay, thì do việc tích trữ (thủ tàng) mà phạm một tội Pācittiya. [797] မွန်းလွဲစားခြင်းကြောင့် အာပတ်အပြစ်တစ်ချက်၊ နှစ်ချက်သင့်တယ်နော်။ Do ăn vào buổi chiều (phi thời) nên phạm thêm một tội nữa, tổng cộng là phạm hai tội đấy nhé. [798] သူက ဒီမုန့်တွေက သူက မွန်းလွဲတာနဲ့ မရတော့ဘူး။ Những loại bánh này, hễ quá trưa là không còn được phép dùng nữa. [799] အဲ့တော့ သိမ်းထားသလို ဖြစ်သွားပြီလေ။ အဲ့တော့ သိမ်းထားတဲ့အတွက်ကြောင့် ဒါ အပြစ်က တစ်ချက် ဖြစ်သွားပြီ။ Khi đó, nó trở thành vật được cất giữ rồi. Vì vậy, do việc cất giữ đó mà đã phạm một tội. [800] နောက်တစ်ခါ နေလွဲသောကြောင့် စားတာက အပြစ်တစ်ချက်။ အဲ့တော့ သိမ်းထားတဲ့အပြစ်က တစ်ချက်၊ စားတဲ့အပြစ်က တစ်ချက်၊ အပြစ်နှစ်ချက် သင့်တယ်။ Tiếp theo, vì ăn sau khi mặt trời quá trưa nên phạm thêm một tội nữa. Như vậy, tội do cất giữ là một, tội do ăn là một, phạm hai tội. [801] အဲ့ဒါကြောင့် ဦးဇင်းတို့ ၁၂ နာရီမထိုးခင် အစားအစာတွေကို စွန့်ရမှာ။ Vì lý do đó, quý sư phải xả bỏ các loại vật thực trước khi đồng hồ điểm 12 giờ. [802] ထားလို့မရဘူး၊ ထားတာနဲ့ မစားစား မစားစား အာပတ်သင့်သွားပြီ။ Không được phép giữ lại, hễ giữ lại là dù có ăn hay không cũng đã phạm tội rồi. [803] ခုနက အရုဏ်ဆွမ်းလောင်းတာ အဲ့ဒါပဲ။ အရုဏ်ဆွမ်းလောင်းတာ မစားရင်လည်း သူက ကပ်ခံလိုက်တာနဲ့ကို အပြစ်သင့်သွားပြီ။ Việc đặt bát cúng dường vật thực lúc rạng đông cũng vậy. Cúng dường vật thực lúc rạng đông, dù không ăn, nhưng hễ đã được thọ nhận thì đã phạm tội rồi. [804] ဤနည်းတူပင် တစ်ရက်သုံး၊ ခုနစ်ရက်သုံး ပစ္စည်းများကိုလည်း သတ်မှတ်ချိန်လွန်ပြီးမှ မစားသင့်သည်ကို သိရပါမည်။ Tương tự như vậy, cũng cần biết rằng các vật dụng dùng trong một ngày (yāvakālika), dùng trong bảy ngày (sattāhakālika) thì không nên dùng sau khi đã quá thời gian quy định. [805] တစ်သက်လုံးပစ္စည်းကိုမူကား အကပ်ခံပြီး တစ်သက်လုံး သုံးဆောင်နိုင်သည်၊ အချိန်လွန်သည်ဟူ၍ မရှိပါ။ Còn đối với vật dụng dùng trọn đời (yāvajīvika), sau khi thọ nhận thì có thể sử dụng suốt đời, không có giới hạn về thời gian. [806] သို့ဖြစ်၍ အလှူရှင်များသည် မိမိတို့ ဆက်ကပ်လှူဒါန်းမည့် ပစ္စည်းကိုကြည့်၍ လှူဒါန်းမည့်ပစ္စည်း၏ ကပ်နိုင်၊ ထားနိုင်သည့်အချိန်ကို နားလည်ဆက်ကပ်လှူဒါန်းနိုင်ရန် သတိထားဖို့ လိုအပ်လှပါသည်။ Do đó, các thí chủ khi nhìn vào phẩm vật mình sắp dâng cúng, cần lưu ý tìm hiểu thời gian có thể dâng cúng và thời gian có thể lưu giữ của phẩm vật đó để việc cúng dường được đúng phép. [807] ဦးဇင်းတို့ အဲ့ဒါကြောင့် ကပ်တဲ့အခါမှာ ကိုယ့်ပစ္စည်း ကိုယ်ကပ်မယ့်ပစ္စည်းကို ကိုယ့်ဘာသာ ခွဲခြားပြီးတော့ ချောက်ထားပြီးတော့ ကပ်ကြပေါ့နော်။ Vì vậy, khi dâng cúng, quý sư khuyên hãy tự mình phân loại phẩm vật, sắp xếp riêng ra rồi hãy dâng cúng nhé.