1 00:00:15,900 --> 00:00:20,645 Nào, quý sư, trong Chương 1 về việc khi dâng cúng vật thực 2 00:00:20,671 --> 00:00:24,722 những hình thức cần phải tuân theo chúng ta đã nói lúc nãy rồi. 3 00:00:24,748 --> 00:00:29,580 Bây giờ là Chương 2 nhé, trang 16 đấy, Chương 2. 4 00:00:29,606 --> 00:00:33,570 Nếu mọi người đều có sách thì hãy tự mình đọc lại ở nhà nhé. 5 00:00:33,596 --> 00:00:37,648 Rồi nếu ở đó có những điều gì nảy sinh ý tưởng hay thắc mắc 6 00:00:37,674 --> 00:00:42,419 thì vào những ngày sau, ngày sau nữa có thể hỏi lại. 7 00:00:42,446 --> 00:00:46,410 Đừng nghĩ rằng đã xong rồi thì không được hỏi nữa nhé. 8 00:00:46,436 --> 00:00:51,267 Hãy tự mình đọc lại các chương đã qua 9 00:00:51,293 --> 00:00:55,258 và nếu có chỗ nào không rõ hoặc có ý tưởng gì nảy sinh thì hãy ghi lại rồi hỏi nhé. 10 00:00:55,284 --> 00:00:59,336 Những người khác cũng sẽ nhờ vào quý vị mà tăng trưởng thêm kiến thức vậy. 11 00:00:59,362 --> 00:01:04,194 Trong Chương 2, quý sư sẽ học về các loại liên quan theo thời gian 12 00:01:04,220 --> 00:01:08,183 gồm vật thực, đồ uống và các loại dược phẩm. 13 00:01:08,209 --> 00:01:13,042 Điều này cũng cực kỳ quan trọng đấy nhé. Các thí chủ 14 00:01:13,068 --> 00:01:17,033 vì không am hiểu nên làm cho các bậc đại trưởng lão phải phạm tội (āpatti), các ngài phải phạm tội. 15 00:01:17,059 --> 00:01:21,110 Những loại dinh dưỡng được phép thọ dụng trong khoảng thời gian trước khi mặt trời đứng bóng (trước giờ Ngọ), 16 00:01:21,136 --> 00:01:25,967 trong Pāli gọi cái đó là Yāvakālika. 17 00:01:25,993 --> 00:01:29,958 Từ lúc rạng đông cho đến, nếu nói theo giờ giấc hiện đại thì đại khái là 12 giờ trưa vậy. 18 00:01:29,984 --> 00:01:34,035 Thật ra, thời điểm mặt trời quá trưa thì quý sư xác định bằng mặt trời. 19 00:01:34,061 --> 00:01:38,894 Thời đại ngày nay vì đã có điện thoại, có các ứng dụng rồi nên 20 00:01:38,920 --> 00:01:42,883 thời điểm rạng đông, lúc mặt trời lặn, mặt trời mọc, mặt trời quá trưa, quý sư chúng ta đã có thể xem một cách hệ thống rồi. 21 00:01:42,909 --> 00:01:47,742 Do đó, đại khái xác định là 12 giờ. 22 00:01:47,768 --> 00:01:51,733 Vậy nên, từ lúc rạng đông buổi sáng cho đến trong vòng 12 giờ trưa, 23 00:01:51,759 --> 00:01:55,810 những loại thức ăn dinh dưỡng mà được thọ dụng 24 00:01:55,836 --> 00:01:57,373 trong ngôn ngữ Pāli gọi là Yāvakālika đấy nhé. 25 00:01:57,399 --> 00:01:59,670 Trong Giáo Pháp có bốn loại Kālika. Đây là loại số 1, loại Yāvakālika. 26 00:01:59,700 --> 00:02:04,639 Thế nên, nó là "aruṇ" (rạng đông) chứ không phải "āruṇ" đâu nhé, nó không có dấu phụ họa "ā", gọi là thời điểm rạng đông. 27 00:02:04,669 --> 00:02:08,887 Ở dưới có viết đấy, dành cho chư Tăng là kể từ thời điểm rạng đông nhé. 28 00:02:08,917 --> 00:02:14,851 Rất nhiều người Myanmar đã quen miệng gọi là "āruṇ", "āruṇ", khi dâng cúng vật thực cũng gọi là "āruṇ-swam" (vật thực rạng đông). 29 00:02:14,881 --> 00:02:19,911 Không phải "āruṇ-swam" đâu nhé, gọi là "aruṇ-swam", chữ "a" không có dấu phụ họa "ā". 30 00:02:19,941 --> 00:02:25,423 Cái đó là do quen miệng nên bị sai đấy nhé, vì trong Pāli nó xuất phát từ chữ "aruṇa" mà. 31 00:02:25,453 --> 00:02:29,670 Từ "Aruṇa" khi thêm dấu sát (သတ်) vào chữ "ṇa" (ဏ) thì trở thành "Aruṇ" (Bình minh). 32 00:02:29,700 --> 00:02:36,267 Từ "Aruṇ" này là từ biến âm từ Pāli nhé, nó là từ ngữ được truyền thừa từ tiếng Pāli "Aruṇa" mà thành "Aruṇ". 33 00:02:36,297 --> 00:02:43,767 Về vấn đề bình minh này, ở phần sau cũng có một chương riêng, lát nữa ở phần sau tôi sẽ giảng giải riêng về bình minh. 34 00:02:43,797 --> 00:02:50,725 Vậy thì, những loại vật thực có thể thọ dụng được từ lúc bình minh cho đến đúng giữa trưa là, 35 00:02:50,755 --> 00:02:55,875 Được gọi là vật thực dùng cho buổi sáng, tức là Yāvakālika (vật thực hạn kỳ đến trưa) nhé. 36 00:02:55,905 --> 00:03:01,568 Khi dịch sang tiếng Miến thì người ta dịch Yāvakālika là vật thực dùng cho buổi sáng. 37 00:03:01,598 --> 00:03:07,623 Những loại Yāvakālika dùng cho buổi sáng này là gì? Đó là cơm, các loại cơm nhé. 38 00:03:07,653 --> 00:03:16,298 Tiếp theo là gạo, các loại bánh làm từ gạo; rồi đến đại mạch (muyaw), trong kinh điển gọi là như vậy, còn ngày nay gọi là lúa mì đấy. 39 00:03:16,328 --> 00:03:21,177 Các loại bánh làm từ lúa mì như bánh ngọt, bánh mì chẳng hạn. 40 00:03:21,207 --> 00:03:26,870 Đây là các loại đồ ăn thức uống được làm từ cá, và thứ năm là thịt. 41 00:03:26,900 --> 00:03:35,274 Các loại vật thực làm từ thịt nhé; gồm có cơm, gạo, lúa mì, cá, thịt, đó là các loại đồ ăn khác nhau. 42 00:03:35,304 --> 00:03:42,864 Rồi trong các loại đồ ăn đặc (khādanīya) và đồ ăn mềm (bhojanīya) đó, còn có cả sữa bò, trà và các loại đồ uống khác nữa nhé. 43 00:03:42,894 --> 00:03:53,075 Tóm lại, tất cả những gì là vật thực để ăn, nếu nói theo tiếng Pāli thì quý sư gọi là Yāvakālika, còn tiếng Miến gọi là vật thực dùng cho buổi sáng. 44 00:03:53,105 --> 00:03:56,672 Cần phải giải thích rộng thêm một chút nhé, nếu nói theo cách xưa thì là các loại ngũ cốc và 45 00:03:56,702 --> 00:03:59,370 Các loại ngũ cốc và các loại đậu, 46 00:03:59,400 --> 00:04:03,257 Những thứ đó được chiên, rang, nấu nướng, nướng, quay hoặc hấp 47 00:04:03,287 --> 00:04:05,725 Để làm thành tất cả các loại đồ ăn nhé. 48 00:04:05,755 --> 00:04:08,641 Những đồ ăn được làm từ các loại ngũ cốc và các loại đậu, 49 00:04:08,671 --> 00:04:11,931 Những thứ đó chính là Yāvakālika (vật thực hạn kỳ đến trưa) dùng cho buổi sáng nhé. 50 00:04:11,961 --> 00:04:18,435 Tiếp nữa là các loại bánh ngọt, các loại bánh quy, bánh sữa, Horlicks, Ovaltine, Milo, sữa đặc nhé. 51 00:04:18,465 --> 00:04:23,445 Rồi các loại mứt, các thực phẩm đóng hộp mà không phải là cơm canh hay bánh, 52 00:04:23,475 --> 00:04:27,632 Hoặc không phải là thuốc mà được dùng làm đồ ăn vặt như các loại rễ cây, củ, 53 00:04:27,662 --> 00:04:31,894 Thân cây, vỏ cây, lá, chồi, nụ, hoa, quả, 54 00:04:31,924 --> 00:04:34,660 Rồi các loại hạt nhé, như là hạt điều chẳng hạn. 55 00:04:34,690 --> 00:04:38,847 Cả những loại đồ ăn dạng bột cũng vậy, chúng chỉ được thọ dụng vào buổi sáng trước giờ giữa trưa, 56 00:04:38,877 --> 00:04:43,109 Đó là những loại Yāvakālika, những vật thực hay đồ ăn đặc có thể thọ dụng được (vào buổi sáng) nhé. 57 00:04:43,139 --> 00:04:46,623 Vậy nên, những thứ đó là những đồ ăn chỉ được dùng vào buổi sáng, 58 00:04:46,653 --> 00:04:48,342 Buổi chiều là không được dùng đâu nhé. 59 00:04:48,372 --> 00:04:52,305 Bởi vì quý sư đã nói về các loại đậu, nên hãy thử suy xét xem các loại sữa đậu ngày nay, 60 00:04:52,335 --> 00:04:54,847 Nếu hỏi rằng buổi chiều có uống sữa đậu được không, thì quý vị sẽ trả lời thế nào? 61 00:04:54,877 --> 00:04:58,810 Không được nhé. Vậy nên nếu nói về Kālika thì nó thuộc về loại Kālika nào đấy? 62 00:04:58,840 --> 00:05:03,072 Nó thuộc về Yāvakālika (vật thực dùng đến trưa). Nếu nói theo tiếng Myanmar thì đó là loại thực phẩm nào? Đó là vật thực dùng buổi sáng, 63 00:05:03,102 --> 00:05:06,287 Vật thực dùng buổi sáng nhé, vật thực dùng buổi sáng. 64 00:05:06,317 --> 00:05:09,801 Có một số người hỏi về vấn đề này rất nhiều, ở một số thiền viện, tôi cũng có 65 00:05:09,831 --> 00:05:14,736 Nghe nói rằng người ta cho những người thọ Uposatha uống sữa đậu nành. Chuyện đó không đúng đâu, không nên như vậy nhé. 66 00:05:14,766 --> 00:05:17,278 Việc thọ trì Ngũ giới thì không có vấn đề gì cả. 67 00:05:17,308 --> 00:05:21,988 Vì Ngũ giới không có điều học Vikālabhojanā (không ăn phi thời) nên buổi chiều uống sữa đậu nành hay các thứ tương tự thì được. 68 00:05:22,018 --> 00:05:25,951 Vậy nên không phải là người giữ Ngũ giới, mà là các hành giả đang thọ trì Uposatha (Bát quan trai giới), 69 00:05:25,981 --> 00:05:29,240 Hay chư Tăng thì phải giữ giới Vikālabhojanā. 70 00:05:29,270 --> 00:05:32,456 Vì thế trong giới Vikālabhojanā, như các loại đậu mà tôi vừa nói, 71 00:05:32,486 --> 00:05:38,661 Sau 12 giờ trưa thì không ăn nữa, nên các loại nước làm từ đậu chúng ta cũng không được uống, không được uống sữa đậu nành. 72 00:05:38,691 --> 00:05:42,175 Lát nữa sẽ có phần về đồ uống (nước giải khát) nhé. Sẽ có chương về đồ uống. 73 00:05:42,205 --> 00:05:46,437 Sẵn đây tôi cũng nói luôn về các loại như bột tôm khô ngày nay chẳng hạn. 74 00:05:46,467 --> 00:05:51,147 Vâng, các loại bột khô như vậy thì buổi chiều không được uống đâu. Nó nằm trong giới Vikālabhojanā. 75 00:05:51,177 --> 00:05:55,409 Tiếp theo, tôi xin nói về vấn đề tổ yến ngày nay. 76 00:05:55,439 --> 00:05:56,909 Về tổ yến này thì có hai loại. Có loại giả và cũng có loại thật. 77 00:05:56,939 --> 00:05:59,070 Ở Thái Lan, có một số loại tổ yến... 78 00:05:59,100 --> 00:06:03,784 Họ sản xuất tổ yến giả, có những loại làm giả từ nhựa (resin) hay sợi thực vật thì có. 79 00:06:03,814 --> 00:06:07,813 Những loại đó thì buổi chiều có thể uống được, không có vấn đề gì. 80 00:06:07,843 --> 00:06:13,470 Còn về vấn đề tổ yến thật, trước đây tôi có sự hoài nghi nên đã không trực tiếp quyết định. 81 00:06:13,500 --> 00:06:19,127 Rằng loại tổ yến thật này vào buổi chiều, sau khi quá trưa thì có thể uống được hay không. 82 00:06:19,157 --> 00:06:24,870 Dù nói là thuốc hay thuốc bổ, nhưng liệu nó có nằm trong phần vật thực (āhāra) hay không, khi cân nhắc về tổ yến này. 83 00:06:24,900 --> 00:06:30,356 Vì tôi có sự hoài nghi nên bản thân không uống, và cũng không khuyến khích người khác uống. 84 00:06:30,386 --> 00:06:36,099 Nhưng tôi cũng không dám nói là không hợp pháp (akappiya). Đó là vấn đề vì tôi chưa biết chính xác tổ yến là cái gì. 85 00:06:36,129 --> 00:06:44,328 Sau đó, vì có sự hoài nghi nên tôi đã hỏi một bà thí chủ, bà ấy đã mang tổ yến đến, là tổ yến khô, bà ấy mang phần chim yến nhả ra đến. 86 00:06:44,358 --> 00:06:51,785 Bà ấy mang loại khô đó đến và chỉ cho xem: "Bạch ngài, tổ yến là cái này đây", và bà ấy mang phần nguyên bản, phần yến nhả ra đó đến cho xem. 87 00:06:51,815 --> 00:06:57,528 Khi nhìn xem phần nhả ra đó là gì, thì thấy bản chất nó giống như nước bọt hay đờm của nó vậy. 88 00:06:57,558 --> 00:07:04,042 Ban đầu tôi nghi ngờ là: cái phần nhả ra đó có giống như thức ăn mà con người nôn ra hay không, đó là điều tôi hoài nghi. 89 00:07:04,072 --> 00:07:09,700 Với chư Tăng hay người thọ Uposatha thì những gì đã nôn ra thì không được nuốt lại, tức là phần bã nôn ấy. 90 00:07:09,730 --> 00:07:15,442 Đôi khi bị nôn và trào ra miệng, như miếng thịt hay thứ gì đó, hay hạt cơm trào ra. 91 00:07:15,472 --> 00:07:20,928 Một khi đã vào trong miệng rồi thì phải nhổ ra, không được nuốt xuống; nếu nuốt xuống thì sẽ phạm tội. 92 00:07:20,958 --> 00:07:26,671 Nếu nuốt xuống thì trở thành vật thực phi thời (Vikāla-bhojana), những gì tiết ra không được nuốt vào. Vì vậy, quý sư đã từng hiểu nhầm về khái niệm "yến sào" (nước yến) là như vậy. 93 00:07:26,701 --> 00:07:32,329 Cứ ngỡ rằng "yến sào" là do chim nôn thức ăn của nó ra, quý sư đã quan niệm như thế. 94 00:07:32,359 --> 00:07:38,072 Nhưng khi xem xét kỹ, đó không phải là thức ăn nó nôn ra, mà thực chất là tính chất của nước bọt và đờm dãi. 95 00:07:38,102 --> 00:07:43,814 Đây là phát hiện của quý sư nhé. Vậy nên khi quan sát "yến sào", ta thấy nó có tính chất như các mảng đờm dãi. 96 00:07:43,844 --> 00:07:49,472 Nó không phải là nôn lại thức ăn của mình. Nếu quý sư thấy nó nôn lại thức ăn, thì thức ăn đó là không hợp lẽ (akappiya). 97 00:07:49,502 --> 00:07:55,215 Vì khi đó nó đã trở thành một loại thực phẩm. Nếu nó không nôn thức ăn, mà chỉ nôn ra đờm dãi hay nước bọt của nó, giống như việc tiết ra rồi nôn ra vậy. 98 00:07:55,245 --> 00:07:56,715 Trong trường hợp đó, yến sào (nước yến) có tính chất như là đờm dãi. 99 00:07:56,745 --> 00:07:58,770 Nếu có tính chất như đờm dãi thì điều này được phép (kappiya) dùng làm thuốc. 100 00:07:58,800 --> 00:08:01,270 Vì vậy, chúng ta có thể đưa nó vào trong danh mục thuốc men. 101 00:08:01,300 --> 00:08:04,970 Như quý sư đã nói lúc nãy, đờm dãi hay mồ hôi đều có thể đưa vào làm thuốc. 102 00:08:05,000 --> 00:08:12,270 Do đó, để giải tỏa cơn đói khát, nếu nó thực sự có tính chất như đờm dãi thì quý sư quyết định rằng có thể uống được vào buổi chiều nhé. 103 00:08:12,300 --> 00:08:16,969 Còn nếu là loại nôn lại thức ăn thì không được phép dùng để giải quyết cơn đói. Ở đây, nó không phải là thức ăn. 104 00:08:16,999 --> 00:08:18,270 Chính vì lý do đó. 105 00:08:18,300 --> 00:08:19,969 Bây giờ, chúng ta tiếp tục nhé. 106 00:08:19,999 --> 00:08:25,270 Đây là những thứ mà chúng ta phải thọ nhận và ăn vào buổi sáng. 107 00:08:25,300 --> 00:08:31,970 Còn về sữa chua pha và sữa đậu nành thì buổi chiều tuyệt đối không được dùng. Tuy nhiên, trong tình trạng đói khát thì có thể xem xét uống được vào buổi tối. 108 00:08:32,000 --> 00:08:38,270 Tiếp theo, về thuật ngữ "Khê-phẩy" (Khādanīya - vật thực cứng) và "Bo-dần" (Bhojanīya - vật thực mềm), khi cúng dường món tráng miệng cho chư Tăng. 109 00:08:38,300 --> 00:08:45,970 Những thực phẩm có trên bàn tráng miệng như trà, các loại bánh, các loại trái cây thì được gọi là "Khê-phẩy" (Khādanīya). 110 00:08:46,000 --> 00:08:58,270 Còn khi cúng dường vật thực, những loại thực phẩm như cơm và các loại thức ăn mặn có trên bàn ăn thì được gọi là "Bo-dần" (Bhojanīya); về cơ bản cần hiểu đó là các loại vật thực hạn kỳ (Yāvakālika). 111 00:08:58,300 --> 00:09:02,970 Trong giáo điển, họ chia ra làm hai loại là Khādanīya và Bhojanīya đấy nhé. 112 00:09:03,000 --> 00:09:07,270 Vì vậy, quý sư hãy tạm quy định các món ăn nhẹ là Khādanīya nhé. 113 00:09:07,300 --> 00:09:10,970 Các loại trái cây, các loại bánh đều được xếp vào Khādanīya. 114 00:09:11,000 --> 00:09:17,270 Còn cơm, gạo, lúa mì, thịt, cá thì được xếp vào Bhojanīya. 115 00:09:17,300 --> 00:09:21,970 Rất đơn giản, ngoại trừ 5 loại đó ra thì còn lại là Khādanīya. Đúng không nào? 116 00:09:22,000 --> 00:09:28,270 5 loại gồm cơm, gạo, lúa mì, cá, thịt được gọi là Bhojanīya. 117 00:09:28,300 --> 00:09:32,970 Ngoài 5 loại đó ra, tất cả các thứ ăn được khác đều được gọi là Khādanīya. 118 00:09:33,000 --> 00:09:37,270 Như vậy là đã phân biệt được Khādanīya và Bhojanīya rồi nhé. Đó là các thuật ngữ trong giáo điển. 119 00:09:37,300 --> 00:09:43,970 Trong giáo pháp, khi chúng ta gọi chung là Khādanīya-Bhojanīya, nếu hỏi cái gì là Khādanīya, cái gì là Bhojanīya thì ta gọi 5 loại đó là Bhojanīya. 120 00:09:44,000 --> 00:09:49,270 Nhớ nhé, 5 loại Bhojanīya. Ngoại trừ 5 loại đó ra, tất cả những thứ còn lại đều là Khādanīya. 121 00:09:49,300 --> 00:09:54,970 Vậy nên, quý sư chỉ có thể dùng các loại khế vật và thực phẩm (khajjabhojana) đó vào trước giờ ngọ thôi, sau giờ ngọ thì không được dùng nữa. 122 00:09:55,000 --> 00:09:56,470 Thế nên, chúng ta cần phải xác định thời gian chính xác xem khoảng thời gian từ lúc rạng đông đến giữa trưa (ngọ) là khi nào. 123 00:09:56,500 --> 00:09:58,470 Vậy, quý vị hãy xem ở trang 17 nhé. 124 00:09:58,500 --> 00:10:03,340 Các loại đồ uống có thể dùng được trong khoảng thời gian trước khi rạng đông nhé. 125 00:10:03,370 --> 00:10:07,503 Như vậy là phần buổi sáng đã xong, tiếp theo là các loại đồ uống có thể uống vào ban đêm nhé. 126 00:10:07,533 --> 00:10:16,625 Đồ uống có thể dùng được kể từ lúc được dâng cúng cho đến tận lúc rạng đông ngày hôm sau được gọi là vật thực hạn kỳ một đêm (Yāmakālika). 127 00:10:16,655 --> 00:10:21,319 Vậy, nếu muốn ghi nhớ về Yāmakālika thì hãy nhớ đó là vật thực dùng trong một ngày. Đúng vậy không? 128 00:10:21,349 --> 00:10:29,644 Còn Yāvakālika là vật thực dùng trong buổi sáng. Yāmakālika thì là vật thực dùng trong một ngày. Nó có giá trị trong một ngày. 129 00:10:29,674 --> 00:10:34,337 Cho đến trước khi trời sáng, vị đó có thể uống vào bất cứ lúc nào, thậm chí nửa đêm thức dậy uống cũng được. 130 00:10:34,367 --> 00:10:42,928 Ban đêm cũng uống được, nửa đêm thức giấc cũng có thể uống được. Một khi đồ uống đó đã được dâng cúng (akappiya) thì đó là vật thực hạn kỳ một ngày. 131 00:10:42,958 --> 00:10:52,050 Nhưng nếu đã đến lúc rạng đông sáng hôm sau thì loại đồ uống đó không được dùng nữa, phải từ bỏ. Không còn quyền được uống nữa. 132 00:10:52,080 --> 00:11:00,641 Khi đó, nó được gọi là đồ uống Yāmakālika. Nói theo tiếng Myanmar thì là đồ uống (afyaw-yamaka) đấy. Tức là vật thực dùng trong một ngày. 133 00:11:00,671 --> 00:11:05,334 Thế nên, dù được dâng cúng vào buổi sáng hay buổi chiều, quý vị có thể nhận vào bất cứ lúc nào. Buổi sáng cũng được mà buổi tối cũng được. 134 00:11:05,364 --> 00:11:10,028 Sau đó, muốn uống lúc nào thì uống. Nó chỉ có giá trị trong một ngày thôi, nhưng nếu quá sang ngày hôm sau thì không được nữa. 135 00:11:10,058 --> 00:11:13,925 Điều đó quý sư cũng đã từng thực nghiệm rồi đấy nhé, về ý nghĩa của việc "dùng trong một ngày" này. 136 00:11:13,955 --> 00:11:18,619 Theo tự nhiên thì tất cả các loại nước trái cây (đồ uống) chỉ để được một ngày thôi. Đúng vậy, như nước ép trái cây chẳng hạn. 137 00:11:18,649 --> 00:11:22,781 Quý sư đã từng thử ép rồi cất giữ xem sao. Ngay khi rạng đông hôm sau là nó không còn tốt nữa. 138 00:11:22,811 --> 00:11:27,741 Từ mùi hương cho đến mùi vị đều không còn tốt nữa, nó bị biến đổi rồi. Chính vì vậy mà lời Đức Phật dạy thật là đúng đắn nhé. 139 00:11:27,771 --> 00:11:31,637 Đó là những loại vật thực chỉ để được trong một ngày thôi. Là loại như vậy. 140 00:11:31,667 --> 00:11:36,331 Những loại đồ uống này có tám loại được nêu trực tiếp trong Pāḷi văn. Đây là những loại đồ uống mà Đức Thế Tôn đã trực tiếp thuyết giảng: 141 00:11:36,361 --> 00:11:40,494 1. Nước ép quả roi (thapyay-thee) nhé. Quả roi có thể dùng làm đồ uống được. 142 00:11:40,524 --> 00:11:45,188 Quý sư nhớ khi nước lớn vào tháng Waso, Wagaung nhé, thậm chí trong bài thơ của giáo sư Min Thu Wun cũng có nhắc đến đấy. Những quả roi đó. 143 00:11:45,218 --> 00:11:49,350 2. Số hai là nước ép xoài nhé. Quả xoài có thể dùng làm đồ uống được. 144 00:11:49,380 --> 00:11:55,472 3. Số ba là nước ép quả sung (thaphan-thee) và nước ép nho (mudarat-thee) nhé. Nếu muốn biết thì quý sư có thể xem thêm trong từ điển, từ điển Myanmar ấy, sẽ có hình dáng của những loại quả đó. 145 00:11:55,502 --> 00:11:58,170 Tiếp theo là nước ép quả mây (myar-yar-thee) và quả phak-thet-thee. Về quả mây thì điều sư có thể nói là hồi nhỏ sư hay dùng nó để bắn ống thụt đấy, quý vị biết không? Quả mây (baung-thee) ấy. 146 00:11:58,200 --> 00:12:03,670 Gọi là quả baung-thee, người ta cho vào trong ống tre rồi thụt cho nó nổ kêu "phụp phụp" đấy. 147 00:12:03,700 --> 00:12:08,369 Quý vị biết không, gọi là quả baung-thee nhé. À, những quả đó nó có vị ngọt. 148 00:12:08,399 --> 00:12:13,970 Ở các ngôi chùa của quý sư thì loại cây đó rất nhiều, đó là loại cây mọc tự nhiên. 149 00:12:14,000 --> 00:12:18,569 Khi nó chín thì sẽ chuyển sang màu đen và có vị ngọt. 150 00:12:18,599 --> 00:12:23,270 Ăn vào thì thấy rất đã vì nó rất ngọt. Đó là loại quả mà sư đã từng nếm thử. 151 00:12:23,300 --> 00:12:28,869 Thứ năm là quả Mạy-dẻ (Mè-zè), còn được gọi là quả Thit-mi nhé. Quả đó chiết xuất được rất nhiều nước. 152 00:12:28,899 --> 00:12:33,469 Tiếp theo, thứ sáu là quả chuối nhà, đây là các loại chuối mà thời nay chúng ta thường dùng, như chuối thơm, 153 00:12:33,499 --> 00:12:39,069 chuối mật (phí-kyam), vân vân, có rất nhiều loại. 154 00:12:39,099 --> 00:12:43,670 Thứ bảy là quả chuối rừng, loại này có rất nhiều hạt, là những quả nhỏ mọc trong rừng nhé. 155 00:12:43,700 --> 00:12:48,270 Chuối rừng có rất nhiều hạt. 156 00:12:48,300 --> 00:12:53,870 Thứ tám là ngó sen, phần ngó của hoa sen này có thể dùng làm thức uống (pháp định) được nhé. 157 00:12:53,900 --> 00:12:58,469 Vì vậy, đây được gọi là 8 loại thức uống (yāmakālika) trực tiếp có trong kinh điển. Vâng, là 8 loại thức uống. 158 00:12:58,499 --> 00:13:04,070 Ở đây Ngài (Sayadaw) đã lập ra một bài kệ để ghi nhớ. Mời quý vị cùng đọc thử xem nào. 159 00:13:04,100 --> 00:13:08,670 Thạnh quất, xoài, cỏ ống, lá trâm, quả thit-mi, chuối rừng và chuối nhà, ngó sen nữa, hãy ghi nhớ đủ tám loại thức uống. 160 00:13:08,700 --> 00:13:13,269 Vậy thì chỉ được dùng 8 loại thức uống này thôi sao, các loại khác không được hay sao? Thì ở phần dưới, 161 00:13:13,299 --> 00:13:18,870 có nói đến các loại thức uống tương đương (Anuloma). Các loại thức uống tương tự như các loại thời xưa. 162 00:13:18,900 --> 00:13:23,469 "Anuloma" có nghĩa là phù hợp, tương tự, mang ý nghĩa như vậy nhé. 163 00:13:23,499 --> 00:13:29,070 Những loại được nêu trực tiếp thì Đức Phật đã cho phép 8 loại, có ghi chép trực tiếp. 164 00:13:29,100 --> 00:13:33,670 Tuy nhiên, những loại thức uống phù hợp tương đương với chúng vẫn tiếp tục được cho phép. 165 00:13:33,700 --> 00:13:38,269 Chính vì thế, trong 8 loại thức uống đã nêu, các loại như nước me, nước táo ta (zì-pyaw) vẫn chưa được bao gồm trong đó. 166 00:13:38,299 --> 00:13:43,870 Những loại như nước me đó là các loại thức uống tương đương (Anuloma) hợp pháp, tương tự như 8 loại thức uống đã được nêu trực tiếp. 167 00:13:43,900 --> 00:13:48,469 Vì vậy, phía dưới đã liệt kê thêm vào, đó là những loại gì? 168 00:13:48,499 --> 00:13:54,070 Nước quả quách (thì-thì), quả quách này có rất nhiều hạt bên trong. 169 00:13:54,100 --> 00:13:55,570 Vỏ của nó rất cứng, không phải là quả mít đâu. Nó có nhiều hạt, phải nói sao nhỉ... 170 00:13:55,600 --> 00:13:57,870 Đúng rồi, thường ăn với đường thốt nốt, đúng vậy. Đó là nước quả quách. Vỏ nó cứng, bên trong có hạt, thường được đập ra trộn với đường thốt nốt để ăn. 171 00:13:57,900 --> 00:14:07,503 Tiếp theo là nước quả kham (khan-thì), rồi quả kyọ (gyo), quả mây (kyin-thì) nhé. Quả mây thì chắc mọi người đều biết rồi, như là cây song mây đấy. Quả mây là những quả nhỏ, vị của nó hơi chát. 172 00:14:07,533 --> 00:14:16,402 Kế đến là nước quả me, nước các loại quả khô nhé. Đây là 6 loại thức uống được nêu thêm trong các bản Chú giải (Aṭṭhakathā). 173 00:14:16,432 --> 00:14:26,127 Nào, mời quý vị đọc phần này. Quả quách, quả kham, quả kyọ, quả mây, quả me, quả khô, được nêu trong kinh điển tương đương, là tên các loại thức uống. 174 00:14:26,157 --> 00:14:30,439 Như vậy, lúc nãy là 8 loại thức uống, bây giờ thêm vào 6 loại nữa. 175 00:14:30,469 --> 00:14:39,338 Thực ra, điều mà quý sư cần ghi nhớ là lát nữa khi gần kết thúc, tôi sẽ tóm tắt lại thì quý vị sẽ hiểu rõ về vấn đề thức uống này. 176 00:14:39,368 --> 00:14:53,375 Phía dưới còn bổ sung thêm nước chanh, nước cam, nước quýt (gambalā), nước táo tây (pyan-thì) cũng được tính vào nhóm 6 loại thức uống và gọi là thức uống tương đương (Anuloma) nhé. Còn rất nhiều loại thức uống khác nữa. 177 00:14:53,405 --> 00:14:57,687 Bây giờ chúng ta hãy xem qua một chút về vấn đề cách làm các loại thức uống này như thế nào. Được chứ? 178 00:14:57,717 --> 00:15:07,412 Điều quan trọng là hầu hết các loại thức uống quý sư đều có thể làm được. Chỉ cần ghi nhớ những thứ không được làm, thì những thứ còn lại đều làm được cả. 179 00:15:07,442 --> 00:15:16,036 Ở trang 19, khi ghi nhớ những loại thức uống không được phép dùng thì coi như xong. Ngoài những loại đó ra, bất cứ thứ gì cũng có thể làm thành thức uống được. 180 00:15:16,066 --> 00:15:20,899 Vâng, chỉ cần ghi nhớ điều đó là được. Bây giờ chúng ta hãy xem tạm cách làm thức uống, phương pháp chế biến thức uống như thế nào. 181 00:15:20,929 --> 00:15:25,211 Khi làm nước trái cây, phải pha bằng nước lạnh nhé. 182 00:15:25,241 --> 00:15:30,348 Các loại trái cây dùng làm nước giải khát cũng không được nấu bằng lửa, mà phải để nguyên như vậy mà làm nhé. 183 00:15:30,378 --> 00:15:34,385 Đây là điều cần lưu ý. Quý sư không được pha nước giải khát bằng nước nóng. 184 00:15:34,415 --> 00:15:43,835 Đúng vậy nhé. Không được pha nước giải khát bằng nước nóng. Vì thế, chỉ được pha bằng nước lạnh thôi. Nước đun sôi để nguội thì được. Nếu nước không sạch nên đem đun sôi, thì phải để nguội rồi mới pha. 185 00:15:43,865 --> 00:15:48,147 Làm bằng nhiệt thì... hửm, không được. Không được pha bằng nước nóng. Và sau đó, không được nấu bằng lửa. Không được làm vậy. 186 00:15:48,177 --> 00:15:54,872 Phải pha theo đúng trạng thái tự nhiên của nó. Phải pha bằng nước đun sôi để nguội nhé. Đó là điều cần lưu ý về nước giải khát khi các nam nữ thí chủ dâng nước giải khát cho chư Tăng vào buổi chiều nhé. Khi dâng nước giải khát đấy. 187 00:15:54,902 --> 00:15:57,570 Vì thế, nếu làm nước trái cây từ me, trái khô, cam mà nấu bằng lửa thì có tội (phạm tội). 188 00:15:57,600 --> 00:16:01,955 Dù không có bã (xác trái cây) nhưng đó không phải là yāmakālika (vật thực một đêm) dùng trong một ngày. 189 00:16:01,985 --> 00:16:05,703 Nó sẽ trở thành yāvakālika (vật thực dùng đến trưa) dùng trong buổi sáng thôi. 190 00:16:05,733 --> 00:16:10,168 Với trái me, khi làm nước giải khát thì không được để lẫn bã vào. 191 00:16:10,198 --> 00:16:13,836 Không chỉ trái me mà bất kỳ loại nước giải khát nào cũng vậy nhé. Không được có bã. 192 00:16:13,866 --> 00:16:17,583 Nếu có bã lẫn vào thì chuyện gì xảy ra? Nó sẽ trở thành vikālabhojana (ăn phi thời). 193 00:16:17,613 --> 00:16:21,969 Đúng vậy nhé. Khi pha nước xoài mà có xơ, phải lọc để không còn xơ nữa. 194 00:16:21,999 --> 00:16:25,637 Khi pha trái khô, đừng để lẫn bã trái khô vào. 195 00:16:25,667 --> 00:16:30,102 Vì thế, phải lọc sao cho hoàn toàn không còn bã. 196 00:16:30,132 --> 00:16:33,770 Do đó, các vị đại trưởng lão tôn trọng Luật Tạng (Vinaya), trước khi nhận dâng cúng nước giải khát, các ngài thường bảo khuấy lên xem. 197 00:16:33,800 --> 00:16:37,517 Có trường hợp một thí chủ đến dâng nước giải khát. Bởi vì đôi khi nước giải khát pha xong, bã trái cây bị lắng xuống dưới đáy. 198 00:16:37,547 --> 00:16:41,982 Thế nên không nhìn thấy được nếu có bã lẫn trong đó. 199 00:16:42,012 --> 00:16:45,650 Vì lý do đó, các vị đại trưởng lão trước khi nhận dâng cúng thường bảo: "Chờ chút, chờ chút, hãy khuấy lên cho sư xem, khuấy lên xem nào". 200 00:16:45,680 --> 00:16:50,115 Ngài quan sát khi khuấy nước giải khát. Khi khuấy lên, nếu có bã ở dưới thì nó sẽ nổi lên thôi. 201 00:16:50,145 --> 00:16:53,783 Nếu như vậy thì ngài bảo đi lọc lại, lọc lại đi. 202 00:16:53,813 --> 00:16:57,531 Đến khi chắc chắn rồi, các vị đại trưởng lão mới nhận dâng cúng bã... à, nhận dâng cúng nước giải khát. 203 00:16:57,561 --> 00:17:01,996 Bởi vì trong Luật Tạng của chúng ta, nếu nhận dâng cúng nước giải khát có lẫn bã thì vị sư đó không có quyền uống thứ đó. 204 00:17:02,026 --> 00:17:05,664 Bảo đi lọc lại cũng không được nữa. 205 00:17:05,694 --> 00:17:09,411 Bởi vì như lúc nãy ông thí chủ có hỏi, khi đã sang buổi chiều, sau giờ chính ngọ rồi thì không được phép nhận dâng cúng bất kỳ loại đồ ăn (vật thực) nào nữa. 206 00:17:09,441 --> 00:17:13,877 Không được phép nhận dâng cúng các loại bã (đồ ăn dạng đặc). 207 00:17:13,907 --> 00:17:17,545 Khi đã quá trưa, không được phép nhận dâng cúng bã, nên việc nhận dâng cúng những phần bã này làm cho nước giải khát đó cũng trở thành phi như pháp (akappiya). Không còn hợp lệ nữa. 208 00:17:17,575 --> 00:17:22,010 Tại sao? Vì phần bã đó thuộc về loại kālika nào? Đó là yāvakālika (vật thực đến trưa). 209 00:17:22,040 --> 00:17:25,678 Lẽ ra chỉ được nhận dâng cúng vào buổi sáng thôi. Khi đem phần lẽ ra phải nhận vào buổi sáng đó dâng vào buổi chiều, thì cả phần bã và phần nước đều trở thành không hợp lệ. 210 00:17:25,708 --> 00:17:29,425 Vì chúng đã bị trộn lẫn với nhau rồi. 211 00:17:29,455 --> 00:17:33,890 Vì vậy, vị ấy phải từ bỏ (vật thực đó) thôi. 212 00:17:33,920 --> 00:17:37,558 Quý vị hiểu không? Chính vì thế, quý sư phải kiểm tra kỹ lưỡng trước khi thọ nhận (vật thực dâng cúng). 213 00:17:37,588 --> 00:17:41,306 Đến khi uống vào rồi mà thấy: "Ồ, vẫn còn cặn/xác trái cây" rồi mới bảo kiểm tra lại thì không được nữa rồi. 214 00:17:41,336 --> 00:17:45,771 Phải pha chế lại cái mới. 215 00:17:45,801 --> 00:17:49,439 Vì vậy, quý sư phải kiểm tra thật kỹ rồi mới dâng cúng nước giải khát đến các Ngài. Đừng để lẫn cặn/xác trái cây nhé. 216 00:17:49,469 --> 00:17:53,904 Kế đến, một điều nữa là đừng nấu bằng lửa nhé. 217 00:17:53,934 --> 00:17:55,404 Đối với các loại nước giải khát, đừng vì thấy mùa mưa trời lạnh quá mà đem đi hâm nóng cho ấm nhé. Đừng làm vậy nhé. 218 00:17:55,434 --> 00:17:57,270 Tiếp theo, quý sư... 219 00:17:57,300 --> 00:18:00,142 Bây giờ là về các loại nước trái cây pha chế nhé, hiện nay... 220 00:18:00,172 --> 00:18:04,000 Nếu trong các hộp nước trái cây Kambala nhập khẩu từ nước ngoài mà có lẫn cặn/xác trái cây... 221 00:18:04,030 --> 00:18:07,776 Cần lưu ý rằng phải lọc sạch không để còn cặn/xác trái cây rồi mới dâng cúng, nhé. Một số... 222 00:18:07,806 --> 00:18:14,096 Trong các hộp (nước trái cây) pha sẵn (ready-made), có thể có xác trái cây nhân tạo hoặc xác trái cây thật; cả hai loại đều có thể có. 223 00:18:14,126 --> 00:18:19,596 Khi đó, bất kể loại cặn/xác nào cũng không được phép dùng, nhân tạo cũng không được mà thật cũng không được; phàm là cặn/xác trái cây thì không được loại nào cả. 224 00:18:19,626 --> 00:18:25,587 Thế nên, cần phải lọc sạch rồi mới nên dâng cúng; vì vậy đối với các loại pha sẵn (ready-made) cần phải cẩn trọng khi dâng cúng đến các Ngài. 225 00:18:25,617 --> 00:18:31,087 Để pha nước giải khát, các loại như me, trái khô v.v... sau giờ ngọ (quá trưa) thì không được phép dâng cúng nữa, nhé. 226 00:18:31,117 --> 00:18:34,616 Khi đó, tự thân chư Tăng không thể tự mình pha chế nước giải khát được, nhé. 227 00:18:34,646 --> 00:18:40,116 Khi chư Tăng đi khất thực vào buổi sáng, nếu có mang về xoài hay thanh trà (marian plum)... 228 00:18:40,146 --> 00:18:45,287 Vào buổi chiều, tự thân quý sư không được phép pha chế những trái cây đó, nhưng các Sa-di (Koyin) thì có thể pha chế được. 229 00:18:45,317 --> 00:18:50,786 Quý sư không được phép pha chế, bởi vì như đã nói, những loại trái cây đó chư Tăng không được phép chạm vào vào buổi chiều nữa. 230 00:18:50,816 --> 00:18:56,778 Vì vậy, đối với tất cả các loại đồ ăn (vật thực), chư Tăng sau giờ ngọ là tuyệt đối không được chạm vào nữa, tuyệt đối không được chạm vào nhé. 231 00:18:56,808 --> 00:19:02,278 Do đó, quý sư tuyệt đối không được nhận trái cây vào buổi chiều, và tự thân không được phép pha chế. 232 00:19:02,308 --> 00:19:09,911 Đặc biệt, điều cần hết sức lưu ý là khi dâng cúng nước giải khát, cần phải lưu ý lọc thật sạch không để lẫn cặn/xác trái cây rồi mới dâng cúng. 233 00:19:09,941 --> 00:19:14,590 Như quý sư vừa nói đấy, khi pha chế và dâng cúng nước giải khát, tuyệt đối đừng để lẫn cặn/xác trái cây vào. 234 00:19:14,620 --> 00:19:20,582 Chỉ khi chư Tăng thấy đói thì mới nên dâng cúng nước giải khát; đó cũng là một điểm cần lưu ý. 235 00:19:20,612 --> 00:19:24,440 Đôi khi quý sư vừa mới thọ thực xong, một số người lại dâng cúng nước giải khát ngay lập tức. 236 00:19:24,470 --> 00:19:31,252 Này các thí chủ, đó là lý do vì sao các bậc Trưởng lão thường ấn định thời gian dâng nước giải khát là 3 giờ chiều hoặc 4 giờ chiều. 237 00:19:31,282 --> 00:19:37,572 Bởi vì nước giải khát uống vào buổi chiều là đúng, theo Vinaya (Luật Tạng) thì không có tội, nhưng nếu không có lý do thì không được phép uống. 238 00:19:37,602 --> 00:19:41,923 Phải có lý do (nguyên nhân), nghĩa là nước giải khát chỉ được uống khi thấy đói. 239 00:19:41,953 --> 00:19:44,960 Vì vậy, không phải cứ thấy ngon là uống khi không đói được. 240 00:19:44,990 --> 00:19:51,773 Thế nên, một số thí chủ cứ cố dâng cúng thật nhiều cho chư Tăng, các Ngài cũng nể nang, khi đã pha xong rồi thì cũng không biết phải làm sao. 241 00:19:51,803 --> 00:19:54,272 Khi đó vì nể nang nên họ lại uống, có một điều là nếu thấy đói thì có thể uống được, nếu thấy khát nước thì có thể uống được. 242 00:19:54,302 --> 00:19:56,970 Vì vậy, sau này quý sư phải làm thế nào, để cho đúng với Luật Tạng thì thay vì uống nước khi khát, quý sư uống nước trái cây (phèo-rề) vậy, kiểu như thế đấy. 243 00:19:57,000 --> 00:19:59,167 Nếu khát nước, ngài cũng có quyền uống nước trái cây (yāmakālika). 244 00:19:59,197 --> 00:20:02,069 Nếu khát nước thì được phép uống nước trái cây, nếu đói bụng thì được phép uống nước trái cây. 245 00:20:02,099 --> 00:20:04,442 Nếu không khát nước cũng không đói bụng thì không được uống. 246 00:20:04,472 --> 00:20:07,080 Kiểu như vì nể nang các thí chủ mà uống thì cũng không được. 247 00:20:07,110 --> 00:20:10,332 Nhé, kiểu vì nể họ mà "tôi không đói nhưng tôi sẽ uống cho họ vui" thì không được đâu. 248 00:20:10,362 --> 00:20:14,113 Phải có lý do. Đức Thế Tôn khi nói về vật thực, Ngài có giới hạn (limit), 249 00:20:14,143 --> 00:20:16,311 Hơn nữa, đó phải là điều bất khả kháng nhé. 250 00:20:16,341 --> 00:20:19,388 Vì thế, dù quý sư nói rằng uống nước trái cây vào buổi chiều là tốt, là tốt, nhưng mà 251 00:20:19,418 --> 00:20:22,025 Phải đưa ra một lý do (reason). Phải đưa ra lý do. 252 00:20:22,055 --> 00:20:25,102 Vì vậy phải có sự quán xét. Nếu định uống nước trái cây thì trước khi uống hãy quán xét. 253 00:20:25,132 --> 00:20:28,794 Hãy tự hỏi mình "Tại sao tôi lại uống?". Đừng có dối lòng, đừng tự lừa dối mình nhé. 254 00:20:28,824 --> 00:20:32,575 Uống vì đói hay uống vì khát? Phải có một lý do nào đó. 255 00:20:32,605 --> 00:20:34,069 Nếu như vậy thì có thể uống được. 256 00:20:34,099 --> 00:20:37,410 Một điều nữa là hoặc khi quý sư cần uống các loại thuốc men chẳng hạn. 257 00:20:37,440 --> 00:20:41,102 Tuy không đói, nhưng các loại thuốc đó hơi mạnh, như các loại thuốc Tây. 258 00:20:41,132 --> 00:20:45,762 Vì buổi chiều cần có gì đó trong bụng mà buổi chiều lại không được ăn, nên sẽ uống nước trái cây rồi mới uống thuốc. 259 00:20:45,792 --> 00:20:49,894 Nếu như vậy thì cũng được. Uống với tư cách là thuốc men nhé. Kiểu đó cũng được. 260 00:20:49,924 --> 00:20:54,553 Vì thế, đối với chư Tăng chúng ta, chỉ khi nói rằng đang đói thì thí chủ mới nên dâng cúng. 261 00:20:54,583 --> 00:20:56,927 Vì vậy, không nên dâng nước trái cây quá sớm. 262 00:20:56,957 --> 00:21:01,586 Khoảng 3 giờ chiều, đối với quý sư có hệ tiêu hóa (lửa trong bụng) tốt thì chắc là đã thấy đói rồi nhé. 263 00:21:01,616 --> 00:21:03,960 Tầm 3 giờ, 4 giờ chiều thì lúc đó có thể dâng cúng được. 264 00:21:03,990 --> 00:21:06,246 Tầm 2 giờ chiều thì vẫn còn hơi sớm mà. 265 00:21:06,276 --> 00:21:10,378 Vì dùng ngọ xong lúc khoảng 11 giờ rưỡi, ở giữa mới chỉ có khoảng 2 tiếng đồng hồ thôi nên 266 00:21:10,408 --> 00:21:13,015 Vẫn chưa thấy đói. Lúc đó không nên dâng cúng nhé. 267 00:21:13,045 --> 00:21:18,290 Nếu trong lúc đi đường chẳng hạn, vì trời nắng nên thấy khát nước thì khi đó có thể dâng, có thể dâng nước trái cây được đấy nhé. 268 00:21:18,320 --> 00:21:20,927 Nếu vì trời quá nắng thì có thể dâng các loại nước trái cây. 269 00:21:20,957 --> 00:21:25,059 Vì thế, nếu thấy đói thì có thể dâng, nếu thấy khát nước thì có thể dâng nước trái cây. 270 00:21:25,089 --> 00:21:31,477 Hơn nữa, nước trái cây đó cũng như quý sư đã nói lúc nãy là không được lẫn phần xác, và phải là nước lạnh nhé. Phải như vậy. 271 00:21:31,507 --> 00:21:36,488 Có 9 loại đồ uống không nên dâng cúng cho chư Tăng, đây là điểm chính yếu nhé. 272 00:21:36,518 --> 00:21:39,389 Nếu ghi nhớ điều đó, những thứ còn lại sẽ nằm trong nhóm quý sư có thể nhận. 273 00:21:39,419 --> 00:21:42,642 Thứ nhất là nước bầu nhé, không được làm đồ uống từ quả bầu. 274 00:21:42,672 --> 00:21:47,301 Tiếp theo là bí. Về bí thì bao gồm tất cả các loại như bí đao, bí đỏ, tất cả các loại bí nhé. 275 00:21:47,331 --> 00:21:50,554 Bất kể loại bí nào cũng không nên làm đồ uống. Tiếp theo là nước dừa. 276 00:21:50,584 --> 00:21:53,972 Tiếp theo là nước mít nhà, mít rừng, dưa leo, dưa gang, dưa chuột nhé. 277 00:21:54,002 --> 00:21:56,670 Vậy thì, ở phần nước dừa... 278 00:21:56,700 --> 00:21:59,839 Các bậc trưởng lão ở Myanmar chúng ta thì... 279 00:21:59,869 --> 00:22:02,285 Các ngài cũng không uống nước dừa vào buổi chiều. 280 00:22:02,315 --> 00:22:04,639 Về phía quý sư, cũng có một cách hiểu khác. 281 00:22:04,669 --> 00:22:10,708 Ở phần nước dừa, quý sư đồ rằng có lẽ là đang nói đến loại dừa nạo rồi pha ra. 282 00:22:10,738 --> 00:22:17,319 Giống như nước cốt dừa vậy. Liệu nước dừa nạo rồi ép lấy nước cốt như vậy có được gọi là nước dừa (đồ uống từ dừa) hay không. 283 00:22:17,349 --> 00:22:19,764 Bởi vì việc làm các loại nước trái cây khác cũng được thực hiện theo cách đó mà. 284 00:22:19,794 --> 00:22:24,021 Khi quý sư làm nước từ các loại trái cây khác, cũng phải nạo ra rồi trộn với nước để làm. 285 00:22:24,051 --> 00:22:27,915 Vì vậy, quý sư đồ rằng nước dừa (trong giới luật) có lẽ cũng thuộc loại như vậy chăng. 286 00:22:27,945 --> 00:22:31,810 Tuy nhiên, vì các bậc trưởng lão ở Myanmar có sự nghi ngờ (về điều này), 287 00:22:31,840 --> 00:22:34,255 Nên các ngài cũng không uống nước dừa nạo như vậy. 288 00:22:34,285 --> 00:22:38,512 Và cả nước dừa (tự nhiên) các ngài cũng không uống vào buổi chiều nữa vì có sự nghi ngờ. 289 00:22:38,542 --> 00:22:41,772 Trong văn bản thì không nói một cách chắc chắn là nước dừa nhé. 290 00:22:41,802 --> 00:22:44,218 Văn bản chỉ nói rằng quả dừa là không hợp lẽ (akappiya) thôi. 291 00:22:44,248 --> 00:22:48,474 Vì thế, các bậc trưởng lão không uống cả hai loại. Kiểu như vậy đó. 292 00:22:48,504 --> 00:22:54,180 Điều đó quý sư gọi trong kinh sách là 9 loại quả lớn nhé. 9 loại quả lớn. 293 00:22:54,210 --> 00:22:57,531 Nào, tất cả hãy cùng đọc theo nhé. Thốt nốt, dừa là một cặp, 294 00:22:57,561 --> 00:23:02,331 Mít có hai loại, bầu, bí, đào và dưa. 295 00:23:02,361 --> 00:23:05,320 Trong đó, ở bài kệ có nhắc đến thốt nốt nhé. 296 00:23:05,350 --> 00:23:08,671 Có quả thốt nốt. Hình như trong bài kệ đằng kia không có quả thốt nốt phải không? 297 00:23:08,701 --> 00:23:15,282 Quả bầu, quả bí, quả dừa, mít, mít rừng, dưa leo, dưa gang, dưa chuột. 298 00:23:15,312 --> 00:23:19,539 Còn thiếu bốn cái tên. Bốn cái tên. 1, 2, 3, 4 còn thiếu bốn cái tên đấy. 299 00:23:19,569 --> 00:23:22,528 Hãy thêm thốt nốt vào nữa. Thêm vào đi. Hãy thêm quả thốt nốt vào. 300 00:23:22,558 --> 00:23:25,607 Chính vì thế nên tôi đang xem xét kỹ vì có đến 9 loại. 301 00:23:25,637 --> 00:23:27,690 Vậy thì đối với các loại như dưa gang và các loại tương tự... 302 00:23:27,720 --> 00:23:32,490 Ở đây chỉ đề cập đến 3 loại là dưa chuột, dưa gang và dưa sọc thôi đấy. 303 00:23:32,520 --> 00:23:36,747 Vì đã đề cập như vậy, nên quý sư không thể nói rằng các loại dưa khác là không hợp pháp (akappiya) đâu nhé. 304 00:23:36,777 --> 00:23:39,192 Vậy thì loại dưa lúc nãy là dưa thơm (dưa lưới). 305 00:23:39,222 --> 00:23:41,275 Dưa thơm không có trong danh sách này đâu nhé. 306 00:23:41,305 --> 00:23:44,626 Dưa chuột, dưa gang, dưa sọc không phải là dưa thơm. 307 00:23:44,656 --> 00:23:47,615 Nó là loại dưa dùng để ăn kèm (làm rau) thôi. 308 00:23:47,645 --> 00:23:53,321 Hãy thử xem trong từ điển Myanmar xem. Trong từ điển Myanmar, đó là một loại dưa dùng để ăn kèm đấy. 309 00:23:53,351 --> 00:23:54,821 Đúng vậy, đúng vậy. Đây là loại dưa dùng để ăn nhé. 310 00:23:54,851 --> 00:23:56,370 Do đó, 3 loại dưa này thì không được phép (dùng làm nước trái cây - yāmakālika). 311 00:23:56,400 --> 00:23:58,475 Không được dùng các loại dưa này để làm nước giải khát (nước quả). 312 00:23:58,505 --> 00:24:00,580 Dưa thì có rất nhiều loại khác nhau. 313 00:24:00,610 --> 00:24:04,791 Mặc dù có nhiều loại dưa, nhưng trong Chú giải (Atthakathā) của Đức Phật đã nói trực tiếp rằng: 314 00:24:04,821 --> 00:24:07,738 Chỉ đề cập đến 3 loại dưa thôi. Dưa chuột... 315 00:24:07,768 --> 00:24:11,107 Điều đó thì không có trong kinh điển. Đó là về các loại nước trái cây từ quả lớn không nên làm. 316 00:24:11,137 --> 00:24:14,054 Các bậc A-la-hán trong các kỳ Kết tập (Saṅghāyana) đã nói như vậy. 317 00:24:14,084 --> 00:24:16,159 Trong Pāli gốc thì không có trực tiếp. 318 00:24:16,189 --> 00:24:22,054 Khi các bậc A-la-hán tiến hành Kết tập, các ngài đã loại bỏ và cho rằng những loại quả này cũng nằm trong số những thứ không hợp pháp (akappiya). 319 00:24:22,084 --> 00:24:26,265 Tuy nhiên, nguyên nhân thì không được bao gồm. Trong sách không nêu rõ lý do tại sao. 320 00:24:26,295 --> 00:24:30,897 Các ngài chỉ ghi lại là không hợp pháp như vậy thôi. Đó là về chín loại quả lớn đấy. 321 00:24:30,927 --> 00:24:35,528 Vì vậy, ngoại trừ chín loại quả lớn này, tất cả các loại trái cây, hạt và lá còn lại đều được. 322 00:24:35,558 --> 00:24:38,897 Do đó, một số vị thầy đã có sự hiểu lầm rằng: 323 00:24:38,927 --> 00:24:42,686 Nếu là rau củ có thể nấu ăn được thì không nên làm nước giải khát. 324 00:24:42,716 --> 00:24:48,581 Thực ra không phải vậy. Khi quý sư tổ chức các buổi thảo luận về Luật Tạng (Vinaya), quý sư đã phải giải thích rất nhiều về các bằng chứng của vấn đề đó. 325 00:24:48,611 --> 00:24:51,107 Quý sư vẫn còn nhớ, vẫn thuộc lòng chuyện đó. 326 00:24:51,137 --> 00:24:57,423 Trong Chú giải Vinayasaṅgaha trang 92 có đoạn "yāvakālika pattānampi pānaṃ kātuṃ vaṭṭati". 327 00:24:57,453 --> 00:25:00,792 Quý sư nhớ chính xác là ở trang 92 đó. 328 00:25:00,822 --> 00:25:06,687 Việc các loại lá có thể nấu ăn được cũng có thể dùng làm nước giải khát (nước quả). 329 00:25:06,717 --> 00:25:11,739 Có bằng chứng (hỗ trợ) đấy nhé. Chính vì vậy, ngày nay người ta hay hỏi là lá rau má có làm được không. 330 00:25:11,769 --> 00:25:15,108 Nếu giã lá rau má ra để làm nước giải khát thì có được không, câu trả lời là được nhé. 331 00:25:15,138 --> 00:25:18,897 Nước rau má, nước cà rốt vân vân đều được, có thể dâng làm thức uống yāmakālika. 332 00:25:18,927 --> 00:25:22,687 Có một điều là không thể dâng như thế này được. Cần phải pha thêm nước. 333 00:25:22,717 --> 00:25:27,319 Nếu không pha nước thì không phải là thức uống yāmakālika đâu nhé. Cần phải lưu ý điều đó. Không thể dâng nguyên chất như vậy được. 334 00:25:27,349 --> 00:25:31,108 Do đó phải pha thêm nước. Vậy nên với rau má, cà rốt... 335 00:25:31,138 --> 00:25:36,161 Hãy lọc sạch bã, sau đó pha với nước rồi dâng. Như vậy thì chư Tăng uống được. 336 00:25:36,191 --> 00:25:39,951 Vì thế, các loại rau củ nấu ăn được cũng có thể làm thành thức uống yāmakālika. 337 00:25:39,981 --> 00:25:43,319 Điều này có trong Vinayasangaha Aṭṭhakathā trang 92. 338 00:25:43,349 --> 00:25:46,266 Vậy thì chỉ cần ghi nhớ chín loại quả không được phép là xong rồi đấy nhé. 339 00:25:46,296 --> 00:25:51,319 Ngoại trừ chín loại quả này, các loại quả khác và tất cả các loại lá khác đều có thể làm thức uống yāmakālika. 340 00:25:51,349 --> 00:25:53,372 Không có loại nào là không làm thức uống yāmakālika được cả. Có một thứ không được nêu ở đây là gì, đó là ngũ cốc, lúa gạo. 341 00:25:53,402 --> 00:25:56,070 Hãy viết chú thích nhỏ ở bên cạnh nhé. Hãy ghi chú một chút về lúa gạo và các loại đậu nhé. Lúa gạo... 342 00:25:56,100 --> 00:25:58,136 Không được dùng lúa gạo làm thức uống yāmakālika. 343 00:25:58,166 --> 00:26:00,863 Không được dùng các loại đậu làm thức uống yāmakālika. Hãy thêm điểm đó vào nữa nhé. 344 00:26:00,893 --> 00:26:04,499 Hãy ghi thêm các loại lúa gạo và các loại đậu vào. 345 00:26:04,529 --> 00:26:08,053 Không được dùng lúa gạo và các loại đậu làm thức uống yāmakālika. Hãy viết thêm điều đó vào. 346 00:26:08,083 --> 00:26:11,111 Vì thế, việc nói lúc nãy là sữa đậu không được phép là ý đó đấy nhé. Không được phép. 347 00:26:11,141 --> 00:26:14,665 Do đó, có một số vị hỏi quý sư rằng nước vo gạo có được không, thì lúc nãy đã nói rồi đấy. 348 00:26:14,695 --> 00:26:18,219 Vì không được dùng lúa gạo làm thức uống yāmakālika nên nước vo gạo cũng nằm trong đó rồi. 349 00:26:18,249 --> 00:26:21,855 Có một số người hỏi rằng "Bạch Ngài, nước vo gạo không uống được sao?", là không được nhé. 350 00:26:21,885 --> 00:26:25,409 Buổi chiều không được uống nước vo gạo. Không được uống. 351 00:26:25,439 --> 00:26:29,789 Điều này cũng liên quan đến các vị hành giả giữ giới Uposatha (bát quan trai) nữa nhé. Không chỉ chư Tăng mà còn liên quan đến cả các vị giữ giới Uposatha nữa. 352 00:26:29,819 --> 00:26:32,599 Các vị giữ giới Uposatha có liên quan đến giới Vikālabhojana (không ăn phi thời). 353 00:26:32,629 --> 00:26:36,153 Vậy nên, buổi chiều không được uống nước vo gạo, buổi chiều không được uống sữa đậu nhé. 354 00:26:36,183 --> 00:26:40,037 Tất cả các loại lúa gạo và các loại đậu đều không được làm thành thức uống yāmakālika. 355 00:26:40,067 --> 00:26:43,591 Tiếp theo, quý sư nói về nước luộc rau. 356 00:26:43,621 --> 00:26:47,476 Nếu nghiền các loại rau củ này rồi pha với nước lạnh thì được. 357 00:26:47,506 --> 00:26:51,029 Nhưng không được làm với nước nóng. Đúng không nào. 358 00:26:51,059 --> 00:26:54,583 Nếu nghiền rau củ tươi rồi pha nước thì được. 359 00:26:54,613 --> 00:26:58,220 Nhưng nếu dùng nước nóng thì sẽ thành nước luộc rau. 360 00:26:58,250 --> 00:27:02,600 Đúng không nào. Không được làm với nước nóng. Nếu dùng nước nóng thì sẽ giống như là luộc hay nấu rau vậy. 361 00:27:02,630 --> 00:27:06,154 Như vậy thì không hợp pháp (akappiya). 362 00:27:06,184 --> 00:27:09,790 Vì nguyên nhân đó mà ngày nay nảy sinh vấn đề về trà khô. 363 00:27:09,820 --> 00:27:13,344 Trà khô ở Myanmar được xem là một loại vật thực (āhāra). 364 00:27:13,374 --> 00:27:17,724 Trà trộn, xin lỗi nhé. Trà, ở Myanmar, quý sư và mọi người thường ăn trà trộn như một món ăn nhẹ. 365 00:27:17,754 --> 00:27:22,187 Vì thế, các bậc trưởng lão Luật sư đã quyết định rằng trà là món ăn nhẹ thuộc loại yāvakālika (vật thực dùng đến trưa), nằm trong nhóm vật thực dùng buổi sáng. 366 00:27:22,217 --> 00:27:26,567 Do đó, nếu muốn dùng vào buổi chiều như một loại đồ uống (phụ dược), nếu pha với nước lạnh thì được. 367 00:27:26,597 --> 00:27:30,947 Đối với loại trà này. Vì vậy, ở những nơi như Thái Lan hay Sri Lanka, quý sư thấy họ có dùng trà xanh (Green Tea). 368 00:27:30,977 --> 00:27:34,584 Trà xanh dùng buổi chiều đấy. Pha với nước lạnh. Ở Thái Lan hiện nay, loại này cũng rất phổ biến tại Myanmar. 369 00:27:34,614 --> 00:27:38,138 Với loại trà xanh này, họ chế biến trà thành đồ uống, tức là nước trà. 370 00:27:38,168 --> 00:27:41,691 Nếu làm với nước lạnh thì được. Nếu làm với nước nóng thì không được. 371 00:27:41,721 --> 00:27:45,328 Về nước trà đậm ngày nay nhé. Nước trà đậm. 372 00:27:45,358 --> 00:27:48,882 Khi hỏi tại sao dùng với nước nóng lại không được, đó là vì nó trở thành nước luộc rau. 373 00:27:48,912 --> 00:27:52,436 Họ xếp trà vào nhóm các loại rau củ. 374 00:27:52,466 --> 00:27:53,936 Vì vậy, nếu muốn dùng loại rau củ này làm đồ uống thì được, nhưng phải làm với nước lạnh. 375 00:27:53,966 --> 00:27:55,770 Do đó, khi cho vào nước nóng, nó giống như việc đi luộc rau củ vậy. 376 00:27:55,800 --> 00:27:57,988 Nó trở thành món rau luộc rồi. 377 00:27:58,018 --> 00:27:59,497 Không còn là đồ uống (phụ dược) nữa. 378 00:27:59,527 --> 00:28:05,089 Vì lý do đó, các bậc trưởng lão đã đưa ra quyết định rằng chư Tăng không nên uống nước trà đậm này vào buổi chiều. 379 00:28:05,119 --> 00:28:09,261 Đúng vậy nhé. Vậy nếu hỏi tại sao không hợp pháp, thì vì nó trở thành món rau luộc nên không hợp pháp. 380 00:28:09,291 --> 00:28:14,231 Thế nên, nếu muốn dùng trà làm đồ uống thì hãy pha với nước lạnh. Như vậy thì được. 381 00:28:14,261 --> 00:28:17,516 Gỏi gừng hay lá rau má thì không được dùng vào buổi chiều. 382 00:28:17,546 --> 00:28:20,800 Những thứ đó không được. Rau má không nằm trong danh mục thuốc men. 383 00:28:20,830 --> 00:28:26,391 Vì vậy, rau má không phải là thuốc. Nó đã nằm trong nhóm đồ ăn rồi. Buổi chiều không được ăn. 384 00:28:26,421 --> 00:28:30,563 Gừng thì có trong danh mục thuốc, nhưng chỉ riêng bản thân nó mới là thuốc. 385 00:28:30,593 --> 00:28:36,155 Nếu có thêm dầu, hành, mè, đậu thì không còn là thuốc nữa. Đây đã trở thành món gỏi gừng để ăn rồi. 386 00:28:36,185 --> 00:28:40,327 Khi đó nó trở thành phi thời thực (vikālabhojana). Vì vậy, buổi chiều không được dâng gỏi gừng nhé. 387 00:28:40,357 --> 00:28:45,031 Rồi lại nói lúc mới xuất gia vẫn ăn gỏi gừng được, vân vân. 388 00:28:45,061 --> 00:28:49,203 Những thứ như gỏi gừng, gỏi cà chua, trà trộn đấy. 389 00:28:49,233 --> 00:28:53,907 Những thứ đó như quý sư đã biết, là vật thực yāvakālika dùng buổi sáng nhé. 390 00:28:53,937 --> 00:28:58,078 Chúng nằm trong nhóm vật thực buổi sáng. Không được dùng vào buổi chiều. 391 00:28:58,108 --> 00:29:07,221 Thế nên, gừng vừa rồi được xếp vào thuốc, nếu quý vị muốn ăn vào buổi chiều vì lý do sức khỏe như vừa nói, thì tất cả các loại dược phẩm đều cần có lý do chính đáng. 392 00:29:07,251 --> 00:29:11,392 Chẳng hạn ăn vì bị mất giọng, hay ăn vì bị sốt, quý vị phải tự suy xét về lý do của mình. 393 00:29:11,422 --> 00:29:16,097 Nếu không có lý do thì không được phép ăn, kể cả là dược phẩm cũng vậy. 394 00:29:16,127 --> 00:29:20,268 Sau này sẽ có một phần riêng về dược phẩm, sẽ có một chương riêng nhé. 395 00:29:20,298 --> 00:29:24,972 Như vậy, về các loại đồ uống, ngoại trừ chín loại quả lớn ra, còn có lúa gạo và các loại đậu. 396 00:29:25,002 --> 00:29:29,144 Ngoại trừ những thứ đó, tất cả những thứ còn lại đều có thể dùng nước lạnh để làm thành đồ uống (nước trái cây). 397 00:29:29,174 --> 00:29:33,848 Quý sư phải ghi nhớ tóm tắt này nhé về những thứ có thể làm đồ uống. 398 00:29:33,878 --> 00:29:38,020 Còn lại thì quý vị có thể tự mình suy xét. Ồ, nếu muốn biết thứ này nên làm hay không nên làm, hãy nhìn vào danh sách này. 399 00:29:38,050 --> 00:29:42,724 Có khoảng 9, 10 hay 11 loại quả lớn đấy. Nếu không nằm trong 11 loại đó thì quý sư hãy nhớ rằng chúng ta có thể làm thành đồ uống. 400 00:29:42,754 --> 00:29:46,896 Khi làm thì phải làm bằng nước lạnh, và phải lọc sạch để không còn xác quả. 401 00:29:46,926 --> 00:29:51,600 Có người hỏi rằng: "Bạch ngài, sinh tố bơ có được không?". Được, nhưng việc pha chế nó vô cùng khó khăn. 402 00:29:51,630 --> 00:29:53,100 Bơ toàn là phần thịt quả thôi. Thế nên việc lọc bơ là chuyện rất khó khăn. 403 00:29:53,130 --> 00:29:55,470 Quý vị hãy xem lại đi, trong chín loại quả lớn không có quả bơ. Vì không có nên có thể làm thành đồ uống. Nhưng mà... 404 00:29:55,500 --> 00:29:59,341 Nào, mời quý sư xem trang 72 nhé. 405 00:29:59,371 --> 00:30:02,649 Trang 72, về việc cầm dù, gậy chống, dao, v.v. 406 00:30:02,679 --> 00:30:06,590 Hành giả nghe Pháp... 407 00:30:06,620 --> 00:30:09,828 Nếu còn xác quả lớn như vậy thì không được uống. 408 00:30:09,858 --> 00:30:13,136 Không dễ đâu ông thí chủ, việc đó rất khó. 409 00:30:13,166 --> 00:30:17,077 Sư đã thử rồi, thật sự rất khó. 410 00:30:17,107 --> 00:30:20,315 Bởi vì phần bã hay xác quả đó, nói thế nào nhỉ, nó cứ sền sệt đặc quánh lại vậy. 411 00:30:20,345 --> 00:30:24,256 Nếu pha loãng như nước thì lại chẳng còn hương vị gì cả. 412 00:30:24,286 --> 00:30:27,494 Hương vị sẽ không còn ngon nữa. 413 00:30:27,524 --> 00:30:30,731 Đúng vậy, quả bơ phải có phần thịt quả (cái cốt) mới ngon. 414 00:30:30,761 --> 00:30:34,673 Thế nên rất khó để pha mà không để lại phần xác bơ, cực kỳ khó. 415 00:30:34,703 --> 00:30:37,910 Rất khó khăn, sư đã thử nghiệm rồi nhưng không được, thực sự là rất khó. 416 00:30:37,940 --> 00:30:41,852 Còn quả chuối thì vẫn còn tạm được. 417 00:30:41,882 --> 00:30:45,089 Quả chuối thì để không còn xác hay cặn cũng phải lọc rất kỹ, nhưng vẫn có thể lọc được. 418 00:30:45,119 --> 00:30:48,327 Còn quả bơ đó thì cực kỳ khó lọc. 419 00:30:48,357 --> 00:30:52,268 Không hề dễ dàng đâu nhé. 420 00:30:52,298 --> 00:30:55,506 Nếu cố gắng lọc hết sức thì chắc cũng được thôi, nhưng hương vị sẽ không còn giống như ban đầu nữa. 421 00:30:55,536 --> 00:30:59,447 Vì vậy, đối với quả bơ thì có thể pha chế được, nhưng nếu có thể lọc sạch để không còn bã thì tốt nhé. 422 00:30:59,477 --> 00:31:02,685 Như vậy là quý sư đã học xong phần Yāmakālika (vật thực hạn kỳ một đêm) về các loại nước giải khát rồi nhé. 423 00:31:02,715 --> 00:31:05,923 Phần nước giải khát chắc là xong rồi đấy. 424 00:31:05,953 --> 00:31:09,864 Tuy nhiên vẫn còn sót lại một chút về nước giải khát, nhưng quý sư sẽ đợi đến phần tiếp theo tôi nói kết hợp luôn thì mới đầy đủ, vậy nên chúng ta hãy xem phần tiếp theo nhé. 425 00:31:09,894 --> 00:31:13,102 Vật thực được phép thọ dụng trong vòng bảy ngày, trong tiếng Pāli gọi là Sattāhakālika (vật thực hạn kỳ bảy ngày). 426 00:31:13,132 --> 00:31:17,043 Phần vật thực dùng trong một buổi sáng (Yāvakālika) đã xong, vật thực dùng trong một ngày (Yāmakālika) cũng xong, bây giờ đến phần vật thực dùng trong bảy ngày nhé. 427 00:31:17,073 --> 00:31:20,281 Vật thực dùng trong bảy ngày. 428 00:31:20,311 --> 00:31:23,518 Vật thực dùng trong bảy ngày nghĩa là sau khi đã nhận sự cúng dường (thọ lãnh) một lần thì có thể sử dụng cho đến bảy ngày. 429 00:31:23,548 --> 00:31:27,460 Phải từ bỏ trước khi đủ bảy ngày nhé, vào ngày thứ bảy thì phải từ bỏ món đồ đó. 430 00:31:27,490 --> 00:31:30,697 Không được phép tiếp tục thọ dụng nữa, những thứ đó gồm có những loại dưới đây... 431 00:31:30,727 --> 00:31:34,639 Thứ nhất là bơ tươi (thoa-pát), thứ hai là bơ lọc (xì-u). 432 00:31:34,669 --> 00:31:37,876 Bơ lọc (xì-u) nghĩa là loại dầu trong nổi lên phía trên khi nấu bơ. 433 00:31:37,906 --> 00:31:41,114 Số ba là dầu, các loại dầu ăn khác nhau nhé, như thời nay là dầu mè, dầu đậu, các loại dầu khác nhau. 434 00:31:41,144 --> 00:31:45,055 Tiếp theo, số bốn là mật ong. 435 00:31:45,085 --> 00:31:48,293 Số bốn là mật ong, số năm là đường mật, đường cát, mật đường, đường mía, đường thốt nốt, kẹo ngọt. 436 00:31:48,323 --> 00:31:52,234 Đó là năm loại của quý sư chúng ta. 437 00:31:52,264 --> 00:31:53,734 Sattāhakālika, nói theo tiếng Myanmar thì gọi là vật dụng dùng trong bảy ngày. 438 00:31:53,764 --> 00:31:55,170 Vì vậy, một vị Tỳ-khưu có thể nhận cúng dường các vật dụng này trong bảy ngày; nếu hôm nay nhận cúng dường thì tính từ hôm nay là bảy ngày. 439 00:31:55,200 --> 00:31:59,693 Có thể sử dụng cho đến bảy ngày. Nếu quá bảy ngày thì phải từ bỏ. 440 00:31:59,723 --> 00:32:03,559 Không còn quyền tiếp tục sử dụng nữa. Ví dụ như loại dầu gan cá. 441 00:32:03,589 --> 00:32:08,165 Dầu gan cá thì nằm trong mục số ba của quý sư chúng ta nhé. 442 00:32:08,195 --> 00:32:11,948 Vì vậy, không nên dâng cả hộp dầu gan cá cho chư Tăng. Quý vị có hiểu ý không? 443 00:32:11,978 --> 00:32:16,472 Nếu dâng cả hộp dầu gan cá thì có phần phải sử dụng cho hết lượng dầu gan cá đó trong vòng bảy ngày. 444 00:32:16,502 --> 00:32:20,256 Quý vị hiểu không? Vì thế quý sư chúng ta không nên nhận cả hộp mà hãy để nó trên bàn. 445 00:32:20,286 --> 00:32:24,121 Sau đó hãy cùng chia với các Sa-di rồi thọ lãnh và sử dụng sau. 446 00:32:24,151 --> 00:32:28,727 Phải chia ra từng phần đủ dùng trong bảy ngày, bảy ngày rồi mới thọ lãnh và sử dụng. 447 00:32:28,757 --> 00:32:32,511 Bởi vì trong một hộp dầu gan cá có thể chứa đến khoảng ba trăm viên. 448 00:32:32,541 --> 00:32:36,377 Vậy nên việc dùng hết trong vòng bảy ngày là điều không thể. 449 00:32:36,407 --> 00:32:40,983 Nếu chư Tăng chia ra rồi đưa cho vị khác thì xong, nghĩa là kết thúc trong vòng bảy ngày. 450 00:32:41,013 --> 00:32:44,766 Nếu muốn tự mình sử dụng một mình thì không được phép thọ lãnh cả hộp dầu gan cá này đâu nhé. 451 00:32:44,796 --> 00:32:49,372 Tiếp theo là Catumadhū cũng tương tự như vậy. Catumadhū nghĩa là thứ được làm từ mật đường, mật ong, bơ... đấy. 452 00:32:49,402 --> 00:32:53,156 Vì vậy, nếu hỏi Catumadhū thuộc vào nhóm vật phẩm nào thì đó là Sattāhakālika. 453 00:32:53,186 --> 00:32:57,021 Catumadhū là vật phẩm hạn kỳ bảy ngày nhé. 454 00:32:57,051 --> 00:33:01,627 Do đó, Catumadhū nằm trong nhóm dược phẩm của quý sư, chính là Catumadhū — vật thực dùng trong bảy ngày. 455 00:33:01,657 --> 00:33:05,411 Vậy thì đường cát, đường thốt nốt, mật đường nhé, rồi bơ, váng sữa, dầu, mật ong. 456 00:33:05,441 --> 00:33:09,277 Những thứ đó là vật thực hạn kỳ bảy ngày. Những thứ này buổi chiều cũng có thể dùng được. 457 00:33:09,307 --> 00:33:13,883 Tuy nhiên, như quý sư đã nói lúc nãy, dù nói là dùng vào buổi chiều nhưng phải có lý do (duyên). 458 00:33:13,913 --> 00:33:17,666 Nếu nghĩ rằng "À, đây là Catumadhū, đây là thuốc nên mình cứ dùng vào buổi chiều" thì không được phép dùng đâu. 459 00:33:17,696 --> 00:33:22,272 Đường thốt nốt là thuốc nhưng không được dùng vào buổi chiều (nếu không có bệnh). Phải có lý do mới được. 460 00:33:22,302 --> 00:33:26,056 Vì sao dùng đường thốt nốt này, phải có bệnh liên quan thì mới được dùng. 461 00:33:26,086 --> 00:33:29,921 Nếu không có bệnh đó thì không có quyền dùng đâu nhé. 462 00:33:29,951 --> 00:33:34,527 Người Myanmar thường hay nói câu gì nhỉ, "Quả me rừng, quả tử mặc là đồ ăn của chư Tăng" đấy. 463 00:33:34,557 --> 00:33:38,311 Việc me rừng nằm trong nhóm thuốc là đúng, tử mặc nằm trong nhóm thuốc cũng là đúng. 464 00:33:38,341 --> 00:33:42,176 Nhưng quý sư phải có lý do mới được dùng. Nếu không có lý do thì ngay cả nước trái cây (yāmakālika) cũng không được uống mà. 465 00:33:42,206 --> 00:33:46,782 Tương tự như vậy, đối với dầu, đường thốt nốt, mật đường, mật ong, bơ, nếu muốn dùng vào buổi chiều thì phải đưa ra được một lý do nào đó. 466 00:33:46,812 --> 00:33:50,566 Chỉ vì đói bụng thì không được nhé. Đói bụng không được tính là lý do (để dùng thuốc). Nếu đói bụng thì chỉ được dùng nước trái cây thôi. 467 00:33:50,596 --> 00:33:52,172 Nhé, nếu đói bụng thì chỉ được dùng nước trái cây thôi. Còn những thứ này là dùng khi quý sư bị đau dạ dày hoặc các lúc cơ thể suy nhược khác. 468 00:33:52,202 --> 00:33:54,870 Thực tế thì vào thời Đức Phật, đây chính là một loại thuốc bổ đấy. Những thứ này là thuốc bổ. 469 00:33:54,900 --> 00:34:00,006 Vì vậy, đối với các bậc Tỳ-khưu bị bệnh (gilāna) mà không dùng được vật thực thì buổi chiều có thể dùng những thứ này. 470 00:34:00,036 --> 00:34:02,527 Nếu không phải trường hợp như vậy thì không được phép dùng. 471 00:34:02,557 --> 00:34:04,675 Đó là một số điều quý sư cần lưu ý nhé. 472 00:34:04,705 --> 00:34:09,625 Điều đó cũng phải nói với các nam nữ thí chủ. Nếu không cần thiết thì không nên dâng cúng Catumadhū cho chư Tăng vào buổi chiều. 473 00:34:09,655 --> 00:34:13,734 Một số người cứ nghĩ "Ôi, Catumadhū là thuốc mà" rồi dâng cúng vào buổi chiều đấy. Họ dâng cúng các viên đường thốt nốt đấy. 474 00:34:13,764 --> 00:34:21,485 Vì vậy, nếu không cần thiết thì buổi chiều không được dâng cúng đường thốt nốt hay Catumadhū. Làm vậy là có lỗi đấy nhé. Chư Tăng sẽ bị phạm tội. 475 00:34:21,515 --> 00:34:27,742 Các loại vật thực nêu trên có thể dâng cúng bất cứ lúc nào; bất cứ lúc nào nghĩa là dâng buổi sáng cũng được, dâng buổi chiều cũng được nhé. 476 00:34:27,772 --> 00:34:31,104 Những thứ như bơ có thể dâng vào buổi chiều, Catumadhū có thể dâng vào buổi chiều. 477 00:34:31,134 --> 00:34:35,493 Tuy nhiên có một điểm là chúng chỉ có hiệu lực (cất giữ) được đến bảy ngày thôi. 478 00:34:35,523 --> 00:34:44,551 Sau khi được dâng cúng, chỉ được sử dụng trong vòng bảy ngày thôi; nếu sử dụng quá bảy ngày thì chư Tăng sẽ bị phạm tội (āpatti) nhé. 479 00:34:44,581 --> 00:34:49,501 Vì thế, lý do mà quý sư phải làm là, như đã nói, trước khi đủ bảy ngày thì phải xả bỏ (từ bỏ quyền sở hữu) đi. 480 00:34:49,531 --> 00:34:55,758 Khi xả bỏ thì xả cho người hộ tăng (kappiya), nói rằng "Này ông thí chủ, món này sắp đủ bảy ngày rồi, không còn hợp lẽ (akappiya) nữa, hãy nhận lấy đi". 481 00:34:55,788 --> 00:35:00,707 Như vậy, nếu người hộ tăng (kappiya) dâng lại thì được. Vừa rồi tôi nói nếu người hộ tăng hiểu biết thì được là nói về điều đó nhé. 482 00:35:00,737 --> 00:35:07,898 Vừa rồi chúng ta bắt đầu lại với Chương 1 nhé. Vì vậy, phía Tỳ-khưu nếu đã từ bỏ rồi thì khi đó sự dâng cúng (akappiya) sẽ bị đứt đoạn. 483 00:35:07,928 --> 00:35:14,715 Vì đã đứt đoạn rồi nên người hộ tăng, với sự hiểu biết, sáng hôm sau sẽ dâng lại, ồ như vậy là được đấy. Nhé, là như vậy. 484 00:35:14,745 --> 00:35:23,774 Thế nên trước khi đủ bảy ngày, vị Tỳ-khưu hãy từ bỏ đi. Nếu vị Tỳ-khưu không từ bỏ mà cứ tiếp tục sử dụng thì sẽ phạm tội (āpatti) nhé, phạm tội đấy. 485 00:35:23,804 --> 00:35:30,591 Việc dâng cúng thì có thể dâng bất cứ lúc nào nhé. Dâng vào buổi sáng cũng được, dâng vào buổi chiều cũng được. 486 00:35:30,621 --> 00:35:34,607 Tiếp theo là các loại dược phẩm có thể sử dụng trọn đời (yāvajīvika). 487 00:35:34,637 --> 00:35:42,451 Những vật thực sau khi được thọ nhận một lần mà có thể cất giữ và thọ dụng trọn đời thì gọi là vật thực dùng trọn đời, tiếng Pāli gọi là yāvajīvika. 488 00:35:42,481 --> 00:35:44,599 Như vậy, tổng cộng quý sư có bốn loại rồi. 489 00:35:44,629 --> 00:35:49,922 Vật thực dùng trong một buổi sáng gọi là yāvakālika, dùng trong một ngày gọi là yāmakālika, 490 00:35:49,952 --> 00:35:51,872 dùng trong bảy ngày gọi là sattāhakālika, và dùng trọn đời gọi là yāvajīvika. 491 00:35:51,902 --> 00:35:54,570 Trong Giáo Pháp (Sāsana) được chia thành bốn loại như vậy thưa quý sư. 492 00:35:54,600 --> 00:35:57,265 Để nêu một ví dụ khác, thứ nhất là tiêu đen, 493 00:35:57,295 --> 00:35:59,345 thứ hai là đinh hương, thứ ba là muối, 494 00:35:59,375 --> 00:36:01,348 thứ tư là gừng, vừa rồi có gừng rồi nhé, 495 00:36:01,378 --> 00:36:02,657 thứ năm là hành tây. 496 00:36:02,687 --> 00:36:05,507 Đó là những thứ thuộc về dược phẩm (dược bảo). 497 00:36:05,537 --> 00:36:08,819 Tuy nhiên có một điều là, những thứ thuộc về dược phẩm đó 498 00:36:08,849 --> 00:36:11,361 không được trộn ăn cùng với cơm (vật thực chính). Đúng không nào. 499 00:36:11,391 --> 00:36:13,440 Ví dụ, muối nằm trong danh mục thuốc, 500 00:36:13,470 --> 00:36:15,520 và quý sư đã thọ nhận muối đó rồi. 501 00:36:15,550 --> 00:36:18,832 Buổi sáng khi dùng bữa, nếu cơm hay thức ăn hơi nhạt, 502 00:36:18,862 --> 00:36:23,684 vị mặn bị thiếu, thì quý sư không được phép lấy muối đã thọ nhận theo diện thuốc đó để thêm vào ăn. 503 00:36:23,714 --> 00:36:26,303 Có quy định như vậy nhé, không được thêm vào ăn đâu. 504 00:36:26,333 --> 00:36:30,385 Tại sao vậy, vì không được trộn với cơm, không có phép trộn ăn chung, nó chỉ được dùng riêng biệt như là thuốc thôi. 505 00:36:30,415 --> 00:36:32,465 Không được phép ăn với tư cách là vật thực (āhāra), 506 00:36:32,495 --> 00:36:35,007 chỉ được sử dụng nó với tư cách là thuốc (dược phẩm) thôi. 507 00:36:35,037 --> 00:36:37,086 Đúng vậy nhé, điều này cần phải lưu ý. 508 00:36:37,116 --> 00:36:39,859 Vì thế gừng, lúc nãy gừng nằm trong danh mục thuốc, 509 00:36:39,889 --> 00:36:44,250 nhưng vào buổi chiều không được làm kiểu như món ăn vặt, trộn với hành tây và dầu để ăn đâu. 510 00:36:44,280 --> 00:36:47,099 Nếu làm vậy thì không còn là thuốc nữa, mà đã trở thành vật thực (āhāra) rồi. 511 00:36:47,129 --> 00:36:51,952 Đúng vậy nhé, nó đã trở thành vật thực rồi. Về hành cũng tương tự như vậy, như ngày nay người ta hay nói về món gỏi hành đấy. 512 00:36:51,982 --> 00:36:55,264 Bản thân hành cũng nằm trong thuốc (dược phẩm), có thể dùng riêng biệt được, 513 00:36:55,294 --> 00:36:58,653 Nhưng nếu trộn thêm dầu và các thứ khác như vừa rồi thì không được nữa, 514 00:36:58,683 --> 00:37:01,965 Không được làm như vậy, kiểu đó đấy, đó là điều cần phải cẩn thận. 515 00:37:01,995 --> 00:37:05,277 Vì vậy khi quý sư tổ chức các buổi lễ tụng Paṭṭhāna hay các lễ tương tự 516 00:37:05,307 --> 00:37:08,127 Thì không được làm món gỏi hành hay gỏi cà chua đâu nhé. 517 00:37:08,157 --> 00:37:11,439 Việc này cũng giống như việc dâng bữa tối phi thời (vikālabhojana) cho các bậc Trưởng lão vậy. 518 00:37:11,469 --> 00:37:14,058 Do đó, nếu muốn dâng cúng thì hãy dâng nước giải khát (đồ uống), 519 00:37:14,088 --> 00:37:17,370 Hãy dâng loại nước giải khát không còn xác (bã) nhé, 520 00:37:17,400 --> 00:37:21,452 Trong trường hợp có các bậc Trưởng lão cao hạ hoặc các ngài đang bị yếu sức 521 00:37:21,482 --> 00:37:24,302 Thì vẫn có thể dâng cúng tứ vị ngọt (catumadhū) hay bơ (thoa-bát), 522 00:37:24,332 --> 00:37:27,152 Nếu vào buổi chiều có các vị sư không có sức lực, 523 00:37:27,182 --> 00:37:30,464 Thì có thể dâng bơ hoặc tứ vị ngọt (catumadhū) như là thuốc bổ vậy. 524 00:37:30,494 --> 00:37:33,776 Với những vị trẻ tuổi thì không cần thiết, chỉ cần dâng nước giải khát là được rồi. 525 00:37:33,806 --> 00:37:37,396 Vì vậy các món gỏi hành, gỏi trà, gỏi gừng không phải là thuốc đâu, 526 00:37:37,426 --> 00:37:41,786 Nếu phân chia trong bốn loại vật thực hạn kỳ (kālika) thì chúng thuộc về loại số 3, tức là vật thực bổ dưỡng (āhāra). 527 00:37:41,816 --> 00:37:45,098 Nếu chỉ riêng bản thân chúng thì thuộc về loại số 4, dược phẩm trọn đời (yāvajīvika), 528 00:37:45,128 --> 00:37:48,718 Nhưng nếu kết hợp với các món ăn nhẹ khác thì sẽ trở thành loại số 1, vật thực hạn kỳ đến trưa (yāvakālika), 529 00:37:48,748 --> 00:37:51,260 Tức là nằm trong phần vật thực dùng cho một bữa ăn. 530 00:37:51,290 --> 00:37:52,760 Vì thế, quý sư khuyến tấn các nam nữ thí chủ Phật tử rằng vào buổi chiều 531 00:37:52,790 --> 00:37:54,270 Không nên dâng cúng gỏi gừng, gỏi trà, gỏi cà chua, những món như vậy. 532 00:37:54,300 --> 00:37:59,315 Không được phép để chư Tăng nếm thử những món đó đâu nhé. 533 00:37:59,345 --> 00:38:03,627 Những thứ đó nằm trong danh sách không nên dâng cúng vào buổi chiều nhé. 534 00:38:03,657 --> 00:38:08,765 Nếu dâng cúng thì cũng giống như việc dâng vật thực phi thời (vikālabhojana) cho chư Tăng vậy. 535 00:38:08,795 --> 00:38:12,985 Điều đó cần phải lưu tâm cẩn thận nhé. 536 00:38:13,015 --> 00:38:17,756 Chỉ khi người đệ tử biết vâng lời thì quý sư và chư Tăng mới thoát khỏi phạm tội (āpatti). 537 00:38:17,786 --> 00:38:21,885 Bây giờ chúng ta hãy cùng đọc tiếp phần bên dưới một chút nhé. 538 00:38:21,915 --> 00:38:26,747 "Các vật dụng nêu trên cũng có thể dâng cúng vào bất cứ lúc nào" có nghĩa là 539 00:38:26,777 --> 00:38:31,701 Bất cứ lúc nào ở đây là có thể dâng vào buổi sáng, buổi chiều, hay buổi trưa vậy. 540 00:38:31,731 --> 00:38:35,738 "Sau khi đã được thọ nhận một lần thì có thể sử dụng tùy ý suốt đời". 541 00:38:35,768 --> 00:38:40,601 Quý sư có thể giữ những thứ đó nhé, có thể nhận sự cúng dường rồi cất giữ lại. 542 00:38:40,631 --> 00:38:45,463 Không nên sử dụng khi không có lý do chính đáng nhé, điều này tôi đã nói lúc nãy rồi. 543 00:38:45,493 --> 00:38:49,500 Dù nói là thuốc nhưng nếu nghĩ rằng "ồ, là gừng thôi mà, ăn được mà; là ớt mà, ăn được mà", thì không phải vậy, cần phải có lý do chính đáng. 544 00:38:49,530 --> 00:38:54,362 Nếu muốn ăn gừng thì phải suy xét xem tại sao mình lại ăn nhé. 545 00:38:54,392 --> 00:38:59,225 Vậy nên, nếu muốn ăn hoa địa y (lင်းညှိပွင့်) thì cũng phải suy xét xem tại sao mình lại ăn vậy. 546 00:38:59,255 --> 00:39:03,262 Phải suy xét rồi đưa ra một lý do cụ thể mới được ăn, nếu không thì quý sư sẽ phạm tội (āpatti) đấy. 547 00:39:03,292 --> 00:39:08,124 Đối với các loại nước giải khát Yāmakālika, khi chư Tăng cảm thấy đói, 548 00:39:08,154 --> 00:39:12,987 Hoặc khi không được khỏe, thí chủ có thể dâng cúng. 549 00:39:13,017 --> 00:39:17,023 Còn đối với Sattāhakālika và Yāvajīvika, chỉ khi chư Tăng không khỏe mới nên dâng cúng. 550 00:39:17,053 --> 00:39:21,886 Nếu là nước giải khát thì khi không khỏe có thể dâng, khi đói có thể dâng, khi khát cũng có thể dâng. 551 00:39:21,916 --> 00:39:26,748 Nhưng với dược phẩm (dược liệu) thì chỉ đói thôi là không được, mà phải khi sức khỏe không tốt. 552 00:39:26,778 --> 00:39:30,785 Điều đó cũng phải tương ứng với từng loại bệnh nhé; nếu bệnh một đằng mà dùng thuốc một nẻo là không được đâu nhé. 553 00:39:30,815 --> 00:39:35,648 Ví dụ, nếu bị đau chân mà lại ăn mật đường (catumadhū) thì chẳng liên quan gì cả, đúng không nào? 554 00:39:35,678 --> 00:39:40,510 Nếu nói "Tôi là bệnh nhân (gilāna), tôi không khỏe, hãy dâng mật đường cho tôi đi", thì việc đau chân và mật đường không có liên quan gì với nhau cả. 555 00:39:40,540 --> 00:39:44,547 Ý tôi muốn nói là, khi nói đến bệnh nhân (gilāna) thì phải là bệnh tương ứng, đừng nói đến những bệnh không liên quan nhé, kiểu như vậy đó. 556 00:39:44,577 --> 00:39:49,409 Ý tôi là phải đúng loại bệnh tương ứng. Chúng ta không thể lừa dối Luật Tạng (Vinaya) của Đức Thế Tôn được đâu nhé, rất chính xác, cực kỳ chính xác. 557 00:39:49,439 --> 00:39:51,272 Vậy thì, trước khi đi tiếp, chúng ta vừa hoàn thành sơ qua về bốn loại Kālika (thời hạn sử dụng vật thực). 558 00:39:51,302 --> 00:39:53,970 Yāvakālika là các loại vật thực, đồ ăn như gạo, lúa mì, rồi cái gì nữa nhỉ, ở phía bên này... 559 00:39:54,000 --> 00:39:59,027 Là cơm đúng không? Cơm, gạo, lúa mì, cá và thịt. 560 00:39:59,057 --> 00:40:03,349 Năm loại đó được gọi là vật thực (bhojana), còn các đồ ăn khác thì gọi là đồ ăn nhẹ (khajjaka). 561 00:40:03,379 --> 00:40:08,499 Kết hợp cả hai loại đó lại gọi là Yāvakālika nhé. Là vật thực dùng trong một bữa (đến trước giờ ngọ). 562 00:40:08,529 --> 00:40:12,729 Tiếp đến là các loại nước giải khát, có 9 loại nước giải khát không được phép làm. 563 00:40:12,759 --> 00:40:17,786 Nếu tính cả gạo, lúa mì và các loại đậu thì là 11 loại. Ngoài những loại đó ra, tất cả các loại trái cây và rau củ khác đều có thể làm thành nước giải khát với nước lạnh. 564 00:40:17,816 --> 00:40:22,016 Nếu hỏi loại đó giữ được bao lâu, thì câu trả lời là dùng trong một ngày (một đêm), dùng trong một ngày nhé. 565 00:40:22,046 --> 00:40:26,338 Một loại khác là đường, đường thốt nốt, mật đường (catumadhū), bơ tươi, mật ong và dầu. 566 00:40:26,368 --> 00:40:31,488 Năm loại này đối với chúng ta là Sattāhakālika, được dùng trong 7 ngày nhé. 567 00:40:31,518 --> 00:40:35,717 Còn lại các thứ có tính chất làm thuốc, thuốc y học cổ truyền, hay các loại thuốc tây phương hiện đại, tất cả đều là Yāvajīvika, gọi là dùng trọn đời. 568 00:40:35,747 --> 00:40:40,775 Như vậy tổng cộng có 4 loại. 569 00:40:40,805 --> 00:40:45,005 Trước khi sang trang 84, chúng ta hãy nói thêm một chút nhé. 570 00:40:45,035 --> 00:40:49,327 Hãy thảo luận thêm một chút về vấn đề nước giải khát này. 571 00:40:49,357 --> 00:40:54,476 Về các loại đồ uống, khi nãy quý sư đã nói rồi, đã nói là phải pha bằng nước lạnh nhé. 572 00:40:54,506 --> 00:40:58,706 Không được có bã, vì quý sư đã nói là phải pha bằng nước lạnh mà. 573 00:40:58,736 --> 00:41:03,764 Các loại nước ngọt đóng chai thời nay, hay các loại đồ đóng hộp pha sẵn vậy. 574 00:41:03,794 --> 00:41:07,994 Rồi tiếp đến là nước gừng nấu, nước đường thốt nốt đã đun sôi. 575 00:41:08,024 --> 00:41:12,316 Hồi quý sư còn nhỏ đấy, khi chưa thông thạo Luật Tạng, hồi còn trẻ con, hồi còn là Sa-di. 576 00:41:12,346 --> 00:41:17,465 Đối với nước đường thốt nốt thì lại có sự hoài nghi, thấy nó cứ lấn cấn sao đó. 577 00:41:17,495 --> 00:41:21,695 Vì mình đã ghi nhớ rằng không được nấu bằng lửa mà. 578 00:41:21,725 --> 00:41:26,753 Thế nên, ồ tại sao các ngài Trưởng lão lại uống nước đường thốt nốt, thứ vốn đã được nấu bằng lửa. 579 00:41:26,783 --> 00:41:30,983 Cho nên mới nảy sinh câu hỏi là: tại sao lại uống nước đường thốt nốt khi nó đã được nấu bằng lửa? 580 00:41:31,013 --> 00:41:35,305 Nghĩa là, nếu làm đồ uống từ các loại rau củ quả thì mới phải làm bằng nước lạnh, không được nấu bằng lửa. 581 00:41:35,335 --> 00:41:40,454 Còn Sattāhakālika, những thứ dùng trong 7 ngày như khi nãy đã nói: bơ, dầu, mật ong, đường nhé. 582 00:41:40,484 --> 00:41:44,684 Những thứ đó thì có thể nấu bằng lửa được. 583 00:41:44,714 --> 00:41:49,742 Đúng chưa nào? Vậy nên, có 2 loại có thể nấu bằng lửa được. 584 00:41:49,772 --> 00:41:51,242 Đó là Sattāhakālika dùng trong 7 ngày và Yāvajīvika dùng trọn đời. 585 00:41:51,272 --> 00:41:53,670 Hai loại vật dụng đó thì có thể nấu bằng lửa. Hãy ghi nhớ điều đó nhé. 586 00:41:53,700 --> 00:41:56,799 Mọi người hãy tự mình ghi chú lại một chút nhé. 587 00:41:56,829 --> 00:42:00,108 Vậy nên, những thứ có thể nấu bằng lửa dùng cho buổi chiều là 588 00:42:00,138 --> 00:42:05,741 Các vật dụng Sattāhakālika và Yāvajīvika như khi nãy, hãy ghi nhớ như vậy nhé. 589 00:42:05,771 --> 00:42:09,050 Những thứ dùng trong bảy ngày và những thứ dùng trọn đời nhé. 590 00:42:09,080 --> 00:42:13,789 Vậy thì, những thứ dùng trong bảy ngày và trọn đời có thể làm gì? Đó là có thể nấu bằng lửa. 591 00:42:13,819 --> 00:42:16,203 Có thể nấu bằng lửa được. 592 00:42:16,233 --> 00:42:20,943 Thế nên, đường thốt nốt khi nãy quý sư đã xếp vào loại dùng trong bảy ngày rồi mà. 593 00:42:20,973 --> 00:42:23,357 Tiếp theo, gừng tươi nằm trong loại nào? Gừng ấy 594 00:42:23,387 --> 00:42:28,096 Nằm trong loại dùng trọn đời. Vì lý do đó, chúng có thể được nấu bằng lửa. 595 00:42:28,126 --> 00:42:34,088 Đúng chưa nào? Vì vậy, nước gừng nấu hay nước đường thốt nốt đều có thể nấu bằng lửa được. 596 00:42:34,118 --> 00:42:38,827 Đúng chưa? Những thứ có thể làm bằng lửa. Vì thế nên điều đó là hợp pháp (kappiya). 597 00:42:38,857 --> 00:42:43,924 Hồi quý sư còn nhỏ, có một số vị Trưởng lão thuộc hệ phái Shwegyin. 598 00:42:43,954 --> 00:42:49,557 Thời nay thì không rõ, nhưng các vị Trưởng lão thời xưa không uống các loại đồ đóng hộp pha sẵn này. 599 00:42:49,587 --> 00:42:52,866 Không phải vì lý do sức khỏe đâu, mà là vì họ có sự hoài nghi về Luật (Vinaya). 600 00:42:52,896 --> 00:42:56,711 Họ có sự hoài nghi rằng những thứ đó đã được nấu bằng lửa. 601 00:42:56,741 --> 00:43:01,808 Những loại nước đóng chai này, như nước ép nho hay nước ép cam, thường được mang đến cúng dường. 602 00:43:01,838 --> 00:43:07,441 Để bảo quản được lâu, các Ngài trưởng lão cho rằng chúng đã được nấu qua lửa. 603 00:43:07,471 --> 00:43:12,538 Vì vậy, nếu là nước ép trái cây mà đã nấu qua lửa thì không hợp lẽ đạo (akappiya), điều này là đúng. Các thí chủ hiểu chứ? 604 00:43:12,568 --> 00:43:19,066 Việc cho rằng nước cam hay nước nho này, để giữ được lâu mà đem đi hấp hay nấu qua lửa thì không hợp lệ, đó là quan điểm đúng. 605 00:43:19,096 --> 00:43:25,057 Tuy nhiên, sau này các vị sư hiện đại khi nghiên cứu kỹ lại thì thấy rằng, nước cam thời nay không phải là nước cam nguyên chất hoàn toàn. 606 00:43:25,087 --> 00:43:30,691 Nước cam đóng chai thực chất chỉ là hương liệu và mùi vị được thêm vào thôi. Thật ra chúng chỉ là nước đường. 607 00:43:30,721 --> 00:43:33,999 Vâng, chỉ là nước đường thôi. Vậy nếu hỏi nước đường thuộc loại nào, 608 00:43:34,029 --> 00:43:38,739 Thì nó thuộc nhóm vật thực dùng trong 7 ngày (sattāhakālika). Vì thuộc nhóm 7 ngày nên nước đường này dù có nấu qua lửa, 609 00:43:38,769 --> 00:43:43,836 Thì vẫn hợp lệ (kappiya) để sử dụng. Đúng vậy không? Đó là lý do tại sao nếu hỏi nước đóng chai ngày nay có dùng được không, thì câu trả lời là có. 610 00:43:43,866 --> 00:43:47,681 Bởi vì bản chất của nó là nước đường. Không biết quý vị có hiểu ý này không. 611 00:43:47,711 --> 00:43:50,672 Nghĩa là nó không phải nước ép trái cây nguyên chất. Nếu là nước ép trái cây nguyên chất mà nấu qua lửa thì sẽ không được phép dùng (sau giờ ngọ). 612 00:43:50,702 --> 00:43:53,370 Đúng vậy, những chai hay hộp nước đóng sẵn (Ready-made) từ phương Tây mang về, nếu thực sự là nước trái cây nguyên chất mà đã nấu qua lửa thì không được dùng. 613 00:43:53,400 --> 00:45:53,070 Nếu đã nấu qua lửa thì loại thức uống đó... (đoạn này lặp từ "thức uống"). 614 00:45:53,100 --> 00:45:55,317 Nhưng đối với những thứ này, có thể pha với nước nóng để dùng nhé. 615 00:45:55,347 --> 00:45:58,643 Như mật ong hay đường thốt nốt thì có thể pha với nước nóng. Không nhất thiết phải dùng nước lạnh. 616 00:45:58,673 --> 00:46:01,609 Bây giờ chúng ta hãy xem tiếp phần bên dưới nhé. 617 00:46:01,639 --> 00:46:04,575 Về các vật dụng thuộc nhóm bảy ngày (sattāhakālika), thưa quý sư, 618 00:46:04,605 --> 00:46:09,699 Vì chúng là những vật dụng dùng theo thời hạn riêng, nên tốt nhất là hãy dâng cúng riêng biệt từng loại. 619 00:46:09,729 --> 00:46:12,126 Nghĩa là không nên để lẫn lộn với các loại vật thực khác khi dâng cúng. 620 00:46:12,156 --> 00:46:18,688 Trong bốn loại vật thực hạn kỳ (yāvakālika) nêu trên, nếu đã thọ nhận một lần thì vật thực một đêm (yāmakālika)... 621 00:46:18,718 --> 00:46:22,913 Lúc nãy, việc nói rằng vật dụng bảy ngày (sattāhakālika) là vật dụng dùng theo thời hạn khác, 622 00:46:22,943 --> 00:46:28,576 Nên dâng cúng riêng biệt, điều này có thể gây hiểu lầm. Hồi trẻ chúng tôi cũng từng hiểu lầm chỗ này. 623 00:46:28,606 --> 00:46:31,003 Cái chữ "dâng riêng biệt" đó có nghĩa là thế này: 624 00:46:31,033 --> 00:46:34,868 Nghĩa là đừng có trộn lẫn trực tiếp với các loại đồ ăn (dùng trước giờ ngọ) rồi mới dâng. 625 00:46:34,898 --> 00:46:39,992 Còn nếu để chung trong cùng một khay, ví dụ có gói bánh và cũng có hộp thuốc, thì điều đó không có vấn đề gì cả. 626 00:46:40,022 --> 00:46:43,228 Các thí chủ hiểu chưa? Một số người hiểu lầm việc "không được dâng chung" là như vậy. 627 00:46:43,258 --> 00:46:48,352 "Trộn lẫn" ở đây nghĩa là, ví dụ trong cơm có lẫn dầu ăn. Dầu ăn là vật dụng bảy ngày (sattāhakālika). 628 00:46:48,382 --> 00:46:52,576 Còn cơm là vật thực dùng buổi sáng (yāvakālika). Nếu trộn lẫn như vậy mà dâng cúng thì (dầu đó) chỉ còn giá trị sử dụng trong một ngày thôi. 629 00:46:52,606 --> 00:47:00,037 Đó là điều muốn nói. Còn nếu để riêng từng thứ trên cùng một khay, hay để trong các hộp riêng rồi dâng thì không có vấn đề gì. 630 00:47:00,067 --> 00:47:04,262 Tôi nói vậy vì sợ quý vị hiểu lầm. Hồi còn nhỏ chúng tôi cũng đã từng hiểu lầm như thế. 631 00:47:04,292 --> 00:47:10,824 Ồ, tôi cứ tưởng là phải dâng cúng riêng biệt đấy chứ. Tưởng rằng phải dâng cúng thuốc riêng, dâng cúng bánh riêng. Không phải nói như vậy đâu. 632 00:47:10,854 --> 00:47:17,386 Việc dâng cúng chung lại thì vẫn được nhé. Ý muốn nói là khi trộn lẫn vào nhau mà không thể tách rời được đấy. 633 00:47:17,416 --> 00:47:19,813 Muốn nói đến việc trộn lẫn vào nhau đến mức không thể tách rời được. 634 00:47:19,843 --> 00:47:25,476 Trong bốn loại vật thực hạn kỳ (kālika) nêu trên, nếu đã thọ lãnh một lần thì vật thực dùng trong một ngày (yāmakālika), 635 00:47:25,506 --> 00:47:34,195 vật thực dùng trong bảy ngày (sattāhakālika), và vật thực dùng trọn đời (yāvajīvika) - ba loại này là những vật phẩm dinh dưỡng có thể dâng cúng và thọ thực vào buổi chiều (sau giờ ngọ). 636 00:47:34,225 --> 00:47:39,858 Vậy nên, khi quý sư phân chia bốn loại đó theo thời gian, đối với vật thực dùng trong hạn kỳ buổi sáng (yāvakālika) như các món ăn, vật thực nhai nuốt thì 637 00:47:39,888 --> 00:47:44,083 có thể dâng cúng từ lúc rạng đông đến trước giờ ngọ. 638 00:47:44,113 --> 00:47:49,207 Còn ba loại vật phẩm còn lại là loại dùng trong một ngày, loại dùng trong bảy ngày và loại dùng trọn đời, ba loại này thì 639 00:47:49,237 --> 00:47:50,707 có thể dâng cúng vào bất cứ lúc nào, dù là buổi sáng hay buổi chiều tùy ý. 640 00:47:50,737 --> 00:47:52,770 Tôi đã phân chia xong các vật phẩm có thể dâng cúng rồi nhé. Hãy phân chia như vậy. 641 00:47:52,800 --> 00:47:57,545 Nào, vậy thì nước mật ong, bơ, dầu, những thứ đó có thể dâng cúng vào buổi chiều được. 642 00:47:57,575 --> 00:47:59,890 Nhé, có thể dâng cúng vào buổi chiều. 643 00:47:59,920 --> 00:48:06,489 Còn lại vật thực dùng trong hạn kỳ buổi sáng (yāvakālika) chỉ được tính từ lúc rạng đông cho đến đúng 12 giờ trưa, 644 00:48:06,519 --> 00:48:10,310 đó là những vật phẩm dinh dưỡng có thể dâng cúng và thọ thực được. 645 00:48:10,340 --> 00:48:14,912 Vào buổi chiều thì không được dâng cúng, nếu dâng cúng và được thọ lãnh thì 646 00:48:14,942 --> 00:48:21,251 chư Tăng sẽ phạm tội Tác ác (Dukkaṭa), và nếu thọ thực thì sẽ phạm luật lỗi Ưng đối trị (Pācittiya). 647 00:48:21,281 --> 00:48:23,335 Nhé, quý sư ơi, điều này rất quan trọng đấy. 648 00:48:23,365 --> 00:48:27,937 Khi chưa rạng đông thì không được dâng cúng. Những người đi dâng cúng vật thực rạng đông cần phải lưu ý. 649 00:48:27,967 --> 00:48:32,539 Nhé, trong giáo pháp (Sāsana), một ngày không được xác định bằng giờ giấc. 650 00:48:32,569 --> 00:48:34,883 Mà được xác định bằng ánh sáng mặt trời. Nhé. 651 00:48:34,913 --> 00:48:40,701 Nếu ở thế gian, qua 12 giờ đêm là người ta nói "Chúc mừng năm mới" rồi, coi như đã sang một ngày mới rồi. 652 00:48:40,731 --> 00:48:43,827 Trong giáo pháp thì chỉ qua 12 giờ đêm thôi là chưa được đâu. Nhé. 653 00:48:43,857 --> 00:48:49,645 Phải đợi đến lúc rạng đông, khi rạng đông rồi thì quý sư mới có thể dâng cúng vật thực rạng đông đến chư Tăng được. 654 00:48:49,675 --> 00:48:55,463 Ví dụ như khi chưa rạng đông, đến 5 giờ mới rạng đông mà khoảng 4 giờ rưỡi đã đi dâng cúng vật thực rồi thì 655 00:48:55,493 --> 00:48:58,588 điều đó cũng giống như dâng cúng vật thực phi thời (vikālabhojana) vào buổi tối vậy. Nhé. 656 00:48:58,618 --> 00:49:02,670 Giống như dâng cúng vật thực vào ban đêm vậy. Chỉ có nửa tiếng đồng hồ đó thôi mà mọi người lại không thể chờ đợi được. 657 00:49:02,700 --> 00:49:06,751 Như vậy, việc thỉnh chư Tăng đến nhà cũng giống như là đang dâng cúng bữa tối vậy. 658 00:49:06,781 --> 00:49:09,877 Khi đó, người dâng cúng cũng không tốt, mà người thọ dụng cũng không ổn đâu nhé. 659 00:49:09,907 --> 00:49:13,090 Đây là những việc mà các nam nữ thí chủ cần phải biết khi dâng cúng vật thực rạng đông. 660 00:49:13,120 --> 00:49:16,302 Vì thế, tuyệt đối không được dâng cúng đồ ăn khi chưa rạng đông. 661 00:49:16,332 --> 00:49:20,036 Hơn nữa, sau 12 giờ trưa thì không được nhận vật thực nữa. 662 00:49:20,066 --> 00:49:21,512 Tuyệt đối không được nhận nữa nhé. 663 00:49:21,542 --> 00:49:27,243 Nếu hỏi nhận thì sẽ ra sao, thì nếu nhận sau 12 giờ trưa, món đồ đó các Tỳ-khưu không được ăn vào ngày hôm sau nữa. 664 00:49:27,273 --> 00:49:30,456 Này, dù ăn hay không ăn, chỉ riêng việc chấp nhận đặt vào tay (thọ nhận) thôi là đã phạm tội (āpatti) rồi. 665 00:49:30,486 --> 00:49:33,321 Nếu thọ nhận các vật thực thì đã phạm tội rồi. 666 00:49:33,351 --> 00:49:39,139 Tuy nhiên, nếu thọ nhận với ý định rằng "Ta là Tỳ-khưu sẽ không ăn, mà sẽ xả lại cho các học sinh, xả lại cho các Sa-di" thì được. 667 00:49:39,169 --> 00:49:41,484 Quý sư đã nói điều này ở phần trước rồi. 668 00:49:41,514 --> 00:49:47,822 Trong Chương 1, quý sư đã nói về việc chư Tăng không nên cầm nắm các vật thực khi chưa được đặt vào tay (chưa thọ nhận) đấy nhé. 669 00:49:47,852 --> 00:49:49,772 Nhưng đó là nói về phần của mình. Bây giờ nhớ ra nên quý sư sẽ bổ sung thêm một chút điểm này. 670 00:49:49,802 --> 00:49:51,802 Về phần của mình... 671 00:49:52,500 --> 00:49:56,996 Chỉ là không nên cầm nắm cho phần của mình thôi. Nếu là vì các học sinh hay những người hộ tăng (kappiya) thì có thể nhặt lấy được. 672 00:49:57,026 --> 00:50:00,865 Ví dụ như khi đang đi trên đường, thấy cây táo ta và có những quả táo bị rụng xuống. 673 00:50:00,895 --> 00:50:07,614 Khi nhìn thấy những quả táo đó, nếu nghĩ rằng "Học trò của ta đang ở chùa, các chú Sa-di nhỏ đang ở đó, ta sẽ mang về cho các chú Sa-di ăn" thì có thể nhặt mang đi được. 674 00:50:07,644 --> 00:50:11,482 Vì thế, đối với những vị Tỳ-khưu có thể nhặt cầm như vậy thì xin đừng vội chỉ trích ngài nhé. 675 00:50:11,512 --> 00:50:15,104 Bởi vì quý sư đang giải thích rằng vẫn còn có những lý do và những trường hợp ngoại lệ như vậy. 676 00:50:15,134 --> 00:50:19,466 Chỉ là không nên nhặt cho chính vị Tỳ-khưu đó thôi, còn nếu vì Sa-di hay học sinh thì có thể nhặt mang đi. 677 00:50:19,496 --> 00:50:27,450 Nghĩ rằng "Ở chùa ta có những người hộ tăng, có học sinh, ta sẽ cho các chú Sa-di ăn" rồi nhặt những quả xoài, quả táo ta đang rụng đó đi. 678 00:50:27,480 --> 00:50:30,166 Sau đó mang về cho các Sa-di, học sinh thì được. 679 00:50:30,196 --> 00:50:34,610 Sau khi đã cho như vậy, đến sáng ngày hôm sau, họ vẫn có thể dâng cúng (kappiya) lại để mình ăn được. 680 00:50:34,640 --> 00:50:38,149 Bởi vì đó không phải là lấy cho mình, mà là lấy cho họ và đã cho họ rồi. 681 00:50:38,179 --> 00:50:42,018 Đến sáng hôm sau mình mới bảo: "Này Sa-di, hãy dâng cái đó cho sư đi." 682 00:50:42,048 --> 00:50:44,734 Tức là mình xin ăn lại từ họ. 683 00:50:44,764 --> 00:50:49,096 Này, nhưng cần phải có sự chân thật nhé. Đừng có làm theo kiểu lắt léo, gian lận đấy nhé. 684 00:50:49,126 --> 00:50:54,364 Nếu cố tình nhắm đến việc mình ăn mà nhặt, rồi bảo "Này cầm lấy đi, rồi dâng lại cho sư", thì cái đó là không được đâu nhé. 685 00:50:54,394 --> 00:50:57,903 Đừng có lanh chanh quá mức, trong Luật Tạng (Vinaya) thì cần phải có sự chân thật. 686 00:50:57,933 --> 00:51:00,619 Đừng có lách Luật Tạng (Vinaya) theo kiểu lanh chanh nhé. 687 00:51:00,649 --> 00:51:02,841 Có những trường hợp ngoại lệ như thế đấy. 688 00:51:02,871 --> 00:51:08,356 Vì vậy, khi quý sư hiểu biết đầy đủ về Luật Tạng (Vinaya) thì sẽ không phạm lỗi (xúc phạm) đối với chư Tăng, mà sẽ có sự cẩn trọng. 689 00:51:08,386 --> 00:51:13,541 Đôi khi, khi bản thân không biết đầy đủ về Luật Tạng, chúng ta thường hay chỉ trích rằng: "Kìa, vị sư này lại đi nhặt cầm đồ vật." 690 00:51:13,571 --> 00:51:19,056 Đôi khi thấy ngài nhận các vật thực chẳng hạn, lại đi chỉ trích rằng: "Kìa, vị sư này lại đi nhận các vật thực (sau giờ trưa)." 691 00:51:19,086 --> 00:51:22,842 Không phải, nếu không phải cho bản thân mình thì có thể thọ nhận sự cúng dường. Đừng quên điều này nhé. 692 00:51:22,872 --> 00:51:26,710 Đôi khi các vị thầy ngại với các nam nữ thí chủ khi thọ nhận cúng dường dù không phải cho mình. 693 00:51:26,740 --> 00:51:29,755 Ví dụ trong các buổi nghe Pháp ban đêm, đôi khi họ đến cúng dường bánh trái này nọ. 694 00:51:29,785 --> 00:51:34,118 Các nam nữ thí chủ không hiểu rõ phép tắc đấy. Vì không hiểu rõ nên họ đến cúng dường bánh trái cho sư vào ban đêm. 695 00:51:34,148 --> 00:51:37,657 Vị thầy cũng không nói gì mà cứ thọ nhận cúng dường. Có những trường hợp như vậy. 696 00:51:37,687 --> 00:51:43,747 Khi đó, có thể các vị thầy thọ nhận vì không biết, hoặc có lẽ họ thọ nhận với ý định dành cho các học trò vậy. 697 00:51:43,777 --> 00:51:46,464 Cũng có chuyện như vậy. Vì thế, chúng ta đừng vội trách cứ nhé. 698 00:51:46,494 --> 00:51:49,472 À, nếu về phía mình mà hiểu rõ phép tắc thì các vị thầy có thể thọ dụng vào ngày hôm sau mà; thay vì cúng vào buổi chiều tối thì hãy cúng vào buổi sáng nhé. 699 00:51:49,502 --> 00:51:52,170 Đó là điều tôi vừa nói bổ sung lại nhé. Trong việc có thể cầm nắm mà không cần thọ nhận cúng dường thì nếu là cho bản thân mình thì không được, nhưng nếu là cho học trò, Sa-di hay người cư sĩ thì có thể cầm lấy, rồi đưa cho họ và sau đó thọ nhận cúng dường ngược lại để thọ dụng cũng được. 700 00:51:52,200 --> 00:51:54,888 Vẫn có thể thọ dụng được nhé. Tình huống là như vậy. 701 00:51:54,918 --> 00:51:57,762 Nếu có điều gì không có trong đây thì quý vị hãy tự mình ghi chú lại một chút nhé. 702 00:51:57,792 --> 00:52:01,878 Không biết đã đưa bao nhiêu cuốn sách rồi. Tôi nghĩ là chưa đưa đâu. Cuốn Sute Ein. 703 00:52:01,908 --> 00:52:06,306 Vậy nên quý vị hãy tự mình ghi chú thêm một chút vào trong cuốn sách này nhé. 704 00:52:06,336 --> 00:52:11,199 Nếu có những điều không có trong sách, sư sẽ bổ sung thêm cho đầy đủ nhé. 705 00:52:11,229 --> 00:52:15,626 Về vấn đề rạng đông (aruṇ) thì lát nữa sư sẽ giải thích thêm một chút nhé. 706 00:52:15,656 --> 00:52:19,743 Ở đây, điều sư muốn lưu ý là các nam nữ thí chủ cúng dường vật thực lúc rạng đông, 707 00:52:19,773 --> 00:52:23,393 Và cả các hội đặt bát trong mùa An cư (Vassa) nữa nhé. Có những điều cần phải cẩn trọng. 708 00:52:23,423 --> 00:52:27,510 Những người đặt bát trong mùa An cư không nên đặt bát khi trời chưa rạng đông nhé. 709 00:52:27,540 --> 00:52:31,161 Có người nói rằng: "Bạch ngài, dù chúng con đặt bát trước khi rạng đông, 710 00:52:31,191 --> 00:52:34,500 Nhưng sau khi rạng đông mới thọ dụng mà, bạch ngài", một số người nói như vậy. 711 00:52:34,530 --> 00:52:40,481 Việc thọ dụng sau khi rạng đông thì dù không có tội, nhưng vấn đề nằm ở chỗ thọ nhận cúng dường trước khi rạng đông. 712 00:52:40,511 --> 00:52:44,598 Ví dụ 6 giờ rạng đông, mà 5 giờ rưỡi đã đặt bát, cúng dường vật thực. 713 00:52:44,628 --> 00:52:49,802 Đến sau 6 giờ mới thọ dụng vật thực đó. Việc đó trong Pāli gọi là sannidhi (tích trữ). 714 00:52:49,832 --> 00:52:53,918 Trở thành việc cất giữ rồi. Đúng vậy, trở thành việc cất giữ vật thực rồi. 715 00:52:53,948 --> 00:52:57,569 Vâng, là cho bản thân mình. Đúng vậy. Vì vẫn chưa chuyển sang thọ dụng (paribhoga) mà. 716 00:52:57,599 --> 00:53:01,685 Dù là một phút hay hai phút thì đó vẫn là việc cất giữ. 717 00:53:01,715 --> 00:53:06,113 Chỉ còn 5 phút nữa là đến rạng đông. Thời điểm đó mà thọ nhận cúng dường, rồi sau rạng đông mới thọ dụng. 718 00:53:06,143 --> 00:53:09,453 Như vậy thì giống như thọ dụng đồ đã cất giữ vậy nhé. 719 00:53:09,483 --> 00:53:13,103 Vì thế, các nam nữ thí chủ cúng dường vật thực không được cúng khi trời chưa rạng đông. 720 00:53:13,133 --> 00:53:16,443 Khi trời chưa rạng đông thì không được đặt bát, không được dâng vật thực. 721 00:53:16,473 --> 00:53:19,317 Chỉ vì điểm nhỏ này mà chư Tăng không bị phạm tội (āpatti) đâu nhé. 722 00:53:19,347 --> 00:53:24,210 Điều này liên quan đến toàn thể đất nước Myanmar. Những nhóm cúng dường vật thực (dāna) lúc rạng đông không nên cúng dường trước khi mặt trời mọc. 723 00:53:24,240 --> 00:53:28,637 Ví dụ nhé, nếu vật dụng dùng cho buổi sáng được thọ lãnh vào buổi sáng, 724 00:53:28,667 --> 00:53:32,754 Thì chỉ có quyền sử dụng trong khoảng thời gian buổi sáng đó thôi nhé. 725 00:53:32,784 --> 00:53:35,628 Như vật thực (dāna) vừa rồi, nếu thọ lãnh vào buổi sáng thì chỉ dùng vào buổi sáng thôi. 726 00:53:35,658 --> 00:53:41,298 Sau khi thọ lãnh mà không xả (cấp-pi) cho các Sa-di hay học sinh trong chùa, mà đợi đến sáng ngày hôm sau mới dùng thì sẽ phạm tội đấy nhé. 727 00:53:41,328 --> 00:53:45,725 Vì vậy, quý sư phải xả. Nếu xả rồi thì đó trở thành tài sản của Sa-di hoặc người hộ Tăng (kappiya) rồi. 728 00:53:45,755 --> 00:53:49,172 Theo cách này, nếu giữ các vật thực quá thời gian quy định rồi mới dùng thì sẽ bị phạm tội āpatti. 729 00:53:49,202 --> 00:53:51,870 Vậy nên, vật dùng buổi sáng thì thọ lãnh buổi sáng và dùng trong buổi sáng thôi, đừng để sang ngày sau. 730 00:53:51,900 --> 00:53:57,370 Các loại nước giải khát (yāmakālika) chỉ được dùng trong một ngày thì cũng chỉ dùng một ngày thôi, đừng để sang ngày sau. 731 00:53:57,400 --> 00:54:02,069 Ví dụ như những chai nước giải khát đó, chẳng hạn như chai Sprite hay gì đó, đúng không? 732 00:54:02,099 --> 00:54:07,670 Có người hỏi rằng những chai nước đó thì được xếp vào loại dùng trong mấy ngày? 733 00:54:07,700 --> 00:54:12,269 Họ hỏi rằng chai đó dùng được mấy ngày, để được bao lâu? Họ nói như vậy. 734 00:54:12,299 --> 00:54:16,970 Như Sprite hay các loại tương tự thì để được mấy ngày? Nếu có đường thì đó là nước đường. 735 00:54:17,000 --> 00:54:22,470 Thực ra, các loại đó chỉ là nước đường thôi. Sprite chính là nước đường. 736 00:54:22,500 --> 00:54:27,070 Nếu là nước đường thì nó thuộc vào nhóm vật thực hạn kỳ bảy ngày (sattāhakālika). 737 00:54:27,100 --> 00:54:32,669 Vì vậy, một vị Tỳ-khưu sau khi thọ lãnh chai Sprite thì có quyền cất giữ trong đúng bảy ngày. 738 00:54:32,699 --> 00:54:37,370 Đừng có chỉ trích việc đó nhé. Đừng có đi nói rằng "Vị sư này cất giữ những chai nước giải khát", đừng có chỉ trích như vậy nhé. 739 00:54:37,400 --> 00:54:42,070 Đôi khi vì không biết Luật Tạng (Vinaya) nên dễ nảy sinh tâm xúc phạm đấy nhé. 740 00:54:42,100 --> 00:54:47,570 Khi đã hiểu Luật (Vinaya) rồi thì có thể hỗ trợ, và cũng không còn xúc phạm nữa. Như vậy sẽ tốt hơn nhiều, đúng không? 741 00:54:47,600 --> 00:54:52,169 Là như vậy đó. Hơn nữa, nếu là nước đường thì có thể để được bảy ngày. 742 00:54:52,199 --> 00:54:57,770 Theo cách này nhé, như quý sư đã biết, nếu giữ các vật thực quá thời gian quy định rồi mới dùng thì sẽ phạm tội āpatti. 743 00:54:57,800 --> 00:55:02,370 Do đó, các thí chủ trước khi cúng dường vật thực cần phân biệt rõ thời gian sử dụng của chúng, 744 00:55:02,400 --> 00:55:06,969 Rồi xem xét thời gian mà chư Tăng có thể sử dụng được để cúng dường cho phù hợp nhé. 745 00:55:06,999 --> 00:55:12,570 Vì vậy, mình nên hiểu một chút về món đồ mình sắp cúng. Tự mình xem xem trong những món đồ cúng dường hôm nay có những loại nào. 746 00:55:12,600 --> 00:55:17,169 Nếu là loại vật thực hạn kỳ trọn đời (yāvajīvika) thì có thể mở ra cúng dường ngay. 747 00:55:17,199 --> 00:55:22,770 Nếu là những món cần dùng lâu dài, ví dụ như các hộp bánh, mà vị sư không thể dùng hết trong một ngày. 748 00:55:22,800 --> 00:55:27,370 Nếu không dùng hết trong một ngày, đối với những món cần ăn lâu dài như vậy thì đừng cúng dường trực tiếp (thọ lãnh), mà hãy để riêng ra một bên. 749 00:55:27,400 --> 00:55:31,969 Người hộ Tăng (kappiya) sẽ đến lấy, hoặc các Sa-di sẽ đến cất giữ giúp nhé. 750 00:55:31,999 --> 00:55:37,570 Vì Sa-di cũng có thể cất giữ được mà. Chỉ có Tỳ-khưu là không được phép cất giữ (quá thời hạn), còn Sa-di thì có thể cất giữ được. 751 00:55:37,600 --> 00:55:42,169 Vì vậy, hãy tự mình phân chia ra nhé. 752 00:55:42,199 --> 00:55:47,770 Hãy phân chia khi dâng cúng, thưa rằng: "Bạch ngài, đây là hộp bánh; bạch ngài, đây là thuốc nhuận" nhé. 753 00:55:47,800 --> 00:55:49,270 Nếu là bánh thì hãy để riêng ra, nếu là thuốc thì hãy dâng cúng. Kiểu như vậy đấy. 754 00:55:49,300 --> 00:55:51,570 Do đó, mọi người cần phải biết phân biệt rõ ràng. 755 00:55:51,600 --> 00:55:53,726 Không thể dâng cúng chung, không thể dâng cúng như vậy được. 756 00:55:53,756 --> 00:55:58,297 Vì thế, thay vì dâng cúng, nếu muốn để bên cạnh Thiền sư thì cứ để, hoặc là gửi gắm cho các kappiya (người hộ Tăng). 757 00:55:58,327 --> 00:56:03,817 Chỉ cần nói: "Sáng mai xin hãy dâng lên Thiền sư giúp con, con xin gửi lại cho chú tiểu nhé, sáng mai nhờ chú dâng lên ngài" là xong thôi mà. 758 00:56:03,847 --> 00:56:07,526 Điều đó bản thân mình phải biết chứ, các nam nữ thí chủ cần phải biết điều này. 759 00:56:07,556 --> 00:56:14,167 Ví dụ, nếu là bánh ngọt dùng cho buổi sáng, định để cúng dường vật thực sáng nay thì phải dâng cúng ngay trong sáng nay. 760 00:56:14,197 --> 00:56:17,876 Nếu định để cúng dường vật thực cho sáng ngày mai thì hôm nay không được dâng cúng. 761 00:56:17,906 --> 00:56:21,067 Nếu muốn để dành cho ngày mai ăn thì hãy giữ lại cho ngày mai. 762 00:56:21,097 --> 00:56:29,088 Sau khi cúng dường đến chư Tăng, phải gọi chú tiểu, học trò hoặc kappiya đến và gửi gắm rằng: "Đợi đến sáng mai mới được dâng cúng" nhé. 763 00:56:29,118 --> 00:56:30,555 Cái đó... 764 00:56:30,585 --> 00:56:38,835 Nếu bánh ngọt đã được thọ nhận (kappiya) vào sáng nay mà lại đem cúng dường vào buổi chiều hoặc trưa nay, thì do việc tích trữ (thủ tàng) mà phạm một tội Pācittiya. 765 00:56:38,865 --> 00:56:42,630 Do ăn vào buổi chiều (phi thời) nên phạm thêm một tội nữa, tổng cộng là phạm hai tội đấy nhé. 766 00:56:42,660 --> 00:56:46,339 Những loại bánh này, hễ quá trưa là không còn được phép dùng nữa. 767 00:56:46,369 --> 00:56:51,255 Khi đó, nó trở thành vật được cất giữ rồi. Vì vậy, do việc cất giữ đó mà đã phạm một tội. 768 00:56:51,285 --> 00:56:58,414 Tiếp theo, vì ăn sau khi mặt trời quá trưa nên phạm thêm một tội nữa. Như vậy, tội do cất giữ là một, tội do ăn là một, phạm hai tội. 769 00:56:58,444 --> 00:57:02,467 Vì lý do đó, quý sư phải xả bỏ các loại vật thực trước khi đồng hồ điểm 12 giờ. 770 00:57:02,497 --> 00:57:06,176 Không được phép giữ lại, hễ giữ lại là dù có ăn hay không cũng đã phạm tội rồi. 771 00:57:06,206 --> 00:57:12,473 Việc đặt bát cúng dường vật thực lúc rạng đông cũng vậy. Cúng dường vật thực lúc rạng đông, dù không ăn, nhưng hễ đã được thọ nhận thì đã phạm tội rồi. 772 00:57:12,503 --> 00:57:19,976 Tương tự như vậy, cũng cần biết rằng các vật dụng dùng trong một ngày (yāvakālika), dùng trong bảy ngày (sattāhakālika) thì không nên dùng sau khi đã quá thời gian quy định. 773 00:57:20,006 --> 00:57:25,755 Còn đối với vật dụng dùng trọn đời (yāvajīvika), sau khi thọ nhận thì có thể sử dụng suốt đời, không có giới hạn về thời gian. 774 00:57:25,785 --> 00:57:33,364 Do đó, các thí chủ khi nhìn vào phẩm vật mình sắp dâng cúng, cần lưu ý tìm hiểu thời gian có thể dâng cúng và thời gian có thể lưu giữ của phẩm vật đó để việc cúng dường được đúng phép. 775 00:57:33,394 --> 00:57:36,394 Vì vậy, khi dâng cúng, quý sư khuyên hãy tự mình phân loại phẩm vật, sắp xếp riêng ra rồi hãy dâng cúng nhé.