# Ân Đức Tam Bảo — Bản hiệu đính (Trang 016–020)
> Hiệu đính: 2026-04-28 | Batch: 016-020
> Áp dụng toàn bộ quy ước `editing-conventions.md`

## Trang 16

Vì vậy, ngày nay, khi chiêm bái những bức họa hay tôn tượng tạc hình ảnh Đức Phật đang dời gót kinh hành, quý vị chớ nên chỉ để tâm dính mắc vào bức tượng. (Giống như khi nhìn thấy bức ảnh của ông bà cha mẹ tại nhà mình, không chỉ thấy bức ảnh... *(Tiếp tục ở Trang 16)*

...mà còn lập tức tưởng nhớ đến ông bà cha mẹ khi còn sống, hình dung ra những hình ảnh và lời răn dạy của các vị ấy). Cũng giống như thế, hãy làm cho hình ảnh Đức Thế Tôn khi còn tại thế đang cất bước dời gót hiện lên rõ nét trong tâm trí, và hãy chiêm bái Ngài với niềm hỷ lạc và tôn kính.

Hình ảnh khi Ngài đứng: Không cất bước kinh hành mà đứng yên tĩnh tại, sừng sững uy nghi tựa như ngọn núi vàng, Ngài cũng đang gánh vác và thực hiện lợi ích cho các chúng sanh hữu duyên.

Do đó, ngày nay, khi chiêm bái những bức họa hay tôn tượng tạc hình ảnh Đức Phật đang đứng, quý vị hãy nỗ lực quán tưởng hình bóng Đức Thế Tôn khi còn tại thế đang uy nghi đứng đó và răn dạy chính bản thân mình, và hãy chiêm bái Ngài với lòng tôn kính tột độ.

Hình ảnh khi Ngài ngồi: Ngự tọa giữa hội chúng, thỉnh thoảng tỏa ra sáu luồng hào quang rực rỡ, ngồi kiết già (Pallanka) vững chãi để thuyết giảng Giáo pháp, Ngài đã gánh vác và thực hiện lợi ích cho vô số chúng sanh.

Vì vậy, ngày nay, khi chiêm bái những bức họa hay tôn tượng tạc hình ảnh Đức Phật đang ngồi kiết già, quý vị chớ nên chỉ để tâm nơi tôn tượng, mà hãy quán tưởng để thấy rõ trong tâm trí như thể mình đang được cận kề Đức Thế Tôn khi còn tại thế và đang được lắng nghe những lời Chánh Pháp giáo huấn của Ngài, và hãy chiêm bái Ngài với tâm cung kính ấy.

## Trang 17

Hình ảnh khi Ngài nằm (Dáng ngọa Phật): Vào ban đêm, thỉnh thoảng khi nằm nghỉ ngơi (dáng nằm kiết tường sư tử) trong hương phòng (Gandhakuṭī), Ngài vẫn giải đáp và thuyết giảng các câu hỏi thưa thỉnh của chư thiên và Phạm thiên, thực hiện lợi ích cho chúng sanh.

Do đó, ngày nay, khi chiêm bái hình ảnh Ngài nằm mà người ta thường gọi là "Shwethalyaung" (Tôn tượng Phật nằm dát vàng), quý vị hãy quán tưởng hình dung ra cảnh Đức Thế Tôn khi còn tại thế đang giải đáp những câu hỏi và thuyết pháp giáo huấn, và hãy chiêm bái với tâm niệm tôn kính ấy.

Xá-lợi (Dhātu): Đức Phật xuất gia vào năm Ngài 29 tuổi, thành tựu quả vị Phật vào năm 35 tuổi, và nhập Bát-niết-bàn (Parinibbāna) vào năm Ngài tròn 80 tuổi. Vì thế, trong tư cách là một vị Phật, Ngài chỉ lưu trú tại thế được 45 hạ lạp (Vassa).

Vì khoảng thời gian 45 hạ lạp đó không hề dài, nên để lại di sản cho những tín đồ có niềm tin vào Giáo pháp (Sāsana) trong tương lai tôn thờ, Đức Thế Tôn đã phát nguyện (Adhiṭṭhāna) cho các xá-lợi (xương) của Ngài được phân chia thành những phần nhỏ mầu nhiệm.

*[Đối với chư Phật có tuổi thọ trường thọ, xá-lợi cốt của các Ngài không bị phân nhỏ mà lưu lại thành một khối duy nhất.]*

Vì vậy, khi chiêm bái xá-lợi, hoặc khi chiêm bái các bảo tháp nơi tôn trí xá-lợi, chớ nên chỉ để tâm nơi xá-lợi hay bảo tháp... *(Tiếp tục ở Trang 18)*

...mà dừng lại ở đó. (Giống như khi nhìn thấy hài cốt hoặc bình tro cốt của ông bà cha mẹ, ta lập tức hình dung và tưởng nhớ đến ông bà cha mẹ), hãy nỗ lực quán tưởng để thấy rõ trong tâm trí hình bóng Đức Thế Tôn khi còn tại thế, và hãy chiêm bái Ngài với lòng cung kính tột độ.

Bốn loại Cetiya (Bảo tháp): Nơi chốn thiêng liêng để mọi người tôn kính và lễ bái, tiếng Pāḷi gọi là "Cetiya" (Bảo tháp/Bảo tọa), tiếng Myanmar gọi là "Zedi".

## Trang 18

Tùy theo tín ngưỡng của mỗi người, bất cứ nơi nào hay vật gì được tôn thờ như cây cổ thụ, khu rừng rậm, ngọn núi cao, đống cát, tháp gạch hay hình tượng tạc, thảy đều được gọi chung là Cetiya.

Vì thế, ngày nay ở Myanmar, việc người ta chỉ gọi các tháp xây bằng gạch hay các đống cát là "Zedi" (Cetiya) là một cách gọi chưa trọn vẹn hết ý nghĩa.

Trong các loại Cetiya đa dạng như vậy, những Cetiya mà người Phật tử chân chính tôn thờ được chia làm 4 loại: Dhātu-cetiya (Xá-lợi tháp), Dhamma-cetiya (Pháp bảo tháp), Uddissa-cetiya (Tôn tượng tháp), và Paribhoga-cetiya (Bảo vật tháp).

Dhātu-cetiya (Xá-lợi bảo tháp): Các phần xá-lợi (xương cốt) còn lưu lại sau khi Đức Phật nhập Bát-niết-bàn được gọi là Dhātu-cetiya.

Vì Đức Phật đã để lại chúng như một di sản thiêng liêng, nên chúng còn được người dân Myanmar gọi là "Mwedaw", mang ý nghĩa là phần tài sản thừa kế vô giá.

Trong số các xá-lợi phân nhỏ đó, phần xá-lợi lớn nhất có kích thước chừng một nửa hạt đậu xanh, phần xá-lợi cỡ trung có kích thước cỡ hạt tấm (hạt gạo gãy), và phần xá-lợi cỡ nhỏ nhất có kích thước bằng hạt cải.

Dhamma-cetiya (Pháp bảo tháp): Các kinh điển thuộc kho tàng Tam Tạng (Tipiṭaka) của Đức Phật được gọi là Dhamma-cetiya. Những Giáo pháp thuộc Tam Tạng ấy không chỉ để được tôn kính, lễ bái và thờ phụng, mà còn để chúng ta thực hành theo... *(Tiếp tục ở Trang 19)*

## Trang 19

...thực hành theo, do đó đối với những người Phật tử, đây là một bảo tháp (nơi nương tựa - Cetiya) vô cùng vững chắc và đáng để nương cậy.

Uddissa-cetiya (Tôn tượng tháp): Từ "Uddissa" trong tiếng Pāḷi chỉ cho một đối tượng được hướng đến, nhắm đến (mô phỏng, đại diện). Do đó, hãy ghi nhớ rằng: những hình thức được tạc dựng nhằm mô phỏng theo hình dáng của Đức Phật như tượng đứng, tượng ngồi, tượng nằm với mục đích hướng tâm tưởng nhớ đến Đức Thế Tôn khi Ngài còn tại thế, được gọi là Uddissa-cetiya.

Những Uddissa-cetiya này còn được người Myanmar gọi là "Yoke-pwa-daw" (Tượng Phật/Hình bóng nhân bản) hay "Hsin-tu-daw" (Tôn tượng mô phỏng).
*[Bởi vì được nhân bản (mô phỏng) từ hình bóng của Đức Phật nên gọi là "Yoke-pwa-daw", và vì được tạc theo hình dáng, sắc tướng của Đức Phật nên gọi là "Hsin-tu-daw". Ngay cả khi không có Tôn tượng mô phỏng ở trước mặt, mà chỉ dùng tâm để quán tưởng và hướng đến hình bóng của Đức Phật, thì hình bóng trong tâm ấy cũng có thể được gọi là "Uddissa-cetiya".]*

Paribhoga-cetiya (Bảo vật tháp): Những vật dụng do Đức Phật thọ dụng (sử dụng), tiếng Pāḷi gọi là "Paribhoga". Vì vậy, hãy ghi nhớ rằng: các bảo tháp bằng gạch nơi tôn trí xá-lợi, các điện thờ nơi an vị Tôn tượng v.v..., cây Đại Bồ-đề (Bodhi), cùng các vật dụng của Đức Phật như y áo (Cīvara), bình bát (Patta) thảy đều được gọi là "Paribhoga-cetiya".

Phayā-Pahto (Phật-Tháp/Chùa chiền): Người ta cho rằng thuật ngữ "Phayā-Pahto" (Chùa tháp) của Myanmar là một cách dùng từ được du nhập từ Thái Lan (Ayutthaya). Người Thái khi viết về các tôn tượng và bảo tháp thường viết là "Warā-Buddho" (Vara-Buddho)...

...và khi đọc thì họ phát âm là "Phra-Phuttho". Dường như người Myanmar đã mượn theo cách phát âm đó mà viết thành "Phayā-Pahto".

Trong cách dùng từ "Warā-Buddho" của người Thái, "Wara" (Vara) có nghĩa là cao thượng/bậc thánh, "Buddho" có nghĩa là Phật; ý chỉ "Đức Phật cao thượng" (Đức Thế Tôn).

## Trang 20

Do đó, ba từ "Vara - Brah (Phra) - Phayā" tuy là cách sử dụng khác biệt trong tiếng Pāḷi, tiếng Thái và tiếng Myanmar, nhưng đều có chung ý nghĩa là "Cao thượng/Thù thắng". Ba từ "Buddho - Phuttho - Pahto" tuy cũng khác biệt trong tiếng Pāḷi, tiếng Thái và tiếng Myanmar, nhưng hãy ghi nhớ rằng chúng đều mang ý nghĩa là "Đức Phật".

*[Ngày nay, có người quan niệm rằng "Tháp không có cổng vòm thì gọi là Zedi (Cetiya), tháp có cổng vòm (đi vào trong được) thì gọi là Pahto". Nhận định này xuất phát từ việc họ chưa xem xét thấu đáo nguồn gốc của từ ngữ.]*

Cách thức đúng đắn khi hướng tâm (quán tưởng) đến hình bóng Đức Phật.

Buddhānussati (Tùy niệm Phật): Khi thực hành đề mục thiền Tùy niệm Phật (Buddhānussati Kammaṭṭhāna), có một số ý kiến cho rằng: "Không được hướng tâm (quán tưởng) đến hình bóng sắc thân của Đức Phật, mà chỉ được phép hướng tâm đến các ân đức (Guṇa) của Ngài mà thôi".

Tuy nhiên, vẻ đẹp thù thắng và tĩnh tại của kim thân Đức Phật thực chất cũng chính là ân đức Siri (Siri-phổ / Phước báu, oai nghi, sự rực rỡ) nằm trong ân đức Bhagavā (Thế Tôn).

Vì thế, khi chúng ta xem xét thông qua 3 phần: Mở đầu về Hình tướng, Mở đầu về Hào quang, Mở đầu về Bảo tháp, chúng ta sẽ nhận thức được rằng: Bản thân Đức Phật nhờ chủng tánh cao quý nên bản chất thân hình Ngài đã vô cùng tráng lệ; thêm vào đó thỉnh thoảng Ngài còn tỏa ra sáu luồng hào quang làm tăng thêm sự thù thắng tĩnh tại; và với kim thân thù thắng tĩnh tại dường ấy, Ngài không lúc nào ngơi nghỉ mà luôn thực hành vì lợi ích của chúng sanh... *(Tiếp tục ở Trang 21)*
