# Ân Đức Tam Bảo — Bản Hiệu đính (Trang 91–95)

> Hiệu đính: 2026-04-28 | Batch 091–095

---

## Trang 91

Tuy nhiên, đối với phụ nữ, tuyệt đối không nên trú ngụ để quán tưởng ở những nơi như gần Bảo tháp, Tôn tượng hay các am thất thiền định giữa rừng núi hẻo lánh mà không có người đồng hành đáng tin cậy.

Sau khi lựa chọn được một nơi chốn hoàn toàn phù hợp và an toàn, hãy thiết lập tâm thế của một hành giả (Yogī) thực thụ, quán tưởng như thể Đức Thế Tôn đang hiện diện ngay trước mặt mình và bắt đầu quán niệm như sau:

1. Ân đức Buddho: Khi còn là đạo sĩ Sumedha, ngay lần đầu chiêm bái Đức Phật Dīpaṅkara, Bồ-tát đã khởi tâm bi mẫn mãnh liệt muốn cứu độ chúng sanh và phát nguyện: "Khi Ta tự mình giác ngộ (Buddho), Ta sẽ giúp cho chúng sanh cùng giác ngộ (Bodheyyaṃ)".

2. Ân đức Sugato: Để thực hiện lời nguyện ấy, trải qua vô số kiếp sống, Ngài đã từ bỏ vô vàn sanh mạng và tài sản, luôn duy trì chánh niệm cao độ, dùng trí tuệ tránh xa mọi sai lầm và từng bước bồi đắp các pháp Ba-la-mật (Pāramī) để tiến bước một cách tốt đẹp (đến đạo quả).

3. Ân đức Vijjācaraṇasampanno: Nhờ tích lũy Ba-la-mật, trong kiếp chót thành đạo, Ngài đã viên mãn 15 pháp Hạnh (Caraṇa) như trì giới, thu thúc lục căn v.v... Nhờ đó, vào đêm rằm tháng Kason (Vesak), trong canh đầu, Ngài đã đắc Túc mạng minh (Pubbenivāsānussatiñāṇa)... *(Tiếp tục ở Trang 92)*

## Trang 92

...nhớ lại các kiếp sống quá khứ. Trong canh giữa, Ngài đắc Thiên nhãn minh (Dibbacakkhuñāṇa) nhìn thấy chúng sanh khắp các cõi trời, Phạm thiên cho đến địa ngục, ngạ quỷ. Đến canh cuối, Ngài đắc Lậu tận minh (Āsavakkhayañāṇa) - chính là tuệ giác của Đạo tâm A-la-hán - quét sạch hoàn toàn mọi mầm mống phiền não (Kilesa) trong tâm thức. Các đại trí tuệ (Vijjā) ấy đã lần lượt nảy sanh như vậy.

4. Ân đức Arahaṃ: Nhờ những tuệ giác ấy, dòng tâm thức của Đức Thế Tôn hoàn toàn vắng bóng mọi cấu uế phiền não, luôn luôn trong trẻo và thanh tịnh.

5. Ân đức Sammāsambuddho: Trong dòng tâm thức thanh tịnh ấy, trí tuệ thường xuyên hiện hành có khả năng thấu triệt mọi pháp cần biết (Ñeyyadhamma) một cách trọn vẹn, không còn sót lại bất kỳ một vi trần nào.

6. Ân đức Lokavidū: Nhờ đại trí tuệ vĩ đại ấy thường xuyên song hành trong tâm thức, Đức Thế Tôn thấu triệt tường tận mọi hệ thống thế giới, vô lượng chúng sanh và cả bản chất của thế giới hành (vạn pháp danh sắc hữu vi).

7. Ân đức Anuttaropurisadammasārathi: Do thấu triệt được nguyện vọng và mức độ chín muồi của các căn (Indriya) như Đức tin, Trí tuệ của chúng sanh, Ngài có khả năng thuyết giảng những thời pháp phù hợp nhất để điều ngự và hóa độ họ một cách tuyệt vời.

## Trang 93

8. Ân đức Satthādevamanussānaṃ: Một bậc Đạo sư đã thấu hiểu và ban những lời dạy phù hợp với căn cơ của chúng ta như thế, nếu không tôn Ngài làm Thầy thì còn tôn ai được nữa? Đức Thế Tôn chính là bậc Đạo sư chân chính nhất của chúng ta.

9. Ân đức Bhagavā: Cứ như thế, việc quán niệm về phước báu (Bhaga), trí tuệ, oai nghi rực rỡ và thần lực vĩ đại của bậc Đạo sư duy nhất - vị đã điều ngự và thuần hóa chúng sanh khắp cõi người, trời và Phạm thiên - là không bao giờ có thể cùng tận.

Điều khích lệ: Thật phước báu thay cho chúng ta khi được nương tựa và cúng dường một bậc Phật đà thù thắng dường ấy! Việc quán niệm và tưởng nhớ đến các Ân đức của Ngài mang lại sự an lạc tột cùng cho tâm thức; việc dâng cúng lễ vật lên Ngài mang lại quả báu vô lượng vô biên.

Hễ khi nào quán niệm về các Ân đức Phật, khi ấy tâm thức chúng ta sẽ tạm thời vắng bóng cấu uế phiền não (Kilesa) và tràn ngập các tâm thiện (Kusala). Nếu kiên trì quán niệm lặp đi lặp lại nhiều lần, phiền não sẽ ngày càng bị bào mòn và suy yếu.

Đối với những người bận rộn việc gia đình chưa thể xuất gia hoàn toàn, mỗi khi có chút thời gian rảnh rỗi, hãy mặc y phục sạch sẽ, ngồi yên tĩnh trước bàn thờ Phật hoặc trong phòng riêng, và thành tâm quán niệm các Ân đức Phật liên tục.

## Trang 94

Nếu chưa biết cách quán tưởng, quý vị có thể đọc tụng theo phương pháp liên kết chín ân đức này mỗi khi rảnh rỗi. Trường hợp công việc quá bề bộn không có thời gian ngồi yên, quý vị chỉ cần ghi khắc một ân đức nào đó vào tâm và quán niệm ngay trong lúc đang làm việc, điều đó cũng mang lại lợi ích to lớn cho cả đời này lẫn đời sau.

Câu chuyện Hoàng hậu Saw Lon nhờ quán niệm Ân đức Phật mà thoát nạn

Dưới triều vua Narathihapate của vương quốc Bagan (Bồ-cam), hoàng hậu Saw Lon là người sở hữu nhan sắc và đức hạnh vẹn toàn nhất, nên được nhà vua sủng ái nhất trong số các phi tần.

Vào mùa hè, nhà vua thường ngự tại cung điện ven sông Irrawaddy cùng hậu cung để vui chơi dưới nước. Một lần nọ, vì muốn trêu chọc hoàng hậu Saw Lon, vua đã ra lệnh cho quân lính tạt nước khiến bà ướt sũng từ đầu đến chân.

Hoàng hậu Saw Lon cho rằng đó là một sự nhục mạ lớn nên đem lòng thù hận. Theo lẽ thường của nhi nữ thường mang tâm oán hận sâu nặng, bà đã âm mưu hạ độc vào thức ăn của vua để trả thù.

## Trang 95

May thay nhà vua chưa thọ thực mà đem thức ăn cho chó ăn thử, thấy con vật lăn ra chết ngay lập tức. Sau khi điều tra, mọi manh mối đều dẫn đến hoàng hậu Saw Lon.

Khi bị tra hỏi, bà đã khẳng khái thừa nhận: "Vì Điện hạ đã tạt nước làm nhục thiếp trước mặt mọi người, nên thiếp mới muốn lấy mạng Ngài". Cơn thịnh nộ của vương quyền không thể kiềm chế, nhà vua không mảy may suy xét đến tình nghĩa xưa cũ...

Dù là vị phi tần yêu quý nhất, nhà vua vẫn ra lệnh cho thợ rèn làm một cái giàn sắt lớn và hạ chỉ: "Hãy nung đỏ giàn sắt này rồi đặt hoàng hậu lên đó cho đến chết".

Hoàng hậu Saw Lon đã đem vàng bạc của cải hối lộ cho thợ rèn để họ kéo dài thời gian làm giàn sắt trong vòng bảy ngày. Trong bảy ngày định mệnh ấy, bà dốc lòng nghe pháp, trì giới thanh tịnh cả ngày lẫn đêm, và không ngừng rải tâm quán niệm các Ân đức Phật, Ân đức Pháp và Ân đức Tăng... *(Tiếp tục ở Trang 96)*
