# Ân Đức Tam Bảo — Bản Hiệu đính (Trang 181–185)

> Hiệu đính: 2026-04-28 | Batch: 181-185 | Áp dụng: editing-conventions.md

---

## Trang 181

...Rogantarakappa (Nạn dịch bệnh) và Dubbhikkhantarakappa (Nạn đói khát)". Trong đó, việc bị hủy diệt bởi các loại vũ khí như gậy gộc, dao, súng, bom, đại bác v.v... chính là sự tấn công của *Satthantarakappa* (Nạn đao binh).

Việc bị hủy diệt do các loại dịch bệnh như dịch hạch, dịch tả, đậu mùa, sốt rét v.v... lây lan khắp các thành phố và vùng miền chính là sự tấn công của *Rogantarakappa* (Nạn dịch bệnh). Việc bị chết đói do khan hiếm lương thực, thực phẩm trên diện rộng (như những nạn đói lớn ngày xưa) chính là sự tấn công của *Dubbhikkhantarakappa* (Nạn đói khát). Trong các kinh điển có nói rằng những kiếp nạn này thường xảy ra vào chu kỳ 10 năm, nhưng ngay cả trong thời đại ngày nay, tại một số quốc gia, ba loại kiếp nạn này vẫn đang liên tiếp giáng xuống không ngừng.

Tám nơi chốn bất hạnh (Akkhana):
Người Myanmar gọi những nơi chốn có chướng ngại là "yap pyit". Tuy gọi là "lỗi lầm" nhưng không phải là những tội ác ghê gớm đặc biệt nào cả, mà bởi vì nếu sanh vào những nơi này, hành giả sẽ không có cơ hội tinh tấn thực hành để đắc Đạo Quả. Vì không có cơ hội đắc Đạo Quả nên gọi đó là "lỗi lầm" (bất hạnh). Trong kinh điển Pāḷi, tám nơi chốn này được gọi là *Akkhana* (Nơi chốn không có cơ hội tốt, thời cơ không thuận lợi). Dù có nhiều cách liệt kê khác nhau, ở đây tôi xin trình bày theo hệ thống trong kinh Sudhammika Pāḷi (Thiện Pháp Kinh).

*[Bài kệ tóm tắt]*: Khi Phật xuất thế, Ba cõi đọa, Chư thiên thọ mạng dài, Vùng biên địa hẻo lánh, Kẻ tà kiến, Người vô trí, Dẫu có trí nhưng sanh vào thời không Phật, Tám nơi chốn bất hạnh là thế đó.

## Trang 182

(1, 2, 3) Sanh vào ba cõi đọa khi Phật đã xuất thế: Đó là những chúng sanh phải tái sanh vào Địa ngục, Súc sanh, Ngạ quỷ (bao gồm cả A-tu-la) trong giai đoạn có Đức Phật ngự trên thế gian. (Dù có Phật nhưng do nghiệp báo nặng nề ở các cõi này, họ không thể nghe hay tu tập được).

(4) Chư thiên thọ mạng dài (Dighayuka): Những vị trời hay Phạm thiên có tuổi thọ cực dài, sống qua thời kỳ Đức Phật xuất thế nhưng không thể gặp gỡ Ngài. Đó chính là các cõi trời Vô tưởng (Asaññasatta - chỉ có thân sắc, không có tâm thức) và các cõi trời Vô sắc (Arupa - chỉ có tâm thức, không có thân sắc). [Do đặc thù này, dù Phật có ra đời, hai hạng Phạm thiên này cũng không thể nghe pháp].

(5) Sanh ở vùng biên địa hẻo lánh (Paccantima): Chỉ những người man di mọi rợ sống ở những vùng rừng núi xa xôi hẻo lánh, nơi mà Đức Phật và chư Tăng không thể đặt chân đến để giáo hóa. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, Myanmar không còn được coi là vùng biên địa hẻo lánh nữa.

(6) Người có tà kiến (Micchaditthi): Những người mang quan kiến sai lệch, phủ nhận nhân quả... trong thời kỳ có Phật.

## Trang 183

(7) Người thiếu trí tuệ (Abhabbapuggala): Những người sanh ra với trí tuệ thấp kém, chậm phát triển, không đủ khả năng hiểu được Chánh Pháp trong thời kỳ có Phật. Bảy hạng người trên đều sanh ra khi Đức Phật đã xuất thế nhưng không hội đủ duyên lành.

(8) Sanh vào thời không có Phật: Dù sanh làm người có trí tuệ, thông minh hiểu biết, nhưng lại sanh vào đại kiếp không có vị Phật nào xuất thế.

Năm loại Kẻ thù:
1. Lũ lụt (Thủy tai).
2. Hỏa hoạn (Hỏa tai).
3. Kẻ trộm cướp.
4. Con hư (Người thừa kế phá gia chi tử).
5. Bạo chúa (Quan lại thối nát).
*[Lưu ý: Người ta thường nhầm lẫn việc đưa "người mình không thích" vào danh sách kẻ thù. Chỉ ghét bỏ thôi chưa đủ gọi là thù hận. Kẻ thù thực sự chính là những người con hư hỏng, vì chúng không chỉ làm cha mẹ đau khổ mà còn có thể tiêu tan gia sản mà cha mẹ đã vất vả gây dựng].*

*[Bài kệ ghi nhớ]*: Nước, Lửa, Trộm cắp, Con hư, Bạo chúa. Năm loại này mới thật sự là kẻ thù, hãy khắc cốt ghi tâm.

## Trang 184

Bốn sự Suy bại (Vipatti):
Sự hư hỏng, sai lệch được gọi là *Vipatti*. Có 4 loại suy bại:
1. Kala-vipatti (Suy bại về thời cuộc): Sanh vào thời kỳ có bạo chúa cai trị, loạn lạc.
2. Gati-vipatti (Suy bại về nơi tái sanh): Tái sanh vào 4 cõi Khổ (Địa ngục, Súc sanh, Ngạ quỷ, A-tu-la) được gọi là nơi chốn xấu ác (Gati).

3. Upadhi-vipatti (Suy bại về thân thể/cơ sở): Sắc thân, tướng mạo được gọi là *Upadhi*. Những người bị khuyết tật cơ thể, mù lòa, điếc lác... được gọi là suy bại về cơ sở.
4. Payoga-vipatti (Suy bại về hành vi): Hành động thân và khẩu được gọi là *Payoga*. Việc hành động, nói năng, mưu kế mà thiếu đi sự hiểu biết, thiếu chánh niệm và tinh tấn... được gọi là suy bại về hành vi.

*[Bài kệ ghi nhớ]*: Sự hư hỏng, tàn phá, sai lệch gọi là Vipatti. Gồm Thời cuộc, Nơi sanh, Thân thể, Hành vi. Hãy nhớ kỹ bốn điều này.

Năm sự Tổn thất (Byasana):
Sự tàn phá, mất mát, suy vong được tiếng Pāḷi gọi là *Byasana*. Có 5 loại tổn thất:
1. Nati-byasana: Tổn thất về thân bằng quyến thuộc (người thân qua đời hoặc ly tán).
2. Bhoga-byasana: Tổn thất về tài sản, của cải (phá sản, mất mát).
3. Roga-byasana: Tổn thất về sức khỏe (ốm đau, bệnh tật hành hạ).
4. Ditthi-byasana: Tổn thất về tri kiến (sa vào tà kiến, mất niềm tin vào nhân quả).
5. Sila-byasana: Tổn thất về giới đức (phạm giới, làm điều sai trái).

## Trang 185

*[Bài kệ ghi nhớ]*: Mất mát, phá sản, sai lầm gọi là Byasana. Gồm Quyến thuộc, Của cải, Bệnh tật, Tà kiến, Phạm giới. Tổng cộng năm loại, hãy nêu rõ ý nghĩa.

"...trong mọi lúc, mọi thời...": Nguyện cầu cho bản thân luôn thoát khỏi những bất hạnh và tổn thất kể trên trong mọi kiếp sống. "Con nguyện không phải trôi lăn mãi trong vòng luân hồi, mà xin được chứng đắc Thánh Đạo, Thánh Quả và Niết-bàn một cách nhanh chóng nhất". *[Kết quả của việc cầu nguyện sẽ có được hay không sẽ được giải thích trong phần "Diễn giải về Sự phát nguyện"]*.

Các hình thức tụng niệm Okasa khác nhau:
Hiện tại ở Myanmar, bài tụng "Okasa" này có nhiều dị bản khác nhau. Vì không có nguồn gốc trực tiếp từ Kinh tạng (Sutta) hay Chú giải (Atthakatha) nên không thể khẳng định bản nào đúng tuyệt đối hay bản nào sai. Có vẻ như các bậc tiền bối xưa đã soạn thảo ra những lời văn phù hợp để đại chúng dễ tụng niệm, và dần dần trở nên phổ biến. Ngày nay, hầu hết các Phật tử chân chính đều sử dụng bài tụng này trước khi lễ Phật hoặc thọ giới, nên tôi mới chú giải ý nghĩa của nó, chứ không phải vì tôi tự hài lòng với sự sáng tác của mình.

Cách thức lễ bái vào thời Đức Phật:
Vào thời Đức Phật còn tại thế, khi đến chiêm bái Đức Phật hoặc chư Tăng, mọi người thường chắp tay cung kính chào hỏi, sau đó ngồi ở nơi thích hợp và thưa trình những điều muốn hỏi hoặc muốn nói. Khi ra về, nếu vốn dĩ chưa phải là Phật tử mà nay mới phát sanh niềm tin và muốn quay về nương tựa, họ thường bạch rằng: "Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử xin quay về nương tựa Đức Phật, Pháp và Tăng. Kể từ hôm nay, xin Đức Thế Tôn hãy ghi nhận đệ tử là một cận sự nam (Upasaka) đã quy y Tam Bảo". Sau khi thưa trình như vậy, họ mới đảnh lễ và cáo lui.
