# Ân Đức Tam Bảo — Bản Hiệu đính (Trang 191-195)
> Ngày hiệu đính: 2026-04-28
> Phạm vi: Trang 191–195
> Số sửa: 0 (bản dịch đã tuân thủ tốt các quy ước)

---

## Trang 191

Trình tự thọ trì Năm giới (Pañcasīla)
Trong các việc bố thí (dāna) v.v., người ta thường đến một vị tỳ-khưu để thọ trì Năm giới (trước khi nghe pháp, trước khi rót nước hồi hướng). Ý định trong việc thọ trì như vậy là: khi thực hành bố thí, nếu có giới (sīla) làm nền tảng thì quả báu mới thanh tịnh trọn vẹn hơn, nên mới thọ trì để trở thành người có giới làm nền tảng. Nếu vốn dĩ đã có Tam quy (tisarana) và giới rồi thì dù không thọ trì cũng không giảm thiểu quả báu. Tuy nhiên, như câu tục ngữ nói "nơi nào vững chắc thì bám vào đó", theo thông lệ thì hãy thọ trì giới vậy.

Phật tử: "Okāsa okāsa" v.v., theo thông lệ mà đảnh lễ và cầu nguyện.

Tỳ-khưu: "Do thiện nghiệp (kusala-kamma) và tác ý (cetanā) của sự đảnh lễ, cúng dường, diện kiến, khiêm hạ, và van xin" v.v., ban cho lời nguyện tùy theo mong cầu.

Phật tử: "Ahaṃ bhante tisaraṇena saha" v.v., cầu xin Tam quy và giới. [Ở một số nơi, vị tỳ-khưu đọc trước phần "Ahaṃ bhante" này.]

Tỳ-khưu: "Yaṃhaṃ vadāmi taṃ vadetha" — "Điều gì tôi nói, các vị hãy nói theo."

Phật tử: "Āma bhante" — "Thưa vâng, bạch Ngài."

Tỳ-khưu: "Namo tassa bhagavato arahato" v.v., xướng một lần.

Phật tử: "Namo tassa bhagavato" v.v., tụng theo 3 lần.

## Trang 192

Tỳ-khưu: "Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi" v.v., xướng dẫn.

Phật tử: Tụng theo.

Tỳ-khưu: "Dutiyampi buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi" v.v., xướng dẫn (lần thứ hai).

Phật tử: Tụng theo.

Tỳ-khưu: "Tatiyampi buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi" v.v., xướng dẫn (lần thứ ba).

Phật tử: Tụng theo.

Tỳ-khưu: "Saraṇagamanaṃ paripuṇṇaṃ" — "Sự quy y đã viên mãn."

Phật tử: "Āma bhante" — "Thưa vâng, bạch Ngài."

## Trang 193

Tỳ-khưu: "Pāṇātipātā veramaṇi sikkhāpadaṃ samādiyāmi" — "Con xin thọ trì học giới (sikkhāpada) tránh xa sát sanh (pāṇātipātā)", mà xướng dẫn.

Phật tử: Tụng theo. [Theo trình tự, "Adinnādānā" v.v. được xướng dẫn, tụng theo.]

Tỳ-khưu: "Tisaraṇena saha pañcasīlaṃ sādhuṃ katvā appamādena sampādetha" — "Sau khi đã thọ trì tốt đẹp Năm giới cùng với Tam quy, hãy tinh tấn (appamāda) hoàn thành."

Phật tử: "Āma bhante" — "Thưa vâng, bạch Ngài."

Phần mở đầu về sự ban lời nguyện (varadāna)

Khi thọ trì giới (sīla), ở phần mở đầu đã trình bày trình tự đảnh lễ bắt đầu bằng "Okāsa" v.v. Sau khi nói lời Okāsa ấy xong, mỗi khi tỳ-khưu ban lời nguyện rằng "Do thiện nghiệp và tác ý của sự đảnh lễ, cúng dường, diện kiến, khiêm hạ, và van xin" v.v., trước tiên cần suy xét xem có đạt được hay không. Trong các câu chuyện bổn san (jāta-vatthu), sau khi dâng cúng vật gì đó đến các bậc Thánh như Đức Phật Độc Giác (Paccekabuddha), bậc A-la-hán (arahant) v.v., chính người bố thí tự mình cầu xin lời nguyện theo mong muốn của mình. Những lời nguyện cầu ấy chính là: muốn trở thành một chúng sanh đặc biệt khác thường trong vòng luân hồi (saṃsāra), muốn liễu tri Tứ Thánh Diệu Đế (cattāri ariyasaccāni) giống như các Đức Phật Độc Giác và A-la-hán ấy. Và các bậc Thánh Paccekabuddha, A-la-hán — những vị nhận bố thí — cũng đã ban cho chính lời nguyện cầu ấy rằng "Mong tất cả những gì ngươi cầu xin đều được thành tựu."

Lời nguyện cầu thiết tha sau khi thực hành một việc bố thí (dāna) nào đó sẽ trổ quả (vipāka) ngay theo điều mong cầu ấy, trong kiếp sống thích đáng. Trong sự trổ quả như vậy, cần ghi nhận rằng: không phải do sự ban lời nguyện mà có quả, mà là do thiện nghiệp (kusala-kamma) của chính người ấy mới có quả.

Còn trong thời hiện tại, sau khi đảnh lễ bằng lời "Okāsa" v.v., người ta cầu nguyện rằng mong được giải thoát khỏi bốn ác đạo (apāya-bhūmi: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, atula) và ba kiếp (kappa) v.v., và mong chóng chứng đắc đạo quả (magga-phala) cùng Niết-bàn (nibbāna). Vị ban lời nguyện...

## Trang 194

Tỳ-khưu thì lại ban thêm cả những phước lành không được cầu xin, như "sống lâu, dung sắc xinh đẹp" v.v. Nếu suy xét xem liệu có thể đạt được quả báo (khi không hành thiện) mỗi khi cầu nguyện, mỗi khi ban phước — thì nên hiểu là không thể đạt được. Chỉ khi nào tránh xa ác hạnh (duccarita) để thoát khỏi bốn đường ác (apāya) v.v., và thực hành thiện hạnh (sucarita) cùng các việc công đức tạo phước (puñña-kiriyā-vatthu) thì mới có thể nhận được quả báo tương xứng với lời cầu nguyện, bằng cách tinh tấn hành thiền nghiệp xứ (kammaṭṭhāna) để nhanh chóng chứng đắc Niết-bàn (nibbāna), hoặc nỗ lực viên mãn các Ba-la-mật (pāramī).

Nếu quả thực mỗi lần cầu nguyện, mỗi lần ban phước đều được toại nguyện — thì không chỉ trong những kiếp quá khứ họ đã từng cầu xin, mà ngay trong kiếp hiện tại này, những cư sĩ tại gia đáng kính như các vị thí chủ chùa (dāyaka), thí chủ xây dựng tu viện (kyaung-ama) v.v., cũng đã từng cầu xin hàng trăm ngàn lần trong kiếp trước. Tương ứng với những lời cầu nguyện ấy, họ lẽ ra phải trở thành những trưởng giả giàu có sang trọng (setṭhī) trong kiếp này, và hơn thế nữa, phải trở thành những người chứng đắc Đạo quả Niết-bàn (magga-phala-nibbāna) mau chóng như "rạng sáng ngày mai" vậy. Thế nhưng, trong hiện tại, chúng ta chẳng hề thấy hay nghe có ai như vậy cả. Ngay cả khi nói "sẽ nhanh chóng chứng đắc Niết-bàn (nibbāna)" thì họ cũng đâu có mong muốn điều đó.

Do đó, thay vì dựa dẫm vào những lời cầu nguyện một cách miễn cưỡng và những lời ban phước do tỳ-khưu đọc tụng, hãy ghi nhớ rằng: "chính bản thân mình tự mình nỗ lực làm việc thì mới nhận được quả báo."

## Trang 195

Tuy nhiên, để không trái với số đông, hãy theo thông lệ: sau khi kính lễ "Okāsa" (xin phép) và cầu nguyện, cũng hãy tụng theo lời ban phước của tỳ-khưu rằng "Āma bhante" (Dạ thưa Ngài). Trong những việc không có lỗi, không nên chống đối với số đông.

Phần mở đầu cầu xin Quy y và Ngũ giới
(Phần cần ghi nhớ)
(1) Ahaṃ bhante, tisaraṇena saha, pañcasīlaṃ dhammaṃ yācāmi. Anuggahaṃ katvā, sīlaṃ detha me bhante.
(2) Dutiyampi, ahaṃ bhante... me bhante.
(3) Tatiyampi, ahaṃ bhante... me bhante.

Ý nghĩa để tham khảo
(1) Bhante — bạch Ngài; ahaṃ — đệ tử (nam/nữ); tisaraṇena — cùng với Tam quy y (tisaraṇa); saha — cùng với; pañcasīlaṃ — Ngũ giới (pañcasīla); dhammaṃ — các học giới (sikkhāpada); yācāmi — con xin cầu; bhante — bạch Ngài; me — đến cho đệ tử (nam/nữ) con;
