# Ân Đức Tam Bảo — Bản Hiệu đính (Trang 236–240)

> Ngày hiệu đính: 2026-04-28
> Phạm vi: Trang 236–240

---

## Trang 236

Đoạn trích từ y thư "Pāṇāvudha" (Vũ khí sát sanh) của đại lương y A. C. Selmun

1. Việc uống rượu làm suy giảm lòng từ bi (mettā) vốn sẵn có, khiến sao lãng bổn phận đối với con cái và chồng, khiến công việc nghề nghiệp trở nên yếu kém, và dẫn đến phạm các tội ác như trộm cắp, cướp giật. Một số bệnh tật bao gồm: tê liệt tay chân, viêm dạ dày, viêm gan–thận–phổi, ho ra máu và các bệnh dễ gây điên loạn.

2. Những người uống rượu thường cho rằng "uống rượu làm cho trí óc trở nên sắc bén." Thật ra, trong khoảng mười phút sau khi uống, tư duy dường như nhanh nhẹn hơn, nhưng các nhận định và lời nói của họ lại hỗn loạn, thiếu khôn ngoan. Ngay cả người biết giữ lời nói, có hạnh kiểm tốt, khi say cũng hoàn toàn biến thành một con người khác. Người ít nói, khi uống rượu thì nói nhiều hẳn lên. Sau khi uống rượu, do chóng mặt và nặng đầu, họ trở nên buồn ngủ.

3. Rượu cũng có thể khiến con cái của người uống mắc bệnh. Trong các trại tâm thần trẻ em, cứ 100 em thì có 41 em là con của người nghiện rượu. Người nghiện rượu được phát hiện có bệnh tật nhiều gấp khoảng hai lần so với người không uống.

## Trang 237

Cách đây không lâu, các y sĩ từng cho bệnh nhân uống rượu với quan niệm rượu sẽ làm bệnh thuyên giảm. Tuy nhiên, người ta nhận ra rằng rượu không những không làm bệnh thuyên giảm mà còn khiến bệnh trở nên trầm trọng hơn. Các tai hại (ādīnava) của rượu đã được ghi chép lại như vậy và nhiều điều khác nữa.

Ở cuối điều học này, vị tỳ-khưu trao năm giới nói: *"Tisaraṇena saha pañcasīlaṃ sādhukaṃ katvā appamādena sampādetha"* (Hãy cùng với Tam quy, hãy trì giữ năm giới một cách nghiêm túc, tinh tấn không phóng dật mà tu tập).

Nghĩa: *Tisaraṇena* — cùng với Tam quy (ba nơi nương tựa); *saha* — cùng với; *pañcasīlaṃ* — năm giới; *sādhukaṃ* — một cách nghiêm túc, tôn kính; *katvā* — sau khi thực hiện; *appamādena* — với niệm (sati) không quên lãng, không phóng dật; *sampādetha* — hãy hoàn thành tốt đẹp. Đây là lời khuyến tấn: "Hãy tôn kính trì giữ giới hạnh năm giới cùng với Tam quy vừa thiết lập, hãy tinh tấn hộ trì."

Sau đó, những người thọ giới đáp lại: *"Āma, bhante"* (Dạ, bạch Ngài). Đây là lời thừa nhận "Bạch Ngài, đúng vậy, con sẽ hộ trì." Do đó, khi tự mình thọ giới trước Đức Phật, vì Đức Thế Tôn không thốt lời khuyến tấn, nên không cần phải nói *"Āma, bhante."* Tóm lại — khi thọ giới trước Đức Phật, lời *"Āma, bhante"* không cần thiết phải đưa vào tại bất kỳ thời điểm nào.

## Trang 238

Khởi ngữ cầu thọ giới Uposatha (Bát quan trai giới)
*(Phần cần ghi nhớ)*
*Ahaṃ bhante, tisaraṇena saha, aṭṭhaṅgasamannāgataṃ, uposathasīlaṃ, dhammaṃ yācāmi. Anuggahaṃ katvā, sīlaṃ detha me bhante. Dutiyampi ahaṃ bhante... me bhante...* v.v. — tiếp tục xướng như vậy.

Xem nghĩa và giải thích:
(1) *Bhante* — Bạch Ngài (tôn xưng tỳ-khưu); *ahaṃ* — đệ tử (nam/nữ); *tisaraṇena* — cùng với Tam quy (ba nơi nương tựa: Phật, Pháp, Tăng); *saha* — cùng với; *aṭṭhaṅgasamannāgataṃ* — thành tựu với tám chi phần (tám yếu tố); *uposathasīlaṃ* — giới Uposatha (Bát quan trai giới); *dhammaṃ* — các điều học (sikkhāpada); *yācāmi* — con xin cầu thọ; *bhante* — Bạch Ngài; *me* — cho con; *anuggahaṃ* — sự gia hộ, thương xót; *katvā* — sau khi thực hiện; *sīlaṃ* — giới; *detha* — xin Ngài hãy ban cho. Nghĩa tóm: "Bạch Ngài, đệ tử cầu thọ giới Uposatha thành tựu tám chi phần, cùng với Tam quy. Xin Ngài thương xót gia hộ, ban giới cho đệ tử."

Nên hiểu khởi ngữ và các bước tiếp theo tương tự như đã trình bày ở phần năm giới, kể cả cách thiết lập Tam quy, không có gì khác biệt. Trong cụm "thành tựu với tám chi phần," tám chi phần (aṭṭhaṅga) chính là tám điều học (sikkhāpada), bắt đầu từ *Pāṇātipātā veramaṇī* (chế ngự sát sanh) và tiếp tục các giới còn lại.

## Trang 239

Giới tám pháp (Aṭṭhaṅga-sīla)
(Các điều học cần ghi nhớ)
1. Pāṇātipātā, veramaṇī sikkhāpadaṃ, samādiyāmi.
2. Adinnādānā, veramaṇī sikkhāpadaṃ, samādiyāmi.
3. Abrahmacariyā, veramaṇī sikkhāpadaṃ, samādiyāmi.
4. Musāvādā, veramaṇī sikkhāpadaṃ, samādiyāmi.
5. Surāmeraya majjappamādaṭṭhānā, veramaṇī sikkhāpadaṃ, samādiyāmi.
6. Vikālabhojanā, veramaṇī sikkhāpadaṃ, samādiyāmi.
7. Nacca-gīta-vāditta, visūka dassana-mālāgandha-vilepana, dhāraṇa-maṇḍana-vibhūsanaṭṭhānā, veramaṇī sikkhāpadaṃ, samādiyāmi.
8. Uccāsayana, mahāsayanā, veramaṇī sikkhāpadaṃ, samādiyāmi.
[Ý nghĩa của các điều học 1-2-3-4-5 đã trình bày rồi.]

3. Phần giải thích abrahmacariyā (phi phạm hạnh)
Abrahmacariyā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

(Xem ý nghĩa và giải thích)
Abrahmacariyā — từ việc hành dâm không cao thượng (methuna), veramaṇī sikkhāpadaṃ — điều học về sự từ bỏ, samādiyāmi — con thọ trì, nghĩa là "con từ bỏ việc hành dâm." Trong cụm "việc hành dâm không cao thượng," từ Pāḷi "methuna" tiếng Miến gọi là "methun," có nghĩa là "việc giao hợp giữa hai người." Do đó, sự kết hợp vui thú giữa người nữ và người nam được xem là "việc hành dâm không cao thượng."

## Trang 240

Đối với điều học kāmesu micchācārā (tà dâm trong các dục), vợ chồng vẫn còn được phép quan hệ với nhau. Nhưng người thọ trì điều học abrahmacariyā này thì ngay cả việc quan hệ giữa vợ chồng cũng phải từ bỏ. Do đó, những người giữ uposatha (giới ngày Bố-tát) thay vì điều học kāmesu micchācārā thì phải thiết lập điều học abrahmacariyā. Còn những bậc cao thượng không có gia đình thì không cần thiết lập riêng điều học kāmesu micchācārā nữa, mà nếu thiết lập điều học abrahmacariyā này thì sẽ có nhiều lợi ích hơn. [Cách thiết lập sẽ trình bày ở phần sau.]

Bảy chị em. ။ Trong thời đức Phật Kassapa, bảy chị em — những người con gái của vua Kikī, là tiền thân (ālaṅkāra) của các vị Khemā therī, Uppalavaṇṇā therī, Paṭācārī, Dhammadinnā, Kuṇḍalakesī, Kisāgotamī, Visākhā — từ thuở nhỏ đã trải qua

Phần giải thích vikālabhojana (phi thời thực)
...hai vạn năm, với thân thể trong sạch tinh nguyên thời trẻ, đã thọ trì điều học này và sống trọn đời. Loại hạnh này ở nữ giới gọi là "komārī brahmacariya," còn ở nam giới gọi là "komāra brahmacariya" (komāra — thuộc về người trẻ có tinh nguyên trong sạch + brahmacariya — hạnh cao thượng, hạnh thanh tịnh).
