# Ân Đức Tam Bảo — Hiệu đính Trang 246–250
> Hiệu đính: 2026-04-28 | Batch: 246–250

---

## Trang 246

(Xem phần nghĩa và ý nghĩa để tham khảo)

Nacca (múa), gīta (hát), vādita (tấu nhạc), visūkadassana (xem trò diễn), mālagandha (hoa và hương thơm), vilepana (xức thoa), dhāraṇa (đội đeo), maṇḍana-vibhūsanaṭṭhānā (chỗ trang sức, trang điểm và trang hoàng) — từ những việc là bất thiện (akusala), là hành động không tốt như: múa, hát, tấu nhạc, xem và nghe những trò đối nghịch với lời giáo huấn của Đức Phật; việc đeo hoa, xức bột thơm (thanaka v.v.) vào chỗ thấp trên thân, thoa xức trang điểm bằng nước thơm và bột thơm — veramaṇī sikkhāpadaṃ (học giới chế tránh), samādiyāmi (tôi thọ trì).

Nacca = Tự mình múa, hoặc sai người khác múa. [Gồm luôn cả việc xem các loài súc sanh như khỉ, công v.v. múa.]

Gīta = Tự mình hát, hoặc sai người khác hát.

Vādita = Tự mình tấu nhạc, hoặc sai người khác tấu nhạc.

Visūkadassana = Visūka (trò diễn đối nghịch với lời giáo huấn của Đức Phật) + dassana (xem, nghe) — xem và nghe các trò diễn. Dù người khác tự ý trình diễn, hoặc do người khác sai khiến, múa — hát —

Nacca-gīta Sikkhāpada (Học giới về múa hát)

## Trang 247

Việc cố ý đi đến tận nơi để xem và nghe biểu diễn ca nhạc; [tuy nhiên], nếu hằng ngày tự mình lui tới nơi có thể thấy có thể nghe, rồi vô tình xem và nghe tiếng ca hát tấu nhạc, hoặc trong khi đi lại vì việc khác mà tình cờ gặp thấy — cũng không làm hỏng giới (sīla không bị hủy). Tuy nhiên, không được cố tình quay nhìn để thấy điều lẽ ra không nên thấy.

Trong các từ như mālagandha v.v., người ta hiểu ý nghĩa bằng cách ghép theo thứ tự "mālā với dhāraṇa, gandha với maṇḍana, vilepana với vibhūsana", hoặc ghép tùy theo ngữ cảnh thích hợp.]

Mālā = Các loại hoa + dhāraṇa — sự đeo, đội, trang sức (bằng hoa).

Gandha = Các loại bột thơm như thanaka v.v. có thể thoa vào chỗ thấp trên thân + maṇḍana — việc thoa vào chỗ thấp trên thân như bằng các loại phấn (khiến trắng sáng) v.v.

Vilepana = Các loại thuốc trang điểm, nước hoa, dầu thơm, phấn mặt, bột thoa có thể dùng để thoa xức trang điểm hoặc làm thơm cơ thể + vibhūsana — sự thoa xức trang điểm, làm thơm cơ thể. [Cả xà bông thơm cũng không nên dùng.]

Ṭhānā = Nhân duyên làm tăng trưởng tâm dục (kāma-citta).

## Trang 248

Ghi chú. — Việc thoa hương liệu thơm như thế này không nên thực hiện với mục đích hưởng thụ sự dễ chịu; nhưng khi có bệnh đau ốm thì được phép thoa bôi. Khi có bệnh đau ốm, chỉ nên thoa khi bệnh ấy phù hợp với các loại hương liệu đó. Không nên bịa đặt ra một căn bệnh không đáng có rồi thoa hương liệu lên mặt mũi v.v... những chỗ không thích hợp. Tuy nhiên, đối với các vị tỳ-khưu, nếu cơ thể có mùi hôi thì được phép dùng hương liệu (nước hoa, xà phòng v.v...); do đó, những người thọ trì uposatha khi cơ thể có mùi khó chịu cũng nên nói rằng: được phép thoa để che đậy mùi ấy, được phép dùng xà phòng thơm.

8. Giải thích Uccāsayana Mahāsayana (Giường cao ghế lớn)
*Uccāsayana mahāsayanā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.*
(Xem ý nghĩa và giải thích)
Uccāsayana mahāsayanā — từ việc nằm ngồi trên chỗ cao sang, chỗ quý phái; veramaṇī sikkhāpadaṃ — điều học về sự kiêng tránh; samādiyāmi — tôi thọ trì.
Uccāsayana — nằm ngồi trên chỗ cao. [Là những giường ngủ, giường dài, ghế lớn có chân dài hơn một gang tay (tấc). Không phải loại "cao" theo nghĩa: nếu người lớn tuổi ở dưới thấp thì người trẻ thọ trì uposatha không được ở trên cao.]
Mahāsayana — nằm ngồi trên chỗ quý phái sang trọng. Những loại chỗ này là những thứ mà các bậc giàu sang thường hưởng thụ, dùng để hưởng lạc:

(Giải thích Uccāsayana Mahāsayana)
Những tấm thảm lông thú có lông dài hơn bốn đốt ngón tay, thường có trong nhà của các bậc phú hộ; những tấm thảm lông thú được trang hoàng lộng lẫy với hình sư tử, cọp; những tấm thảm lụa được dệt bằng chỉ vàng chỉ bạc. Không phải tấm lụa thông thường, mà là những tấm nệm nhồi bông, nhồi vải cotton.]

## Trang 249

Ghi chú. — — Việc những người thọ trì uposatha thời nay sử dụng các loại nệm này là không thích hợp. Tuy nhiên, được phép dùng nệm nhồi xơ dừa, nệm có lớp lót vải, lót sợi bông. Những loại vải trải mịn màng, thảm mềm v.v..., và những chỗ ngồi của chư tỳ khưu trưởng thượng, theo điều học này thì không nên gọi là "chỗ quý phái sang trọng."

Điều nên suy xét về các uposatha sīla (giới uposatha). — — Khi thọ trì uposatha, ngoài năm giới thông thường, phải thọ trì thêm — thay cho kāmesu micchācāra (tà dâm) bằng abrahmacariya (phạm hạnh, tức kiêng hẳn hành dâm) — mà hành trì. Sau đó thọ trì các sikkhāpada về vikāla bhojana (ăn phi thời), nacca-gīta (múa hát), uccāsayana (giường cao ghế lớn). Nếu gom bốn sikkhāpada này lại để suy xét, thì khi thọ trì uposatha, các akusala citta (tâm bất thiện) cần phải gìn giữ để đừng phát sanh sẽ hiện lên rõ rệt. Những tâm ấy chính là kāmaguṇa citta (tâm ngũ dục), tức là kilesa (phiền não), taṇhā (ái dục). Cụ thể là: nằm ngồi trên giường ghế sang trọng, chải chuốt trang điểm, múa hát thổi đàn, ăn cơm tối — những hành vi này đều là những hành động dụ dỗ, lôi kéo kilesa (taṇhā, lobha — phiền não, tham ái).

## Trang 250

Do đó, để ngăn chặn taṇhā (ái dục), lobha (tham), kilesa (phiền não), kāma citta (tâm dục), sikkhāpada uccāsayana (điều học về giường cao ghế lớn) cấm việc nằm ngồi trên giường ghế sang trọng; sikkhāpada nacca-gīta (điều học về múa hát) cấm việc múa hát, thổi đàn cùng với chải chuốt trang điểm; sikkhāpada vikāla bhojana (điều học về ăn phi thời) cấm việc ăn cơm tối. Chỉ khi dùng ba sikkhāpada này để đẩy lui, chặn đứng kāma citta dhātu (cảnh tâm dục) thì mới có thể kiêng tránh hẳn methuna (hành dâm) theo đúng nghĩa của abrahmacariya sikkhāpada (điều học phạm hạnh). Vì vậy, khi thọ trì uposatha, việc gìn giữ các sikkhāpada như abrahmacariya v.v... (nhiều hơn năm giới) là một hạnh tốt, có sự che phủ đồng bộ, hài hòa.

Trình tự thọ trì uposatha
Cách thọ trì uposatha. — — Từ "uposatha" là tiếng Myanmar biến âm từ tiếng Pāḷi "uposatha" (upāsatha). Phân tích từ: "upa + vasatha". Upa — gồm các hạnh tốt như không ăn sau giờ ngọ, không sát sanh v.v... + vasatha — trú ngụ, an trú. Việc thọ trì sīla đầy đủ với tám chi phần (aṭṭhaṅga) như không ăn sau giờ ngọ, không sát sanh v.v..., lấy Buddha guṇa (ân đức Phật), Dhamma guṇa (ân đức Pháp) v.v... làm đối tượng (ārammaṇa), tu tập bhāvanā (thiền quán), không để akusala citta (tâm bất thiện) phát sanh, gìn giữ cho tâm thanh tịnh — đó gọi là "thọ trì uposatha."
