# Ân Đức Tam Bảo — Bản Hiệu đính (Trang 251–255)

> Ngày hiệu đính: 2026-04-28
> Phạm vi: Trang 251 – 255
> Số sửa: 1

---

## Trang 251

[Thi tụng]
Nơi tự tâm mình, làm cho thanh tịnh, thọ trì tám chi giới, tiết độ kham nhẫn, chánh trực nhất tâm, hộ trì tinh tấn, tinh cần pháp hành, nên biết đây là giữ giới Bố-tát (uposatha).

1. Bậc thiện nhân (sappurisa) có ý định ngày mai thọ trì giới Bố-tát, vì trong thời gian giữ giới Bố-tát không thích hợp để thi hành các việc gia đình, nên ngay từ hôm nay, cần sắp xếp để hoàn tất tất cả những việc gia đình trong phạm vi trách nhiệm của mình.

3. Nếu không có người nấu nướng và hầu hạ, thì nên sắp đặt để hoàn tất các món ăn thức uống nào có thể chuẩn bị trước, để ngày mai giảm thiểu việc phải làm.

4. Sáng ngày mai, ngay từ lúc rạng đông (aruṇa), cần tắm rửa thân thể cho sạch sẽ và mặc y phục thanh tịnh, chỉ cần đủ để làm cho tâm trong sáng (cittaprasāda).

5. Không được trang điểm bằng hoa, xức dầu thơm, hay sửa soạn một cách đặc biệt.

6. Sau đó, nên thọ trì giới (sīla) từ sớm. Khi thọ trì giới, nếu không hiểu tiếng Pāḷi thì có thể thọ trì bằng tiếng Myanmar.

## Trang 252

Nếu không thuộc lòng tám giới (aṭṭhaṅgasīla), thì cũng có thể tự mình nói bằng miệng rằng: "Con xin thọ trì giới Bố-tát do Đức Phật đã chế định." ]

7. Sau khi thọ trì giới xong, nếu có việc cúng dường (dāna) hay bố thí thì làm việc ấy; nếu không có, thì chỉ sắp đặt vừa đủ cho bản thân mà ăn uống. Không chỉ ăn một bữa, mà được phép ăn uống sao cho đủ để có thể nhịn ăn tối (vikālabhojana — không ăn phi thời). ]

8. Sau khi ăn uống xong, nếu thân thể chưa sạch sẽ thì nên tắm rửa. Thân thể sạch sẽ thì tâm mới trong sáng, tâm trong sáng thì mới có thể tác ý đến pháp (dhammārammaṇa) một cách tốt đẹp. ]

9. Sau đó, nếu là người thích hợp sống một mình thì sống độc cư; nếu là người thích hợp sống với bạn đạo, thì ở nơi yên tịnh thích hợp, cùng với người bạn đồng pháp, nếu muốn giữ Phạm thiên Bố-tát (brahma-uposatha), thì nên tác ý đến ân đức Phật (buddhaguṇa).

10. Nếu không thể ngồi suy niệm (cintā) lâu dài, thì có thể xem và đọc tụng các sách pháp. [Không có nghĩa là chỉ được ngồi, mà mong muốn là nên đi kinh hành (caṅkama), nằm nghỉ, ngồi — điều hoà các oai nghi cho cân bằng. ]

## Trang 253

11. Nếu có vị nào thuyết pháp đúng Chánh Pháp (pariyāya), thì nên nghe pháp (dhammassavana).

12. Cũng nên bàn luận, hỏi đáp, và trao đổi pháp thoại với nhau.

13. Khi đến giờ đêm, nên suy xét lại giới (sīla) của mình, rồi tuỳ niệm (anussati) về sự tương đồng của mình trong ngày hôm nay với chư bậc Thánh nhân (ariya), bậc Thiện nhân (sappurisa), và chư vị A-la-hán (arahanta).
Cách tuỳ niệm: "Chư vị A-la-hán đã từ bỏ việc sát sanh (pāṇātipāta), từ bỏ việc trộm cắp (adinnādāna), từ bỏ các dục lạc thế gian (kāmaguṇa), tránh xa việc ăn phi thời (vikālabhojana), và không trang điểm bằng hoa, hương thơm v.v... Như thế nào, thì trong ngày hôm nay, con cũng đã từ bỏ các việc ấy. Vì vậy, con cũng giống như chư vị A-la-hán vậy." Bằng cách này, hãy tự nâng cao tâm mình, khởi lên tâm niệm của bậc nam A-la-hán, nữ A-la-hán, rồi suy xét rằng: "Nếu tiếp tục hộ trì như vậy trọn đời, thì chẳng bao lâu nữa, tất cả khổ (dukkha) sẽ tịch diệt (nibbāna)."

14. Vào lúc rạng đông buổi sáng, khi thời gian đã mãn theo như mình đã định, thì tám giới (aṭṭhaṅgasīla) tự động không còn, chỉ còn lại năm giới (pañcasīla). Không cần phải thọ năm giới rồi xả giới Bố-tát như một số nơi hiện nay.] Đây là trình tự thọ trì giới Bố-tát.

Phân loại thời gian thọ trì Bố-tát: Giới Bố-tát có hai loại — Bố-tát thọ trì theo thời gian (kāla-uposatha) và Bố-tát thọ trì trọn đời (yāvajīva-uposatha). Bố-tát thọ trì theo thời gian có thể giữ trong hai ngày, ba ngày v.v..., hoặc suốt một ngày một đêm, hoặc nửa ngày nửa đêm, hoặc chỉ trong khoảnh khắc (trong lúc nghe pháp) — đều có thể thọ trì được.

## Trang 254

Một người làm công của trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) — vào ngày Bố-tát (uposatha) — đã đi cày ruộng, sau khi trở về, biết được người khác đang giữ giới Bố-tát, nên ngay cả cơm cũng không dùng nữa, chỉ giữ giới Bố-tát trong khoảng nửa ngày; trong khi đang giữ giới, bị bệnh gió (vātaroga) khởi lên và từ trần (cutvā), đã tái sanh làm một vị thiên cai quản cây cối (rukkhadevatā). Do đó, nếu không thể giữ trọn đời, thì cũng nên giữ bằng cách phân chia theo tháng, theo ngày, hoặc theo thời gian.

Tuy nhiên, vào thời nay, tại một số pháp hội, lễ đài cúng dường (maṇḍapa) v.v., sau khi nói "Hãy thọ trì tám giới (aṭṭhaṅgasīla) trước khi rời khỏi lễ đài" — rồi các vị Pháp sư (dhammakathika) ban giới điều về tràng hoa, hương liệu và vật thoa (mālāgandhavilepanasikkhāpada) cho những người đã trang điểm, chải chuốt sẵn; lại còn nói rằng "vì đã trang điểm, thoa hương từ trước khi thọ trì Bố-tát, nên giới điều về tràng hoa, hương liệu và vật thoa không bị phá hoại" — tất cả những điều ấy, xin hãy suy xét xem có đúng phương pháp hay không.

Các loại Bố-tát. — Bố-tát (uposatha), nói tóm lại, có 2 loại: Bố-tát của bậc Thánh (ariya uposatha) và Bố-tát theo kiểu người chăn bò (gopālaka uposatha). Trong đó, Bố-tát của bậc Thánh lại có nhiều loại: Bố-tát Phạm thiên (brahma uposatha), Bố-tát Pháp (dhamma uposatha) v.v.

1. Bố-tát Phạm thiên (brahma uposatha). — Đức Thế Tôn được gọi là "Phạm thiên" (brahma). Sau khi thọ trì tám giới (aṭṭhaṅgasīla), việc an trú tâm (ārammaṇa) trên đối tượng chính là Đức Thế Tôn — bậc được gọi là Phạm thiên ấy — được gọi là "Bố-tát Phạm thiên". Nếu không thể an trú tâm mà không cần văn bản, thì hãy tụng đọc và quán chiếu phần khai mở về ân đức Đức Phật (buddhaguṇa).

2. Bố-tát Pháp (dhamma uposatha). — Sau khi thọ trì giới Bố-tát (uposathasīla), việc an trú — hoặc là an trú tâm trên một ân đức nào đó của Chánh Pháp (dhammaguṇa), hoặc là xem đọc và tụng phần khai mở về ân đức Chánh Pháp — được gọi là "Bố-tát Pháp".

3. Bố-tát Tăng (saṅgha uposatha). — Sau khi thọ trì giới Bố-tát, việc an trú — hoặc là an trú tâm trên một ân đức nào đó của Tăng chúng (saṅghaguṇa), hoặc là xem đọc và tụng phần khai mở về ân đức Tăng — được gọi là "Bố-tát Tăng".

## Trang 255

4. Bố-tát Giới (sīla uposatha). — Sau khi thọ trì giới, việc an trú tâm quán chiếu rằng giới của mình không bị đứt (na khijjita), không bị thủng (na chidda), không bị lốm đốm (na sabbala), không bị vằn vện (na kammāsa) — và sống với tâm hoan hỷ (pāmojja) — được gọi là "Bố-tát Giới".

Không bị đứt (na khijjita) — Trong tám giới điều (sikkhāpada), nếu giới điều đầu hoặc giới điều cuối bị phá hoại (bhijjati), thì gọi là "Bố-tát bị đứt". Nếu không bị phá hoại như vậy, thì gọi là "Bố-tát không đứt, không rời rạc".

[Thi tụng]
Tám chi phần, từ đầu đến cuối, một chi phần nào bị đứt, loại Bố-tát ấy gọi là "bị đứt, bị rời rạc" (khijjitabhinna).

Không bị thủng (na chidda) — Cũng giống như tấm vải bị thủng ở khoảng giữa, nếu một giới điều nào ở khoảng giữa (trong tám giới điều) bị phá hoại, thì gọi là "bị thủng". Nếu không bị phá hoại như vậy, thì gọi là "không bị thủng".

[Thi tụng]
Tám chi phần, ở khoảng giữa, một chi phần nào hư hỏng — đối với Bố-tát ấy, gọi là "bị thủng, bị hư" (chiddabhijjita).
