# Ân Đức Tam Bảo — Bản Hiệu đính (Trang 261–265)

> Ngày hiệu đính: 2026-04-28
> Phạm vi: Trang 261–265 (Ājīvaṭṭhamaka Sīla & Navaṅga Uposatha Sīla)

---

## Trang 261

Phần mở đầu Ājīvaṭṭhamaka Sīla (Giới Mạng Sống Thứ Tám)
Lời nhắc nhở. — Do đó, chỉ khi nỗ lực thọ trì để không trở thành Uposatha của người chăn bò mà trở thành loại Thánh nhân Uposatha (Ariya-uposatha) thì mới có thể mong cầu lợi ích cho cả hai: lợi ích thế gian (loka-attha) và lợi ích luân hồi (saṃsāra-attha). Còn hiện nay, việc trong khi thọ trì Uposatha mà lại ăn uống, vui chơi hưởng lạc, đối với người có suy xét thì thật đáng thất vọng; hơn nữa, những người thuộc tôn giáo khác nhìn cách nhiều người Myanmar thọ trì Uposatha như vậy, có lẽ sẽ xem thường mà cho là "dân tộc không có trí tuệ suy xét." Vì vậy, lời nhắc nhở này được đưa ra để thọ trì Uposatha một cách có kỷ luật, nhằm nâng cao phẩm giá dân tộc và tôn giáo.

* *
Phần mở đầu Ājīvaṭṭhamaka Sīla
(Thứ tự thọ trì để ghi nhớ)
*Bhante, ahaṃ tisaraṇena saha, ājīvaṭṭhamaka-sīlaṃ dhammaṃ yācāmi, anuggahaṃ katvā, sīlaṃ detha me bhante.* — "Bạch Ngài, con xin thỉnh cầu Pháp gồm tám giới với mạng sống trong sạch, cùng với Tam quy, xin Ngài từ bi ban giới cho con." Nói theo cách xin năm giới (pañca-sīla), bắt đầu bằng "*Dutiyampi ahaṃ bhante...*" (Lần thứ hai, bạch Ngài...) cho đến "*Tatiyampi saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi*" (Lần thứ ba, con xin quy y Tăng).

1. *Pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.* — Con xin thọ trì học giới cấm sát sanh.
2. *Adinnādānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.* — Con xin thọ trì học giới cấm trộm cắp.
3. *Kāmesu micchācārā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.* — Con xin thọ trì học giới cấm tà dâm.
4. *Musāvādā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.* — Con xin thọ trì học giới cấm nói dối.
5. *Pisuṇavācā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.* — Con xin thọ trì học giới cấm nói hai lưỡi (nói chia rẽ).

## Trang 262

6. *Pharusavācā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.* — Con xin thọ trì học giới cấm nói lời thô ác.
7. *Samphappalāpā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.* — Con xin thọ trì học giới cấm nói lời phù phiếm.
8. *Micchājīvā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.* — Con xin thọ trì học giới cấm tà mạng (nuôi mạng sai lầm).

(Nghĩa để tham khảo)
*Bhante* — Bạch Ngài; *ahaṃ* — con (nam phật tử) / *ahaṃ* — con (nữ phật tử); *tisaraṇena* — cùng với Tam quy (Tisaraṇa); *saha* — cùng với; *ājīvaṭṭhamaka-sīlaṃ* — Ājīvaṭṭhamaka-sīla (Giới Mạng Sống Thứ Tám); *dhammaṃ* — Pháp (pháp hành trì giới); *yācāmi* — con xin thỉnh cầu. Nói như trên và tương tự, theo cách đã trình bày trước. Nghĩa của *pāṇātipātā* v.v... cũng nói theo năm giới (pañca-sīla). *Pisuṇavācā* — từ nói hai lưỡi (pisuṇavācā); *pharusavācā* — từ nói lời thô ác (pharusavācā); *samphappalāpā* — từ nói lời phù phiếm (samphappalāpa); *micchājīvā* — từ nuôi mạng xấu xa, hèn hạ; *veramaṇī sikkhāpadaṃ* — học giới tốt lành, cao thượng về việc từ bỏ, tránh xa; *samādiyāmi* — con xin thọ trì, an trú vững chắc trong tâm.

Điều cần lưu ý. — Khi tự mình thọ trì trước tượng Phật (rūpa-pabbā) hoặc bảo tháp (cetiya) mà không xin giới từ chư Tăng, thì không cần nói những câu thỉnh giới như "*Ahaṃ bhante...*" mà hãy bắt đầu từ "*Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi*" (Con xin quy y Phật) cho đến "*Micchājīvā veramaṇī...*" là đủ. Còn khi đã thọ trì loại ngũ giới (pañca-sīla) hoặc bát giới (aṭṭha-sīla) nào đó rồi, tiếp tục thọ trì Ājīvaṭṭhamaka-sīla này thì bắt đầu từ *musāvādā veramaṇī*...
*(Trang 262 bị cắt ở cuối — câu chưa hoàn tất)*

## Trang 263

Đã bao gồm trong các giới luật trước rồi, nên không cần phải nói thêm, chỉ cần nói tiếp về bốn học giới tiếp theo bắt đầu từ "pisuṇāvācā veramaṇī" (tự chế lánh xa lời nói đâm thọc).
Khi ājīvaṭṭhamaka-sīla (giới thứ tám liên quan đến sanh kế) này đã được thọ trì rồi, thì chừng nào nuôi mạng thanh tịnh, chừng nào không nói lời pisuṇā (đâm thọc) v.v..., thì giới không bị phá hoại, vì thế không cần phải thọ trì mỗi ngày. Các giới năm điều, tám điều khác, chừng nào không bị suy vỡ, cũng không cần phải thọ trì lại. Tuy nhiên, nếu thọ trì lại thì cũng không có lỗi gì.
Ājīvaṭṭhamaka: Tất cả những nghề nghiệp, buôn bán phải tìm kiếm vật dụng, tài sản để nuôi mạng đều được gọi là "ājīva" (sanh kế) theo tiếng Pāḷi. Việc tìm kiếm tài sản một cách bất chính được gọi là "micchājīva" (tà mạng). Việc tránh xa tà mạng ấy, tìm kiếm tài sản một cách chính đáng được gọi là "sammājīva" (chánh mạng). Học giới thứ tám được gọi là "aṭṭhama" theo tiếng Pāḷi. Nếu kể từ pāṇātipātā veramaṇī (tự chế lánh xa sát sanh) trở đi, thì micchājīvā veramaṇī (tự chế lánh xa tà mạng) là học giới thứ tám. Do đó, giới luật có mặt thứ tám — tức sự lánh xa tà mạng — được gọi là "ājīvaṭṭhamaka-sīla" (giới thứ tám liên quan đến sanh kế).
Cách thọ trì ājīvaṭṭhamaka-sīla này không được kinh Pāḷi và Aṭṭhakathā (Chú giải) trình bày trực tiếp, mà thọ trì ngũ giới v.v...

## Trang 264

Làm gương mẫu để các bậc trí giả xưa trình bày cách thọ trì. Cũng có thể thọ trì theo cách "pāṇātipātā paṭiviramāmi" (con xin tự chế lánh xa sát sanh) v.v... Trong tám học giới ấy, từ học giới số 1 đến số 7 chính là thân hành 3 điều và khẩu hành 4 điều trong thập thiện (sucarita 10 điều). Nơi bậc thiện nhân đã được trọn vẹn bảy điều ấy, nếu các việc buôn bán, nghề nghiệp liên quan đến nuôi mạng cũng thanh tịnh, thì dù có thọ trì hay không thọ trì ājīvaṭṭhamaka-sīla, người ấy vẫn luôn được trọn vẹn giới. [Trong các học giới ấy, các học giới số 1-2-3-4 đã được giải thích trong phần ngũ giới, các học giới số 5-6-7 sẽ trình bày trong phần giải thích về ác hạnh (duccarita) và thiện hạnh (sucarita).]
Cũng như dù thọ trì hay không thọ trì ngũ giới, nếu phạm vào thì có tội báo ra sao, thì ājīvaṭṭhamaka-sīla này, dù thọ trì hay không thọ trì, nếu phạm vào cũng có tội báo như vậy. Ngũ giới là thân giới (kāya-cariya-sīla) mà các bậc thiện nhân phải luôn luôn gìn giữ như thế nào, thì ājīvaṭṭhamaka-sīla này cũng là thân giới mà các bậc thiện nhân thượng hạng phải luôn luôn gìn giữ như vậy. Trong các bộ luận, ājīvaṭṭhamaka này còn được gọi là "ādi-brahmacariya-sīla" (giới sơ khởi của phạm hạnh), tức là giới (sīla) làm khởi đầu (ādi) của brahmacariya và magga-brahmacariya (phạm hạnh thánh đạo).] Khi ājīvaṭṭhamaka-sīla được trọn vẹn thì mới có thể chứng đắc đạo quả (magga-phala). Nếu ājīvaṭṭhamaka-sīla không trọn vẹn thì không thể chứng đắc đạo quả.

## Trang 265

Do đó, hãy ghi nhớ rằng "ājīvaṭṭhamaka-sīla này là giới làm nền tảng khởi đầu của thánh đạo (ariyamagga)."
Ghi chú: Có sự tranh luận rằng ājīvaṭṭhamaka-sīla này nên giữ hay không nên giữ. Nhưng không tìm được lý do nào để nói rằng không nên giữ. Mặc dù trong kinh Pāḷi không trình bày trực tiếp như một giới luật, nhưng chẳng những trình bày rất nhiều về phương pháp làm cho sanh kế thanh tịnh và lợi ích của sự thanh tịnh sanh kế (tức là sự thành tựu sammājīva — chánh mạng), mà trong Aṭṭhakathā (Chú giải) và Ṭīkā (Phụ chú giải) của Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo) còn trình bày rộng rãi ājīvaṭṭhamaka-sīla theo câu kinh Pāḷi: "pubbeva kho panassa kāyakammaṃ vacīkammaṃ ājīvo suparisuddho hoti" (thật vậy, trước đó thân nghiệp, khẩu nghiệp và sanh kế của vị ấy đã được thanh tịnh hoàn toàn). Do đó, nên luôn luôn gìn giữ ājīvaṭṭhamaka-sīla cho được trọn vẹn.
Giải thích về tà mạng (micchājīva):
Việc sát sanh (pāṇātipāta) — tìm kiếm tài sản bằng cách giết hại mạng sống của chúng sanh khác qua nghề săn bắn, nghề chài lưới. Việc lấy của không cho (adinnādāna) — tìm kiếm tài sản bằng cách làm kẻ trộm, cướp. Việc tà dâm (kāmesu micchācāra) — phá hoại gia đình người khác vì nhận được tài sản, vật dụng từ người ấy. Việc nói láo (musāvāda) — tìm kiếm tài sản bằng cách làm trạng sư bất chính, làm chứng bất chính, hoặc bằng cách lừa dối, gian lận trong mua bán. Việc nói lời đâm thọc (pisuṇāvācā) — chia rẽ, gây hấn để đạt được tài sản. Việc nói lời thô ác — qua nghề nói lời mỉa mai, châm chọc, nghề hề, nói những điều không đúng sự thật, những điều tổn hại...
