# Ân Đức Tam Bảo — Bản hiệu đính (Trang 266–270)

> Hiệu đính: 2026-04-28 | Batch 266-270

## Trang 266

Những lời nói chuyện phiếm (samphappalāpa) về các chuyện hoang đường, truyện cổ tích không có thật (chỉ làm cho người nghe vui cười hoặc tâm trí buông lung phóng dật) là tà mạng (micchājīva). Loại tà mạng này đã được ngăn tránh bằng bảy học giới (sikkhāpada) trước đó như pāṇātipātā veramaṇī (không sát sanh) v.v... Tuy nhiên, như câu tục ngữ nói "chỗ vững thì đóng thêm chốt cho chặt", để việc ngăn tránh bằng các học giới trước được vững chắc hơn, cũng cần phải ngăn tránh bằng học giới micchājīvā veramaṇī (không tà mạng) này nữa.

Cũng còn có những loại tà mạng chưa được ngăn tránh bởi bảy học giới trước. Những loại tà mạng ấy là: (1) satthavaṇijjā — buôn bán vũ khí như dao, giáo, súng, lưới v.v...; (2) sattavaṇijjā — buôn bán chúng sanh, dụ dỗ lôi kéo người rồi bán cho kẻ khác làm nô lệ (cũng gồm cả việc nuôi gái mại dâm rồi làm chủ chứa); (3) maṃsavaṇijjā — nuôi bò, trâu, heo, dê, gà, chim v.v... rồi bán cho người làm thịt để ăn; (4) majjavaṇijjā — buôn bán nước thốt nốt, rượu, thuốc phiện v.v... (mở quán rượu); (5) visavaṇijjā — buôn bán thuốc độc. Trong kinh điển nêu năm loại này và cũng nói rằng upāsaka (cận sự nam) và upāsikā (cận sự nữ) — những người quy y Tam Bảo — không được làm năm nghề ấy. Ngoài ra, những việc nuôi ngựa non, nuôi bò tơ, nuôi trâu chọi, đánh bạc để kiếm tài vật cũng là tà mạng. Dù bản thân mình không trực tiếp kiếm tài vật bằng tà mạng, nhưng nếu em ruột hoặc

anh chị em trong nhà làm tà mạng mà mình vui lòng tán đồng thì cũng thành tà mạng của chính mình; nếu không tán đồng thì mình không mắc tà mạng.

## Trang 267

Dhammiyaladdha (vật dụng đạt được hợp pháp) và Sammā-ājīva (chánh mạng).
Ngăn tránh các tà mạng đã nêu trên, những tài vật của cải đạt được một cách hợp pháp, chánh đáng gọi là vật dụng "dhammiyaladdha" [dhammiya — hợp với Chánh Pháp + laddha — đã đạt được]. Tài vật nhận được từ cha mẹ v.v... như thừa kế, làm phu khuân vác, làm thư ký văn phòng, làm giáo viên trường học, làm nông nghiệp, cho vay lấy lãi — những tài vật thu được phần lớn là dhammiyaladdha. Người lấy những tài vật ấy để nuôi mạng thì chánh mạng (sammā-ājīva) là điều khỏi phải bàn. Một số người, trước khi hiểu rõ Chánh Pháp thì kiếm tài vật bất chánh, đến khi hiểu rồi vẫn dùng những tài vật ấy để ăn uống sanh sống, nên thường suy nghĩ: "Không biết sự nuôi mạng của mình có phải là chánh mạng hay không?"

Hai loại Sammā-ājīva (chánh mạng).
Chánh mạng (sammā-ājīva) có hai loại: chánh mạng theo Kinh tạng (sutta Pāḷi) và chánh mạng theo Luận tạng (abhidhamma Pāḷi). Trong đó, việc ăn uống thọ dụng những tài vật đạt được hợp pháp, tìm kiếm tài vật theo đường lối Chánh Pháp — gọi là chánh mạng theo Kinh tạng (sutta sammā-ājīva). Khi gặp cơ hội được tài vật bất chánh thì không làm việc ấy mà ngăn tránh — gọi là chánh mạng theo Luận tạng (abhidhamma sammā-ājīva). Do đó, trước khi hiểu rõ Chánh Pháp, dù đang thọ dụng những tài vật thu được bất chánh,

## Trang 268

nhưng đến khi hiểu rõ rồi mà biết ngăn tránh những việc bất chánh như vậy thì vẫn là abhidhamma sammā-ājīva. Ý nghĩa muốn nói là: "Dù đang thọ dụng tài vật thu được bất chánh — theo Kinh tạng thì đó là tà mạng (micchājīva) — nhưng nếu sau này gặp cơ hội kiếm tài vật bất chánh mà biết ngăn tránh, thì vẫn có thể trở thành abhidhamma sammā-ājīva."

Vì vậy, nếu không thể đạt được sutta sammā-ājīva (chánh mạng theo Kinh tạng), thì có thể cố gắng đạt abhidhamma sammā-ājīva bằng cách ngăn tránh việc tìm kiếm tài vật bất chánh trong tương lai, và như vậy vẫn có thể giữ gìn ājīvaṭṭhamaka-sīla (giới tám chi phần về nuôi mạng) này. Vào thời Đức Phật, người thợ săn tên Kukkuṭamitta — cả đời làm nghề thợ săn để sanh sống — nên nghề nuôi mạng của ông ta chính là tà mạng. Tuy nhiên, khi được gặp Đức Phật, nghe Chánh Pháp rồi, ông cùng bảy người con trai và bảy người con dâu đều chứng đắc quả vị sotāpanna (Tu-đà-hoàn, Dự Lưu). Trong kinh điển không nói rằng những người này đã từ bỏ, vứt bỏ những tài vật thu được từ tà mạng trước kia, và họ cũng sẽ không từ bỏ. Vì vậy, có thể nói rằng: kể từ khi hiểu biết rõ ràng rồi, nếu biết ngăn tránh tà mạng thì giới ājīvaṭṭhamaka-sīla này có thể được trọn vẹn. Những ai muốn trở thành bậc hiền thiện (sappurisa) hãy nên ghi nhớ điều này. Khi bố thí (dāna) những tài vật thu được từ tà mạng cũng không phải là không có quả báu — vẫn có quả báu tương xứng, chỉ là không thù thắng (thīna — yếu ớt) bằng những vật dụng dhammiyaladdha (đạt được hợp pháp) mà thôi.

## Trang 269

Mở đầu về Cửu Chi Bố Tát Giới (navaṅga-uposatha-sīla)
Sanh kế của chư tỳ-khưu. Chư tỳ-khưu chỉ khi nào hoàn toàn từ bỏ các vật dụng (paccaya) đạt được bằng phương cách phi pháp, thì mới gọi là chánh mạng (sammā-ājīva). Nếu sử dụng các vật dụng đạt được bằng những phương cách phi pháp như chữa bệnh (làm nghề y), bói toán, làm ra vẻ oai nghi để người khác kính nể, v.v., thì mỗi khi sử dụng, không những phạm giới (āpatti) mà còn khiến các tỳ-khưu khác sử dụng những vật ấy cũng phạm giới. Do vậy, nên biết rằng tà mạng (micchā-ājīva) của chư tỳ-khưu có tội lỗi nặng nề hơn tà mạng của người tại gia.
Bởi thế, nếu thực sự muốn trở thành bậc thiện nhân (sappurisa), dù là người tại gia hay tỳ-khưu, cần đặc biệt tránh xa tà mạng, sanh sống bằng chánh mạng, và chỉ khi nào hộ trì nhóm giới có chánh mạng là điều thứ tám (ājīvaṭṭhamaka-sīla) này, mới xứng đáng gọi là thiện nhân chân thật — không phải là thiện nhân chỉ có vẻ tốt khi người khác nhìn thấy, mà hãy tự mình nỗ lực để trở thành thiện nhân chân chánh.
*
Mở đầu về Cửu Chi Bố Tát Giới (navaṅga-uposatha-sīla)
(Công thức thọ trì — cần ghi nhớ)
"Ahaṃ bhante tisaraṇena saha, navaṅgasamannāgataṃ, uposathasīlaṃ dhammaṃ yācāmi, anuggahaṃ katvā, sīlaṃ detha me bhante, dutiyampi-tatiyampi..." — nối tiếp đến "uccāsayana"

đến "mahāsayana" — đọc tiếp theo công thức Bát Quan Giới, sau đó thọ trì: "yathābalaṃ mettāsahagatena cetasā sabbāvantaṃ lokaṃ pharitvā viharāmi."
Xem ý nghĩa và giải thích:
"Navaṅgasamannāgataṃ — đầy đủ 9 chi phần (aṅga)." Sau đó đọc theo thứ tự Bát Quan Giới; còn phần tâm từ (mettā): "yathābalaṃ — tùy theo khả năng (sức lực) của mình, mettāsahagatena — cùng với tâm từ, cetasā — bằng tâm, sabbāvantaṃ — tất cả chúng sanh (satta) có mặt, lokaṃ — thế gian chúng sanh (sattaloka), pharitvā — sau khi trải rộng (pharaṇa), viharāmi — ta sẽ an trú." Ý nói: "Với tâm từ (mettācitta) tùy theo khả năng, ta sẽ trải rộng đến tất cả chúng sanh mà an trú."
Lời ghi chú. Một số người trình bày công thức thọ trì là "mettāsahagatena cetasā sabbapāṇabhūtesu pharitvā viharaṇaṃ samādiyāmi." Tuy nhiên, trong quyển sách này, để phù hợp với Pāḷi tạng (Pāḷi Piṭaka) nhiều nhất có thể, đã đổi thành "sabbāvantaṃ lokaṃ pharitvā viharāmi."

## Trang 270

Navaṅga. Nava + aṅga. Nava — 9 chi phần + aṅga — chi phần, bộ phận; các điều học (sikkhāpada) có 9 chi phần. Bố tát (uposatha) có 9 chi phần này được gọi là "Cửu Chi Bố Tát" (navaṅga-uposatha). Trong thời hiện nay, khi thêm tâm từ (mettā) vào Bát Quan Giới (aṭṭhasīla) mà nhiều người thường trì giữ, thì trở thành giới 9 chi phần — "Cửu Chi Bố Tát."

Cửu Chi Bố Tát này xuất hiện trực tiếp trong Pāḷi tạng của Bộ Tăng Chi (Navaka-Aṅguttara Nikāya). Việc thêm tâm từ (mettā) vào Cửu Chi Bố Tát này là để đáp ứng nguyện vọng của những người trì giữ bố tát (uposatha) thời bấy giờ.
Thực chất là — không giống như các điều học (sikkhāpada) như "không sát sanh" (pāṇātipātā veramaṇī) v.v., tâm từ (mettā) không phải là một điều học (sikkhāpada). Khi thọ trì "xin hãy tránh xa sát sanh" thì có thể tránh xa suốt cả ngày, nhưng người thọ trì "sẽ an trú với tâm từ" thì không thể duy trì tâm ấy suốt cả ngày. Do đó, tâm từ không phải là điều học (sikkhāpada). Tuy nhiên, vì bố tát được hộ trì với tâm từ tô điểm có nhiều lợi ích (attha) hơn bố tát thông thường, nên ngay trong thời Đức Phật, một số người đã trì giữ Cửu Chi Bố Tát kèm theo tâm từ.
