# Ân Đức Tam Bảo — Bản Hiệu đính (Trang 271–275)
> Ngày hiệu đính: 2026-04-28
> Batch: 271-275

## Trang 271

Cách hộ trì. Người muốn trì giữ Cửu Chi Bố Tát này, sau khi thọ trì giới (sīla) và ăn uống xong, nên đến nơi vắng vẻ yên tịnh mà hành thiền tâm từ (mettā-kammaṭṭhāna), trau dồi và tu tập (bhāvanā), thì mới gọi là trì giữ Cửu Chi Bố Tát một cách chu đáo. Theo như thấy hiện nay, sau khi thọ nhận Cửu Chi Bố Tát, khi về nhà lại la mắng, quát tháo con cái v.v., nổi sân (dosa); gặp thấy những người không hợp ý mình thì sanh tâm sân. "Tâm từ" (mettā) là điều đối nghịch với tâm sân (dosa). Do đó, khi vô ý nổi sân, để không làm mất sự thọ trì, đã thêm từ "yathābalaṃ — tùy theo khả năng, sẽ an trú với tâm từ" vào công thức thọ trì, và trình bày cách thọ trì Cửu Chi Bố Tát kèm theo từ "yathābalaṃ" này.

## Trang 272

Phần mở đầu Mười Giới
(Cách thọ trì để ghi nhớ)
Bạch Ngài, con xin cầu xin Pháp gồm mười giới tại gia (dasagahaṭṭhasīlaṃ) cùng với Tam Quy (tisaraṇena), xin Ngài thương xót ban giới (anuggahaṃ katvā, sīlaṃ detha me bhante). (Nói tiếp "Dutiyampi v.v." – các học giới đầu cho đến giới ăn phi thời được nói theo Bát Quan Trai Giới.)
7. Con xin thọ trì học giới lánh xa sự xem múa hát, âm nhạc và trò giải trí (nacca gīta vādita visūka dassanā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi).
8. Con xin thọ trì học giới lánh xa sự trang điểm, thoa hương và tô điểm thân thể (mālā gandha vilepana dhāraṇa maṇḍana vibūsanaṭṭhānā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi).
9. Con xin thọ trì học giới lánh xa giường cao ghế lớn (uccāsayana mahāsayanā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi).
10. Con xin thọ trì học giới lánh xa sự nhận vàng bạc (jātarūpa rajata paṭiggahaṇā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi).
Xem ý nghĩa và giải thích
Bhante – Bạch Ngài; ahaṃ – con; tisaraṇena – cùng với Tam Quy; saha – cùng; dasagahaṭṭhasīlaṃ – là mười giới của hàng cư sĩ; dhammaṃ – các học giới; yācāmi – con xin cầu thỉnh; (Ý nghĩa của "nacca gīta" v.v. đã trình bày ở phần Tám giới;) jātarūpa rajata paṭiggahaṇā – từ việc cầm nắm, thọ nhận vàng bạc; veramaṇisikkhāpadaṃ – học giới lánh xa – (samādiyāmi – con xin thọ trì).

## Trang 273

Samādiyāmi – con xin thọ trì. [Phần "uccāsayana mahāsayanā" đã giải thích ở Tám giới.]
Lý do phân biệt Nacca Gīta và Mālā Gandha
Theo học giới Nacca Gīta (múa hát âm nhạc), các hành vi như nhảy múa, ca hát, đánh đàn, xem và nghe đều có cùng bản chất liên hệ với nhau, do đó việc lánh xa các hành vi này được xếp thành một học giới duy nhất. Theo học giới Mālā Gandha (vòng hoa hương thơm), các việc như đeo hoa v.v. cũng có cùng bản chất liên hệ với nhau, do đó việc lánh xa các việc đeo hoa v.v. được xếp thành một học giới duy nhất. Nhưng các hành vi trong học giới Nacca Gīta và các hành vi trong học giới Mālā Gandha lại không có cùng bản chất liên hệ chặt chẽ với nhau. Do đó, phải phân biệt thành hai học giới riêng: một cho Nacca Gīta và một cho Mālā Gandha.
Còn trong Tám Giới, cả hai phần Nacca Gīta và Mālā Gandha đều được gộp chung lại (để đủ con số tám giới). Ý nói là: Nacca Gīta và Mālā Gandha chắc chắn nên phân thành hai học giới riêng biệt. Tuy nhiên, trong Tám Giới, theo truyền thống xưa nay, không phải chín giới mà chỉ là tám giới; và để tất cả đều nằm trong con số tám giới đó, người ta gộp chung Nacca Gīta và Mālā Gandha lại để thọ trì – đó là chủ ý. Đây là kiến giải của bộ luận này. Hơn nữa,

## Trang 274

các bậc thiện trí cũng xin hãy suy xét những kiến giải tốt đẹp và chính xác hơn.
Phần mở đầu học giới Jātarūpa (Vàng)
Rajata ca jātarūpa rajata paṭiggahaṇā. Jātarūpa – vàng + rajata – bạc + paṭiggahaṇa – sự thọ nhận.] Theo nghĩa jātarūpa, không chỉ vàng thỏi vàng khối mà tất cả đồ trang sức làm bằng vàng cũng không được thọ nhận. Theo nghĩa rajata, không chỉ tiền kim loại mà tất cả tiền giấy, tiền dùng trong mua bán giao dịch cũng không được thọ nhận. Theo nghĩa paṭiggahaṇa, không chỉ việc tự tay cầm nắm, thọ nhận mà trong các bộ luận còn nêu rõ năm điều cần tránh. Nơi đây, xin trích dẫn trình bày một đoạn trong phần Sīla Vinicchaya (Phân định về Giới) của Ngài Ledi Sayādaw – bậc đạo sư rất nổi danh uyên bác.
Trong Luật Tạng, có năm hành vi bị cấm liên quan đến vàng bạc châu báu: Uggaha một, Uggahāpaṇa một, Upanikkhitta sādayana một, Dubbacaraṇa một, Āmasana một. Trong đó:
1. Tự tay nhặt lấy vàng bạc châu báu khi thấy mà không có chủ, hoặc tự tay thọ nhận khi người ta trực tiếp dâng – gọi là Uggaha. [Uggaha – tự tay thọ nhận.]

## Trang 275

2. Khi nhìn thấy vàng, bạc, châu báu không có chủ nhân (hoặc có người đem đến dâng cúng), thì việc ủy thác người khác lấy thay cho mình, hoặc ủy thác người khác dâng cúng thay cho mình, đều được gọi là uggahaṇa (uggahaṇa — sự khiến nhận lấy).

3. Thí chủ đem vàng, bạc, châu báu đến đặt trước mặt vị tỳ-khưu rồi bạch rằng "Xin ngài tùy ý sử dụng số vàng bạc này", hoặc "bạch ngài, có cả tiền y, tiền dép, tiền xe, tiền thuyền", rồi dâng cúng; vị tỳ-khưu không từ chối bằng thân và lời, mà chỉ thọ nhận trong tâm — điều đó được gọi là upanikkhitta-sādayana. Hoặc thí chủ nói rằng "khi nào ngài cần, xin hãy lấy và sử dụng" số vàng bạc đang có tại nhà thí chủ hoặc tại một nơi nào đó; vị tỳ-khưu không từ chối bằng thân và lời, mà chỉ hoan hỉ thọ nhận trong tâm — điều đó cũng được gọi là upanikkhitta-sādayana (upanikkhitta — để cất giữ tại ngân hàng v.v., đặt ở gần; sādayana — sự hoan hỉ thọ nhận).

4. Đối với vàng bạc đã được giữ theo cách kappiya (đã giao phó cho kappiyakāraka đúng theo Luật), mà vị tỳ-khưu ra lệnh quản lý như "dùng số vàng bạc này mua cái kia đi", "trả bấy nhiêu đi", "cất vào hộp đi", "lấy ra đi", "mang đi đi" v.v. — việc quản lý, sai khiến đó được gọi là dubbicāraṇa (dub — không tốt, không phù hợp Luật; vicāraṇa — sự quản lý, sắp xếp).
