# Ân Đức Tam Bảo — Bản Hiệu đính (Trang 281–285)
> Ngày hiệu đính: 2026-04-28

## Trang 281

Ba loại ý hành thuộc thiện hạnh (sucarita manokamma 3 pháp)
8. Anabhijjhā (vô tham) — không thực hiện sự tham lam (abhijjhā).
9. Abyāpāda (vô sân) — không thực hiện sự sân hận (byāpāda).
10. Sammādiṭṭhi (chánh kiến) — chấp nhận tri kiến chân chánh.
Mười pháp thiện hạnh (sucarita) này cũng được gọi là "Kusalakammapatha" (Thiện nghiệp đạo) 10 pháp, [patha — con đường đưa đến cõi người, cõi trời,] nếu nhân lên với bốn cách: 1—tự mình thực hành, 2—sai khiến người khác thực hành, 3—tuyên thuyết về phước báu của thiện hạnh, 4—tùy hỷ khi thấy người khác tự nguyện thực hành, thì thành 40.
[Thi tụng] Cùng với ác hạnh, thiện hạnh song hành, mười điều này, tự mình làm, sai người khác làm, tuyên nói công đức, hoan hỷ vui mừng, bốn mươi chính xác, nhân lên như thế, hãy nắm lấy ý nghĩa.
Phần mở đầu Puññakiriyavatthu (Cơ sở phước sự)
[kiriya — việc đáng làm + vatthu — nơi nương tựa của phúc lạc,] là nơi nương tựa của phúc lạc và lợi ích trong luân hồi về sau, thực sự có 10 việc phước thiện đáng làm.
1. Dāna (bố thí) — hành động từ bỏ, ban tặng, cúng dường.
2. Sīla (giới) — hành động gìn giữ các học giới tương ứng.
Trang 282

## Trang 282

3. Bhāvanā (thiền tu) — hành động trú vào đối tượng như ân đức Phật v.v… (thực hành thiền kammaṭṭhāna).
4. Apacāyana (kính nhường) — hành động cung kính bậc đáng kính.
5. Veyyāvaccā (phục dịch) — hành động trợ giúp trong công việc phước thiện của người khác.
6. Pattidāna (san sẻ phước) — hành động san sẻ phần phước (kusalāṃsa) của mình.
7. Pattānumodanā (tùy hỷ phước) — hành động hoan hỷ, nói "sādhu" (lành thay) khi người khác san sẻ phước.
8. Dhammassavana (nghe pháp) — hành động lắng nghe Chánh Pháp.
9. Dhammadesanā (thuyết pháp) — hành động thuyết giảng Chánh Pháp, không màng đến lợi dưỡng vật chất.
10. Diṭṭhujukamma (làm thẳng tri kiến) — hành động chấp nhận tri kiến một cách chân chánh (tin tưởng nghiệp và quả của nghiệp).
San sẻ phước — Nói "sādhu". Về pattidāna và pattānumodanā — Khi thực hành phước thiện, việc san sẻ để người khác cũng được phần phước thiện tương đương với mình, gọi là "pattidāna — san sẻ phước". Những người nghe lời san sẻ phước ấy mà hoan hỷ, nói "sādhu", thì được phần phước thiện tương đồng với người tạo phước. Còn những chúng sanh ngạ quỷ (peta) khi nói "sādhu" thì lập tức thọ hưởng quả báo. Nếu không hoan hỷ thực sự mà chỉ nói "sādhu" cho trọn bổn phận, thì chỉ được phần phước ít ỏi. Nếu ganh ghét việc người khác có thể bố thí, thì đó chính là issā (tật đố) — bất thiện nghiệp.
Trang 283

## Trang 283

Mười Puññakiriyavatthu (Cơ sở phước sự) đã trình bày ở trên, nếu nhân lên với 4 cách như tự mình thực hành v.v… thì thành 40. Một cách khác — nếu 10 pháp này nhân lên với 3 loại tác ý (cetanā): pubbacetanā, muñcacetanā, aparacetanā, thì thành 30 Puññakiriyavatthu. Tác ý phát sanh trong giai đoạn trước khi thực hành, gọi là "pubbacetanā" (tác ý tiền hành). Tác ý phát sanh trong lúc đang thực hành, đang xả bỏ, gọi là "muñcacetanā" (tác ý chánh hành). Sự hoan hỷ sau khi đã hoàn thành, gọi là "aparacetanā" (tác ý hậu hành).
Người trì giữ ngũ giới (pañcasīla) và Ājīvaṭṭhamakasīla (giới có chánh mạng là thứ tám), tránh xa 10 ác hạnh (duccarita), đồng thời thực hành 10 thiện hạnh (sucarita) và 10 Puññakiriyavatthu bất cứ khi nào gặp cơ hội, thì chắc chắn là bậc thiện nhân (sappurisa) và thực sự sẽ đạt được thiện thú (sugati).
[Thi tụng]
1. Dāna (bố thí) cùng sīla (giới), bhāvanā (thiền tu) và, apacāyanā (kính nhường), cung kính thay, veyyāvaccā (phục dịch) vậy.
2. Pattidāna (san sẻ phước), ban phát phần phước, nói lên sādhu (lành thay), pattānumodanā (tùy hỷ), thuyết giảng tất cả, lắng nghe thọ trì, dhammassavana (nghe pháp) vậy.
3. Tự mình thuyết giảng, dhammadesanā (thuyết pháp), chấp nhận chân chánh, diṭṭhijukamma (làm thẳng tri kiến), mười điều này, ghi nhớ tuần tự.

## Trang 284

Kamma và Sự Giải Thích Về Quả Báo Của Kamma
Trong thời Đức Phật, chàng thanh niên "Subha" (Thiện Nam) khi nhìn thấy sự khác biệt đặc thù về quả báo giữa người này và người kia dù cùng là con người, do không rõ ràng nên đã trình bốn câu hỏi lên Đức Thế Tôn, và cách Đức Thế Tôn trả lời thật dễ hiểu cho con người thời đại này, nên con sẽ tóm lược trình bày theo đúng nguyên văn Pāḷi với chút sắp xếp trước sau.
[Thi tụng] Như mỗi ngày soi gương, ngắm nhìn tướng mạo mình mà trang điểm, cũng vậy, muốn cho chân thật, hãy quán sát chương này, trang điểm cho dòng tâm, ngay trong đời sống thường nhật vậy.
(A) Câu hỏi của chàng Subha
1 - Tại sao cùng là con người mà có người tuổi thọ ngắn?
2 - Có người lại sống thọ?
Câu trả lời của Đức Thế Tôn
1. Trên thế gian này, có một số người nam nữ đối với các loài hữu tình không có lòng thương xót, bi mẫn (karuṇā), tàn nhẫn độc ác, thường quen giết hại mạng sống của kẻ khác. Những người như vậy khi chết thường sanh vào địa ngục (niraya). (Do sự hỗ trợ của một thiện nghiệp nào đó trong quá khứ) nếu không đọa địa ngục mà sanh vào nhân loại thì không được sống lâu, phải có tuổi thọ ngắn.

## Trang 285

2. Trên thế gian này, có một số người nam nữ lại có lòng thương xót, bi mẫn (karuṇā) mạnh mẽ đối với các loài hữu tình, tránh xa việc sát hại mạng sống kẻ khác. Những người như vậy khi tái sanh (cuti) thường sanh vào cõi trời (deva). Nếu không sanh vào cõi trời mà sanh vào nhân loại thì cũng được sống lâu dài.
(B) 3 - Tại sao có người nhiều bệnh tật?
4 - Có người lại không có bệnh tật?
3. Trên thế gian này, có một số người nam nữ thường quen hành hạ, bức bách các loài hữu tình khác bằng tay, hoặc bằng các vũ khí như đá, gậy, dao v.v... (dù không giết chết,) những người như vậy khi chết thường đọa địa ngục. Nếu không đọa địa ngục mà sanh vào nhân loại thì sẽ nhiều bệnh tật, ốm đau.
4. Người không quen hành hạ, bức bách kẻ khác như vậy khi tái sanh thường sanh vào cõi trời. Nếu không sanh cõi trời mà sanh vào nhân loại thì sẽ không có bệnh tật.
(C) 5 - Tại sao có người xấu xí?
6 - Có người lại có dung sắc xinh đẹp?
5. Trên thế gian này, có một số người nam nữ rất sân hận (dosa) nặng nề. Chỉ cần có chút việc để nói cũng thường quen xúc phạm, mắng nhiếc kẻ khác.
