# Ân Đức Tam Bảo — Bản Hiệu đính (Trang 321–325)

> Ngày hiệu đính: 2026-04-28 | Batch: 321-325

---

## Trang 321

Nekkhamma Pāramī (Ba-la-mật Xuất gia). Trong thế giới của những con người dày đặc dục lạc (kāmaguṇa) với các đối tượng trần tục (lokiyārammaṇa), thì không thể chứng đắc những pháp cao thượng tối thắng. Chỉ khi vào nơi rừng sâu núi thẳm, vắng bóng người qua lại, với hương hoa ngào ngạt, tu tập nuôi dưỡng định (samādhi), rồi với giới đức thanh tịnh trong sáng mà thật sự tinh tấn thực hành —

## Trang 322

…thì mới có thể chứng đắc các pháp cao thượng tối thắng. Vì vậy, Ngài quyết định rằng việc xuất gia (nekkhamma) — rời bỏ gia đình vào rừng tu — cũng cần được thực hành với sự chú tâm nghiêm túc.
Paññā Pāramī (Ba-la-mật Trí tuệ). Chỉ khi có trí tuệ hiểu biết sáng suốt (paññā-ñāṇa) thì mới nhận ra được lợi ích của Dāna (bố thí), Sīla (trì giới) và các Ba-la-mật khác, từ đó mới phát sanh tâm nguyện tu tập viên mãn. Như tục ngữ nói: *"Trí tuệ chín muồi thì giữa hội chúng mới oai nghiêm"* — chỉ có bậc trí tuệ chân thực mới xứng đáng giữa những bậc trí tuệ chân thực. Nếu trí tuệ còn ở mức thấp kém, ngu muội, chẳng khác nào quả bầu không tai (ý nói không biết gì), thì dù có làm chủ tài sản giàu sang cũng không thể vươn lên cảnh giới cao thượng. Năng lực có thể thống trị và cai quản thế gian này chính là trí tuệ (ñāṇa-paññā). Ngay cả thiền-na và thắng trí (jhāna-abhiññā) có thể xuyên đất bay trời cũng chính là trí tuệ này.
Pháp có thể diệt tận tất cả phiền não và lậu hoặc (kilesa-āsava) đã tích lũy suốt bao kiếp sanh tử luân hồi, chính là trí tuệ Đạo lộ (magga-paññā) và trí tuệ Quả vị (phala-paññā). Nói tóm lại, quả vị Phật chính là Đại trí tuệ Nhất thiết trí (sabbaññuta-ñāṇa — trí tuệ biết tất cả). Để Paññā Pāramī này được trưởng thành sung mãn, mỗi khi làm việc thiện lành nào, tâm mình phải luôn hướng về và khao khát trí tuệ. Phải thường xuyên thân cận bậc trí tuệ chân thực, không ngừng hỏi han học hỏi. Vì vậy, bậc Bồ-tát tiền thân là vị Ẩn sĩ vĩ đại, đã nhìn thấy Paññā Pāramī này là thứ tư, và Ngài lại quyết tâm tu tập viên mãn tốt đẹp.

## Trang 323

Viriya Pāramī (Ba-la-mật Tinh Tấn). Dù trí tuệ (paññā) có nhiều đến đâu, nếu thiếu đi sự tinh tấn (viriya) thì chỉ nghĩ suông mà không đạt được lợi ích nào cả. Trước đây, trí tuệ chỉ khi có bạn đồng hành tốt là tinh tấn mới có thể hoàn thành lợi ích mong muốn. Tất cả những người đạt đến cảnh giới cao thượng đều không phải là người lười biếng thiếu tinh tấn, cũng không phải là kẻ chỉ nói suông. Do đó, Ngài đã quyết định lần thứ năm rằng cần phải thực hành Viriya Pāramī (Ba-la-mật Tinh Tấn) cùng với trí tuệ.

Khantī Pāramī (Ba-la-mật Kiên Nhẫn). Một người hướng đến cảnh giới cao thượng không nên nghĩ rằng mình sẽ không gặp kẻ thù đối nghịch. Trong vòng luân hồi (saṃsāra) rộng lớn này, nơi mà mọi người thường có thói quen ghen tị với người hơn mình, lại càng dễ gặp phải những điều như vậy. Nếu cứ mãi cạnh tranh đối đầu với những người đối nghịch mình thì không thể tiến xa trên con đường. Nếu không xem tất cả những kẻ ghen tị với mình là kẻ thù, mà chỉ xem họ như những người đang giúp đỡ mình theo một cách nào đó để Khantī Pāramī được viên mãn, thì tâm sẽ vô cùng an ổn. Do đó, Ngài đã quyết định lần thứ sáu rằng cần phải thực hành Khantī Pāramī (Ba-la-mật Kiên Nhẫn) mỗi khi gặp phải hoàn cảnh như vậy.

Sacca Pāramī (Ba-la-mật Chân Thật). Trên thế gian này, không có ai đáng sợ hơn người không có sự chân thật (sacca). Câu nói "kẻ phụ lòng tin thường chết thảm" là lời phát sanh nhằm chỉ những kẻ không giữ lời chân thật. Người không có sự chân thật thì không bao giờ có thể đạt đến cảnh giới cao thượng.

Sự chân thật có năng lực vô cùng mạnh mẽ. Ngay cả lửa đang cháy, nước đang dâng, hay chất độc đang ngấm lên cũng có thể làm dịu xuống, làm dừng lại bằng lời nói chân thật. Người thực sự cao thượng ắt phải có sự chân thật, nên Ngài đã quyết định lần thứ bảy rằng cần phải thực hành Sacca Pāramī (Ba-la-mật Chân Thật).

## Trang 324

Adhiṭṭhāna Pāramī (Ba-la-mật Quyết Định). Người mong cầu lợi ích cao thượng thì phải nỗ lực với sự kiên trì bền bỉ, không nản lòng trước những trở ngại tầm thường. Chỉ có nỗ lực như vậy mới đạt được thành quả thực sự. Do đó, Ngài đã quyết định lần thứ tám rằng cần phải thực hành Adhiṭṭhāna Pāramī (Ba-la-mật Quyết Định) để có sự kiên trì trong các thiện pháp (kusala).

Mettā Pāramī (Ba-la-mật Từ Tâm). Nếu muốn đạt đến cảnh giới cao thượng thì không thể thiếu từ tâm (mettā) đối với tất cả chúng sanh. Không xứng đáng gọi là người cao thượng nếu chỉ rải tâm từ đến một số chúng sanh với mong cầu lợi ích, còn đối với số khác thì thiếu từ tâm, rồi rải tâm từ một cách chọn lọc chỗ này chỗ kia. Do đó, Ngài đã quyết định lần thứ chín rằng cần phải nỗ lực thực hành Mettā Pāramī (Ba-la-mật Từ Tâm) — tâm mong cầu lợi ích đồng đều cho tất cả chúng sanh.

Upekkhā Pāramī (Ba-la-mật Xả). Người đang nỗ lực đạt đến thiện pháp cao thượng thì không nên trở thành kẻ tìm kiếm, bám víu chặt chẽ không rời đối với những người quan tâm và coi trọng mình. Cũng không nên bận tâm quá mức với những kẻ thù ghét mình.

## Trang 325

Giống như đại địa (mahāpathavī) — chẳng vui mừng khi được dâng hương hoa thơm ngát, cũng chẳng xem việc bị ném phân thối là điều quan trọng — nên có thể xả bỏ, không thương không ghét, bình tâm mà lặng lẽ buông xả. Do đó, Ngài đã quyết định lần thứ mười rằng cần phải thực hành Upekkhā Pāramī (Ba-la-mật Xả) tùy theo cơ hội thích hợp.

Ngoài các Ba-la-mật này, khi Bồ Tát (bodhisatta) suy xét thêm cũng không thấy Ba-la-mật nào khác cần phải thực hành, nên Ngài đã quán xét từ đầu đến cuối, từ cuối đến đầu nhiều lần về mười Ba-la-mật này. Ngài vô cùng hoan hỷ, và do năng lực của trí tuệ (ñāṇa) khi Ngài suy xét, đại địa này (mahāpathavī — vị thần đất) đã rung chuyển mạnh mẽ, lay động như cỗ máy yantra được quay lên, như một lời tán dương chúc phúc. Bồ Tát cũng đã trở về dãy Himalaya để thực hành các Ba-la-mật ấy. Khi mạng chung (cuti) khỏi kiếp sống đó, Ngài sanh đến cảnh giới Phạm thiên (Brahma). Sau đó, qua vô số kiếp (kappa), Ngài đã thực hành các Ba-la-mật một cách đặc biệt phi thường, tùy theo hoàn cảnh thích hợp.

Sivi Jātaka và Dāna Pāramī. Trong kiếp làm vua Sivi, Bồ Tát mỗi ngày đều bố thí hàng trăm ngàn, chịu tốn kém để bố thí, nhưng Ngài vẫn không thể cảm thấy hài lòng thỏa mãn. Ngài nghĩ: "Trong việc bố thí thường lệ, không còn thứ gì mà ta chưa từng bố thí. Bây giờ...
