# Ân Đức Tam Bảo (Ratanàtthagunaram) - Dịch Song Ngữ
*Batch 10: Trang 19 & Trang 20*

---

## Trang 19

*(Tiếp nối ý cuối của Trang 18)*

**[Myanmar]**
ရသဖြင့် ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်တို့အဖို့မှာ လွန်စွာအားကိုးလောက်သော စေတီတော်ပါပေတည်း။

**[Việt]**
...thực hành theo, do đó đối với những người Phật tử, đây là một bảo tháp (nơi nương tựa - Cetiya) vô cùng vững chắc và đáng để nương cậy.

**[Myanmar]**
ဥဒ္ဒိဿစေတီတော်။ ။ဥဒ္ဒိဿဟူသော ပါဠိသည် ရည်စူးအပ် ရည်မှန်းအပ်သော အရာဝတ္ထုကို ဟော၏၊ ထို့ကြောင့် သက်တော်ထင်ရှား မြတ်ဘုရားကို ရည်မှန်း၍ ဘုရားရှင်ပုံဟန်တော်၏ အတုပြုလုပ်အပ်သော ရပ်တော်မူပုံ, ထိုင်တော်မူပုံ, လျောင်းတော်မူပုံကို ဥဒ္ဒိဿစေတီတော်ဟု မှတ်ပါ၊ 

**[Việt]**
**Uddissa-cetiya (Tôn tượng tháp):** Từ "Uddissa" trong tiếng Pāḷi chỉ cho một đối tượng được hướng đến, nhắm đến (mô phỏng, đại diện). Do đó, hãy ghi nhớ rằng: những hình thức được tạc dựng nhằm mô phỏng theo hình dáng của Đức Phật như tượng đứng, tượng ngồi, tượng nằm với mục đích hướng tâm tưởng nhớ đến Đức Thế Tôn khi Ngài còn tại thế, được gọi là Uddissa-cetiya.

**[Myanmar]**
ထိုဥဒ္ဒိဿစေတီတော်များကို ရုပ်ပွါးတော်, ဆင်းတုတော်ဟုလည်း အမည်ပေးကြသည်။ [ဘုရားရှင်၏ ရုပ်ပုံတော်ကို အတုပွါး၍ ထားသော ကြောင့် “ရုပ်ပွါးတော်”ဟုလည်းကောင်း, ဘုရားရှင်၏ အဆင်းသဏ္ဌာန် တော်ကို အတုပြုထားသောကြောင့် “ဆင်းတုတော်”ဟုလည်းကောင်း အမည်ပေးခြင်းတည်း၊ ရုပ်ပွါးတော် ဆင်းတုတော်မပါဘဲ စိတ်ထဲ၌မှန်း၍ အာရုံပြု အပ်သော ပုံတော်ကိုလည်း “ဥဒ္ဒိဿစေတီတော်”ဟု ခေါ်နိုင် ပါသည်။]

**[Việt]**
Những Uddissa-cetiya này còn được người Myanmar gọi là "Yoke-pwa-daw" (Tượng Phật/Hình bóng nhân bản) hay "Hsin-tu-daw" (Tôn tượng mô phỏng). 
*[Bởi vì được nhân bản (mô phỏng) từ hình bóng của Đức Phật nên gọi là "Yoke-pwa-daw", và vì được tạc theo hình dáng, sắc tướng của Đức Phật nên gọi là "Hsin-tu-daw". Ngay cả khi không có Tôn tượng mô phỏng ở trước mặt, mà chỉ dùng tâm để quán tưởng và hướng đến hình bóng của Đức Phật, thì hình bóng trong tâm ấy cũng có thể được gọi là "Uddissa-cetiya".]*

**[Myanmar]**
ပရိဘောဂစေတီတော်။ ။ဘုရားရှင်၏ အသုံးအဆောင်ကို ပါဠိလို “ပရိဘောဂ”ဟုခေါ်၏၊ ထို့ကြောင့် ဓာတ်တော်ဌာပနာထားသော အုတ်သား စေတီတော်, ရုပ်ပွားတော်ကိန်းဝပ်ရာဖြစ်သော ပြသာဒ် စသည်, ဗောဓိပင်, ဘုရားရှင်၏ အသုံးအဆောင်ဖြစ်သော သင်္ကန်း, သပိတ်တော်များကို “ပရိဘောဂစေတီတော်”ဟု မှတ်ပါ။

**[Việt]**
**Paribhoga-cetiya (Bảo vật tháp):** Những vật dụng do Đức Phật thọ dụng (sử dụng), tiếng Pāḷi gọi là "Paribhoga". Vì vậy, hãy ghi nhớ rằng: các bảo tháp bằng gạch nơi tôn trí xá-lợi, các điện thờ nơi an vị Tôn tượng v.v..., cây Đại Bồ-đề (Bodhi), cùng các vật dụng của Đức Phật như y áo (Cīvara), bình bát (Patta) thảy đều được gọi là "Paribhoga-cetiya".

**[Myanmar]**
ဘုရား-ပုထိုး။ ။“ဘုရား-ပုထိုး”ဟူသော အသုံးအနှုန်းကို ယိုဒယားမှ ကူးစက်လာသော အသုံးဟု ကြံကြ၏၊ ယိုးဒယားလူမျိုးများက ဆင်းတု စေတီတော်များကို စာရေးသောအခါ“ဝရား-ဗုဒ္ဓေါ”ဟု

**[Việt]**
**Phayā-Pahto (Phật-Tháp/Chùa chiền):** Người ta cho rằng thuật ngữ "Phayā-Pahto" (Chùa tháp) của Myanmar là một cách dùng từ được du nhập từ Thái Lan (Ayutthaya). Người Thái khi viết về các tôn tượng và bảo tháp thường viết là "Warā-Buddho" (Vara-Buddho)...

---

## Trang 20

**[Myanmar]**
ရေး၍ စာဖတ်သော အခါ “ဖရား-ဗုတ်ထိုး”ဟု အသံထွက်၏၊ ထိုအသံထွက်ကိုလိုက်၍ မြန်မာ တို့က “ဘုရား-ပုထိုး”ဟု ရေးဟန်တူ၏။ 

**[Việt]**
...và khi đọc thì họ phát âm là "Phra-Phuttho". Dường như người Myanmar đã mượn theo cách phát âm đó mà viết thành "Phayā-Pahto".

**[Myanmar]**
ထို ယိုးဒယား အသုံးဖြစ်သော “ဝရား=ဗုဒ္ဓေါ” စကား၌လည်း “ဝရ-မြတ်သော+ဗုဒ္ဓေါ-ဘုရား၊ မြတ်သောဘုရား-မြတ်စွာဘုရား”ဟု ဆိုလို သည်၊ 

**[Việt]**
Trong cách dùng từ "Warā-Buddho" của người Thái, "Wara" (Vara) có nghĩa là cao thượng/bậc thánh, "Buddho" có nghĩa là Phật; ý chỉ "Đức Phật cao thượng" (Đức Thế Tôn).

**[Myanmar]**
ထို့ကြောင့် “ဝရ-ဗရား-ဘုရား”ဤ ၃-မျိုးသည် ပါဠိ, ယိုးဒယား, မြန်မာအသုံးအားဖြင့် ကွဲပြားသော်လည်း “မြတ်” ဟူသော အနက်အားဖြင့် တူမျှ၏၊ “ဗုဒ္ဓေါ-ဗုတ်ထိုး-ပုထိုး” ဤ ၃-မျိုးလည်း ပါဠိ, ယိုးဒယား, မြန်မာအသုံးအဖြစ် ကွဲပြားသော်လည်း “ဘုရားရှင်”ဟူသော အနက် အားဖြင့် တူမျှသည်ဟု မှတ်ပါ၊ 

**[Việt]**
Do đó, ba từ "Vara - Brah (Phra) - Phayā" tuy là cách sử dụng khác biệt trong tiếng Pāḷi, tiếng Thái và tiếng Myanmar, nhưng đều có chung ý nghĩa là "Cao thượng/Thù thắng". Ba từ "Buddho - Phuttho - Pahto" tuy cũng khác biệt trong tiếng Pāḷi, tiếng Thái và tiếng Myanmar, nhưng hãy ghi nhớ rằng chúng đều mang ý nghĩa là "Đức Phật".

**[Myanmar]**
[ယခုကာလ၌ “မုခ်ဝမပါလျှင် စေတီ၊ မုခ်ဝပါလျှင် ပုထိုး”ဟု ပြောကြသည်မှာ အခြေအမြစ်ကို မစဉ်းစားနိုင် ခြင်းကြောင့် ဖြစ်ရလေသည်။]

**[Việt]**
*[Ngày nay, có người quan niệm rằng "Tháp không có cổng vòm thì gọi là Zedi (Cetiya), tháp có cổng vòm (đi vào trong được) thì gọi là Pahto". Nhận định này xuất phát từ việc họ chưa xem xét thấu đáo nguồn gốc của từ ngữ.]*

**[Myanmar]**
ဘုရားပုံတော်ကို အာရုံပြုသင့်ပုံ

**[Việt]**
**Cách thức đúng đắn khi hướng tâm (quán tưởng) đến hình bóng Đức Phật.**

**[Myanmar]**
ဗုဒ္ဓါနုဿတိ။ ။ဗုဒ္ဓါနုဿတိ ကမ္မဋ္ဌာန်း စီးဖြန်းပွားများရာ၌ “ဘုရားရှင်၏ ပုံဒြပ်တော်ကို အာရုံပြု၍ မစီးဖြန်းရ၊ ဂုဏ်တော်ကိုသာ အာရုံပြု၍ စီးဖြန်းရမည်”ဟု ပြောကြသည်၊ 

**[Việt]**
**Buddhānussati (Tùy niệm Phật):** Khi thực hành đề mục thiền Tùy niệm Phật (Buddhānussati Kammaṭṭhāna), có một số ý kiến cho rằng: "Không được hướng tâm (quán tưởng) đến hình bóng sắc thân của Đức Phật, mà chỉ được phép hướng tâm đến các ân đức (Guṇa) của Ngài mà thôi".

**[Myanmar]**
ဘုရားရှင်၏ ရုပ်ပုံတော် သပ္ပါယ်ပုံသည် ဘဂဝါဂုဏ်တော်၌ ပါဝင်သော သိရီဘုန်းတော်ပင် တည်း၊ 

**[Việt]**
Tuy nhiên, vẻ đẹp thù thắng và tĩnh tại của kim thân Đức Phật thực chất cũng chính là ân đức Siri (Siri-phổ / Phước báu, oai nghi, sự rực rỡ) nằm trong ân đức Bhagavā (Thế Tôn).

**[Myanmar]**
ထို့ကြောင့် ရုပ်ပုံတော်ဖွင့်, ရောင်ခြည်တော်ဖွင့်, စေတီတော် ဖွင့်, အခန်း ၃-ပိုင်းကိုပြ၍ စဉ်းစားသောအခါ ဗုဒ္ဓရှင်တော်၏ အမျိုးဇာတ်အားဖြင့် ပင်ကိုယ်အတိုင်းပင် အလွန်တင့်တယ် တော်မူပုံ, တစ်ခါတစ်ရံ ရောင်ခြည်တော်ခြောက်သွယ်ဖြင့်သာ၍ သပ္ပါယ်တော်မူပုံ, ထိုမျှလောက် တင့်တယ်သပ္ပါယ်တော်မူသော ကိုယ်တော်ဖြင့် အားလပ်ခွင့်မရအောင် သတ္တဝါများ၏အကျိုးကို

**[Việt]**
Vì thế, khi chúng ta xem xét thông qua 3 phần: Mở đầu về Hình tướng, Mở đầu về Hào quang, Mở đầu về Bảo tháp, chúng ta sẽ nhận thức được rằng: Bản thân Đức Phật nhờ chủng tánh cao quý nên bản chất thân hình Ngài đã vô cùng tráng lệ; thêm vào đó thỉnh thoảng Ngài còn tỏa ra sáu luồng hào quang làm tăng thêm sự thù thắng tĩnh tại; và với kim thân thù thắng tĩnh tại dường ấy, Ngài không lúc nào ngơi nghỉ mà luôn thực hành vì lợi ích của chúng sinh... *(Tiếp tục ở Trang 21)*