**[Myanmar]**
ပါဏာတိပါတအဖွင့်
၁။ ပါဏာတိပါတ အဖွင့်

ပါဏာတိပါတာ ဝေရမဏိသိက္ခာပဒံ သမာဒိယာမိ။

ကြည့်ရှုရန် အနက်နှင့် အဓိပ္ပာယ်
ပါဏာတိပါတာ-သူတစ်ပါးအသက်ကို သတ်ခြင်းမှ၊ ဝေရမဏိ သိက္ခာပဒံ- ရှောင်ကြဉ်ရကြောင်း, ကောင်းမြတ်သော သိက္ခာပုဒ်ကို၊ သမာဒိယာမိ-စိတ်၌မြဲစွာ, ဆောက်တည်ပါ၏၊ "သူတစ်ပါးအသက် ကို သတ်ခြင်းမှ ရှောင်ကြဉ်ပါ၏"ဟူလို။

သူတပါးအသက် သတ်ခြင်းမှ-ဟူရာ၌ လူ၏ အသက်ချည်း သာမက မိမိမှတပါး အသက်ရှိသော သတ္တဝါအားလုံ.၏ အသက်ကို "သူတပါးအသက်"ဟု ဆိုလိုသည်၊ ထို့ကြောင့် သက်ရှိသတ္တဝါမှန်လျှင် တိရစ္ဆာန်အမျိုးမျိုး, ကြမ်းပိုး, သန်းဥ, ခရု, ယောက်သွား, ကျွဲ, နွား စသည်တို့၏ အသက်ဟူသမျှကို မသတ်ရ။

သတ်-ဟူရာ၌ တကယ်သေစေလို၍ ကိုယ်တိုင်သော်လည်း ကောင်း, သူတစ်ပါးကို စေခိုင်း၍ သော်လည်းကောင်း သတ်မှသာ သတ်ရာရောက်သည်၊ လမ်းသွားရင်း မတော်တဆနင်းမိ၍ သေသွား ခြင်း စသည်များမှာ သတ်ရာမရောက်ပါ။

ရှောင်ကြဉ်ရကြောင်း, ကောင်းမြတ်သော-ဟူရာ၌ ဤသိက္ခာပုဒ်ကို ဆောက်တည်ထားလျှင် သူ့အသက်သတ်မှုမှ ရှောင်ကြဉ်ရသည်၊ မရှောင်ကြဉ်လျှင် သိက္ခာပုဒ်ပျက်၏၊ ထို့ကြောင့် ဤသိက္ခာပုဒ်သည်

**[Việt]**
Mở đầu về Pāṇātipāta
1. Mở đầu về Pāṇātipāta (Sát sanh)

Pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

Xem ý nghĩa và giải thích:
Pāṇātipātā — từ việc sát hại sanh mạng của kẻ khác; veramaṇī sikkhāpadaṃ — học giới (sikkhāpada) tốt đẹp về sự tránh xa (veramaṇī); samādiyāmi — con xin thọ trì (samādiyāmi) một cách kiên cố trong tâm, nghĩa là "Con xin tránh xa việc sát hại sanh mạng của kẻ khác."

Từ việc sát hại sanh mạng của kẻ khác — ở đây, không chỉ riêng sanh mạng con người, mà tất cả sanh mạng của chúng sanh khác ngoài mình đều được gọi là "sanh mạng của kẻ khác." Do đó, bất kỳ chúng sanh nào có sự sống — từ các loài súc sanh khác nhau, bọ, trứng rận, ốc, đỉa, trâu, bò v.v. — thảy đều không được sát hại.

Sát hại (pāṇātipāta) — ở đây, chỉ khi có ý muốn làm cho chết hẳn, rồi tự mình sát hại hoặc sai khiến người khác sát hại, thì mới thành tội sát sanh. Các trường hợp như vô tình giẫm đạp trong lúc đi đường khiến chúng chết v.v. thì không thành tội sát sanh.

Tránh xa, tốt đẹp — ở đây, khi thọ trì học giới này thì phải tránh xa việc sát hại sanh mạng chúng sanh; nếu không tránh xa thì học giới bị phá hoại. Do đó, học giới này chính là

---

**[Myanmar]**
သူ့အသက်ကို သတ်ခြင်းမှ ရှောင်ကြဉ်ရခြင်း၏ အကြောင်းဖြစ် သည်။

သိက္ခာပုဒ်။ ။ကုသိုလ်အကျင့်ကို "သိက္ခာ"ဟု ခေါ်သည်၊ ပုဒ်-ဟူသည်ကား မြန်မာလို "တည်ရာ"ဟူသော စကားနှင့် အဓိပ္ပာယ် တူသော(ပဒ)ပါဠိပျက်စကားတည်း၊ ထို့ကြောင့် များစွာသော ကုသိုလ်အကျင့်တို့၏ တည်ရာကို "သိက္ခာပုဒ်"ဟု မှတ်ပါ၊ ဤ သိက္ခာပုဒ်တစ်ပါး လုံခြုံလျှင် ကုသိုလ်အကျင့်တွေ များစွာ တိုးတက် ၍ ရမည်ဖြစ်သောကြောင့် "များစွာသော ကုသိုလ်တရား၏ တည်ရာ အခြေခံဖြစ်သော အကျင့်သိက္ခာ"ဟု ဆိုလိုသည်။

ဆောက်တည်ပါ၏။ ။"ဤသိက္ခာပုဒ်ကိုလုံခြုံအောင် စောင့်ထိန်းမည်"ဟု (ခိုင်မြဲအောင် အိမ်ကြီး တိုက်ကြီးများကို မြေအောက်၌ စိုက်တည်ထားသလို) စိတ်ထဲ၌ စွဲစွဲမြဲမြဲ နှလုံးသွင်းထားခြင်းကို "ဆောက်တည်"ဟု ခေါ်သည်၊ ထို့ကြောင့် သူတစ်ပါးထံသို့ မသွားဘဲ လည်း မိမိဘာသာ "ပါဏာတိပါတာ ဝေရမဏိ သိက္ခာပဒံ သမာဒိယာမိ"ဟု ပါဠိလို ရွတ်ဆို၍ဖြစ်စေ, "သူ့အသက်သတ်ခြင်းမှ ရှောင်ကြဉ်ပါ၏"ဟု မြန်မာလို ရွတ်ဆို၍ဖြစ်စေ ဆောက်တည် ကောင်း၏။ ဇနကမင်းသားကလေး ပင်လယ်ကြော၌ မျောနေစဉ်က ကိုယ့်ဘာသာ ဆောက်တည်၍ ၇-ရက်ပတ်လုံး ဥပုသ်စောင့်သုံး ခဲ့ပါသည်။]

**[Việt]**
nguyên nhân của sự tránh xa việc sát hại sanh mạng của chúng sanh.

**Sikkhāpada (Học giới):** Thiện hạnh được gọi là "sikkhā" (học tập). "Pada" — nghĩa tương đương với tiếng Myanmar là "nơi nương tựa, chỗ an trú" (တည်ရာ), đây là từ Pāḷi (pada) đã biến dạng. Do đó, hãy hiểu nơi an trú của vô số thiện hạnh là "sikkhāpada" (học giới). Khi giữ gìn trọn vẹn một học giới này, vô số thiện hạnh sẽ tăng trưởng, nên có ý nói rằng đây là "hành vi học tập (sikkhā) làm nền tảng, chỗ an trú cho vô số thiện pháp."

**Samādiyāmi (Thọ trì):** "Con sẽ giữ gìn học giới này một cách trọn vẹn" — việc ghi nhớ kiên cố, bền vững trong tâm (giống như đem những ngôi nhà lớn, toà nhà lớn chôn vững dưới nền đất cho chắc chắn) được gọi là "xây dựng kiên cố" (samādiyāmi). Do đó, không cần phải đến chỗ người khác, mà tự mình tụng đọc bằng tiếng Pāḷi "Pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi" hoặc tụng đọc bằng tiếng Myanmar "Con xin tránh xa việc sát hại sanh mạng của kẻ khác" — đều tốt đẹp cả. Khi hoàng tử Janaka còn trôi nổi giữa biển khơi, Ngài đã tự mình thọ trì và giữ gìn uposatha (bố-tát giới) suốt bảy ngày liên tục.]

---

**[Myanmar]**
ယခုကာလ၌ကား "ဘုရားရှေ့တော်, ရဟန်းသံဃာတော်များ ရှေ့၌ ဆောက်တည်မှ သီလရသည်"ဟု ထင်နေကြ၏၊ သို့သော် ဘုရားရှေ့တော်, ရဟန်းသံဃာ၏ ရှေ့၌ ဆောက်တည်ထားလျှင် ဘုရားနှင့် သံဃာကို ရိုသေသောအားဖြင့် သိက္ခာပုဒ်ကို လုံခြုံအောင် အထူးစောင့်ရှောက်ဖွယ်ရှိရကား စေတီတော်, ရုပ်ပွားတော်နှင့် သံဃာတော်တို့ ရှေ့၌ ဆောက်တည်ခြင်းသည် သာ၍ ခိုင်မြဲဖွယ်ရှိ သောကြောင့် ယခုကာလ ဆောက်တည်ကြပုံများလည်း အပြစ်မရှိ ၍ ကောင်းလှပါပေသည်။

မဆောက်တည်သူ လွန်ကျူးပြစ်။။ဤသိက္ခာပုဒ်ကို မဆောက်တည်ဘဲ သူ့အသက်ကို သတ်လျှင် အပြစ်ရှိ-မရှိ စဉ်းစား ရာ၏၊ ငါးပါးသီလခေါ်သော သိက္ခာပုဒ်များသည် ဆောက်တည် သည်ဖြစ်စေ, မဆောက်တည်သည်ဖြစ်စေ လွန်ကျူးလျှင် အပါယ် ၄-ပါးသို့ ကျရောက်စေနိုင်သောကြောင့် မည်သူမဆို အမြဲစောင့် ထိန်းရမည့် ကိုယ်ကျင့်တရားဖြစ်သည်၊ "ဝိကာလဘောဇန, နစ္စ ဂီတ"စသော အခြားသိက္ခာပုဒ်များကိုကား မဆောက်တည်နိုင်လျှင် အပြစ်မကြီးလှ, အပါယ်သို့ မကျစေနိုင်၊ ဆောက်တည်နိုင်လျှင်ကား ဆောက်တည်ထားသော သိက္ခာပုဒ်ကို အကြောင်းပြု၍ အကုသိုလ် ဖြစ်ခွင့် မရတော့ဘဲ ကုသိုလ်တရားသာ တိုးပွားဖွယ်ရှိသောကြောင့် မည်သည့်သိက္ခာပုဒ်ကိုမဆို ဆောက်တည်နိုင်လျှင် အကျိုးများ၏၊ အပြစ်နှင့်အကျိုးကိုပြသော အောက်ပါ ဆောင်ပုဒ်ကို နှုတ်တက်

**[Việt]**
Ngày nay, có người nghĩ rằng "chỉ khi thọ trì trước mặt Đức Buddha và chư tăng tỳ-khưu thì mới có được sīla (giới)." Tuy vậy, khi thọ trì trước mặt Đức Buddha và chư tăng tỳ-khưu, do lòng tôn kính Đức Buddha và Saṅgha, hành giả sẽ đặc biệt giữ gìn học giới được trọn vẹn hơn. Do đó, việc thọ trì trước bảo tháp (cetiya), tượng Phật (rūpa-paccaya) và chư tăng tỳ-khưu có vẻ kiên cố hơn. Cách thức thọ trì trong thời hiện tại như vậy cũng không có lỗi lầm gì và rất tốt đẹp.

**Lỗi vi phạm của người không thọ trì:** Cần xem xét rằng nếu không thọ trì học giới này mà sát hại sanh mạng chúng sanh thì có tội hay không. Các học giới gọi là ngũ giới (pañca-sīla) — dù đã thọ trì hay chưa thọ trì — nếu vi phạm đều có thể khiến đọa lạc vào bốn ác đạo (apāya). Do đó, đây là phẩm hạnh đạo đức mà bất kỳ ai cũng phải luôn luôn giữ gìn. Còn các học giới khác như "vikālabhojana" (dùng phi thời thực), "naccagīta" (ca múa) v.v. thì nếu không thọ trì cũng không có tội lớn, không khiến đọa vào ác đạo; nhưng nếu có thể thọ trì thì do duyên thọ trì học giới đó mà không còn cơ hội tạo bất thiện, chỉ có thiện pháp tăng trưởng. Vì thế, bất kỳ học giới nào có thể thọ trì thì đều đem lại nhiều lợi ích. Câu kệ ghi nhớ dưới đây trình bày về tội lỗi và lợi ích, cần thuộc lòng.

---

**Ghi chú hiệu đính**

**Hiệu đính bởi:** wen3.6-35b-a3b (qua OpenClaw)

| # | Từ cũ / Cấu trúc cũ | Đã sửa thành | Lý do |
|---|---------------------|--------------|-------|
| 1 | "côn trùng nhỏ, ấu trùng, ốc, sò" (danh sách loài chúng sanh) | "bọ, trứng rận, ốc, đỉa" | သန်းဥ (louse egg/nit) → "trứng rận", không phải "ấu trùng" (larva). ယောက်သွား (horse-leech) → "đỉa", không phải "sò" (clam). |
| 2 | "Hành thiện được gọi là 'sikkhā' (học)." | "Thiện hạnh được gọi là 'sikkhā' (học tập)." | ကုသိုလ်အကျင့် = "thiện hạnh" (wholesome conduct), chính xác hơn "hành thiện" (doing good). "Học tập" làm rõ khía cạnh huấn luyện (training) của sikkhā. |
| 3 | "tụng đọc bằng tiếng Myanmar 'Con xin tránh xa...'" | (Giữ nguyên) | Bản gốc Myanmar ghi "မြန်မာလို" (bằng tiếng Myanmar). Dù câu dẫn là tiếng Việt để độc giả hiểu, việc giữ "tiếng Myanmar" là trung thành với nguyên tác. |
