# Ân Đức Tam Bảo — Trang 275–277

---

## Trang 275

**[Myanmar]**
၂။ အရှင်မရှိသော ရွှေ ငွေ ရတနာကို တွေ့မြင်၍ (သို့မဟုတ် လာလှူ၍) မိမိဖို့ရာ သူတစ်ပါးကို အယူခိုင်းခြင်းသည်လည်း ကောင်း, မိမိဖို့ရာ သူတစ်ပါးကို အလှူခိုင်းခြင်းသည်လည်း ကောင်း ဥဂ္ဂဟာပဏမည်၏။ [ဥဂ္ဂဟာပဏ-ယူစေခြင်း။]

**[Việt]**
2. Khi nhìn thấy vàng, bạc, châu báu không có chủ nhân (hoặc có người đem đến dâng cúng), thì việc ủy thác người khác lấy thay cho mình, hoặc ủy thác người khác dâng cúng thay cho mình, đều được gọi là **uggahaṇa** (uggahaṇa — sự khiến nhận lấy).

---

**[Myanmar]**
၃။ ဒါယကာက ရွှေ ငွေရတနာကို ယူဆောင်ခဲ့၍ ရဟန်း၏ရှေ့၌ ချထားပြီးလျှင် ဤရွှေငွေကို အလိုရှိရာ သုံးဆောင်တော်မူပါဟု လည်းကောင်း, သင်္ကန်းဖိုးပါ, ဖိနပ်ဖိုးပါ, ရထားခပါ, သင်္ဘောခ ပါဟုလည်းကောင်း လျှောက်၍ လှူသည်ကို ကိုယ်နှုတ်ဖြင့် မပယ်ဘဲ စိတ်ဖြင့်သာ ခံယူခြင်းသည်လည်းကောင်း,ဒါယကာ က မိမိ၏ အိမ်တွင်သော်လည်းကောင်း, တစ်ပါးသောဌာန၌ သော်လည်းကောင်း ရှိ၍နေသော ရွှေငွေကို ကိုယ်တော် အလိုရှိသောအခါ ယူပါ, သုံးပါဟူ၍ လှူသည်ကို ကိုယ်နှုတ် ဖြင့်မပယ်ဘဲ စိတ်ဖြင့် သာယာခံယူခြင်းသည်လည်းကောင်း, ဥပနိက္ခိတ္တသာဒယန မည်၏။ [ဥပနိက္ခိတ္တ-ဘဏ်စသည်၌ ထားအပ်, အနီး၌ထားအပ်သည်ကို+သာဒယန-သာယာခြင်း။]

**[Việt]**
3. Thí chủ đem vàng, bạc, châu báu đến đặt trước mặt vị tỳ-khưu rồi bạch rằng "Xin ngài tùy ý sử dụng số vàng bạc này", hoặc "bạch ngài, có cả tiền y, tiền dép, tiền xe, tiền thuyền", rồi dâng cúng; vị tỳ-khưu không từ chối bằng thân và lời, mà chỉ thọ nhận trong tâm — điều đó được gọi là **upanikkhitta-sādayana**. Hoặc thí chủ nói rằng "khi nào ngài cần, xin hãy lấy và sử dụng" số vàng bạc đang có tại nhà thí chủ hoặc tại một nơi nào đó; vị tỳ-khưu không từ chối bằng thân và lời, mà chỉ hoan hỉ thọ nhận trong tâm — điều đó cũng được gọi là **upanikkhitta-sādayana** (upanikkhitta — để cất giữ tại ngân hàng v.v., đặt ở gần; sādayana — sự hoan hỉ thọ nhận).

---

**[Myanmar]**
၄။ ကပ္ပိယနည်းလမ်းဖြင့် ရှိနေသော (ကပ္ပိယထံ ဝိနည်းတော်နှင့် အညီ အပ်နှံထားသော) ရွှေငွေကို "ဤရွှေငွေဖြင့် ဘယ်ဟာ ဝယ်ချေလော့, ဘယ်လောက် ပေးလိုက်လော့, သေတ္တာထဲမှာ ထားလိုက်လော့, ထုတ်လိုက်လော့, ယူလိုက်လော့"အစရှိသည်ဖြင့် စီမံခြင်းသည် ဒုဗ္ဗိစာရဏ မည်၏၊ [ဒု-မကောင်းသော (ဝိနည်း တော်နှင့်မလျော်သော)+ဝိစာရဏ - စီမံခြင်း။]

**[Việt]**
4. Đối với vàng bạc đã được giữ theo cách kappiya (đã giao phó cho kappiyakāraka đúng theo Luật), mà vị tỳ-khưu ra lệnh quản lý như "dùng số vàng bạc này mua cái kia đi", "trả bấy nhiêu đi", "cất vào hộp đi", "lấy ra đi", "mang đi đi" v.v. — việc quản lý, sai khiến đó được gọi là **dubbicāraṇa** (dub — không tốt, không phù hợp Luật; vicāraṇa — sự quản lý, sắp xếp).

---

## Trang 276

**[Myanmar]**
၅။ သူတစ်ပါးဥစ္စာဖြစ်သော ရွှေငွေကိုပင် သာယာသောစိတ်ဖြင့် ထီပါး သုံးသပ်ခြင်းသည် အာမသနမည်၏။ (ကို (ကိုယ့်ဥစ္စာကို သုံးသပ်ကိုင်ရာ၌ကား ပြောဖွယ်မလို၊) [အာမသန • သုံးသပ် ထီပါးခြင်း၊ မသာယာဘဲ မတော်တဆထိမိလျှင် အပြစ်မရှိပါ။]

**[Việt]**
5. Ngay cả đối với vàng bạc là tài sản của người khác, mà dùng tâm hoan hỉ để tính toán, ước ao — đó được gọi là **āmasana** (āmasana — sự tính toán, ước ao). (Đối với tài sản của mình mà tính toán, nắm giữ thì không cần phải nói.) [āmasana — sự tính toán, ước ao; nếu không hoan hỉ mà vô tình chạm phải thì không có lỗi.]

---

**[Myanmar]**
ရဟန်း သာမဏေတို့မှာ ဤ ၅-ပါးစလုံးကို လွတ်ကင်းစေရ မည်၊ လူဖြစ်စဉ်ကရှိနေသော ရွှေ ငွေ ရတနာ, ကပ္ပိယနည်းလမ်းဖြင့် ရဟန်းဖြစ်မှရသော ရွှေ ငွေ ရတနာတို့ကို ထိုအချက်တို့မှ လွတ်ကင်းစေ၍ ကပ္ပိယနည်းလမ်းဖြင့် နေရာတကျ ပြုပြင်ပြီးလျှင် အသက်ထက်ဆုံး စိတ်ဖြင့်သာယာ၍ ထိုရွှေငွေမှဖြစ်သော ကပ္ပိယ ဘဏ္ဍာ(အပ်သောပစ္စည်း)များကို သုံးဆောင်၍ နေငြားသော်လည်း ဝိနည်းတော်နှင့် အပြစ်ဆိုခွင့် မရှိပြီ၊ ဆယ်ပါးသီလ စောင့်ထိန်းကြ သူတို့မှာလည်း ထို ၅-ပါးသောအမှုကို လွတ်ကင်းစေလျှင် ပြီး တော့သည်၊ နဂိုက ရှိ၍နေသော ရွှေ ငွေ ရတနာတို့ကို စိတ် သက်သက်ဖြင့် အာရုံပြုကာ (ငါ့ရွှေ, ငါ့ငွေ)ဟု သာယာသော်လည်း ရတနာဝ အပြစ်မရှိ, သိက္ခာပုဒ်မပျက်၊ ဤကား လယ်တီဆရာတော်ဘုရားကြီး ၏ သီလဝိနိစ္ဆယမှ ထုတ်နုတ် ဖော်ပြချက်တည်း။

**[Việt]**
Các vị tỳ-khưu và sa-di phải tránh xa cả năm điều này. Đối với vàng, bạc, châu báu đã có từ khi còn là cư sĩ, hoặc vàng, bạc, châu báu nhận được sau khi xuất gia theo cách kappiya — nếu tránh xa khỏi những điều kể trên, sắp xếp đúng cách theo phương thức kappiya, thì dù suốt đời chỉ hoan hỉ trong tâm và sử dụng các vật dụng kappiya (vật dụng đã được dâng cúng đúng pháp) phát sinh từ số vàng bạc đó, cũng không bị Luật trách cứ. Đối với những người thọ trì thập giới (sīla), cũng chỉ cần tránh xa năm điều này là đủ. Đối với vàng, bạc, châu báu vốn có từ trước, dù chỉ dùng tâm mà chú ý đến (cho rằng "vàng của ta, bạc của ta") và hoan hỉ, cũng không phạm lỗi liên quan đến châu báu (ratanāvacara), không phá vỡ điều học (sikkhāpada). Đây là phần trích dẫn từ tác phẩm *Sīla-vinicchaya* của Đại Trưởng lão Ledi Sayadaw.

---

**[Myanmar]**
ဤအချက်ကိုထောက်၍ ဆယ်ပါးသီလစောင့်သူ လူတို့သည် မိမိ၌ရှိသော ရွှေ ငွေကို ယုံကြည်လောက်သူထံ အပ်၍ထားရမည်၊ ဆယ်ပါးသီလ စောင့်ထိန်းသည့် အတောအတွင်းမှာ ထိုရွှေငွေကို မကိုင်ရ၊ "ဖယ်ထားလိုက်ပါ, သိမ်းထားလိုက်ပါ"ဟုလည်း မပြောရ၊ ထိုရွှေငွေဖြင့် "ဘာဝယ်လိုက်ပါ"စသည်ကိုလည်း မပြောရ၊ မိမိအသုံး

**[Việt]**
Căn cứ vào điều này, những cư sĩ thọ trì thập giới phải giao phó vàng bạc của mình cho người đáng tin cậy cất giữ. Trong thời gian thọ trì thập giới, không được chạm vào số vàng bạc đó, cũng không được nói "hãy dọn đi, hãy cất đi", cũng không được nói "dùng số vàng bạc này mua cái này cái nọ".

---

## Trang 277

**[Myanmar]**
လိုနေသော ပစ္စည်းကိုသာ "ဘာလိုချင်သည်, ဘာစားချင်သည်" စသည်ဖြင့် ပြောဆိုရမည်၊ သူတစ်ပါးက ငွေလာပေးခဲ့သော် ထိုငွေကို ကိုယ်တိုင်လည်း မယူရ, သူများကိုလည်း မခိုင်းရ၊ နားလည်သူ တစ်ယောက် (သို့မဟုတ် ကပ္ပိယလုပ်သူက) ယူထားလျှင် မိမိမှာ အပြစ်မရှိပါ၊ စာတိုက်မှ မန်းနီးအော်ဒါလာလျှင် ငွေရရှိကြောင်း လက်မှတ်ထိုးရုံဖြင့် အပြစ်မရှိပါ၊ လက်မှတ်ထိုးပြီးနောက် စာပို့က ပေးသောငွေကို ကိုယ်တိုင်လည်း မကိုင်ယူပါနှင့်, သူများကိုလည်း အယူမခိုင်းနှင့် နားလည်သူ ကပ္ပိယက ယူထားလျှင် မိမိမှာ အပြစ် မရှိပါ၊ ဆယ်ပါးသီလ စောင့်ထိန်းနေသောအခါ ရွှေငွေသာမက စိန် ကျောက် ပုလဲ ပတ္တမြားစသော ရတနာများကိုလည်း မကိုင် မခံရချေ။

**[Việt]**
Mà chỉ nên nói về vật dụng mình đang cần, chẳng hạn "tôi cần cái này, tôi muốn ăn cái kia" v.v. Nếu có người đem tiền đến dâng, thì tự mình không được nhận, cũng không được sai người khác nhận. Nếu có một người hiểu biết (hoặc người làm kappiyakāraka) nhận giữ hộ, thì mình không có lỗi. Nếu bưu điện gửi lệnh chuyển tiền đến, thì chỉ cần ký tên xác nhận đã nhận tiền là không có lỗi. Sau khi ký tên, số tiền mà người đưa thư giao thì tự mình cũng không được cầm lấy, cũng không được sai người khác nhận hộ; nếu người kappiya hiểu biết nhận giữ, thì mình không có lỗi. Khi thọ trì thập giới, không những vàng bạc mà cả kim cương, đá quý, ngọc trai, hồng ngọc v.v. các loại châu báu cũng không được chạm vào, không được cầm nắm.

---

**[Myanmar]**
ဤဆယ်ပါးသီလနှင့်စပ်၍ စောင့်ကောင်း-မစောင့်ကောင်း ဝါဒကွဲပြား၏၊ တစ်ချို့က သစ်ခေါက်ဆိုးဝတ်၍ အမြဲစောင့်နိုင်မှ စောင့်ကောင်းသည်ဟု ဆိုကြ၏၊ တစ်ချို့ကလည်း မိမိ၌ရှိသော ရွှေငွေဥစ္စာများကို စွန့်ပစ်နိုင်မှ စောင့်ကောင်းသည်ဟု ဆိုကြ၏၊ သို့သော် ဒက္ခိဏေယျသံဃာ့ဂုဏ်တော်၌ပြခဲ့သော မင်းသားတို့ကား မိမိ၌ရှိနေသော ရွှေငွေပစ္စည်းများကို တစ်ခါတည်း ပြတ်အောင် သူတစ်ပါးအား အပိုင်မပေးကြဘဲ ကပ္ပိယထံ အပ်နှံထားရုံမျှဖြင့် (တစ်စုံတစ်ခုကိုမျှလည်း မစီမံတော့ဘဲ) ဆယ်ပါးသီလ စောင့်ကြ ပေသည်။

**[Việt]**
Liên quan đến thập giới này, có sự phân hóa về quan điểm thế nào là "thọ trì tốt" và "thọ trì không tốt". Một số người cho rằng chỉ khi mặc y nhuộm bằng vỏ cây và thọ trì liên tục mới là thọ trì tốt. Một số người khác lại cho rằng chỉ khi có thể từ bỏ hoàn toàn tài sản vàng bạc của mình mới là thọ trì tốt. Tuy nhiên, các vị hoàng tử đã được nêu trong phần giảng về "Đức tăng bảo đáng được cúng dường" (dakkhiṇeyya-saṅgha-guṇa) đã không trao dứt khoát tài sản vàng bạc của mình cho người khác làm sở hữu, mà chỉ đơn giản giao phó cho người kappiya cất giữ (và không còn quản lý bất cứ thứ gì), như vậy đã là thọ trì thập giới rồi.

---

## Ghi chú hiệu đính

**Hiệu đính bởi:** deepseek/deepseek-reasoner (qua OpenClaw)

**Danh sách các từ/cụm từ đã hiệu đính:**

| # | Từ cũ / Cấu trúc cũ | Đã sửa thành | Lý do |
|---|---------------------|--------------|-------|
| 1 | được người đem đến dâng cúng | có người đem đến dâng cúng | Nguyên văn Myanmar "လာလှူ၍" thiên về chủ động (người đến dâng), không thụ động ("được"). |
| 2 | mà chỉ nhận bằng tâm / hoan hỉ thọ nhận bằng tâm | mà chỉ thọ nhận trong tâm / hoan hỉ thọ nhận trong tâm | Dùng "trong tâm" tự nhiên hơn "bằng tâm" trong văn cảnh này. |
| 3 | điều đó được gọi là một phần của upanikkhitta-sādayana | điều đó được gọi là **upanikkhitta-sādayana** | Sửa lỗi dịch: Myanmar gốc nói hai trường hợp đều gọi chung là upanikkhitta-sādayana, không phải "một phần của". |
| 4 | dùng tâm hoan hỉ (tham ái) | dùng tâm hoan hỉ | Bỏ "(tham ái)" vì nguyên văn Myanmar chỉ nói "သာယာသောစိတ်" (tâm hoan hỉ), không có chữ "Ái" (taṇhā). Tránh gây nhầm lẫn thuật ngữ. |
| 5 | money order | lệnh chuyển tiền | Loại bỏ từ tiếng Anh lẫn trong bản dịch, thay bằng thuần Việt. |
| 6 | (pāḷi: maṇi, muttā) sau "hồng ngọc" | (đã lược bỏ) | Pāḷi annotation không chính xác: maṇi = ngọc quý nói chung, muttā = ngọc trai — không tương ứng với "hồng ngọc". Gây hiểu nhầm, nên lược. |
