# Ân Đức Tam Bảo — Trang 290–292

---

## Trang 290

**[Myanmar]**
၁၀။ စွန့်ကြဲလေ့တုံ, ပြုပါကုန်, ကုံလုံကြွယ်ဝလို။
၁၁။ မာန်မာနကြွယ်, ထိုသူဝယ်, မျိုးနွယ်ညံ့မည်ဆို။
၁၂။ ထိုက်သူရိုကျိုး, မာန်ကိုချိုး, အမျိုးမြတ်သကို။
၁၃။ သိဖွယ်ဟူသမျှ, မမေးက, ဖျင်းအ-ပညာဆို။
၁၄။ ကြားမြင်များအောင်, မေးလေ့ဆောင်, ခုနောင်တတ်သိလို။

**[Việt]**
10. Hãy bố thí rộng rãi, thực hành các thiện sự, mong cầu sự sung túc đầy đủ.
11. Kẻ đầy kiêu mạn ngạo nghễ, người ấy bị nói rằng sẽ suy giảm dòng dõi.
12. Hãy khiêm cung kính nhường bậc xứng đáng, chế ngự kiêu mạn — ấy là dòng dõi cao quý.
13. Bất cứ điều gì nên biết, nếu không hỏi, thì gọi là trí tuệ kém cỏi.
14. Để được nghe thấy nhiều, hãy chịu khó hỏi han, mong hiểu biết nay và mai sau.

**[Myanmar]**
ကံ ဉာဏ် ဝီရိယအဖွင့်

**[Việt]**
Giải thích về Kamma (Nghiệp), Ñāṇa (Trí) và Viriya (Tinh tấn)

**[Myanmar]**
ကံအကြောင်း။ ။ကမ္မ-ဟူသော ပါဠိစကားကို မြန်မာလို "ကံ" ဟုခေါ်၏၊ ထို့ကြောင့် ကိုယ်ဖြင့်ပြုလုပ်မှု, နှုတ်ဖြင့်ပြောဆိုမှု, စိတ် ဖြင့်ကြံစည်မှုများကို "ကံ"ဟု မှတ်ပါ၊ ထိုကံသည် ရှေးရှေးဘဝ၌ ပြုအပ်ခဲ့သောကံ, ယခုဘဝမှ ပြုအပ်ခဲ့သောကံဟု ၂-မျိုးရှိ၏၊ ထို နှစ်မျိုးတို့တွင် အကျိုးတစ်ခုကိုပေးရာ၌ ရှေးရှေးကံသည် လိုရင်း အကြောင်းတည်း၊ ယခုဘဝကံမှာ ယခုဘဝအတွက် ရှေးက အခွင့်ရ အောင်, သို့မဟုတ် အားရှိအောင် ကူညီထောက်ပံ့ရုံသာ၊ နောက် ဘဝ၌ကား ဆိုင်ရာအကျိုးကို ကိုယ်တိုင်ပေးခွင့်ရှိသည်။

**[Việt]**
Về Kamma (Nghiệp). ၎ Từ Pāḷi *Kamma* được gọi là "Kam" (Nghiệp / ကံ) trong tiếng Miến. Do đó, nên ghi nhận rằng các hành vi tạo tác bằng thân, lời nói và ý nghĩ đều được gọi là "Nghiệp" (kam). Nghiệp ấy có hai loại: nghiệp đã tạo tác trong các kiếp quá khứ, và nghiệp đã tạo tác trong kiếp hiện tại. Trong hai loại ấy, khi cho quả, nghiệp quá khứ chính là nhân chính yếu; nghiệp hiện tại chỉ hỗ trợ, tạo điều kiện cho nghiệp quá khứ có cơ hội trổ quả hoặc có thêm sức mạnh. Còn đối với các kiếp sau, nghiệp ấy tự nó có thể cho quả tương xứng.

**[Myanmar]**
ထိုရှေးကံများသည် အလွန်အားကောင်းသောကံ, သာမန် လောက်သာ အားရှိသောကံ ဟု ၂- မျိုးရှိပြန်၏၊ ထိုတွင် ၁- ကံမျိုး၏

**[Việt]**
Những nghiệp quá khứ ấy lại có hai loại: loại nghiệp rất mạnh mẽ, và loại nghiệp chỉ có sức mạnh ở mức bình thường. Trong đó, cách trổ quả của loại nghiệp thứ nhất —

---

## Trang 291

**[Myanmar]**
အကျိုးပေးပုံသည် အလွန်ထင်ရှား၏၊ ဥပမာ-ရှင်ဘုရင်, သူဌေး, မှူးမတ် စသည်ကို ဖြစ်စေနိုင်၏၊ ဆင်းရဲသားအမျိုး၌ ဖြစ်စေကာမူ တစ်နည်းနည်းဖြင့် ကြွယ်ဝချမ်းသာစေနိုင်၏၊ ၂-ကံမျိုး၏ အကျိုး ပေးပုံမှာ မထင်ရှားလှ၊ သူများနည်းတူ အကျိုးမျိုးကိုသာ ရစေနိုင်၏၊ ထိုကံများသည် ဤလူ့ပြည်လောက၌ မိမိတို့ချည်းသက်သက် အကျိုး ပေးဖို့ ခဲယဉ်းသဖြင့် အကျိုးပေးခွင့်ရအောင် ဉာဏ် ဝီရိယနှင့် သတိ ဟူသော ပယောဂကို ကူညီပေးရသည်။

**[Việt]**
— vô cùng rõ rệt, ví dụ: có thể khiến người ấy trở thành quốc vương, phú hộ (seṭṭhi), quan đại thần v.v.; dù sinh vào dòng họ nghèo hèn, vẫn có thể bằng cách này hay cách khác mà trở nên giàu sang thịnh vượng. Còn cách trổ quả của loại nghiệp thứ hai thì không rõ rệt lắm, chỉ nhận được quả báu tương tự như những người khác. Các nghiệp ấy khó tự mình trổ quả trong cõi nhân gian này, cho nên cần sự trợ giúp của các tác lực (payoga) là trí tuệ (ñāṇa), tinh tấn (viriya) và chánh niệm (sati) để có cơ hội trổ quả.

**[Myanmar]**
ဉာဏ်အကြောင်း။ ။အဘိဓမ္မာနည်းအရ အကုသိုလ်အပြစ် မရှိသော တတ်သိလိမ္မာမှုကိုသာ "ဉာဏ်"ဟု ဆိုရသော်လည်း ကံ အကျိုးပေးခွင့်သာအောင် ကြံဆောင်ရသည့်အရာ၌မူ အပြစ်ရှိသည် ဖြစ်စေ, မရှိသည်ဖြစ်စေ တတ်သိမှု, ပါးနပ်, ဖျတ်လတ် သွက်လက် ချက်ချက်ချာချာနှင့် အရာရာနှံ့စပ်မှုများကို "ဉာဏ်"ဟုပင် ခေါ်ရ ပေသည်၊ ထိုဉာဏ်သည် ၁-မိမိဘာသာ တတ်သိလိမ္မာသော "ဇာတိဉာဏ်"၊ ၂-နောက်မှဖြစ်ပေါ်လာသော "ပဝတ္တိဉာဏ်"ဟု နှစ်မျိုးရှိပြန်သည်။

**[Việt]**
Về Ñāṇa (Trí tuệ). ၎ Theo thông lệ Abhidhamma (Diệu pháp), chỉ sự hiểu biết thông thái không có tỳ vết bất thiện (akusala) mới được gọi là "ñāṇa". Tuy nhiên, xét về phương diện mưu cầu cho nghiệp có cơ hội trổ quả, thì bất luận có tỳ vết hay không, kiến thức, sự lanh lợi, sự nhanh nhẹn hoạt bát tháo vát, và sự am tường thấu đáo mọi sự việc — tất cả đều được gọi là "ñāṇa". Trí tuệ ấy lại có hai loại: (1) "Jātiñāṇa" — trí tuệ bẩm sinh, tự nhiên thông thái; (2) "Pavattiñāṇa" — trí tuệ phát sinh về sau.

**[Myanmar]**
ထိုနှစ်မျိုးတွင် "ဇာတိဉာဏ်"ရှိသူမှာ ပြောဖွယ်မလို၊ ဇာတိ ဉာဏ်ကို အခြေခံ၍ ပဝတ္တိဉာဏ်လည်း တိုးပွားအောင် ကြိုးစား ပါလျှင် လူတွင်တစ်ယောက် ဆိုရလောက်အောင် ထွန်းတောက် လတ္တံ့၊ ဇာတိဉာဏ် မရှိသူတို့အတွက်မှာမူ ကျမ်းစာအမျိုးမျိုးကို ကြည့်ရှုသင်ယူခြင်း, မိမိထက် တတ်သိနားလည်သော ပညာရှိထံ ဆည်းကပ်ခြင်းတို့ဖြင့် ပဝတ္တိဉာဏ်ဖြစ်ပေါ်လာအောင် ကြံဆောင်

**[Việt]**
Trong hai loại ấy, người có jātiñāṇa (trí bẩm sinh) thì khỏi phải bàn; nếu lấy trí bẩm sinh làm nền tảng rồi nỗ lực bồi dưỡng thêm pavattiñāṇa (trí phát sinh sau), ắt sẽ rực sáng đến mức xứng đáng được xem là bậc kiệt xuất giữa loài người. Còn đối với người không có trí bẩm sinh, thì nên nỗ lực mưu cầu cho pavattiñāṇa phát sinh bằng cách xem xét học hỏi từ các loại kinh sách khác nhau, và thân cận phụng sự các bậc hiền trí thông thái hơn mình.

---

## Trang 292

**[Myanmar]**
အားထုတ်ရာ၌ ယခုအခါ စာသင်ခြင်း, ဒေသန္တရ ဗဟုသုတရှိခြင်း တို့ကြောင့် ပဝတ္တိဉာဏ် တိုးပွားလျက် လောကီကြီးပွားရေး, သံသရာ ကြီးပွားရေးတို့၌ ထိပ်တန်းရောက်နေသူများကို ကြည့်ပါ။

**[Việt]**
Trong nỗ lực ấy, hãy nhìn xem những người đang ở vị trí hàng đầu trong sự thịnh vượng thế gian (lokiya) và thịnh vượng trong luân hồi (saṃsāra) — họ đang tăng trưởng pavattiñāṇa nhờ vào việc học tập văn tự thời nay, nhờ vào sự hiểu biết rộng về các vùng miền.

**[Myanmar]**
ဗြိတိပျို့]
ကောင်းစွာမရှောင် နားထောင်သူကား, အကြားအမြင်, မြားမြောက်စင်၏၊ ဂုဏ်အင်ပွား၍, ပညာလွေ့မှု, အောက်မေ့ ဉာဏ်ဖြင့်, ဆင့်ဆင့်မနား, ကျိုးစီးပွားကို, ထောက်ထားစာနာ, သိလိမ္မာ၏၊ သိပါသူသည်, အရှည်ချမ်းသာ, မင်္ဂလာကို, အခါလေးမြင့်, ဆောင်နိုင်သင့်။

**[Việt]**
[Thi kệ Pyo]
Người nào khéo lắng nghe, không trốn tránh, thì điều nghe thấy trở nên phong phú dồi dào. Nhờ uy đức tăng trưởng, nhờ sự đầu tư vào trí tuệ (paññā), nhờ trí suy tư (cintāmayā ñāṇa) không ngừng nghỉ, từng bước từng bước suy xét lợi ích, mà trở nên thông hiểu thấu đáo. Người hiểu biết như vậy, trong thời cơ thích hợp, xứng đáng đạt được sự an lạc lâu dài và các điều phước lành (maṅgala).

**[Myanmar]**
အသိလိမ္မာ ဉာဏ်ပညာနှင့် ကံရှိပါသော်လည်း လုံ့လမရှိလျှင် မည်သည့်အကျိုးကိုမျှ မပြီးစေနိုင်၊ ဟိ-ထိုစကားမှန်ကြောင်းကား၊ သုတ္တဿ-အပျင်းအားကြီး၍ တစ်အိပ်တည်း အိပ်နေသော၊ သီဟဿ-ခြင်္သေ့၏၊ မုခေ-ပါးစပ်ထဲသို့၊ မိဂါ-သမင်တို့သည်၊ န ပဝိသန္တိ-အလိုအလျောက် မရောက်လာကုန်၊ "ထ၍ဖမ်းမှု လုံ့လ ပြုရဦးမည်"ဟူလို။ [ဟိတောပဒေသ။]

**[Việt]**
Dù có thông tuệ, trí tuệ (paññā) và nghiệp (kamma) đi nữa, nhưng nếu không có tinh tấn (viriya) thì không thể hoàn thành được bất cứ quả báu nào. Lời ấy quả đúng — như trong Hi-tô-pa-đê-sa (Hitopadeśa): Những con nai (miga) sẽ không tự động đi vào trong miệng (mukha) của sư tử (sīha), kẻ đang ngủ say vì lười biếng (susupta). [Ý nói: phải thức dậy mà nỗ lực săn bắt.] [Hitopadeśa.]

**[Myanmar]**
ဝီရိယအကြောင်း။ ။ကိစ္စတစ်ခုပေါ်ပေါက်လျှင် မကြောက်မရွံ့ စွန့်စွန့်စားစား အားထုတ်မှုကို "ဝီရိယ-လုံ့လ"ဟု ခေါ်၏၊ ဤဝီရိယသည် ၁-ပင်ကိုယ် "ဇာတိဝီရိယ"၊ ၂-နောက်မှ ဖြစ်ပေါ် လာသော "ပဝတ္တိဝီရိယ"ဟု နှစ်မျိုးရှိ၏၊ ရှေးရှေးဘဝက ဝီရိယအထုံ ပါခဲ့သဖြင့် ဇာတိဝီရိယရှိသူမှာ ဉာဏ်ရှိပါလျှင် သူတကာနှင့် မယှဉ်သာအောင် အကျိုးခံစားရမည်၊ ဇာတိဝီရိယ မရှိသူကား ပဝတ္တိဝီရိယရှိအောင် ပြုပြင်ရပေလိမ့်မည်။

**[Việt]**
Về Viriya (Tinh tấn). ၎ Khi một công việc phát sinh, sự nỗ lực không sợ hãi, dám dấn thân mạo hiểm, được gọi là "viriya — tinh tấn". Tinh tấn này có hai loại: (1) "Jātiviriya" — tinh tấn bẩm sinh, vốn có sẵn; (2) "Pavattiviriya" — tinh tấn phát sinh về sau. Người có jātiviriya do đã huân tập tinh tấn từ các kiếp quá khứ, nếu cũng có trí tuệ (ñāṇa) nữa, thì sẽ thọ hưởng quả báu đến mức người khác không thể sánh kịp. Còn người không có jātiviriya, thì phải rèn luyện tu tập để có được pavattiviriya.

---

## Ghi chú hiệu đính

**Hiệu đính bởi:** deepseek/deepseek-reasoner (qua OpenClaw)

**Danh sách các từ/cụm từ đã hiệu đính:**

| # | Từ cũ / Cấu trúc cũ | Đã sửa thành | Lý do |
|---|---------------------|--------------|-------|
| 1 | "danh từ Pāḷi được gọi là 'Kamma' trong tiếng Miến" (Trang 290) | "Từ Pāḷi *Kamma* được gọi là 'Kam' (Nghiệp / ကံ) trong tiếng Miến" | Đảo ngược nghĩa so với gốc Myanmar: gốc nói Pāḷi *kamma* được gọi là *kam* (ကံ) trong tiếng Miến, chứ không phải ngược lại |
| 2 | "học hỏi hỏi han" (Trang 290, dòng 14) | "hỏi han" | Lặp từ không cần thiết |
| 3 | "với dòng cao quý" (Trang 290, dòng 12) | "— ấy là dòng dõi cao quý" | Câu văn cụt, thiếu kết nối ngữ pháp với vế trước |
| 4 | "Hãy bố thí rộng rãi, hãy thực hành" (Trang 290, dòng 10) | "Hãy bố thí rộng rãi, thực hành các thiện sự" | Bỏ "hãy" lặp, thêm "các thiện sự" để cụ thể hóa |
| 5 | "trợ duyên (paccaya)" (Trang 291) | "tác lực (payoga)" | Gốc Myanmar dùng "ပယောဂ" = *payoga* (tác lực), không phải *paccaya* (trợ duyên). Đây là sai thuật ngữ Pāḷi |
| 6 | "dư địa" (Trang 292) | — (đã xóa) | "Dư địa" không phải nghĩa của "ဒေသန္တရ" (các vùng miền), nguyên nhân gây hiểu lầm |
| 7 | "Kẻ nào không né tránh mà lắng nghe cho kỹ" (Trang 292, Pyo kệ) | "Người nào khéo lắng nghe, không trốn tránh" | Câu văn trau chuốt hơn, phù hợp văn phong thi kệ |
| 8 | "cũng có trí tuệ nữa, thì sẽ hưởng quả báu" (Trang 292) | "cũng có trí tuệ (ñāṇa) nữa, thì sẽ thọ hưởng quả báu" | Thêm Pāḷi trong ngoặc, "thọ hưởng" trang trọng hơn "hưởng" |
| 9 | "ပညာလွေ့မှု" → "huân tập trí tuệ" | "sự đầu tư vào trí tuệ (paññā)" | "Đầu tư" sát nghĩa "လွေ့မှု" hơn "huân tập" trong ngữ cảnh này |
