**[Myanmar]**
ထို့နောက် ညောင်ပင်စောင့်နတ်ကလည်း မင်းတို့၏ အသွေး အသားများကို ပူဇော်မခံလိုသောကြောင့် သိကြားမင်း၏ အကြံပေးချက် အရ ကိုယ်ထင်ပြလျက် သုတသောမမင်း မပါလျှင် သင်၏ အပူဇော် မခံနိုင်ကြောင်းကို ပြောပြလေသော် ထိုစကားအရ သုတသောမ မင်းကို မဖမ်းလျှင် မဖြစ်တော့၊ ထို့ကြောင့် သုတသောမမင်း ခေါင်းဆေးမင်္ဂလာပြုမည့်နေ့၌ မင်္ဂလာကန်တော်အတွင်းဝယ် ပုန်းအောင်းလျက် ရေသုံးသတ်အပြီးတွင် ဖြုန်းခနဲထွက်၍ "ငါဟ... ပေါရိသာဒတဲ့"ဟု ကျယ်စွာသော အသံကိုပြုလျက် သန်လျက်ကို ဝင့်ကာ သုတသောမမင်းကိုထမ်း၍ စစ်တပ်အကြားမှ ထွက်သွား လေသည်။ (ထိုခေတ်က ပေါရိသာဒဆိုလျှင် အားလုံးလိုလို လန့်နေ ကြသောခေတ်ဖြစ်၍ မည်သူမျှမလှုပ်ဝံ့ဘဲ ပြားပြားဝပ်နေကြသတဲ့။)

**[Việt]**
Sau đó, vị thiên canh giữ cây Nigrodha, vì không muốn thọ nhận sự cúng dường (pūjā) bằng máu thịt của các vị vua ấy, theo lời khuyên của Thiên chủ Sakka, hiện thân ra và nói rằng: "Nếu không có vua Sutasoma, ta không thể thọ nhận sự cúng dường của ngươi." Theo lời ấy, [bọn Porisāda] không bắt vua Sutasoma thì không được. Do đó, vào ngày vua Sutasoma sẽ cử hành lễ quán đảnh (abhiseka), [Porisāda] ẩn núp trong hồ thiêng, sau khi [vua] múc nước lần thứ ba, [y] vụt hiện ra, lớn tiếng hô: "Ha! Ta là Porisāda đây!", rút gươm (sattha), ẵm vua Sutasoma rồi rời khỏi giữa đoàn quân. (Thời ấy, Porisāda [là nỗi kinh hoàng] khiến hầu hết mọi người đều sợ hãi, không ai dám cử động, chỉ biết nằm im bất động.)

**[Myanmar]**
သုတသောမမင်း ခေါင်းဆေးမင်္ဂလာပြုရန် ထွက်လာစဉ်တုန်း က ပုဏ္ဏားတစ်ယောက်သည် တစ်ဂါထာလျှင် တစ်ရာတန်သော ဂါထာ ၄-ပုဒ်ကို ရွှေနားတော်သွင်းလိုကြောင်း ခွင့်တောင်းလေ သော် "ခေါင်းဆေးမင်္ဂလာပြုပြီး နောက်တစ်ရက်မှ ကြားနာပါ မည်"ဟု ဝန်ခံထား၏၊ ပေါရိသာဒ ဖမ်းသွားစဉ် ထိုဝန်ခံချက်ကို သတိရ၍ ညောင်ပင်အောက်သို့ ရောက်သောအခါ ထိုဂါထာကို နာယူပြီးလျှင် ပြန်လာခဲ့ပါမည်ဟု ယုံကြည်လောက်အောင် ပြောပြ၍ ပေါရိသာဒထံမှ ခွင့်ရလေသည်။

**[Việt]**
Khi vua Sutasoma bước ra để cử hành lễ quán đảnh (abhiseka), một vị Bà-la-môn (brāhmaṇa) xin phép để nghe bốn (4) bài kệ (gāthā), mỗi bài đáng giá một trăm [đồng vàng], được tâu trình lên đức vua. Vua hứa rằng: "Sau khi cử hành lễ quán đảnh xong, ngày hôm sau trẫm sẽ nghe." Khi bị Porisāda bắt đi, vua nhớ lại lời hứa ấy, và khi đến dưới cây Nigrodha, vua đã trình bày với vẻ khả tín rằng: "Sau khi nghe bài kệ ấy, trẫm sẽ trở lại." Và vua được Porisāda cho phép.

**[Myanmar]**
ထို့နောက် တိုင်းပြည်သို့ ပြန်သွား၍ ဂါထာများကို နာယူကာ တစ်ဂါထာကို တစ်ထောင်ကျ ဆုတော်များကို ပေးသနားလေသည်၊ ထို့နောက် တိုင်းပြည်ကို ခမည်းတော်ထံအပ်နှံ၍ တိုင်းသူပြည်သား လူအများတို့က တားကြသော်လည်း "ပြန်လာပါမည်"ဟူသော ကတိသစ္စာကို မဖျက်ဘဲ "ဧကန် သတ်မှာပဲ"ဟု သိတော်မူပါလျက် နှင့် ပေါရိသာဒထံ ဆက်ဆက်ကြီး ပြန်လာတော်မူခဲ့ပေသည်။ ဤနေရာ၌ အသက်စွန့်၍ သစ္စာပါရမီဖြည့်ပုံကို သတိထားရာ၏။]

**[Việt]**
Sau đó, [vua] trở về vương quốc, nghe các bài kệ, và ban thưởng một ngàn [đồng vàng] cho mỗi bài kệ. Sau đó, vua giao vương quốc lại cho phụ vương, và dù dân chúng trong nước nhiều người can ngăn, vua vẫn không phá vỡ lời thề chân thật (sacca) "trẫm sẽ trở lại", dù biết rõ rằng "chắc chắn sẽ bị giết", và vẫn cứ nhất quyết trở lại chỗ Porisāda. Ở đoạn này, cần ghi nhớ cách ngài thí xả mạng sống để viên mãn chân thật pāramī (sacca pāramī).

**[Myanmar]**
ပေါရိသာဒလည်း မကြောက်မရွံ့ ရဲဝံ့စွာ ပြန်လာပုံကို အံဩ၍ "ဘယ်အတွက် မကြောက်ပါလိမ့်မည်နည်း"ဟု စဉ်းစားရာ ထိုနာယူ ခဲ့သော ဂါထာ၏တန်ခိုးများပင် ဖြစ်လေရော့သလားဟု အောက်မေ့ ၍ ထိုဂါထာများကို နာယူလိုကြောင်း ခွင့်တောင်းလေသည်၊ ထို ဂါထာများကို နာယူပြီးသောအခါ စိတ်ပြောင်းသွားကာ "ထိုဂါထာ များကို ပြောပြသည့်အတွက် အလိုရှိရာဆုကို ယူပါ"ဟု တောင်းပန် လေသော် သုတသောမမင်းသည် ဖမ်းထားသော မင်းအများကို လွှတ်ဖို့နှင့်တကွ အခြားဆုများကို တောင်း၏၊ ထိုအခါ အစက ငြင်းသော်လည်း တဖြည်းဖြည်း စိတ်ပြောင်းကာ တစ်ရာသော မင်းအပေါင်းကို လွှတ်ပြီးနောက် သုတသောမမင်း၏ အဆုံးအမကို နာခံ၍ လူသားစားမှုကိုပါ ရှောင်ကြဉ်လေသည်၊ ထို့နောက် မူလတိုင်းပြည်သို့ ပြန်ရောက်၍ မင်းအဖြစ်ကို ရပြီးနောက် တစ်ရာသော မင်းများလည်း ဆိုင်ရာတိုင်းပြည်သို့ ပြန်သွားကြလေသည်။

**[Việt]**
Porisāda cũng kinh ngạc trước việc [vua] không sợ hãi mà can đảm trở lại, và tự suy nghĩ: "Vì sao ngài không sợ?" Rồi y tự nhủ: "Có lẽ đó là uy lực (tejasa) của các bài kệ mà ngài đã nghe." Y xin phép được nghe các bài kệ ấy. Sau khi nghe các bài kệ, tâm y chuyển hóa, và y thưa rằng: "Vì ngài đã tụng các bài kệ ấy, xin hãy nhận phần thưởng theo ý ngài muốn." Vua Sutasoma yêu cầu tha cho các vị vua đang bị bắt giam cùng các phần thưởng khác. Lúc đầu y từ chối, nhưng dần dần tâm y chuyển hóa, sau khi thả một trăm (100) vị vua, y tuân theo lời giáo huấn của vua Sutasoma và từ bỏ cả việc ăn thịt người. Sau đó, [vua] trở về vương quốc cũ, khôi phục ngôi vương, và một trăm vị vua ấy cũng trở về vương quốc của mình.

---
Trang333

**[Myanmar]**
အမှာ။ ။ဤဇာတ်၌ အလောင်းတော်၏ သစ္စာပါရမီသည် အသက်ကိုစွန့်၍ ဖြည့်ကျင့်အပ်သော ပါရမီတော်တည်း၊ ထိုပါရမီ တော်၏ အစွမ်းကြောင့် အားလုံးသော မင်းများလည်း လွတ်လတ် ချမ်းသာခွင့်ရကြလေသည်။

**[Việt]**
**Ghi chú.** — Trong bổn sanh (Jātaka) này, chân thật pāramī (sacca pāramī) của Đức Bồ-tát (Bodhisatta) là pāramī được viên mãn bằng cách thí xả mạng sống. Nhờ oai lực (ānubhāva) của pāramī ấy, tất cả các vị vua đều được giải thoát và hưởng an lạc.

**[Myanmar]**
အဓိဋ္ဌာန်ပါရမီ စသည်။ ။အလောင်းတော် တေမိမင်းသားဘဝ တုန်းက တောထွက်လိုသော ဆန္ဒတော်ကြောင့် "အ-ယောင်, ဆွံ့ယောင်, နားပင်းယောင်ဆောင်မည်"ဟု အဓိဋ္ဌာန်ပြုပြီးလျှင် တစ်ဆယ့်ခြောက်နှစ်တိုင်အောင် စမ်းသပ်မှုအမျိုးမျိုးကို သည်းခံ အောင့်အည်းလျက် အဓိဋ္ဌာန်ပါရမီကို ဖြည့်ကျင့်တော်မူပုံမှာလည်း အံ့ဩဖွယ်ကောင်းလှပါသည်။

**[Việt]**
**Quyết định pāramī (adhiṭṭhāna pāramī) v.v.** — Khi Đức Bồ-tát tái sanh làm Thái tử Temiya, vì ước nguyện xuất gia (pabbajjā), ngài đã phát adhiṭṭhāna rằng: "Ta sẽ giả điên, giả câm, giả điếc," và trong mười sáu (16) năm liên tục, ngài đã nhẫn nại (khanti) chịu đựng mọi loại khảo thí, viên mãn quyết định pāramī — cũng thật đáng kinh ngạc thay!

**[Myanmar]**
မေတ္တာပါရမီ, ဥပေက္ခာပါရမီကို ဖြည့်ကျင့်တော်မူခဲ့ရသည်မှာ လည်း ဘဝပေါင်းများစွာတည်း၊ ထိုပါရမီ ၁ဝ-ပါးကို လေးအသင်္ချေ နှင့် ကမ္ဘာတစ်သိန်းတိုင်အောင် ဖြည့်ကျင့်တော်မူပြီးနောက် ဝေဿန္တရာ မင်းအဖြစ်သို့ အရောက်မှာ ပြည့်စုံလုံလောက်ပြီဖြစ်၍ ထိုမှတစ်ဖန် တုသိတာနတ်ပြည်၌ နတ်မင်းအဖြစ်ဖြင့် စိုးစံတော်မူလေသည်။

**[Việt]**
Còn từ bi pāramī (mettā pāramī) và xả pāramī (upekkhā pāramī) cũng đã được ngài viên mãn qua nhiều kiếp sống. Sau khi viên mãn mười (10) pāramī này suốt bốn (4) a-tăng-kỳ (asaṅkheyya) và một trăm ngàn (100.000) kiếp (kappa), đến kiếp làm vua Vessantara thì ngài đã viên mãn đầy đủ, và từ đó tái sanh làm Thiên chủ tại cõi trời Tusita.

---
Trang334

**[Myanmar]**
ပဋိသန္ဓေတည်နေတော်မူခန်း။။နတ်သက်စေ့သောအခါ တစ်သောင်းသော စကြဝဠာမှ နတ်ဗြဟ္မာအပေါင်းတို့သည် "လူ့ပြည်၌ ပဋိသန္ဓေတည်နေတော်မူလျက် ဘုရားဖြစ်တော်မူ၍ သတ္တဝါအများ ကို ကယ်ဆယ်တော်မူပါရန်" တောင်းပန်ကြသဖြင့်

**[Việt]**
**Giai đoạn nhập thai (paṭisandhi).** — Khi hết tuổi thọ (āyu) cõi trời, tất cả chư thiên (deva) và chư Phạm thiên (brahmā) từ mười ngàn (10.000) thế giới (cakkavāḷa) đều thỉnh cầu rằng: "Xin ngài hãy nhập thai (paṭisandhi) vào cõi người, thành tựu Chánh đẳng Chánh giác (sammāsambodhi), và cứu độ (uddhara) vô lượng chúng sanh (sattva)."

---

**Ghi chú hiệu đính**

**Hiệu đính bởi:** `deepseek/deepseek-reasoner` (qua OpenClaw)

**Danh sách các từ/cụm từ đã hiệu đính:**

| # | Từ cũ / Cấu trúc cũ | Đã sửa thành | Lý do |
|---|----------------------|--------------|-------|
| 1 | `guardian` (English) | **canh giữ** | Loại bỏ từ tiếng Anh bị lẫn trong bản dịch |
| 2 | `pond` (English) | **hồ thiêng** | Loại bỏ từ tiếng Anh bị lẫn trong bản dịch |
| 3 | `deva-king` / `Thiên-chủ (deva-king)` | **Thiên chủ** | Loại bỏ English "king"; chuẩn hóa thuật ngữ Theravada |
| 4 | `nyagrodha` / `được thấm vào tai vàng` | **Nigrodha** / **được tâu trình lên đức vua** | Sửa chính tả Pāḷi; câu văn tự nhiên hơn |
| 5 | `parami` (thiếu macron) | **pāramī** | Chuẩn hóa Pāḷi với macron dài theo quy ước |
| 6 | `ဘုရားဖြစ်` → `giả-vờ ngọng` (sai nghĩa) | **giả điên** trong `giả điên, giả câm, giả điếc` | Myanmar gốc `အ-ယောင်` = điên (insane), không phải ngọng; sửa đúng nghĩa |
| 7 | `Đâu-suất` (Hán Việt) | **Tusita** | Ưu tiên Pāḷi nguyên gốc theo phong cách Theravada |
| 8 | `bồ-đề` (sau `nyagrodha`) | **bỏ** (Nigrodha là cây đa, không phải bồ-đề) | Tránh nhầm lẫn với cây Buddha-gaya |
| 9 | `cúng-dường`, `thí-xả`, `viên-mãn`... (hyphen quá nhiều) | **cúng dường**, **thí xả**, **viên mãn**... | Tiếng Việt tự nhiên, bỏ hyphen không cần thiết |
