**[Myanmar]**
သားတော်ရတနာ ဖွားမြင်တော်မူကြောင်းကို သံတော်ဦးတင်လာ သဖြင့် "ရာဟုဇာတော-အနှောင်အဖွဲ့ဖြစ်ပါပကော"ဟု ညည်းတွား တော်မူလေသည်။

**[Việt]**
Bảo vật hoàng tử chào đời được tâu trình lên, nên ngài than rằng: "Rāhu jāto (Rāhula đã ra đời) — một sự trói buộc đã xảy ra."

---

**[Myanmar]**
တောထွက်တော်မူခန်း အစီအစဉ်

**[Việt]**
Chương: Cảnh Ra Đi Vào Rừng

---

**[Myanmar]**
အလောင်းဘုရားသည် နန်းတော်သို့ ရောက်တော်မူပြီးနောက် ကချေသည် မောင်းမတို့ ကပြတီးမှုတ်လျက် ဖြေဖျော်ကြသည်ကို ရှေးကလို စိတ်ဝင်စားတော်မမူဘဲ သလွန်တော်၌ လျောင်းစက်တော် မူလေသည်၊ ထိုအခါ ကချေသည် မောင်းမအပေါင်းလည်း သီဆို တီးမှုတ်မှုများကို ရပ်တန့်၍ အိပ်ပျော်နေကြစဉ် ဒူးပေါ်, ပေါင်ပေါ် စသည်တို့ဖြင့် မလျော်သော အိပ်ပျော်နေကြပုံကို အလောင်းဘုရား စက်တော်ခေါ်ရာမှ အထတွင် မြင်တော်မူရ၍ ရှေးကထက် သံဝေဂ ရပြီးလျှင် "ယနေ့ညပင် တောထွက်တော့အံ့"ဟု ကြံတော်မူကာ ငယ်ကျွန်တော်ရင်း ဆန္နအမတ်မင်းကို နှိုးလျက် ကဏ္ဍကမြင်းကို ဆက်ဖို့ရန် အမိန့်ပေးလေသည်။

**[Việt]**
Sau khi đức Bồ-tát (Bodhisatta) trở về hoàng cung, các vũ nữ ca múa tấu nhạc để giải khuây, nhưng ngài không còn hứng thú như trước, ngài nằm trên long sàng (sayana). Lúc bấy giờ, đoàn vũ nữ ngưng hát múa và ngủ say. Khi ngài tỉnh giấc, trông thấy họ ngủ trong tư thế bất nhã — đầu gối lên nhau, đùi gác lên nhau v.v. — nên ngài cảm thấy xúc động sâu sắc (saṃvega) mãnh liệt hơn trước. Ngài quyết định: "Chính đêm nay ta sẽ ra đi vào rừng." Rồi ngài đánh thức người hầu cận trung thành là quan đại thần Channa (Channa-amacca), ra lệnh thắng ngựa Kaṇṭhaka.

---

**[Myanmar]**
ထိုအခါ နန်းတော်၏ အတွင်းအပြင်၌ နတ်ဗြဟ္မာအများတို့ ရောက်နေကြ၏၊ နန်းတော်တွင်းရှိ လူများနှင့်တကွ တစ်မြို့လုံး မနိုးကြရအောင် နတ်များက စီမံထား၏၊ ကဏ္ဍကမြင်းတော်ကို ဆက်သဖို့ရန် ဆန္နသည် အတော်ဝန်လေး၏၊ တောထွက်မည်ကို အမှန်ပင် မလိုလား၊ သူ၏သခင် စကြာရှင် ဖြစ်သည်ကိုသာ မြင်လို၏၊ သို့သော် အမိန့်တော်ကို မလွန်ဆန်ဝံ့ရုံသာမက မည်သူမျှလည်း မနိုးကြသဖြင့် ကဏ္ဍကစီးတော်မြင်းကို ပြင်ဆင်ရရှာလေသည်။

**[Việt]**
Lúc ấy, nhiều chư thiên (deva) và chư phạm thiên (brahmā) đã hiện diện trong và ngoài hoàng cung. Chư thiên sắp đặt sao cho tất cả mọi người trong cung cùng khắp thành phố đều không tỉnh giấc. Quan đại thần Channa khá miễn cưỡng khi thắng ngựa Kaṇṭhaka — ông thực sự không muốn đức Bồ-tát ra đi, ông chỉ mong thấy ngài trở thành Chuyển Luân Thánh Vương (cakkavatti-rāja). Tuy nhiên, ông không dám trái lệnh, và vì không ai tỉnh giấc, ông đành phải chuẩn bị ngựa Kaṇṭhaka cho ngài.

---

**[Myanmar]**
အလောင်းဘုရားသည် တောသို့ ထွက်ခွာတော်မူခါနီးဝယ် သား တော်ကို ရှုစားတော်မူလိုသောကြောင့် ယသော်ဓရာမိဖုရား၏ အဆောင် တော်သို့ ကြွတော်မူလေသည်၊ ထိုအခါ အဆောင်တော်အတွင်းဝယ် နံ့သာတိုင်များကို ထွန်းညှိထား၏၊ ယသော်ဓရာမိဖုရားသည် မြလေး ပန်းတို့ဖြင့် ရောပြွမ်းနေသော သလွန်ပေါ်၌ သားတော်ကလေး၏ ဦးခေါင်းပေါ်မှာ ရွှေလက်တော်တင်လျက် စက်တော်ခေါ်နေ၏။

**[Việt]**
Trước khi ra đi vào rừng, đức Bồ-tát muốn ngắm nhìn con trai, nên ngài đến tẩm điện của hoàng hậu Yasodharā (Yasodharā-devī). Trong tẩm điện, những ngọn đèn hương đang cháy sáng. Hoàng hậu Yasodharā nằm trên giường trải đầy những đóa hoa quý, bàn tay đặt lên đầu con thơ, đang ngủ say.

---

**[Myanmar]**
အလောင်းဘုရားသည် အဆောင်တော်၏ တံခါးခုံအတွင်းသို့ ချင်းနင်းမိသောအခါ လွန်စွာကျက်သရေရှိသော တိုက်ခန်းဝယ် တင့်တယ်သော သလွန်တော်ထက်၌ မြလေးပန်းတို့၏ အလယ်တွင် ရင်သွေးတော်ရတနာနှင့် ကြင်ယာတော်မိဖုရား စက်တော်ခေါ်နေ ပုံကို ရှုစားတော်မူရသောအခါ တော်တော်တန်တန် ပါရမီရှင်ဆိုလျှင် ထိုနေရာတစ်ချက်နှင့် တောထွက်ဖို့ အထမြောက်တော့မည် မဟုတ် ပါချေ။

**[Việt]**
Khi đức Bồ-tát vừa bước qua ngạch cửa tẩm điện, ngài trông thấy cảnh tượng trong phòng vô cùng trang nghiêm, xinh đẹp: trên long sàng rực rỡ, giữa những đóa hoa quý, hoàng hậu cùng con thơ đang ngủ say. Nếu ngài không phải là bậc ba-la-mật (pāramī) dồi dào, thì chỉ một khoảnh khắc ngắm nhìn cảnh ấy thôi, ngài đã khó lòng ra đi.

---

**[Myanmar]**
မိဖုရားကား ရှိသမျှ အမျိုးသမီးတို့တွင် အသာဆုံးဖြစ်ရုံသာ မက လေးအသင်္ချေနှင့် ကမ္ဘာတစ်သိန်းထက်ကစ၍ ပါရမီကို ကူညီလာခဲ့ရှာသူ ဖြစ်သည့်ပြင် မီးရှူးသန့်စင်ပြီးခါစ အားတော် ခပ်နွဲ့နွဲ့ဖြင့် သားတော်ကလေးအပေါ် လက်တော်တင်လျက် တောထွက်မည့်အကြောင်းကို လုံးလုံးမသိရှာဘဲ စက်တော်ခေါ်နေ၏၊

**[Việt]**
Hoàng hậu không chỉ là bậc nữ nhân ưu việt nhất trong tất cả phụ nữ, mà còn là người đã cùng ngài vun bồi ba-la-mật (pāramī) từ bốn a-tăng-kỳ (asaṅkheyya) và một trăm ngàn kiếp (kappa) về trước. Vừa mới trải qua cuộc sinh nở, bà còn yếu ớt, tay đặt nhẹ lên đầu con thơ, ngủ say mà hoàn toàn không hay biết gì về việc đức Bồ-tát sắp ra đi.

---

**[Myanmar]**
သားတော်ကလေးကား ရင်သွေးတော်ရတနာ စကြာမင်းလောင်း လျာကလေး ဖြစ်ရုံသာမက တစ်ခါမျှလည်း အားရပါးရ ရှုစားတော် မမူရသေး၊ ရင်သွေးတော်ရတနာကို အားရပါးရ ပွေ့ယူတော်မူလို သော်လည်း မိဖုရား နိုးတော်မူလျှင် ထွက်နိုင်ဖို့ လမ်းမမြင်သော ကြောင့် "ဘုရားဖြစ်မှ သားချစ်ကို ရှုတော့အံ့"ဟု အာရုံတော် ရုပ်သိမ်း၍ အဆောင်တော်မှ ထွက်ခွာပြီးလျှင် မင်္ဂလာမြင်းတော် ထက်သို့ ရွှေစက်တော် တင်ရလေသည်။

**[Việt]**
Còn con thơ — bảo ngọc yêu quý, vị sẽ là Chuyển Luân Thánh Vương (cakkavatti) — ngài chưa từng thỏa mãn ngắm nhìn dù chỉ một lần. Ngài muốn ôm con vào lòng cho thỏa thích, nhưng nếu hoàng hậu tỉnh giấc thì ngài sẽ không có lối thoát. Vì vậy ngài thu nhiếp tâm ý, quyết rằng: "Khi thành Phật, ta sẽ ngắm nhìn con yêu." Rồi ngài rời tẩm điện, bước lên lưng ngựa Kaṇṭhaka lộng lẫy.

---

**[Myanmar]**
တောထွက်တော်မူခန်း

**[Việt]**
Cảnh Ra Đi Vào Rừng

---

**[Myanmar]**
မင်္ဂလာမြင်းတော်ထက်သို့ ရောက်ပြီးနောက် ဝါဆိုလပြည့် သန်းခေါင်အချိန်မှာ နတ်ဗြဟ္မာများ ခြံရံလျက် ဖွားဘက်တော် ဆန္နအမတ်အား မြင်းမြီးကို ကိုင်ဆွဲစေပြီးလျှင် မြို့တော်တံခါး အနီး သို့ ရောက်သောအခါ မြို့တံခါးစောင့်နတ်များက အဆင်သင့် တံခါးကို ဖွင့်ကြလေသည်၊ ထိုအခါ မာရ်နတ်မင်းက "အသင် မင်းသား- တောထွက်ဖို့ မလိုပါ၊ မကြာခင် ၇-ရက်မြောက်၌ စကြာ ရတနာ ဆိုက်ရောက်ပါလိမ့်မည်"ဟု ပြော၍ တားမြစ်သော်လည်း ဂရုမပြု၊ စကြာမင်းစည်းစိမ်ကိုပင် လျစ်လျူရှုတော်မူလျက် မင်္ဂလာ တံခါးမှ ထွက်တော်မူလေသည်။

**[Việt]**
Sau khi lên lưng ngựa Kaṇṭhaka lộng lẫy, vào lúc nửa đêm trăng tròn tháng Āsāḷha (Wā-so, tháng 7 theo lịch Myanmar), được chư thiên và chư phạm thiên bao quanh, ngài bảo quan hầu Channa nắm đuôi ngựa. Khi đến gần cổng thành, chư thiên canh cổng đã mở sẵn cửa. Lúc ấy, Ma vương (Māra) ngăn cản: "Thưa hoàng tử — ngài không cần phải ra đi vào rừng đâu, chỉ bảy ngày nữa thôi, báu vật Chuyển Luân Vương (cakkavatta-ratana) sẽ xuất hiện." Nhưng ngài không để tâm, ngài xem thường cả ngai vàng Chuyển Luân Thánh Vương (cakkavatti-rāja), và ra đi qua cổng lành (maṅgala-dvāra).

---

**[Myanmar]**
ထိုအခါ အချို့ နတ်ဗြဟ္မာတို့သည် မီးရောင်စုံများကို ရှေ့ နောက်ဝဲယာ ညှိထွန်းလျက် အချို့က ပန်းနံ့သာများကို ကြဲဖြန့် ပူဇော်ပြီးလျှင် အချို့က ဘုန်းတော်ဘွဲ့ သီချင်းနှင့် တူရိယာမျိုးစုံ တို့ကို တီးမှုတ်သီဆိုကာ လွန်စွာကြည်နူးဖွယ်ကောင်းပါပေသည်။

**[Việt]**
Lúc bấy giờ, một số chư thiên và chư phạm thiên đốt sáng những ngọn đèn đủ màu phía trước, sau, trái, phải; một số rải hoa và hương liệu để cúng dường; một số khác tấu hát những bài ca ngợi uy đức ngài cùng nhiều loại nhạc cụ, tạo nên cảnh tượng vô cùng hoan hỷ, trang nghiêm.

---

## Ghi chú hiệu đính

**Hiệu đính bởi:** deepseek/deepseek-reasoner (qua OpenClaw)

**Danh sách các từ/cụm từ đã hiệu đính:**

| # | Từ cũ / Cấu trúc cũ | Đã sửa thành | Lý do |
|---|---------------------|--------------|-------|
| 1 | Viên ngọc quý con trai | Bảo vật hoàng tử | Chuẩn hóa `ratana` → **bảo vật** theo quy tắc thuật ngữ |
| 2 | được tâu lên | được tâu trình lên | Từ ngữ trang trọng hơn, phù hợp văn phong |
| 3 | kinh hoàng chấn động (saṃvega) | xúc động sâu sắc (saṃvega) | Tránh trùng lặp từ; "kinh hoàng chấn động" nặng về sợ hãi, saṃvega là xúc động tâm linh |
| 4 | nằm nghiêng trên long sàng (sayana) | nằm trên long sàng (sayana) | Bỏ "nghiêng" — Myanmar gốc không nói rõ tư thế nằm nghiêng |
| 5 | Quan Channa | quan đại thần Channa | Nhất quán với cách gọi ở đoạn trước (Channa-amacca → quan đại thần) |
| 6 | đức chủ | đức Bồ-tát | "đức chủ" tối nghĩa trong tiếng Việt; dùng "đức Bồ-tát" rõ ràng, nhất quán |
| 7 | tay vàng | bàn tay | "tay vàng" sáo ngữ; "bàn tay" mộc mạc, chính xác hơn |
| 8 | bậc có ba-la-mật (pāramī) dồi dào | bậc ba-la-mật (pāramī) dồi dào | Bỏ từ "có" thừa; câu gọn hơn |
| 9 | tại một điểm này thôi | chỉ một khoảnh khắc ngắm nhìn cảnh ấy thôi | "điểm" → "khoảnh khắc" tự nhiên hơn trong văn cảnh thời gian |
| 10 | đã không thể ra đi vào rừng được rồi | đã khó lòng ra đi | Bỏ trùng ý, câu nhẹ hơn |
| 11 | người phụ nữ ưu việt nhất trong tất cả phụ nữ | bậc nữ nhân ưu việt nhất trong tất cả phụ nữ | Tránh lặp "phụ nữ" — "bậc nữ nhân" trang trọng hơn |
| 12 | hỗ trợ tu tập ba-la-mật | vun bồi ba-la-mật | "vun bồi" chính xác hơn "hỗ trợ tu tập" (pāramī là sự viên mãn chứ không đơn thuần "hỗ trợ") |
| 13 | ngài (chỉ hoàng hậu) còn yếu ớt | bà còn yếu ớt | Phân biệt rõ chủ ngữ — dùng "bà" cho hoàng hậu để tránh nhầm với đức Bồ-tát |
| 14 | việc ngài sắp ra đi | việc đức Bồ-tát sắp ra đi | Rõ chủ ngữ — hoàng hậu không biết đức Bồ-tát sắp ra đi |
| 15 | ứng viên Chuyển Luân Thánh Vương | vị sẽ là Chuyển Luân Thánh Vương | "Ứng viên" từ Hán-Việt hiện đại, không phù hợp văn phong kinh điển |
| 16 | thu nhiếp tâm ý (ārammaṇa) | thu nhiếp tâm ý (bỏ parenthetical) | Ārammaṇa trong ngữ cảnh này dùng sai thuật ngữ; giữ nguyên nghĩa mà không cần chú thích Pāḷi gây nhầm |
| 17 | người hầu Channa | quan hầu Channa | Nhất quán với chức danh của Channa — là quan, không phải người hầu thường |
| 18 | cổng auspicious (maṅgala-dvāra) | cổng lành (maṅgala-dvāra) | Loại bỏ hoàn toàn từ tiếng Anh ("auspicious") theo quy tắc hiệu đính |

---
